1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề cương triết (Cao học)

32 215 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 228,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Ph.ăng ghen về phép biện chứngduy vật: “phép biện chứng là môn khoa học về sự liên hệ phổ biến” và “là mônkhoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự

Trang 1

CÂU HỎI ÔN TẬP TRIẾT HỌC

Phân tích và nêu ý nghĩa của từng nội dung sau

- Mác và Ănghen đã khắc phục được sự tách rời giữa thế giới quan duy vật vàphép biện chứng trong triết học trước đây tạo nên sự thống nhất giữa CNDV vàphép biện chứng, xây dựng triết học DVBC

- Sáng lập ra CNDV lịch sử, làm cho CNDV trở nên triệt để

- Gắn triết học với thực tiễn cuộc sống, coi thực tiễn là mục đích, cơ sở, động lựccủa sự phát triển triết học

- Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ thể, khắcphục được những quan điểm không đúng trước đây coi triết học là khoa học củamọi khoa học

Trả lời:

1.Mác và Ăngghen đã khắc phục sự tách rời thế giới quan duy vật và phép biện chứng, tạo ra sự thống nhất CNDV với phép biện chứng, xây dựng ra triết học DV biện chứng.

Trước Mác, CNDV và phép biện chứng về cơ bản bị tách rời nhau CNDVtuy có chứa đựng một số tư tưởng biện chứng nhất định, nhưng nhìn chungphương pháp siêu hình giữ vai trò thống trị, xem xét có tính một chiều, tuyệt đốihoá, phủ nhận các khâu trung gian, chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật hiệntượng “Chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không thấy sự mối liên hệ qualại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy màkhôngnhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấytrạng tháI tĩnh của những vật ấy mà quên mất sự vận động của những vật ấy, chỉnhìn thấy cây mà không thấy rừng”

Trong khi đó, phép biện chứng lại đạt đến đỉnh cao ở CNDT với quan niệm

về sự phát triển của “ ý niệm tuyệt đối” trong triết học cổ điển Đức, đặc biệt trongtriết học Hêghen Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức đã hoànthành cuộc cách mạng về mặt phương pháp, nhưng cuộc cách mạng đó lại ở tậntrên trời, chứ không phảI ở dưới trần gian, trong cuộc sống hiện thực của loàingười, do vậy phép biện chứng đó “không tránh khỏi gò ép, giả tạo, hư cấu, tómlại là bị xuyên tạc”

Việc tách rời giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng đã không chỉlàm các nhà duy tâm mà ngay cả các nhà duy vật trước Mác không hiểu về mốiliên hệ phổ biến, về sự thống nhất và nối tiếp nhau của các sự vật hiện tượng trongthế giới vật chất

Triết học Mác ra đời đã giải thoát thế giới quan duy vật khỏi hạn chế siêuhình và cứu phép biện chứng khỏi duy tâm thần bí để hình thành nên chủ nghĩa

Trang 2

duy vật biện chứng với sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phépbiện chứng, đem lại cho con người một quan niệm hoàn toàn mới về thế giới- làvật chất không ngừng vận động, phát triển Theo Ph.ăng ghen về phép biện chứngduy vật: “phép biện chứng là môn khoa học về sự liên hệ phổ biến” và “là mônkhoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tựnhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.

Theo Lê nin phép biện chứng duy vật “là học thuyết về sự phát triển dướihình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tươngđối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn phát triểnkhông ngừng”

Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duyvật với phương pháp biện chứng, giữa lý luận nhận thức với lô gíc biện chứng Sự

ra đời của phép biện chứng duy vật là cuộc cách mạng trong phương pháp tư duytriết học, là phương pháp tư duy khác về chất so với các phương pháp tư duy trướcđó

2 Sáng lập ra chủ nghĩa Duy vật lịch sử để CNDV trở nên triệt để.

Chủ nghĩa duy vật trước Mácđều khẳng định sự tồn tại của thế giới vật chất

và thừa nhận tính thứ nhất của vật chất Song vì không hiểu đúng về vật chất,không hiểu đúng nguồn gốc, bản chất của ý thức, thiếu quan điểm thực tiễn, thiếu

tư duy biện chứng…nên khi giải quyết các vấn đề xã hội đã lấy yếu tố tinh thầnnhư tình cảm, ý chí, nguyện vọng làm nền tảng

Khẳng định ngồn gốc vật chất của xã hội, sản xuất vật chất là cơ sở của đờisông xã hội, phương thức sản xuất quyết định quá trình sinh hoạt xã họi, chính trị,tinh thần, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và coi sự phát triển của xã hội làquá trình lịch sử tự nhiên, chủ nghĩa Mác đã khắc phục được tính không triệt đểcủa chủ nghĩa duy vật trước Mác

Chủ nghĩa Mác đã chỉ ra quy luật vận động của lịch sử xã hội loài người,quy luật biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, quan hệ về kinh

tế quyết định các quan hệ về kiến trúc thượng tầng Đồng thời chủ nghĩa Mác cũngphát hiện ra vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là người “đào huyệtchôn chủ nghĩa tư bản”, thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, hướng đến mụctiêu giải phóng con người Với bản chất duy vật triệt để, triết học Mác đã trở thànhcông cụ vĩ đại để nhận thực và cảI tạo thế giới, tạo ra bước phát triển mới về chất,một bước nhẩy vọt so với các hệ thống triết học khác

3 Gắn triết học với thực tiễn cuộc sống, coi thực tiễn là mục đích, cơ sở, động lực phát triển của triết học.

Trong lịch sử, các hệ thống triết học trước Mác đều chưa thấy vai trò thựctiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và chân lý, chưa nhận thức hết ýnghĩa thực tiễn cao nhất của triết học là hướng đến phát triển xã hội và giải phóngcon người Chỉ khi triết học Mác ra đời, vai trò của thực tiễn và sự thống nhất giữa

lý luận với thực tiễn mới được xem như là một nguyên tắc căn bản, chi phối mọihoạt động “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lýkhách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là vấn đề thực

Trang 3

tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý, nghĩa là chứngminh tính hiện thực và sức mạnh, tính trần tục của tư duy của mình Sự tranh cãi

về tính hiện thực hay tính không hiện thực của tư duy tách rời thực tiễn, là một vấn

đề kinh viện thuần tuý”

4 Giải quyết đúng đắn mối quan hệ Triết học với Khoa học cụ thể, khắc phục những quan điểm không đúng đắn trước đây coi Triết học là khoa học của mọi khoa học.

