1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ CƯƠNG TRIẾT HỌC CỦA LỚP CAO HỌC VIỆN SINH THÁI SINH HỌC k17

6 254 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 61,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay bản thân ý thức vốnkhông phải là vật chát nhưng cũng chỉ là sự phát triển đến đỉnh cao của một thuộc tính, của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc con người, nội dung của

Trang 1

Môn: Triết họcHãy phân tích cơ sở lý luận của

quan điểm toàn diện và sự vận dụng quan điểm

toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự

nghiệp đổi mới đất nước

.Phép biện chứng duy vật là phương pháp triết học

duy vật biện chứng và các khoa học nói chung Theo

Ph.Ănghen:"Phép biện chứng là phương pháp mà

điều căn bản là nó xem xét những sự vật và nhữn

phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ

qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự

vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng"

Là cơ sở của nhận thức lý luận tự giác, phép biện

chứng duy vật là phương pháp dùng để nghiên cứu

toàn diện và sâu sắc những mâu thuẫn trong sự phát

triển của hiện thực, đưa lại chìa khoá để nghiên cứu

tổng thể những quá trình phức tạp của tự nhiên, xã

hội và tư duy Vì vậy, phép biện chứng duy vật được

áp dụng phổ biến trong lĩnh vực và có vai trò quyết

định trong sự vật, hiện tượng Phép biện chứng duy

vật không chỉ đưa ra hướng nghiên cứu chung, đưa

ra các nguyên tắc tiếp cận sự vật, hiện tượng nghiên

cứu mà đồng thời còn là điểm xuất phát để đánh giá

những kết quả đạt được.Cơ sở lý luận của nguyên tắc

toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - một

trong hai nguyên lý cơ bản của phép duy vật biện

chứng Đây là một phạm trù của phép biện chứng

duy vật dùng để chỉ sự quy định, tác động qua lại, sự

chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng hay

giữa các mặt của một sự vật hiện tượng trong thế

giới khách quan.Triết học Mác khẳng định: Cơ sở

của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là thuộc

tính thống nhất vật chất của thế giới Các sự vật, hiện

tượng dù đa dạng và khác nhau đến mấy thì chúng

chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới

duy nhất là vật chất mà thôi Ngay bản thân ý thức

vốnkhông phải là vật chát nhưng cũng chỉ là sự phát

triển đến đỉnh cao của một thuộc tính, của một dạng

vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc con người, nội

dung của ý thức có mối liên hệ chặt chẽ với thế giới

bên ngoài.Theo triết học Mác, mối liên hệ giữa các

sự vật hiện tượng là khách quan vốn có của bản thân

chúng, đồng thời mối liên hệ còn mang tính phổ biến

và tính phổ biến ấy được thể hiện ở những vấn đề

sau đây:Xét về mặt không gian, mỗi sự vật hiện

tượng là một chỉnh thể riêng biệt, song chúng tồn tại

không phải trong trạng biệt lập tách rời tuyệt đối với

các sự vật hiện tượng khác Ngược lại, trong sự tồn

tại của mình thì chúng tác động lẫn nhau và nhận sự

tác động của các sự vật hiện tượng khác Chúng vừa

phụ thuộc nhau, chế ước nhau, làm tiền đề cho nhau

tồn tại và phát triển Đó chính là hai mặt của quá

trình tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng

Ănghen đã khẳng định: "Tất cả thế giới mà chúng ta

có thể nghiên cứu được là một hệ thống, một tập hợp

gồm các vật thể liên hệ khăng khít với nhau và việc

các vật thể ấy có mối liên hệ qua lại với nhau đã có

