Do đó sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế , người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi , mua bán hàng hóa Hai điều kiện
Trang 1Câu 1: Phân tích điều kiện ra đời , tồn tại của sản xuất hàng hóa
a , Sản xuất hàng hóa ra đời , tồn tại dựa trên hai điều kiện:
- Thứ nhất: Phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất , phân chia lao động xã hội ra thành các ngành , các lĩnh vực sản xuất khác nhau Phân công lao động xã hội là cơ sở , là tiền đề của sản xuất hàng hóa Phân công lao động xã hội càng phát triển , thì sản xuất và trao đổi hàng hóa càng mở rộng hơn , đa dạng hơn
- Thứ hai: Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất: những người sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất định với nhau
Do đó sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế , người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi , mua bán hàng hóa
Hai điều kiện trên cho thấy , phân công lao động xã hội làm cho những người sản xuất phụ thuộc vào nhau , còn sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất lại chia rẽ họ , làm cho họ độc lập với nhau Đây là một mâu thuẫn Mâu thuẫn này được giải quyết thông qua trao đổi , mua bán sản phẩm của nhau Đó là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa Thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sản xuất hàng hóa
Trang 2trở nên mở rộng , sâu sắc Từ đó , nó phá vỡ tính tự cấp tự túc , bảo thủ , trì trệ , lạc hậu của mỗi ngành , mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng , nhu cầu của xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa mở rộng giữa các quốc gia , thì nó còn khai thác được lợi thế của các quốc gia với nhau
- Thứ hai: Trong nền sản xuất hàng hóa , quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân , gia đình , mỗi cơ
sở , mỗi vùng , mỗi địa phương , mà nó được mở rộng , dựa trên cơ sở nhu cầu
và nguồn lực của xã hội Điều đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất thúc đẩy sản xuất phát triển
- Thứ ba: Trong nền sản xuất hàng hóa , sự tác động của quy luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hóa là quy luật giá trị , cung - cầu , cạnh tranh buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn năng động , nhạy bén , biết tính toán , cảitiến kỹ thuật , hợp lý hoá sản xuất , nâng cao năng suất , chất lượng và hiệu quả kinh tế , cải tiến hình thức , quy cách và chủng loại hàng hóa , làm cho chi phí sản xuất hạ xuống đáp ứng nhu cầu , thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn
- Thứ tư: Trong nền sản xuất hàng hóa , sự phát triển của sản xuất , sự mở rộng
và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân , giữa các vùng , giữa các nước không chỉlàm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hóa , tinh thần cũng được nâng cao hơn , phong phú hơn , đa dạng hơn
Câu 2: Hãy phân tích hai thuộc tính của hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động , nó có thể thỏa mãn những nhu cầu định nào
đó của con người thông qua trao đổi buôn bán
Giá trị sử dụng
Trang 3- Giá trị sử dụng của hàng hóa là khả năng có thể thỏa mãn nhu cầu của con người, là tính có ích hay công cụ của nó
- Đặc điểm của giá trị sử dụng:
+ Số lượng giá trị sử dụng của một hàng hóa không phải ngay một lúc đã phát hiện
ra hết , mà nó được hình thành dần dần trong sự phát triển của sản xuất và đời sống cũng như do khoa học kỹ thuật Với ý nghĩa này , giá trị sử dụng được xem
có tính lịch sử cụ thể , phụ thuộc vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật
+ Giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hoá là do thuộc tính tựu nhiên của vật thể hàng hóa quyết định giúp thoả mãn nhu cầu của con người Với ý nghĩa này , giá trị sử dụng được xem là một phạm trù vĩnh viễn