Quan niệm truyền thống trong lịch sử triết học trước Mác coi “ triết học làkhoa học của mọi khoa học” Triết học Mác ra đời đã chấm dứt quan niệm đó vàxác định: đối tượng của triết học là nghiên cứu những quy luật chung nhất của tựnhiên,xã hội và tư duy Vì vậy, triết học Mác không những không tách rời mà càng

có mối liên hệ thống nhất và độc lập với các khoa học chuyên ngành Sự phát triểncủa các lĩnh vực khoa học khác nhau trong việc nghiên cứu tự nhiên và xã hội đặt

cơ sở cho những kháI quát mang tính phổ biến của triết học Mặt khác, những kếtluận của triết học trở thành thế giới quan khoa học và phương pháp luận chungnhất cho sự phát triểncủa các lĩnh vực khoa học Những thành tựu nghiên cứu củacác khoa học về tự nhiên và xã hội là tiền đề cho hệ thống phạm trù, quy luật triếthọc ngày càng vận động phát triển, đồng thời, ngược lại, hệ phạm trù, quy luậttriết học định hướng cho sự phát triển hợp quy luật của các lĩnh vực khoa học khácnhau./

Câu 2 Cơ sở lý luận, yêu cầu và ý nghĩa của quan điểm khách quan (nguyên tắc

+ Phải phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức của nhân tố chủ quan trongnhận thức và thực tiễn Nói một cách cụ thể phải nâng cao trình độ tri thức khoahọc, vốn hiểu biết Phải giáo dục và rèn luyện phương pháp nhận thức Phải bồidưỡng nhiệt tình, ý chí, niêm tin cho con người

Ý thức = tri thức, tình cảm, ý chí, nhiệt tình, niềm tin

- Ý nghĩa: Phê phán bệnh chủ quan duy ý chí mà chúng ta đã mắc phải

Trả lời:

a Cơ sở lý luận: Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

- Vật chất quyết định ý thức:

+ Vật chất có trước, ý thức có sau Vật chất sinh ra ý thức, ý thức là chức năng của

óc con người – dạng vật chất có tổ chức cao nhất của thế giới vật chât

Trang 4

+ Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con người một cáchnăng động, sáng tạo Thế giới vật chất là nguồn gốc khách quan của ý thức.

- Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất

+ Ý thức có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm với một mức độ nhất định sự biến đổi củanhững điều kiện vật chất

+ Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của con người.Tách rời khỏi thực tiễn bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gìtrong hiện thực cả Ở đây, con người dựa trên các tri thức về những quy địnhkhách quan mà đề ra mục tiêu, phương hướng thực hiện Xác định các phươngpháp và bằng ý chí thực hiện mục tiêu ấy

+ Sự tác động của ý thức đối với vật chất dù đến mức độ nào đi chăng nữa thì nóvẫn phải dựa trên sự phản ánh của thế giới vật chất

Tóm lại: Quan hệ giữa vật chất và ý thức không phải là quan hệ một chiều mà là

quan hệ tác động qua lại Không thấy điều đó sẽ rơi vào quan niệm duy vật tầmthường, không biện chứng và mắc phải bệnh bào thủ, trì trệ trong hành động

- Biểu hiện của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là mốiquan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội Trong đó tồn tại xã hội quyết định ýthức xã hội và ý thức xã hội có tính độc lập tương đối tác động trở lại tồn tại xãhội Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để xem xét các mốiquan hệ khác như: chủ thể và khách thể, lý luận và thực tiễn, điều kiện khách quan

Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, cũng có nghĩa

là ý thức là sự phản ánh tính tự giác, sáng tạo thế giới

- Phản ánh ý thức là sáng tạo vì bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn quy định Nhucầu đó đòi hỏi chủ thể phản ánh phải hiểu được cái phản ánh Trên cơ sở đó hìnhthành nên hình ảnh tinh thần và những hình ảnh đó ngày càng phản ánh đúng đắnhơn hiện thực khách quan Song sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của phảnánh dựa trên cơ sở phản ánh

- Phản ánh ý thức là sáng tạo vì phản ánh đó bao giờ cũng dựa trên hoạt động thựctiễn và là sản phẩm của các quan hệ xã hội Là sản phẩm của các quan hệ xã hộinên bản chất của ý thức có tính xã hội

Chúng ta biết rằng, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào conngười một cách sáng tạo Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất ý thức,chúng thống nhất biện chứng với nhau TÍnh sáng tạo của ý thức là sáng tạo trên

Trang 5

cơ sở phân ánh và trong khuôn khổ phản ánh Vì vậy nếu tách rời sáng tạo và phảnánh, cường điệu tính sáng tạo sẽ rơi vào chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa chủ quan.