nghĩa là các vật thể này tác động qua lại lẫn nhau và

sự tác động qua lại ấy chính là sự vận động".Trong

đời sống xã hội ngày nay không có một quốc gia,

dân tộc nào mà không có mối quan hệ, liên hệ với

quốc gia, dân tộc khác về mọi mặt của đời sống xã

hội Đây chính là sự tồn tại, phát triển cho mỗi quốc

gia, dân tộc Trên thế giới đã và đang xuất hiện xu

hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá mọi mặt của đời

sống xã hội Các quốc gia dân tộc ngày càng phụ

thuộc lẫn nhau, tác động lẫn nhau trên con đường

phát triển của mình.Xét về mặt cấu tạo, cấu trúc bên

trong của sự vật hiện tượng thì mỗi sự vật hiện tượng

đều được tạo thành bởi nhiều nhân tố, nhiều bộ phận

khác nhau và các nhân tố, bộ phận đó không tồn tại

riêng lẻ mà chúng được tổ chức sắp xếp theo một

lôgíc nhất định, trật tự nhất định để tạo thành chỉnh

thể Mỗi biện pháp, yếu tố trong đó mà có vai trò vị

trí riêng của mình, lại vừa tạo điều kiện cho các bộ

phận, yếu tố khác Nghĩa là giữa chúng có sự ảnh

hưởng, ràngbuộc tác động lẫn nhau, sự biến đổi bộ

phận nào đó trong cấu trúc của sự vật hiện tượng sẽ

ảnh hưởng đến bộ phận khác và đối với cả chỉnh thể

sự vật, hiện tượng.Xét về mặt thời gian, mỗi một sự

vật hiện tượng nói riêng và cả thế giới nói chung trong sự tồn tại, phát triển của mình đều phải trải qua các giai đoạn, các thời kỳ khác nhau và các giai đoạn

đó không tách rời nhau, có liên hệ làm tiền đề cho nhau, sự kết thúc của giai đoạn này làm mở đầu cho giai đoạn khác tiếp theo Điều này thể hiện rõ trong mối liên hệ giữa quá khứ - hiện tại - tương lai (hiện tại chẳng qua là bước tiếp theo của quá khứ và là bàn đạp cho tương lai).Qua điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến vốn có của sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, các quá trình mà nó còn nêu rõ tính phong phú, đa dạng

và phức tạp của mối liên hệ qua lại đó Khi nghiên cứu hiện thực khách quan có thể phân chia mối liên

hệ thành từng loại khác nhau tuỳ tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hay hẹp, trình độ nông hay sâu, vai trò trực tiếp hay gián tiếp… khái quát lại

có những mối liên hệ sau đây: mối liên hệ bên trong

- bên ngoài, chủ yếu - thứ yếu, chung - riêng, trực tiếp - gián tiếp, bản chất - không bản chất, ngẫu nhiên- tất nhiên Trong đó có những mối liên hệ bên trong, trực tiếp, chủ yếu, bản chất và tất nhiên bao giờ cũng giữ vai trò quan trọng, quyết định cho sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng Triết học Mác xít đồng thời cũng thừa nhận rằng các mối liên

hệ khác nhau có khả năng chuyển hoá cho nhau, thay đổi vị trí của nhau và điều đó diễn ra có thể là sự thay đổi phạm vi bao quát sự vật, hiện tượng hoặc có thể do kết quả vận động khách quan của sự vật hiện tượng đó.Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên

hệ của các sự vật, hiện tượng chúng ta rút ra quan điểm toàn diện trong việc nhận thức, xem xét các sự vật hiện tượng cũng như trong hoạt động thực tiễn

Về mặt nhận thức, khi nghiên cứu sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong mối liên hệ tác động qua lại với những sự vật, hiện tượng khác và cần phải phát hiện

ra những mối liên hệ giữa các bộ phận, yếu tố, các thuộc tính, các giai đoạn khác nhau của bản thân sự vật Lênin đã khẳng định: "Muốn thực sự hiểu được

sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt của mối liên hệ và quan hệ của sự vật đó"