+ Giá trị sử dụng của hàng hó là giá trị sử dụng của xã hội vì giá trị sử dụng của hàng hoá không phải là giá trị sử dụng của người sản xuất trực tiếp mà là cho một người khác , cho xã hội thông qua trao đổi , mua bán Điều đó đòi hỏi người sản xuất hàng hoá phải luôn luôn quan tâm đến nhu cầu của xã hội , làm cho sản phẩmcủa mình đáp ứng nhu cầu của xã hội thì hàng hoá của họ mới bán được
Giá trị của hàng hóa :
Muốn hiểu được giá trị hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi , giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng , là tỷ lệ theo đó 1 lượng giá trị sử dụng này đối với 1 lượng giá trị sử dụng hàng hoá khác
VD: 1m vải = 5kg thóc Tức 1m vải có giá trị trao đổi = 5kg thóc
Hai hàng hoá khác nhau có thể trao đổi được với nhau thì giữa chúng phải có 1 cơ
sở chung nào đó Cái chung đó là: cả vải và thóc đều là sản phẩm của lao động , đều có 1 lượng lao động kết tinh trong đó nhờ có cơ sở chung này mà hàng hoá có
Trang 4thể trao đổi được với nhau Vì vậy , người ta trao đổi hàng hoá cho nhau chẳng qua trao đổi lao động hao phí của mình ẩn dấu trong hàng hoá ấy
Chính lao động hao phí để tao ra hàng hoá là cơ sở chung của việc trao đổi và nó tạo nên giá trị của hàng hoá
- Giá trị cơ sở nội dung nên trong của giá trị trao đổi , còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị
- Giá trị trao đổi hay giá trị là thuộc tính đặc trưng của hàng hoá , bởi vì sản phẩm là hàng hoá phải dùng để trao đổi , phải so sánh với hàng hoá khác
Giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hoá , chính vì vậy giá trị là 1 phạm trù lịch sử chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hoá
Câu 3: phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa
Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi , nên lượng giá trị của hàng hoá cũng là một đại lượng không cố định Sự thay đổi này tuỳ thuộc vào năng suấtlao động và mức độ phức tạp hay đơn giản của lao động
- Năng suất lao động là sức sản xuất của lao động Nó được đo bằng lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao phí
để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Năng suất lao động tăng lên có nghĩa là cũng trong thời gian lao động , nhưng khối lượng hàng hoá sản xuất ra tăng lên làm cho thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá giảm xuống Do đó , khi năng suất lao động tăng lên thì giá trị của hàng hoá tỷ lệ nghịch với năng suất lao động
Năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ khéo léo (thành thạo) trung bình của người công nhân , mức độ phát triển của khoa học - kỹ thuật
Trang 5, công nghệ và mức độ ứng dụng những thành tựu đó vào sản xuất , trình độ tổ chức quản lý , quy mô và hiệu xuất của tư liệu sản xuất , và các điều kiện tự nhiên Muốn tăng năng suất lao động phải hoàn thiện các yếu tố trên
Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động tác động khác nhau đối với lượng giá trị hàng hoá Cường độ lao động là mức độ khẩn trương , nặng nhọc của lao động trong cùng một thời gian lao động nhất định Cường độ lao động được đo bằng một sự tiêu hao năng lực của lao động trong một đơn vị thời gian và thường được tính bằng số calo (đơn vị năng lượng) hao phí trong một thời gian nhất định
Cường độ lao động tăng lên tức là mức hao phí cơ bắp , thần kinh trong 1 đơn vị thời gian tăng lên , mức độ khẩn trương , nặng nhọc hay căng thẳng của lao động tăng lên Nếu cường độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối lượng) hàng hoásản xuất ra tăng lên và sức hao phí lao động cũng tăng lên tương ứng còn lượng giátrị của 1 đơn vị hàng hoá vẫn không đổi Tăng cường độ lao động thực chất cũng như kéo dài thời gian lao động
Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động giống nhau ở chỗ: chúng đều dẫn đến lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên Nhưng chúng khác nhau ở chỗ: tăng năng suất lao động làm cho lượng sản phẩm (hàng hoá) sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên , nhưng làm cho lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá giảm xuống Hơn nữa , tăng năng suất lao động có thể phụ thuộc nhiều vào máy móc , kỹ thuật , do đó , nó gần như một yếu tố có “sức sản xuất” vô hạn , còn tăng cường độ lao động , làm cho lượng sản phẩm sản xuất