Vì vậy theo Lênin, tính khách quan của sự xem xét là nguyên tắc hàng đầucủa phương pháp nhận thức biện chứng duy vật Nguyên tắc này là kết quả tất yếucủa quan điểm duy vật macxit khi giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức,khách quan và chủ quan

Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và hành động phải xuấtphát từ bản thân sự vật, từ thực tế khách quan, phản ánh sự vật một cách trungthành như nó vốn có, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan, không lấy ýmuốn chủ quan của mình làm chính sách, không lấy ý chí áp đặt cho thực tế, phảitôn trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan, nóng vội, phiến diện, định kiến khôngtrung thực Yêu cầu của nguyên tắc khách quan còn đòi hỏi phải tôn trọng và hànhđộng theo quy tắc khách quan Đó cũng là bài học quan trọng mà Đại hội lần thứ

VI của Đảng ta đã rút ra và được khẳng định lại trong văn kiện Đại hội lần thứ VIIcủa Đảng: “Mọi đường lối, chủ trương chính sách của Đảng phải xuất phát từ thực

tế, tôn trọng quy luật khách quan”

Quan điểm trên của triết học Mác về nguồn gốc và bản chất của ý thứchoàn toàn đối lập với chủ nghĩa duy tâm coi ý thức, tư duy là cái có trước, sinh ravật chất và chủ nghĩa duy tâm tầm thường coi ý thức là một dạng vật chất hoặc coi

ý thức là sự phản ánh đơn giản, thụ động thế giới vật chất

Vì vậy, nguyên tắc khách quan không những không được bài trừ mà trái lạicòn đỏi hỏi phảt huy tính năng động chủ quan, phát huy tính sáng tạo của ý thức

Ý thức có tính độc lập tương đối so với vật chất, có tính năng động sáng tạo nên

có thể tác động lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạtđộng thực tiễn của con người Vai trò tích cực của ý thức không ở chỗ nó trực tiếptạo ra hay thay đổi thế giới vật chất, mà nhận được từ thế giới khách quan làm chocon người hình thành được mục đích, phương hướng, biện pháp và ý chí cần thiếtcho hoạt động thực tiễn của mình…

Vì vậy, phải chống lại thái độ thụ động, ỷ nại, bảo thủ trì trệ; phải coi trọngvai trò của ý thức, tư tưởng, coi trọng công tác tư tưởng và giáo dục tư tưởng, coitrọng việc giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh – nên tưtưởng của Đảng ta Đồng thời, phải giáo dục và nâng cao trình độ tri thức khoahọc cho nhân dân nói chung, nâng cao trình độ cho cán bộ, đảng viên, nhất làtrong điều kiện của nền văn minh trí tuệ hiện nay; mặt khác, phải củng cố, bồidường nhiệt tình ý chí cách mạng cho nhân dân, coi trọng việc giữa gìn, rèn luyệnphẩm chất cán bộ, đảng viên, đảm bảo sự thống nhất giữa nhiệt tình cách mạng vàtri thức khoa học, tạo động lực cho công cuộc đổi mới xã hội thắng lợi

c Ý nghĩa:

- Vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh vật chất Cho nên trong nhậnthức phải đảm bảo nguyên tắc “tính khách quan của sự xem xét” và trong hoạtđộng thực tiễn phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo cácquy luật khách quan

Trang 6

- Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất thông qua hoạt độngcủa con người, cho nên cần phải phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của ýthức đối với vật chất bằng cách nâng cao năng lực nhận thức các quy luật kháchquan và vận dụng chúng vào trong hoạt động thực tiễn của con người.

- Cần phải chống lại bệnh chủ quan, ảo tưởng ấy mong muốn chủ quan thuần túy

để thay cho điều kiện khách quan

- Ngoài ra, chúng ta cũng cần chống lại chủ nghĩa duy ý chí cũng như thái độ thụđộng, chờ đợi và điều kiện vật chất, hoàn cảnh khách quan Đồng thời, phải biếtphát huy giá trị truyền thống, giá trị xã hội

+ Đặt sự vận động trong mối liên hệ mà xem xét và giải quyết

+ Phải phân biệt, đánh giá được vị trí, vai trò của các mối liên hệ tránh giàn trải,bình quân

+ Xem xét sự vật trong tính chỉnh thể của nó, cải biến sự vật phải đảm bảo tínhđồng bộ

- Ý nghĩa: Phê phán:

+ Bệnh phiến diện của trong nhận thức và thực tiễn

+ Chủ nghĩa chiết trung (kết hợp một cách vô nguyên tắc, chủ quan những cáitrong thực tế không kết hợp vói nhau)

+ Thuật ngụy biện: Đánh tráo một cách có chủ đích vị trí, vai trò của các mối liên

hệ nhằm xuyên tạc một cái gì đấy howcj biện hộ cho một hành vi, tư tưởng sai lầmnào đấy

Trả lời:

A Cơ sở lý luận:

Quan điêm toàn diện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn làmột trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng của phép BCDV Cơ sở lý luậncủa quan điểm toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Trong Triết học,mối liên hệ phổ biến dùng để khái quát mối liên hệ, sự tác động qua lại, chuyểnhoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các giai đoạn phát triểncủa một sự vật, hiện tượng Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vậtchất của thể giới, theo đó, các sự vật, hiện tượng trong thế giới dù có đa dạng, cókhác nhau thế nào đi nữa, thì cũng chỉ là những dạng cụ thể khác nhau của một thếgiới vật chất duy nhất

Các mối liên hệ có tính khách quan, phổ biến và đa dạng, chúng giữ nhữngvai trò khác nhau quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Tronghoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn không nên tuyệt đối mối liên hệ nào vàcũng không nên tách rời mối liên hệ này khỏi mối liên hệ khác bởi trên thực tế, các

Trang 7

mối liên hệ còn phải được nghiên cứu cụ thể trong sự biến đổi và phát triển củachúng.

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khái quát bức tranh toàn cảnh về thế giớitrong mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật, hiện tượng Tính vô hạn của thế giớikhách quan, tính có hạn của sự vật, hiện tượng trong thế giởi chỉ có thể giải thíchđược trong mối liên hệ phổ biến và được quy định bằng nhiều mối liên hệ có hìnhthức và vai trò khác nhau Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, con người rút rađược những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thựctiễn

B Các yêu cầu trong quan điểm (nguyên tắc) toàn diện.

Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét sự tồn tại của nó trongmối quan hệ qua lại giữa các bộ phận, yếu tố, thuộc tính khác nhau trong chỉnh thểcủa sự vật, hiện tượng ấy và trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật, hiện tượng đóvới sự vật hiện tượng khác trong chỉnh thể của sự vật, hiện tượng ấy và trong mốiliên hệ qua lại giữa các sự vật hiện tượng đó với sự vật hiện tượng khác; tránhcách xem xét phiến diện, một chiều Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi phải xem xét,đánh giá từng mặt, từng mối liên hệ, và phải nám được đâu là mối liên hệ chủ yếu,bản chất quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng; tránh chủ nghĩasai lầm của thuật ngụy biện, coi cái cơ bản thành cái không cơ bản, không bản chấtthành bản chất hoặc ngược lại, dẫn đến sự nhận thức sai lệch, xuyên tạc bản chất

sự vật ấy với những sự vật khác” Tuy nhiên, cũng theo V.I.Lênin, chúng ta khôngthể làm được điều đó hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả mọimặt sẽ đề phòng không phạm sai lầm và cứng nhắc Sở dĩ chúng ta khong làmđược điều đó hoàn toàn đầy đủ bởi trong quá trình vận động, phát triển sự vật, hiệntượng phải trải qua nhiều giai đoạn tồn tại, phát triển khác nhau, trong mỗi giaiđoạn đó không phải lúc nào sự vật, hiện tượng cũng bộc lộ tất cả các mối quan hệbên trong và bên ngoài của nó Hơn nữa, tất cả những mối liên hệ ấy chỉ được biểuhiện ra trong những điều kiện nhất định Và bản thân con người, những chủ thểnhận thức với những phẩm chất và năng lực của mình luôn bị ức chế bởi nhữngđiều kiện xã hội lịch sử, do đó không thể bao quát được hết những mối liên hệ bêntrong và bên ngoài các sự vật, hiện tượng

Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật, hiện tượng chúng

ta cần xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Mối liên

hệ giữa sự vật, hiện tượng với nhu cầu của con người rất đa dạng, trong mỗi hoàncảnh nhất định, con người chỉ phản ánh một số mối liên hệ nào đó của sự vật, hiệntượng phù hợp với nhu cầu nhất định của mình, nên nhận thức của con người về sự

Trang 8

vật, hiện tượng mang tính tương đối, không đầy đủ, trọn vẹn Nắm được điều đó sẽtránh tuyệt đối hóa những tri thức đã có về sự vật, hiện tượng và tránh coi nhữngtri thức đã có là những chân lý bất biến, tuyệt đối, cuối cùng về sự vật, hiện tượng

mà không thể bổ xung, phát triển Bởi vậy, khi xem xét toàn diện tất cả các mặtcủa những mối quan hệ của sự vật, hiện tượng phải chú ý đến sự phát triển cụ thểcủa các mối quan hệ đó, chỉ có như vậy mới thấy được vai trò của các mặt trongtừng giai đoạn cũng như của toàn bộ quá trình vận động, phát triển của từng mốiquan hệ cụ thể của sự vật, hiện tượng Theo V.I Lênin, phép biện chứng đòi hỏingười ta phải chú ý đến tất cả các mối quan hệ trong sự phát triển cụ thể củanhững mối quan hệ đó, chứ không phải lấy một mẩu ở chỗ này, một mẩu ở chỗkia Như vậy xem xét toàn diện nhưng không bình quân dàn đều mà có trọng tâmtrọng điểm, phải tìm ra vị trí từng mặt, từng yếu tố trong mối liên hệ trong tổng thểcủa chúng, phải từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối quan hệ của sự vật, hiện tượng

để khái quát, rút ra mối liên hệ chủ yeus, bản chất nhất, quan trọng nhất chi phối

sự tồn tại và phát triển của chúng

Nguyên tắc toàn diện đối lập với cách nhìn phiến diện, một chiều; đối lậpvới chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện Chủ nghĩa chiết trung cũng chú ý đếnnhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật, hiện tượng nhưng không rút ra được mặtbản chất, mối liên hệ cơ bản của sự vật hiện tượng, mà xem xét bình quân, kết hợp

vô nguyên tắc các mối liên hệ khác nhau, tạo thành một mớ hỗn tạp các sự kiện,cuối cùng sẽ lúng túng, mất đi phương hướng và bất lực trước chúng Thuật ngụybiện đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất

Cả chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện đều là biểu hiện của phương pháp luậnsai lầm trong việc xem xét các sự vật, hiện tượng Sự khác nhau giữa chủ nghĩachiết trung và thuật ngụy biện với phép biện chứng duy vật nằm ở chỗ, nếu thuậtngụy biện và chủ nghĩa chiết trung áp dụng chủ quan tính linh hoạt toàn diện, phổbiến của các khái niệm, thì phép biện chứng duy vật phản ánh sự vận động, pháttriển trong tính toàn diện của quá trình vật chất và sự thống nhất của quá trình đó

Từ những phân tích trên cho thấy, logic của quá trình hình thành quan điểm toàndiện trong nhận thức, xem xét sự vật hiện tượng sẽ phải trải qua nhiều giai đoạn,

cơ bản là đi từ quan niệm ban đầu về cái toàn thể của sự vật, hiện tượng rồi đi đếnnhận thức nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật, hiện tượng đó và cuối cùng đitới khái quát những tri thức phong phú đó để rút ra tri thức về bản chất sự vật, hiệntượng

C Ý nghĩa của quan điểm toàn diện.