Để nhận thức đúng được sự vật, hiện tượng cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn, ứng với mỗi thời kỳ, giai đoạn, thế hệ thì con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được số lượng hữu hạn các mối liên hệ Vì vậy tri thức về các sự vật, hiện tượng chỉ là tương đối, không đầy đủ và cần phải được hỏi chúng ta phải phát hiện ra không chỉ là mối liên hệ của nó mà còn phải biết xác định phân loại tính chất, vai trò, vị trí của mỗi loại liên hệ đối với

sự phát triển của sự vật Cần chống cả lại khuynh hướng sai lầm phiến diện một chiều, cũng như đánh giá ngang bằng vị trí của các loại quan hệ.Về mặt thực tiễn, quan điểm toàn diện đòi hỏi để cải tạo sự vật, hiện tượng cần làm thay đổi mối liên hệ bên trong của sự vật, hiện tượng cũng như mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng khác Muốn vậy, cần phải xác định, sử dụng đồng bộ các phương pháp, các biện pháp, phương tiện để giải quyết sự vật Mặt khác, quan điểm toàn diện đòi hỏi trong hoạt động thực tiễn cần phải kết hợp chính sách dàn đều và chính sách có trọng tâm, trọng điểm

Vừa chú ý giải quyết về mặt tổng thể vừa biết lựa chọn những vấn đề trọng tâm để tập trung giải quyết dứt điểm tạo đà cho việc giải quyết những vấn đề khác.Trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới của cách mạng Việt Nam hiện nay, nếu không phân tích toàn diện những mối liên hệ, tác động sẽ không đánh giá đúng tình hình nhiệm vụ cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể và do vậy không đánh giá hết những khó khăn, những huận lợi trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.Nhận thức và quán triệt quan điểm toàn diện trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới của đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định cần phải đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng tăng trưởng kinh tế đi liền với thực hiện công bằng xã hội, giải quyết những vấn đề

xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đi

tới bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, vừa chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, vừa giương cao ngọn cờ độc lập tự chủ, an ninh quốc phòng… trong đó xác định phát triển kinh tế là trọng tâm.Trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt, các lĩnh vực của quá trình đổi mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cũng đồng thời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về chủ nghĩa xã hội là khâu đột phá, trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới cả lĩnh vực kinh tế lẫn lĩnh vực chính trị, Đảng ta cũng xem đổi mới kinh tế là trọng tâm

Có thể khẳng định đây là sự vận động và quán triệt quan điểm toàn diện trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới và đem lại những thắng lợi to lớn cho sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam Đất nước ta trong giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa với nền sản xuất nhỏ, điều kiện kinh tế còn rất nhiều khó khăn Để lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta đã kết hợp chặt chẽ giữa "chính sách dàn đều" và"chính sách trọng điểm", trong đó xác định phát triển kinh

tế là trọng tâm.Thực tiễn 19 năm đổi mới ở nước ta mang lại nhiều bằng chứng xác nhận tính đúng đắn của những quan điểm trên Khi đề cập tới những vấn

đề này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: "Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và chính sách đối nội, đối ngoại Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác Song, Đảng ta đã đúng khi tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác nhau của đời sống xã hội".Chúng ta có thể thấy sự ổn định, đứng vững và từng bước phát triển của đất nước trước những biến cố của thế giới đặc biệt là sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu

để thể hiện rõ sự đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong lãnh dạo sự nghiệp đổi mới Chủ nghĩa xã hội

ở Liên Xô và các nước Đông Âu bị sụp đổ đó là sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội với

tư cách là một xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản Nước ta đã có một thời kỳ chìm sâu trong cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp và một loạt những điều chỉnh trong thời kỳ đổi mới của Đảng và Nhà nước

đã đưa đất nước dần thoát khỏi tình trạng nghèo đói, đời sống của người dân được nâng cao.Quan điểm toàn diện còn được Đảng ta nhận thức và quán triệt ngay trong chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là việc Đảng và Nhà nước vẫn thừa nhận vai trò tích cực của các thành phần kinh tế khác cũng như thừa nhận sự tồn tại của hình thức sở hữu tư nhân Tuy nhiên, trong đó Đảng ta vẫn đặc biệt nhấn mạnh và coi trọng hình thức sở hữu công cộng với vai trò chủ đạo là thành phần kinh tế quốc doanh trong cơ chế thị trường hiện nay, đặc biệt là trong điều kiện nước ta đã trở thành thành viên chính thức của WTO, đây là một thách thức rất lớn đối với một nước có thể nói là chậm phát triển, lạc hậu như Việt Nam chúng ta Và như thế, việc nhận thức và quán triệt tốt nguyên tắc toàn diện của Đảng có ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp đổi mới của nước ta trong thời gian tới Việt Nam sẽ là nơi thu hút rất lớn vốn đầu tư của nước ngoài cũng như chúng ta sẽ trở thành đối tác của rất nhiều quốc gia kể từ khi gia nhập WTO, điều đó có nghĩa việc phát triển nền kinh

tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Dảng và Nhà nước phải có chính sách, đường lối phù hợp để thành phần kinh tế quốc doanh vẫn giữ được vai trò chủ đạo, tạo