ra tăng lên , nhưng làm cho giá trị của một đơn vị hàng hoá không đổi , Hơn nữa ,tăng cường độ lao động phụ thuộc nhiều vào thể chất và tinh thần của người lao động , do đó , nó là yếu tố của “sức sản xuất” có giới hạn nhất định Chính vì vậy, tăng năng suất lao động có ý nghĩa tích cực hơn đối với sự phát triển kinh tế
Trang 6- Tính chất của lao động: Lao động giản đơn và lao động phức tạp
Lao động giản đơn là lao động mà một người lao động bình thường không cần phảitrải qua đào tạo cũng có thể thực hiện được Lao động phức tạp là lao động đòi hỏiphải được đào tạo , huấn luyện mới có thể tiến hành được
Trong cùng một thời gian , lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn Tuy nhiên để tiến hành trao đổi hàng hoá , mọi lao động phức tạp đều được quy thành lao động giản đơn trung bình trên cơ sở lao động phức tạp bằng bội số của lao động giản đơn
Câu 4 : Phân tích quy luật giá trị
* Nội dung của quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá , nó quy định việcsản xuất và trao đổi hàng hoá phải căn cứ vào hao phí lao động xã hội cần thiết Trong sản xuất , tác động của quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết có như vậy họ mới có thể tồn tại được; còn trong trao đổi , hay lưu thông , phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá: tức là giá cả bằng giá trị
Quy luật giá trị buộc những người sản xuất và trao đổi hàng hoá phải tuân theo
“mệnh lệnh” của giá cả thị trường Thông qua sự vận động của giá cả thị trường sẽthấy được sự hoạt động của quy luật giá trị Giá cả thị trường lên xuống một cách
tự phát xoay quanh giá trị hàng hoá và biểu hiện sự tác động của quy luật giá trị trong điều kiện sản xuất và trao đổi hàng hóa
*Tác động của quy luật giá trị : có 3 tác động sau
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá
Trang 7+ Điều tiết sản xuất tức là điều hoà , phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành , các lĩnh vực của nền kinh tế Tác dụng này của quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá trên thị trường dưới tác động của quy luật cung cầu Nếu
ở ngành nào đó khi cung nhỏ hơn cầu , giá cả hàng hoá sẽ lên cao hơn giá trị , hàng hoá bán chạy , lãi cao , thì người sản xuất sẽ đổ xô vào ngành ấy Do đó ,
tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển dịch vào ngành ấy tăng lên Ngược lại , khi cung ở ngành đó vượt quá cầu , giá cả hàng hoá giảm xuống , hàng hoá bán không chạy và có thể lỗ vốn Tình hình ấy buộc người sản xuất phải thu hẹp quy mô sản xuất lại hoặc chuyển sang đầu tư vào ngành có giá cả hàng hoá cao + Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua giá cả thị trường Sự biếnđộng của giá cả thị trường cũng có tác dụng thu hút luồng hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao , do đó làm cho hàng hoá giữa các vùng có sự cân bằng nhất định
Như vậy , sự biến động của giá cả thị trường không những chỉ rõ sự biến động về kinh tế , mà còn có tác động điều tiết nền kinh tế hàng hoá
- Kích thích cải tiến kỹ thuật , hợp lí hoá sản xuất nhằm tăng năng suất lao động Các hàng hoá được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau , do đó , có mức hao phí lao động cá biệt khác nhau , nhưng trên thị trường thì các hàng hoá đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết Vậy người sản xuấthàng hoá nào mà có mức hao phí lao động thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết , thì sẽ thu được nhiều lãi và càng thấp hơn càng lãi Điều đó kích thích những người sản xuất hàng hoá cải tiến kỹ thuật , hợp lí hoá sản xuất , cải tiến tổ chức quản lý , thực hiện tiết kiệm… nhằm tăng năng suất lao động , hạ chi phí sảnxuất