Từ quan điêm toàn diện trong nhận thức, chúng ta rút ra cách nhìn động bộtrong hoạt động thực tiễn Theo đó, muốn cải tạo sự vật, hiện tượng phải áp dụngđồng bộ một hệ thống các biện pháp, phương tiện khác nhau để tác động làm thayđổi các mặt, các mối quan hệ tương ứng của sự vật, hiện tượng Song trong từngbước, từng giai đoạn phải nắm đúng khâu trọng tâm, then chốt để tập trung lựclượng giải quyết Trước đây, trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ trên cơ sởphân tích toàn diện bản chất xã hội Việt Nam là thuộc địa nửa phong kiến, Đảng tachỉ rõ hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với

đế quốc xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, mà trước hết là nông dân với địa

Trang 9

chủ phong kiến Trong đó, mâu thuẫn giữa nhân dân với đế quốc xâm lược và bọntay sai phản bội dân tộc là mâu thuẫn chủ yếu, cần tập trung lực lượng giải quyết,sau đó giải quyết các mâu thuẫn khác Nhờ đó, cuộc cách mạng dân tộc dân chủnhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành thắng lợi trọn vẹn Ngày nay, trongquá trình lãnh đạo nhân dân ta thực hiện công cuộc đổi mới đất nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở nhấn mạnh tính tất yếu phải đổi mới cả lĩnhvực kinh tế và lĩnh vực chính trị, Đảng ta luôn xác định phát triển kinh tế là trungtâm, xây dựng Đảng là then chốt Thực hiện quá trình đổi mới vừa qua đã chứngminh tính đúng đắn của những quan điểm đó.

Trong mọi hoạt động cần quán triệt nguyên tắc toàn diện Việc nghiên cứutrong các ngành khoa học tự nhiên không tách rời nhau, ngược lại phải trong mốiliên hệ với nhau, thâm nhập vào nhau Có nhiều sự vật, hiện tượng đòi hỏi phải có

sự nghiên cứu liên ngành giữa các khoa học Trong lĩnh vực xã hội, nguyên tắctoàn diện cũng đóng vai trò quan trọng Chúng ta không thể hiểu được bản chấtmột hiện tượng nếu tách nó ra khỏi những mối liên hệ, những tác động qua lại vớicác hiện tượng xã hội khác Trong thời kỷ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mớicủa cách mạng Việt Nam hiện nay, nếu không phân tích toàn diện những mối liên

hệ tác động, sẽ không đánh giá đúng tình hình và nhiệm vụ cụ thể của đất nướctrong từng giai đoạn cụ thể do vậy không đánh giá hết những khó khăn, thuận lợitrong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

+ Xem xét và giải quyết sự vật trong sự vận động và phát triển của nó

+ Phải tích cự phát hiện và xử lý mâu thuẫn, phát hiện ra khả năng phát triển, pháthiện ra cái mới thúc đẩy sự vật phát triển

+ Tư duy phải mềm dẻo, năng động, phải luôn luôn sửa đổi, bổ xung và phát triểncho phù hợp với sự biến đổi của sự vật cũng như trình độ tư duy của nhân loại

- Như vậy, cơ sở lý luận của quan điểm phát triển là các quy luật cơ bản của phépBCDV Chúng là mối quan hệ bản chất giữa các sự vật hay giữa các nhân tố tạo sựvật Đó là những mối liên hệ chi phối vận động và biến đổi thế giới

Trang 10

+ Quy luật thứ nhất: Quy luật về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lậphay còn gọi là quy luật mâu thuẫn Lênin cho rằng “sự phát triển là một cuộc đấutranh giữa các mặt đối lập” Đồng thời ông cũng viết: “Sự phát triển coi như là sựthống nhất của các mặt đối lập”, sự thống nhất đó như là “sự phân đôi của cáithống nhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫn nhau và mối quan hệ lẫn nhau giữacác mặt đối lập ấy”.

Như vậy, sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập đuợc xem là độnglực là nguồn gốc của sự phát triển Chính sự thống nhất của các mặt đối lập đã tạo

ra sự bù trừ, sự phối hợp, sự sản sinh trong thế giới khách quan Đồng thời đấutranh giữa chúng tạo nên sự loại bỏ những gì đã lạc hậu, là lỗi thời, tạo điều kiệncho cái mới, cái tiến bộ ra đời Mọi sự vận động và phát triển trong thế giới hiệnthực không phải là bắt nguồn từ thế giới bên ngoài mà trước hết là từ các nhân tốbên trong Đó là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

a Quy luật thứ hai: Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thànhnhứng sự thay đổi về chất và ngược lại

Quy luật này chỉ rõ phương thức của sự vận động và biến đổi, đặc biệt làphương thức phát triển của mọi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Muốntạo ra sự biến đổi về chất thì trước hết phải có sự tích luỹ, tăng trưởng đến mức vềlượng, và khi hết độ của nó tức là đến điểm nút thì phải tạo ra những bước nhảyvọt, thực hiện quá trình biến đổi về chất đi đến quyết định mang tính cách mạng.Mặc dù sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất có cả hai chiều: Chiều đixuống và chiều đi lên, xong khi nói đến sự tác động của quy luật này, phép BCDVthường nhấn mạnh đến chiều hướng đi lên, chiều hướng phát triển của sự vật hiệntượng

+ Quy luật thứ ba: Quy luật phủ định của phủ định Quy luật này được xem

là sự tổng hợp, tổng kết của một giai đoạn vận động, phát triển của sự vật Phủđịnh của phủ định thực chất là quá trình thay đổi về chất của sự vật, cũng vì vậy

nó là kết quả tổng hợp của mọi sự biến đổi của sự vật trong một giai đoạn pháttriển nhất định

Lênin nhấn mạnh vai trò của sự phủ định trong quá trình phát triển, xemphủ định là “vòng khâu”của sự phát triển, là “sự lặp” lại ở giai đoạn cao, của một

số đặc trưng, đặc tính, … của giai đoạn thấp và “sự quay vòng trở lại dường nhưvới cái cũ” Đó là quá trình vận động, biến đổi theo cái logic khách quan, vốn cócủa bản thân thế giới Chính cái tất yếu khách quan đó đã làm cho sự phủ địnhtách khỏi những ý tưởng chủ quan, làm cho quá trình phủ định: không chỉ có sựbác bỏ mà còn có sự kế thừa, thậm chí “kế thừa” là cái đặc trưng, căn bản nhất của

sự phủ định biện chứng

Ba là quy luật cơ bản của phép biện chứng thực chất chỉ là ba mặt của mộtquá trình Sự tác động qua lại của các mặt đối lập cũng là quá trình tạo nên sự biếnđổi về lượng của sự vật Việc xóa bỏ chất cũ để làm cho lượng không bị kìm hãmcũng là quá trình giải quyết mâu thuẫn, là quá trình phủ định biện chứng và chính

sự tác động đồng thời của ba quy luật cơ bản của phép BCDV đã tạo nên sự vậnđộng biến đổi của sự vật