đà cho sự phát triển của đất nước, đồng thời, bên cạnh đó với việc đầu tư của các tập đoàn tư bản nước ngoài vào Việt Nam thì việc đưa ra những chính sách điều chỉnh nhằm ổn định, phát triển kinh tế đất nước

là nhiệm vụ quan trọng đặt ra trước mắt chúng ta Việc kết hợp chặt chẽ "chính sách dàn đều" và

Trang 2

"chính sách trọng điểm" có ý nghĩa rất quan trọng

trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới của Đảng ta thời

gian tới.Từ những điểm trình bày trên đây có thể rút

ra kết luận rằng, quá trình hình thành quan điểm toàn

diện đúng đắn với tư cách là nguyên tắc phương

pháp luận để nhận thức sự vật và sự vận dụng, quán

triệt nguyên tắc trên của Đảng trong sự nghiệp đổi

mới đất nước đã đem lại rất nhiều thành công, đưa

đất nước phát triển đi lên với mục tiêu "dân giàu,

nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"

Cơ sở lí luận của các quan điểm: quan điểm toàn

diện, quan điểm lịch sử cụ thể, quan điểm phát

triển là gì?

Quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể là

một trong những nguyên tắc quan trọng của phương

pháp biện chứng Mác xít Để trả lời câu hỏi này cần

hiểu quan điểm toàn diện là gì? Quan điểm lịch sử cụ

thể là gì?