Trang 8Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm cho các quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn Nếungười sản xuất nào cũng làm như vậy thì cuối cùng sẽ dẫn đến toàn bộ năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên , chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm xuống
- Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người lao động thành kẻ giàu người nghèo
Những người sản xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mứchao phí lao động xã hội cần thiết , khi bán hàng hoá theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết (theo giá trị) sẽ thu được nhiều lãi , giàu lên , có thể mua sắm thêm
tư liệu sản xuất , mở rộng sản xuất kinh doanh , thậm chí thuê lao động và trở thành ông chủ
Ngược lại , những người sản xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao đông xã hội cần thiết , khi bán hàng hoá sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ , nghèo đi , thậm chí có thể phá sản , trở thành lao động làm thuê Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất tưbản chủ nghĩa , cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản
Như vậy , quy luật giá trị vừa có tác động tích cực , vừa có tác động tiêu cực Do
đó , đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển , nhà nước cần có những biện pháp để phát huy tích cực , hạn chế mặt tiêu cực của nó , đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
5 Trình bày các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư dưới CNTƯ BẢN
Phương pháp thứ nhất Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu , trong khi năng suất
Trang 9lao động , giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu khôngthay đổi
Phương pháp này được áp dụng chủ yếu ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản khi công cụ lao động thủ công thống trị , năng suất lao động cũn thấp
Phương pháp thứ hai Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rútngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong ngànhsản suất ra tư liệu sinh hoạt để hị thấp giá trị sức lao động nhờ đó tăng thời gian laođộng thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động , cường độ lao động vẫn như cũ
Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do áp dụng công nghệmới sớm hơn các xí nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thi trường của nó Trong từng xí nghiệp , giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm thời , nhưng trong phạm vi xó hội thỡ nú lại thường xuyên tồn tại Giá rị thặng dư siêu ngạch là động lực mạnh nhất để thúc đẩy các nhà tư bản đổi mới công nghệ để tăng năng suất lao động cá biệt , đánh bại các đối thủ của mỡnh trong cạnh tranh C Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hỡnh thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối
6 Phân tích quy luật sản xuất giá trị thăng dư
Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản
Quy luật kinh tế cơ bản là quy luật phản ánh bản chất và mục đích của một
phương thức sản xuất Mỗi phương thức sản xuất có một quy luật kinh tế cơ bản
Bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất công nhân buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản Lao động không công của công nhân làm thuê là nguồn gốc của giá trị thặng
dư , nguồn gốc làm giàu của nhà tư bản Sản xuất giá trị thặng dư là mục đích duynhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Vì mục đích đó , các nhà tư bản sản xuất bất cứ loại hàng hóa nào , kể cả vũ khí giết người hàng loạt , miễn là thu được
Trang 10nhiều giá trị thặng dư Phương tiện để đạt mục đích là tăng cường bóc lột công nhân làm thuê trên cơ sở phát triển kỹ thuật , tăng cường độ lao động , kéo dài ngày lao động , tăng năng suất lao động
Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản Nội dungcủa quy luật là tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản bằng cách tăng cường các phương tiện kỹ thuật và quản lý để bóc lột ngày càng nhiều lao động làm thuê Quy luật giá trị thặng dư có tác dụng mạnh mẽ trong nhiều mặt củađời sống xã hội Một mặt , nó thúc đẩy kỹ thuật và phân công lao động xã hội phát triển , làm cho lực lượng sản xuất trong xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển vớitốc độ nhanh và nâng cao năng suất lao động Mặt khác , nó làm cho các mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản , trước hết là mâu thuẫn cơ bản của nó - mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất với sự chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa
về tư liệu sản xuất - ngày càng gay gắt
Câu 7 : Phân tích những ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ tư bản Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này
Tích luỹ tư bản là quá trình chuyển một phần giá trị thặng dư trở lại thành tư bản Nếu khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô tích luỹ tư bản phụ thuộc vào
tỷ lệ phân chia giá trị thặng dư cho tích luỹ và tiêu dùng Nếu tỷ lệ phân chia giá trị thặng dư đã được xác định thì quy mô tích luỹ tư bản sẽ phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư Mà khối lượng giá trị thặng dư thì lại phụ thuộc vào 3 yếu
tố là trình độ bóc lột giá trị thặng dư (m') , chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng , quy mô tư bản ứng trước
- Thứ nhất , quy mô tích luỹ tư bản phụ thuộc vào trình độ bóc lột giá trị thăng dưcủa nhà tư bản Để tăng thêm khối lượng giá trị thặng dư , nhà tư bản không tăng thêm thiết bị , máy móc , thuê thêm nhân công mà bắt số công nhân hiện
Trang 11có cung cấp thêm một lượng lao động bằng cách tăng thời gian lao động và cường độ lao động , tận dung triệt để công suất của máy móc hiện có , chỉ tăng thêm phần nguyên liệu tương ứng Một cách khác là tăng năng suất lao động Khi năng suất lao động XH tăng lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt giảm Điều này tạo ra hai kết quả:
+ Một là với khối giá trị thặng dư nhất định , phần dành cho tích luỹ có thể tăng thêm bằng cách lấn sang phần dành cho tiêu dùng mà việc tiêu dùng của nhà tư bản không giảm , có khi còn cao hơn trước
+ Hai là một lượng giá trị thặng dư nhất định có thể mua được một khối lượng
tư liệu sản xuất và sức lao động nhiều hơn do giá tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động giảm Không những thế , tăng năng suất lao động sẽ làm cho giá trị của tư bản cũ tái hiện dưới hình thái hữu dụng mới càng nhanh hơn
- Thứ hai là chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng Tư bản sử dụng
là khối lượng giá trị những tư liệu sản xuất mà toàn bộ quy mô hiện vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất hàng hoá còn tư bản tiêu dùng là phần giá trị những tư liệu sản xuất ấy được chuyển vào sản phẩm theo từng chu
kỳ sản xuất dưới dạng khấu hao Sự chênh lệch giữa chúng là thước đo sự tiến
bộ của lực lượng sản xuất Sau khi trừ đi những tổn phí hàng ngày trong việc
sử dụng máy móc và công cụ lao động , nhà tư bản sử dụng các công cụ lao động đó mà không mất thêm chi phí nào khác Sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng càng lớn thì sự phục vụ không công của tư liệu sản xuất càng nhiều
- Cuối cùng , đó là quy mô tư bản ứng trước Theo công thức M = m' V , nếu
tỷ suất giá trị thặng dư m' không đổi thì khối lượng giá trị thặng dư M chỉ tăng khi tổng tư bản khả biến V tăng và tất nhiên tư bản bất biến cũng sẽ phải tăng lên theo quan hệ tỷ lệ nhất định Do đó , muốn tăng khối lượng giá trị thặng dư
Trang 12phải tăng quy mô tư bản ứng trước Đại lượng tư bản ứng trước càng lớn thì quy mô sản xuất càng được mở rộng theo chiều rộng và theo chiều sâu
• Ý nghĩa:
a Tích luỹ vừa là điều kiện vừa là quy luật của tái sản xuất mở rộng Muốn
mở rộng quy mô sản xuất phải không ngừng tăng năng suất lao động , tăng sản phẩm thặng dư , trên cơ sở đó mà tăng quy mô sản xuất