- Yêu cầu của quan điểm phát triển

Trang 11

Yêu cầu của quan điểm phát triển trước hết là phải nhìn nhận sự vật trong

xu thế vận động, biến đổi tất yếu của nó, phải đặt nó trong dòng chảy của sự tiếnhoá Thực chất của quan điểm này là phải nhìn rõ chiều hướng vận động của mâuthuẫn cơ bản, khả năng giải quyết các mâu thuẫn này vì điều đó liên quan tới sựtồn tại hay tiêu vong của sự vật và liên quan tới giải quyết các mâu thuẫn khác.Mặt khấcphỉ biết được các nhân tố mới, phải nhìn nhận các khả năng đặc biệt làkhả năng tất nhiên để có thể đề ra mục tiêu phấn đấu một cách cụ thể và có tínhkhả thi cao

Quan điểm phát triển đòi hỏi một tinh thần lạc quan cách mạng, một thái độbình tĩnh, sáng suốt, một ý chí quyết tìm ra những bước đi thích hợp thậm chí có

cả những biện pháp “lùi một bước để tiến hai bước” đều là những yêu cầu quantrọng của quan điểm này Điều đó có ý nghĩa trong tư duy phải “mềm dẻo”, năngđộng, phải luôn luôn sửa đổi, bổ xung và phát triển cho phù hợp với sự biến đổicủa sự vật cũng như trình độ tư duy của nhân loại

- Ý nghĩa của quan điểm phát triển.

Như đã đề cập ở trên, phát triển là một khuynh hướng tất yếu trong thế giớikhách quan, nó tuân theo những quy luật vốn có của bản thân thế giới Xuất phát

từ cơ sở lý luận là các quy luật cơ bản của phép BCDV Quy luật về sự thống nhất

và đấu tranh cảu các mặt đối lập, quy luật này chỉ rõ nguồn gốc của sự vận động

và phát triển Nó cho ta cơ sở lý luận để phân tích mâu thuẫn và tìm ra phươngpháp thích hợp để giải quyết mâu thuẫn

Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thayđổi về chất và ngược lại Quy luật này chỉ rõ phương thức của sự vận động và pháttriển Từ quy luật này con người có thể rút ra phương pháp phát triển tránh đượcbệnh nôn nóng, chủ quan trong quá trình cải tạo thế giới

Quy luật phủ định của phủ định Quy luật này giúp con người tránh được tưtưởng “hư vô chủ nghĩa” trong quá trình phát triển đồng thời cũng khắc phục được

tư tưởng bảo thủ, trì trệ, thiếu tinh thần cách mạng trong việc cải tạo tự nhiên, cảitạo xã hội

Quá trình phủ định không chỉ có sự bác bỏ mà còn có sự kế thừa, thậm chí

“kế thừa” là cái đặc trưng, căn bản Những người có tư tưởng hữu khuynh hoặc tảkhuynh không phải là những ngừơi có quan điểm phát triển Sự phủ định ở đâykhông phải là sự phủ định sạch trơn, không phải sự phủ định không suy nghĩ,không phải sự phủ định hoài nghi mà là sự phủ định coi như là vòng khâu của liên

hệ, phát triển; không có một sự do dự nào, không có một sự triết trung nào Sựphát triển bao giờ cũng diễn ra như những chu kỳ, những quá trình vừa lặp lại, vừanâng cao, những con đường quay co phức tạp như những đường xoắn ốc; không

có sự phát triển theo đường thẳng giản đơn, không có sự lặp lại thuần tuý

Minh chứng cụ thể trong lịch sử, đường lối cách mạng cực kỳ mềm dẻo củaLênin và Đảng Bonsevich Nga sau cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, tưtưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam trướcđây cũng như trong thời kỳ đổi mới hiện nay đã vừa thể hiện một niềm tin sắt đã ởthắng lợi của chủ nghĩa xã hội vừa thực hiện sự linh hoạt, mềm dẻo để đưa đất

Trang 12

nước vượt qua những khó khăn thử thách vươn lên trong tiến trình phát triển củanhân loại.

Câu 5:

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, ý nghĩa trong việc đấutranh khắc phục bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm

Đề cương:

- Khái niệm lý luận, thực tiễn

- Nội dung các mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn: Vai trò của thực tiễn với lýluân (4 vai trò), vai trò của lý luận với thực tiễn (3 vai trò: Hướng dẫn chỉ đạo,định hướng, thâm nhập vào quần chúng biến thành niềm tin và hoạt động quầnchúng biến thành lực lượng vật chất)

- Đấu tranh chống bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm

+ Bệnh giáo điều là gì, biểu hiện

+ Bệnh kinh nghiệm là gì, biểu hiện

+ Nguyên nhân của hai căn bệnh: Là do không thống nhất lý luận và thực tiễn.+ Khắc phục: Nâng cao trình độ lý luận, kết hợp lý luận vói thực tiễn trong hoạtđộng lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn

Trả lời:

1 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

- Lý luận với nghĩa chung nhất là sự khái quát những kinh nghiệm thực tiễn, làtổng hợp các tri thức về tự nhiên, xã hội đã được tích lũy trong quá trình lịch sửcủa con người

Như vậy lý luận là sản phẩm cao của nhận thức, là những tri thức về bảnchất, quy luật của hiện thực

Là sản phẩm của quá trình nhận thức bản chất của lý luận là hình ảnh chủquan của thế giới khách quan

- Thực tiễn là phạm trù triết học chỉ toàn bộ hoạt động vật chất có tính chất lịchsử-xã hội của con người làm biến đổi tự nhiên và xã hội

Bản chất của hoạt động thực tiễn đó là sự tác động qua lại của chủ thể vàkhách thể