Quan điểm toàn diện là quan điểm khi xem xét và

nghiên cứu sự vật phải nghiên cứu tất cả các mặt, các

yếu tố kể cả các mặt khâu trung gian, gián tiếp có

liên quan đến sự vật

Quan điểm lịch sử cụ thể là quan điểm khi xem xét

sự vật phải ngihên cứu nó trong điều kiện thời gian

và không gian nhất định Phải nghiên cứu quá trình

vận động của nó trong quá khứ hiện tại và dự kiến

tương lai

- Cơ sở lý luận của hai quan điểm trên là xuất phát từ

nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật,

hiện tượng trong thế giới

- Phải có quan điểm toàn diện vì sự vật nào cũng tồn

tại trong mối liên hệ không có sự vật nào tồn tại một

cách riêng biệt, cô lập với sự vật khác

Phải có quan điểm lịch sử cụ thể vì sự vật nào cũng

có quá trình hình thành tồn tại, biến đổi và phát triển

Mỗi giai đoạn phát triển của sự vật lại có những mối

liên hệ riêng đặc trưng cho nó Cho nên xem xét sự

vật vừa phải xem quá trình phát triển của sự vật đó,

vừa phải xem xét trong từng điều kiện quá trình cụ

thể

+ Có xem xét toàn diện và lịch sử cụ thể sự vật thì ta

mới hiểu được bản chất của sự vật từ đó mới cải tạo

được sự vật

Quan điểm phát triển là một trong những nguyên tắc

quan trọng củae phương pháp biện chứng Mác xít

Quan điểm phát triển đòi hỏi chúng ta khi nhận thức

sự vật phải xem xét nó trong sự vận động, biến đổi,

phải phân tích các sự vận động phức tạp của sự vật,

tìm ra khuynh hướng phát triển cơ bản của chúng để

cải biên sự vật phục vụ cho nhu cầu của con người

- Cơ sở lý luận của quan điểm phát triển chính là

nguyên lý về sự phát triển của các sự vật, hiện tượng

trong thế giới khách quan Nguyên lý đó nói rằng

phát triển là khuynh hướng tất yếu khách quan của

tất cả các sự vật hiện tượng Phát triển được diễn ra

theo 3 hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến

phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện

- Mỗi sự vật đều có quá trình ra đời, biến đổi, phát

triển và mất đi Nhưng khuynh hướng chung của thế

giới vật chất là luôn phát triển theo hướng diện, cái

mới thay thế cái cũ, cái sau tiến bộ hơn cái trước Do

đó để nhận thức và phản ánh chính xác sự vật hiện

tượng ta phải có quan điểm phát triển

Vận dụng quan điểm lịch sử vào việc hoạch định

chính sách phát triển kinh tế Việt Nam Khái

quát từ góc độ lịch sử,

C.Mác và Ph Angghen cho rằng, cách mạng xã hội

chủ nghĩa chỉ có thể thắng lợi cùng một lúc ở tất cả

hoặc ở các nước tư bản chủ nghĩa tiên tiến Khi chủ

nghĩa tư bản đã biến đổi, phát triển đến giai đoạn đế

quốc chủ nghĩa, quan điểm đó của C.Mác và Ph

Angghen được V.I.Lê nin phát triển bằng quan điểm

cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể thắng lợi

trước tiên ở một hoặc vài nước, ở khâu yếu nhất của

chủ nghĩa tư bản Vận dụng nguyên tắc lịch sử-cụ

thể, từ năm 1930, Đảng ta đã lựa chọn con đường

chủ nghĩa xã hội Ngày nay, để xây dựng thành công

chủ nghĩa xã hội, Đảng đề ra đường lối xây dựng nền

kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện

đại hóa; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng

thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; thực hiện tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường an ninh, quốc phòng; bảo vệ và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh Ngày nay, tình hình thế giới vẫn diễn biến quanh co, phức tạp đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ cần được giải quyết Nắm vững phép biện chứng duy vật, vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật giúp nhận thức được tính biện chứng của thế giới, tính tất yếu của công cuộc đổi mới và nhu cầu cấp bách phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay Thực tiễn cho thấy con đường đi lên chủ nghĩa xã hội không tuân theo những công thức sẵn, bất biến, mà chúng được vận dụng linh hoạt, mềm dẻo, luôn đổi mới để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi nước và tình hình quốc tế trong từng giai đoạn Con đường của cách mạng Việt Nam được xác định là Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là con đường duy nhất đúng, thể hiện sự nhận thức và vận dụng sáng tạo các nguyên

lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê nin nói chung, các nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật nói riêng của Đảng Cộng sản Việt Nam

II TẠI SAO PHẢI VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ CỤ THỂ VÀO VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KTTT ĐỊNH HƯỚNG XHCN:

Sau khi hiệp định Giơnevơ được kí kết, nước ta tạm thời chia làm hai miền.Miền Bắc bước vào thời

kì quá độ đi lên CNXH,trong khi đó miền Nam vẫn tiếp tục đấu tranh giải phóng đất nước.Trước thực trạng đất nước bị chia cắt, vừa xây dựng CNXH vừa đấu tranh giăi phóng miền Nam,Đảng ta đã đề ra cơ chế quản lý điều hành nền kinh tế theo mô hình cơ chế kinh tế kế họach còn gọi là cơ chế bao cấp.Sau khi miền Nam hòan tòan giải phóng(1975)cả nước đi lên CNXH, mô hình kinh tế kế họach tập trung ở miền Bắcđược áp dụng trên phạm vi cả nước.Trong điều kiện chiến tranh thì cơ chế quản lý kinh tế bao cấp vận hành có hiệu quả,nhưng lúc này cơ chế bao cấp bộc lộ những khiếm khuyết không thể thích nghi.Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong xây dựng và phát triển kinh tế Nhà nước đã đầu tư khá lớn nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm chạp,có xu hướng giảm sút,trì trệ và bắt đầu rơi vào tình trạng khủng hỏang,lạm phát cao,các xí nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ kéo dài,đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.Trong khi nguồn viện trợ không hòan lại của các nước XHCN (Liên Xô và Đông Âu) không còn nữa,đồng thời do khó khăn về kinh tế cưa các nước XHCN nên nguồn vốn vay từ các nước này(chủ yếu