b Phải khai thác những nhân tố làm tăng quy mô tích luỹ
c Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng để vừa mở rộng sảnxuất , vừa đảm bảo ổn định đời sống xó hội
d Phải tiến hành cả tích tụ và tậptrung để làm cho quy mô củ từng xí
nghiệp cũng như của toàn xó hội đều tăng
Câu 8 , 9 , 10: Đặc điểm kinh tế cơ bản của CNTƯ BẢN - ĐQ: ( 3 đặc điểm)
a Sự tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền:
- Tích tụ và tập trung sản xuất cao dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền là đặc trưng kinh tế cơ bản của CN đế quốc:
+ Khi bắt đầu chuyển sang CNTƯ BẢN- ĐQ thì hình thức thống trị là công ty cổ phần Những liên minh độc quyền này đầu tiên hình thành theo sự liên kết ngang (cùng ngành) dưới hình thức: Cácten , Xanhđica , Trớt
+ Sau đó là sự liên kết dọc Sự liên kết này không chỉ các xí nghiệp lớn mà cả các Xanhđica , Trớt thuộc các ngành khác nhau nhưng có liên quan với nhau về kinh
tế - kỹ thuật dẫn đến hình thành các công ty độc quyền lớn như: Côngxoocxiom Nhưng từ giữa thế kỷ 20 đã phát triển lên một hình thức mới: liên kết đa ngành hình thành các công ty lớn như: Cônglômêrát , Consơn thâu tóm nhiều công ty xí nghiệp thuộc những ngành công nghiệp khác nhau
Trang 13Khái niệm: Tổ chức độc quyền là liên minh những nhà TƯ BẢN lớn để tập trung vào trong tay một phần lớn (thậm chí toàn bộ) sản phẩm của một ngành , cho phép liên minh này phát huy ảnh hưởng quyết định đến quá trình sản xuất và lưu thông của ngành đó
- Vị trí , vai trò: Nhờ nắm được địa vị thống trị trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông , các tổ chức độc quyền có khả năng định ra giá cả độc quyền
+ Giá cả độc quyền là giá cả hàng hóa có sự chệnh lệch rất lớn so với giá cả sản xuất:
* Họ định ra giá cả độc quyền cao hơn giá cả sản xuất đối với những hàng hóa bán
Do đó những gì mà độc quyền thu được cũng là cái mà tầng lớp tư sản vừa và nhỏ ,nhân dân lao động ở các nước TƯ BẢN , thuộc địa mất đi
Như vậy ta thấy: Độc quyền ra đời từ cạnh tranh và giữ vai trò thống trị , nhưng
nó không thủ tiêu được cạnh tranh; độc quyền và cạnh tranh tồn tại song song và thống nhất với nhau một cách biện chứng Tuy nhiên trong thời đại Đế quốc chủ nghĩa thì tính chất cạnh tranh khác hẳn thời kỳ tự do cạnh tranh về mức độ và hình thức
b TƯ BẢN tài chính và bọn đầu sỏ tài chính:
Trang 14- Song song với qúa trình tích tụ và tập trung sản xuất , thì trong ngành ngân hàngcũng diễn ra một quá trình tương tự Hình thành các tổ chức độc quyền ngân hàng.
- Sự ra đời của các tổ chức độc quyền ngân hàng đã làm thay đổi vai trò của ngân hàng:
+ Từ chỗ là trung gian trong việc thanh toán và tín dụng , nay do nắm được phần lớn tư bản tiền tệ trong xã hội , ngân hàng đã có quyền lực vạn năng chi phối các hoạt động kinh tế xã hội:
* Các tổ chức độc quyền ngân hàng cho các tổ chức độc quyền công nghiệp vay vànhận gửi số tiền lớn của các tổ chức độc quyền công nghiệp tring một thời gian dài , nên lợi ích của chúng quyện chặt vào nhau Hai bên đều quan tâm đến hoạt động của nhau , tìm cách thâm nhập vào nhau , hình thành nên TƯ BẢN tài chính
- Khái niệm: TƯ BẢN tài chính là sự thâm nhập và dung hợp vàp nhau giữa TƯ BẢN độc quyên trong ngân hàng và TƯ BẢN độc quyền trong công nghiệp
- Sự phát triển của TƯ BẢN tài chính đã dẫn đến sự hình thành một nhóm nhỏ độcquyền chi phối toàn bộ hệ thống kinh tế , chính trị xã hội của xã hội TƯ BẢN Đóchính là bọn đầu sỏ tài chính
* Bọn đầu sỏ tài chính thực hiện sự thống trị của mình bằng "chế độ tham dự" với
số phiếu khống chế mà chi phối được công ty gốc (công ty mẹ) - > chi phối công
ty con - >chi phối công ty cháu… Như vậy chỉ bằng một số TƯ BẢN nhất định một đầu sỏ tài chính có thể chi phối được những lĩnh vực sản xuất
c Xuất khẩu tư bản:
- Xuất khẩu hàng hóa là mang hàng hóa ra nước ngoài để thực hiện giá trị và giá trị thặng dư