Hoạt động thực tiễn đa dạng, xong có thể chia thành ba hình thức: hoạtđộng sản xuất vật chất; hoạt động biến đổi chính trị - xã hội và hoạt động thựcnghiệm khoa học trong đó hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động có ý nghĩaquyết định các hình thức khác, hoạt động biến đổi chính trị - xã hội là hình thứccao nhất và hoạt động thực nghiệm khoa học là hình thức đặc biệt nhằm thu nhậnnhững tri thức về hiện thực khách quan

- Trong quan hệ với lý luận, thực tiễn có vai trò quyết định vì thực tiễn là hoạtđộng vật chất, còn lý luận là sản phẩm của hoạt động tinh thần Vai trò quyết địnhcủa thực tiễn đối với lý luận thể hiện ở chỗ

+ Thực tiễn là cơ sở, động lực và mục đích của lý luận (nhận thức), thực tiễn còn

là tiêu chuẩn của lý luận

Trang 13

Thông qua hoạt động thực tiễn, lý l uận mới được vật chất hóa, hiện thựchóa, mới có sức mạnh cải tạo hiện thực.

Sở dĩ nói như vậy vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của lý luận Nó đề

ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức và khuynh hướng vận động và phát triển của nhậnthức Chính con người có nhu cầu tất yếu kết quả là giải thích và cải tạo thế giới

mà buộc con người phải tác động trực tiếp vào các sự vật, hiện tượng bằng hoạtđộng thực tiễn của mình Sự hoạt động đó làm cho các sự vật, hiện tượng bộc lộnhững thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ khác giữa chúng, đem lại nhữngtài liệu cho nhận thức, giúp cho nhân thức nắm bắt được bản chất các quy luật vậnđộng và phát triển của thế giới

Thực tiễn không đơn giản chỉ là những hoạt động vật chất của từng conngười cá biệt, riêng lẻ mà là dạng hoạt động cơ bản của xã hội loài người, khôngchỉ mang tính xã hội hoạt động thực tiễn là một quá trình lịch sử, là sản phẩm củalịch sử toàn thế giới thể hiện những mối quan hệ đa dạng và vô tận giữa con ngườivới tự nhiên và con người với con người

Hoạt động thực tiễn được xem như phương thức đặc biệt của mối quan hệcon người với thế giới xung quanh Con người vừa tự thích nghi với môi trườngvừa thông qua hoạt động của mình tác động một cách tích cực để biến đổi, cải tạothế giới đồng thời với quá trình đó, con người cũng phát triển và hoàn thiện bảnthân mình Hoạt động nhận thức (lý luận) của con người nảy sinh, phát triển và tácđộng một cách biện chứng với hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ đó, thực tiễnchính là cơ sở và động lực chủ yếu của lý luận Bằng hoạt động thực tiễn, conngười tác động vào sự vật, bắt các sự vật, hiện tượng của thế giới phải bộc lộnhững bản chất và tính quy luật của chúng Điều đó có nghĩa là thực tiễn đã cungcấp những tài liệu làm cơ sở cho nhận thức Tri thức của con người có thể thunhận được dưới dạng trực tiếp từ thực tiễn hoặc dưới dạng gián tiếp Nhưng xétđến cùng thì mọi tri thức của con người đều nảy sinh từ hoạt động thực tiễn Quátrình hoạt động thực tiễn là cơ sở để phát huy tính tích cực sáng tạo của con người,

là cơ sở của sự phát triển trí tuệ con người

Thực tiễn không ngừng phát triển, biến đổi, luôn đặt ra những vấn đề mớiđòi hỏi (lý luận) nhận thức phải trả lời, đòi hỏi tri thức mới những kết quả mới để

lý giải những nét mới nảy sinh Đó chính là động lực thúc đẩy nhận thức pháttriển Trong lịch sử các môn khoa học nối tiếp nhau ra đời và phát triển trên cơ sởhoạt động thực tiễn của loài người nhằm đáp ứng những nhu cầu do sự phát triểncủa thực tiễn đề ra

Thực tiễn là mục đích của nhận thức Tri thức khoa học chỉ có ý nghĩa thựctiễn khi nó được vận dụng vào thực tiễn Mục đích cuối cùng của nhận thức khôngphải bản thân nhận thức mà là nhằm cải tạo hiện thực khách quan phục vụ đờisống vật chất và tinh thần của xã hội Thực tiễn nêu ra những vấn đề cho nhậnthức hướng tới giải quyết, là nơi thể hiện sức mạnh của tri thức, biến tri thức khoahọc thành phương tiện hùng mạnh giúp cho hoạt động nhận thức có hiệu quả

- Thực tiễn có vai trò quyết định đối với lý luận, song theo CNDV BC, lý luận có

sự tác động trở lại đối với thực tiễn

Trang 14

Lý luận có vai trò trong việc xác định mục tiêu, khuynh hướng cho hoạtđộng thực tiễn, vì thế, có thể nói lý luận là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn.

Lý luận có vai trò điều chỉnh hoạt động thực tiễn, làm cho hoạt động thựctiễn có hiệu quả hơn

Lý luận cách mạng có vai trò to lớn trong thực tiễn cách mạng Lênin đãtừng viết: “Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng”

- Giữa lý luận và thực tiễn có sự liên hệ tác động qua lại tạo điều kiện cho nhaucùng phát triển Bởi vậy, sự thống nhất giữa lực lượng và thực tiễn là nguyên lýcao nhất và căn bản của triết học Mác – Lênin

2 Ý nghĩa:

- Không được đề cao thực tiễn, hạ thấp vai trò của lý luận để rơi vào chủ nghĩathực dụng, chủ quan, kinh nghiệm Và ngược lại, không được đề cao lý luận đếnmức xa rời thực tiễn, rơi vào bệnh chủ quan duy ý chí

- Đổi mới tư duy trong sự gắn liền với hoạt động thực tiễn là một trong những chủtrương lớn hiện nay của Đảng ta Chỉ có đổi mới tư duy lý luận, gắn lý luận vớithực tiễn thì mới có thể nhận thức được các quy luật khách quan và trên cơ sở đó,