là từ Liên Xô)ngày càng giảm sút.Trong khi đó Mĩ tiếp tục bao vây cấm vận kinh tế, ngăn cản Việt Nam bình thường hóa quan hệ với các nước và các tổ chức quốc tế.Trong khi đó các nước XHCN ở Đông Âu lâm vào khủng hỏang rồi sụp đổ,thị trường hàng hóa các đối tác kinh tế làm ăn cưa ta bị thu hẹp.Từ thập

kỉ 80 tòan cầu hóa là hiện tượng nổi bật và là xu thế khách quan của nền kinh tế thế giới.Mỗi nước trong quá trình phát triển không thể tách rời sự tác động của thị trường khu vực và thế giới.Liên kết kinh tế và hội nhập trở thành xu thế tất yếu của thời đại Trong bối cảnh đó Việt Nam phải có sự điều chỉnh để thích nghi với xu hướng chung cưa thế giới vì thế Việt Nam chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN là điều tất yếu

Phần II: Vận dụng quan điểm lịch sử cụ thể hoạch định chính sách phát triển kinh tế Việt Nam qua các thời kỳ

Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và chính sách phát triển kinh tế Việt Nam trước năm 1986

Hoàn cảnh kinh tế chủ yếu của Việt Nam trước năm

1986 này chủ yếu được khái quát như sau: Trong giai đoạn 1945 – 1954: đất nước mới được xây dựng, đứng trước cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp Đảng và nhà nước tiến hành cuộc khách chiến trường kỳ Nền kinh tế Việt Nam lúc này một mặt tự sản xuất để phục vụ đời sống, một mặt vừa sản xuất

để phục vụ cho công việc chiến tranh Nền kinh tế lúc này bao gồm cả kinh tế quốc phòng và kinh tế tự túc Tất cả mọi nguồn lực lúc này chủ yếu để phục

vụ cho chiến tranh chống giặc ngoại xâm Kinh tế chủ yếu vẫn phải dựa vào sự giúp đỡ viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em như Liên Xô và Đông

Âu, Trung Quốc… Nền kinh tế đặc trưng thời chiến Trong giai đoạn 1954 – 1975: Hoà bình lập lại ở miền Bắc, chiến tranh nhân dân vẫn tiếp tục ở miền Nam Đảng và nhà nước nước đã đề ra nhiệm vụ chiến lược đồng thời cho cả hai miền, đó là: miền Bắc tiền hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa vững mạnh về cách mạng, làm hậu phương cho cuộc chiến tranh thống nhất đất nước ở miền Nam Miền Nam tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà Nên kinh

tế ở miền Bắc đã có được những tiền đề cơ từ giai đoạn trước khi áp dụng cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Các hình thức tổ chức sản xuất và dịch vụ quốc doanh được phát triển Cùng với quốc doanh, hợp tác

xã được tổ chức rộng rãi ở nông thôn và thành thị Với hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể, sở hữu

tư nhân bị thu hẹp lại, không còn cơ sở cho tư nhân phát triển Cùng với quốc doanh, hợp tác xã được tổ chức rộng rãi vì ta đã học tập được mô hình tổ chức kinh tế của Liên Xô cũ Với sự nỗ lực cao độ của nhân dân ta, cùng với sự giúp đỡ tận tình của các nước xã hội chủ nghĩa lúc đó, mô hình kế hoạch hoá tập trung đã phát huy được những tính ưu việt đó Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phân tán và manh mún, bằng công cụ kế hoạch hóa, ta đã tập trung được vào trong tay một lực lượng vật chất quan trọng về cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng thành thị và nông thôn, đất đai, máy móc, tiền vốn để

ổn định và phát triển kinh tế Vào những năm sau của thập niên 60, ở Miền Bắc đã có những chuyền biến về kinh tế, xã hội Trong thời kỳ đầu, nền kinh

tế tập trung bao cấp đã tỏ ra phù hợp với nền kinh tế

tự cung, tự cấp, phù hợp với điều kiện hai nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu trong chiến tranh lúc đó Năm