đề ra đường lối cách mạng đúng đắn trong công cuộc xây dựng CNXH nước tahiện nay

Trang 15

1 Câu 6:

Tại sao nói sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là một quá trìnhlịch sử tự nhiên Liên hệ với con đường đi lên CNXH ở nước ta hiện nay

Đề cương:

- Làm rõ khái niệm hình thái kinh tế xã hội, phân tích định nghĩa hình thái kinh tế

xã hội (trong hình thái kinh tế xã hội có 3 lực lượng cơ bản cấu thành là: Lựclượng sản xuất, quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng Ngoài ba yếu tố cơ bảncòn có các mối quan hệ khác, ví dụ như quan hệ giai cấp, quan hệ gia đình)

- Tại sao nói sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử

tự nhiên

+ Sản xuất vật chất là cơ sở, nền tảng của sự vận động và phát triển của xã hội.+ Sự vận động của các hình thái kinh tế xã hội bị chi phối bởi các quy luật xã hộikhách quan

 Làm rõ tính khách quan của quy luật xã hội là quy luật hoạt động có mục đíchcủa con người nhưng tồn tại và vận động không phụ thuộc vào ý muốn của conngười

 Hai quy luật cơ bản chi phối: Quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độphát triển của lực lượng sản xuất; Quy luật về mối liên hệ biện chứng giữa cơ sở

hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

+ Quá trình lịch sử tự nhiên của sự vận động và phát triển của các hình thái kinh tế

xã hội không chỉ diễn ra theo con đường phát triển tuần tự mà còn bao hàm cả sựphát triển rút ngắn, bỏ qua (lưu ý quá trình phát triển rút ngắn bỏ qua cũng là mộtquá trình lịch sử - tự nhiên, nói cách khác nó tùy thuộc vào sự phát triển cúa hoạtđộng sản xuất vật chất của quốc gia và thế giới Quá trình phát triển này vẫn phảiphát triển theo quy luật khách quan Do đó rút ngắn, bỏ qua phải có điều kiện:

 Điều kiện khách quan vốn có trong nước và trên thế giới

 Nỗ lực chủ quan )

- Liên hệ với con đường đi lên CNXH ở nước ta hiện nay

+ Quan điểm của Đảng ta về con đường đã lựa chọn: Chúng ta đổi mới nhưngkhông đổi mục tiêu, không đổi mới con đường

+ So với quan điểm trước đổi mới, quan điểm mới chú ý chúng ta làm rõ quanđiểm “bỏ qua” sao cho đúng Trước đổi mới chúng ta quan niệm bỏ qua giai đoạnphát triển TBCN là sai lầm Theo tư duy mới bỏ qua là bỏ qua chế độ chính trịTBCN, bỏ qua quan hệ SX TBCN với tư cách là QHSX thống trị

+ Phân tích những điều kiện khách quan và chủ quan cho con đường đi lên CNXH

Trang 16

I Sự phát triển của cách hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên.

Lịch sử tiến bộ loài người đã trải qua các hình thái kinh tế xã hội như hìnhthái kinh tế - xã hội nguyên thủ, hình thái kinh tế - xã hội nô lệ, hình thái kinh tế -

xã hội phong kiến, hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa và hiện nay đangbước vào xây dựng hình thái kinh tế - xã hội Cộng sản chủ nghĩa Mỗi hình tháikinh tế - xã hội là một “nấc thang văn minh được quy định bởi trình độ phát trienrcủa lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng” Mác khẳngđịnh lịch sử loài người đã trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau vậy tạisao lại phải có sự thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao Đểlàm rõ vấn đề này trước hết chúng ta cần tìm hiểu khái niệm về hình thái kinh tế

xã hội

Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sửdùng để chỉ một xã hội cụ thể ở trong một giai đoạn phát triển nhất định và mộtgiai đoạn phát triển lịch sử nhất định với những quan hệ sản xuất đặc trưng với nóphù hợp với lực lượng sản xuất ở một trình độ phát triển nhất định và một kiếntrúc thượng tầng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó

- Như vậy hình thái kinh tế - xã hội cấu thành từ ba yếu tố cơ bản: Lực lượng sảnxuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng Ngoài ba yếu tố cơ bản trên còn

có các yếu tố không cơ bản khác như giai cấp, dân tộc và gia đình, chúng là nhữngyếu tố không cơ bản vì sự thay đổi của những yếu tố này phụ thuộc vào sự thayđổi của hình thái kinh tế - xã hội

- Theo quan điểm của triết học Mác, các hình thái kinh tế - xã hội không phải rađời một cách ngẫu nhiên mà nó phát sinh – phát triển dựa trên những tiền đề,những quy luật và nó phát sinh và phát triển như một quá trình lịch sử tự nhiên.Sản xuất vật chất là cơ sơ là nền tảng của sự vận động và phát triển của xã hội

Triết học Mác đã tìm ra điểm xuất phát mới trong việc nghiên cứu xã hội làxuất phát từ con nguwoif thực tiễn tức là xuất phát từ đời sống hiện thực của họ, từ

đó Mác đã đi đến xác định tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do

đó là tiền đề của mọi lịch sử đó là: “người ta phải có khả năng sống đã rời mới cóthể làm ra lịch sử” nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thứcuống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên làviệc sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy Mác cũng phát hiện

ra các quy định hành vi lịch sử đầu tiên và cũng là động lực thúc đẩy con ngườihoạt động là nhu cầu và lợi ích, nhu cầu của con người hình thành một cách kháchquan và nhu cầu là động lực thúc đẩy con người hoạt động Hoạt động của conngười thỏa mãn nhu cầu này lại làm nẩy sinh nhu cầu khác Không ngừng nảy sinhnhu cầu mới là động lực thúc đẩy con người hoạt động, là động lực phát triển của

Ngày đăng: 06/10/2017, 22:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w