1975, sau ngày giải phóng miền Nam, một bức tranh mới về hiện trạng kinh tế Việt Nam đã thay đổi Đó

là sự duy trì một nền kinh tế tồn tại cả ba loại hình: +Kinh tế cổ truyền (tự cung tự cấp) +Kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp (ở miền Bắc) +Kinh tế thị trường (đặc trưng ở miền Nam) Mặc dù đây là một tồn tại khách quan sau năm 1975 nhưng chúng

ta vẫn tiếp tục quán triệt chủ trương chính sách xây dựng nền kinh tế tập trung theo cơ chế kế hoạch hoá trên phạm vi cả nước Trong giai đoạn 1975 – 1985 : Hoàn cảnh kinh tế - xã hội gặp phải nhiều khó khăn Khó khăn lớn nhất là nền kinh tế sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp, hậu quả nặng nề do chiến tranh

để lại Trong quan hệ quốc tế, chủ nghĩa đế quốc tìm cách bao vây cấm vận, các thế lực thù địch tìm cách phá hoại, bao vây, cấm vận gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống của nhân dân Trên thế giới, phòng trào cộng sản trải qua nhiều diễn biến phức tạp : chủ nghĩa xã hội gặp nhiều khó khăn, lâm vào khủng hoảng, thoái trào Tất cả những nguyên nhân trên cộng với thiên tai, mất mùa liên tiếp vào những năm 1979 - 1980 đã đưa nước ta vào tình trạng khủng hoảng, công nghiệp chỉ tăng 0,6%, nông nghiệp tăng 1,9% trong khi lạm phát ở mức siêu cấp năm 1986 : 74% Tuy nhiên nhân dân ta cũng đã thu được những thành tựu

to lớn trong công cuộc khôi phục đất nước hàn gắn vết thương chiến tranh, bước đầu bình ổn đời sống nhân dân Nhưng do điều kiện lịch sử đã thay đổi rõ nét, cơ chế chính sách kinh tế kế hoạch hoá tập trung

Trang 3

dần tỏ ra không hiệu quả, kìm hãm sự phát triển của

lực lưỡng sản xuất, kìm hãm động lực phát triển của

nền kinh tế., những thành tựu đạt được còn thấp so

với yêu cầu, kế hoạch công sức bỏ ra, nền kinh tế

mất cân đối nghiêm trọng, tỷ lệ lạm phát quá cao, đất

nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm

trọng Chính sách phát triển kinh tế Việt Nam thời

kỳ này Chính sách mà Đảng và Nhà nước áp dụng

thời kỳ này là chính sách của mô hình kinh tế kế

hoạch hoá tập trung, mà nội dung cơ bản được thể

hiện trên những nét cơ bản sau : Nhà nước quản lý

nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ

thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống

dưới Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư,

tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân

sự, tiền lương đều do các cấp có thẩm quyền quyết

định Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn,

vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản

phẩm cho nhà nước Hoạt đông sản xuất bị lỗ thì nhà

nước bù, lãi thì nhà nước thu Cơ quan nhà nước can

thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật

chất và pháp lý đối với quyết định của mình Quan

hệ hàng hoá - tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức,

quan hệ hiện vật là chủ yếu Nhà nước quản lý thông

qua cấp phát – giao nộp Bộ máy quản lý cồng kềnh,

nhiều cấp trung gian vừa kém năng động vừa sinh ra

đội ngũ quản lý kém năng lực, phong cách cửa

quỳên quan liêu, nhưng lại được hưởng quyền lợi

cao hơn người lao động Chế độ bao cấp Mặc dù

trong giai đoạn cuối thời kỳ này mô hình kinh tế kế

hoạch hoá tập trung tỏ rõ những hạn chế trong hoàn

cảnh lịch sử đương thời, song những thành công, kết

quả to lớn mà chính sách này đem lại là không thể

phủ nhận Từ nhận thức khách quan về tình hình lịch

sử thời kỳ này mà Đảng và Nhà nước đã áp dụng mô

hình trên, có thể tóm lại trong một số nội dung sau:

Tình hình chính trị - xã hội nước ta lúc bấy giờ là

một nước nông nghiệp lạc hậu vừa mới thoát khỏi sự

áp bức bóc lột thực dân phong kiến, lại phải đối đầu

với sự xâm lược của một nước đế quốc hùng mạnh

nhất thế giới - đế quốc Mỹ; Con đường xây dựng

một xã hội chủ nghĩa dân chủ mà Đảng và Nhà nước

đã lựa chọn Đứng trước tình hình thế giới lúc bấy

giờ - phân chia thành hai phe, phe các nước xã hội

chủ nghia chủ yếu là Liên Xô và các nước Đông Âu

và phe tư bản chủ nghĩa đứng đầu là Hoa Kỳ và các

nước Tây Âu Thời kỳ này, mô hình kế hoạch hoá

tập trung được Liên Xô tư vấn giúp sức xây dựng ở

nước ta tỏ rõ tính ưu việt – trong nền kinh tế thời

chiến Bản thân Liên Xô - nước đứng thứ hai sau

Hoa Kỳ về kinh tế cũng áp dụng mô hình kinh tế

này Con đường giải phóng dân tộc, không cam chịu

mất nước, không cam chịu làm nô lệ Để chiến thắng

đế quốc, chiến thắng phương thức tư bản chủ nghĩa

bản thân các nước xã hội chủ nghĩa - dưới sự soi

sáng của chủ nghĩa Mác, cần thiết phải chứng minh

tính vượt trội của phương thức sản xuất xã hội chủ

nghĩa – mà lý luận kinh tế lúc này là mô hình kế

hoạch hoá tập trung, công hữu về chế độ sản xuất

Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và chính sách phát triển

kinh tế Việt Nam từ năm 1986 đến nay Khái quát

hoàn cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam năm 1986

Hoàn cảnh trong nước Đầu tiên chúng ta cần tìm

hiểu xuất phát điểm về kinh tế của nước ta khi bắt

đầu đổi mới Bức tranh chung của kinh tế Việt Nam

năm trước đổi mới là tăng trưởng thấp 3,7%/năm,

làm không đủ ăn và dựa vào nguồn viện trợ bên

ngoài rất lớn Thu nhập quốc dân trong nước, sản

xuất chỉ đáp ứng được 80-90% thu nhập quốc dân sử

dụng Đến năm 1985 tỷ trọng thu từ bên ngoài chiếm

10,2% thu nhập quốc dân sử dụng, nợ nước ngoài lên

tới 8,5 tỷ rúp và 1,9 tỷ USD Cũng vào các năm đó

nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng khoảng trầm

trọng, siêu lạm phát ở mức 774,7% vào năm 1986

kéo theo giá cả leo thang và vô phương kiểm soát

Sự tàn phá của chiến tranh và nền kinh tế bao cấp

yếu kém kéo dài đã để lại nhiều hậu quả nặng nề: cơ

sở vật chất thấp kém với nền KH - CN, kỹ thuật lạc

hậu, hầu hết các hệ thống máy móc trong các xí

nghiệp đều do Liên Xô cũ giúp đỡ từ trong chiến tranh nên năng suất thấp, chất lượng kém Điều kiện địa lý cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế Về địa hình, nước ta trải dài trên nhiều vĩ tuyến,

a) Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội

Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng thời khẳng định con

người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học

và yếu tố xã hội

Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là giới tự nhiên Cũng do đó, bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong nó tất cả bản tính sinh học, tính loài của nó Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người Vì vậy, có thể nói: Giới tự nhiên là "thân thể vô cơ của con người"; con người là một bộ phận của tự nhiên; là kết quả của quá trình phát triển và tiến hoá lâu dài của môi trường tự nhiên

Tuy nhiên, điều cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là phương diện xã hội của

nó Trong lịch sử đã có những quan niệm khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là

động vật sử dụng công cụ lao động, là "một động vật

có tính xã hội", hoặc con người động vật có tư duy

Những quan niệm trên đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất xã hội của con người mà chưa nêu lên được nguồn gốc của bản chất xã hội ấy

Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là lao động sản xuất ra của cải vật chất

"Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất

ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình"

Thông qua hoạt động sản xuất vật chất; con người đã làm thay đổi, cải biến giới tự nhiên: "Con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên"

Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người

Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và

tư duy; xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội

Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất với nhau Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hóa quy định phương diện sinh học của con người Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người

Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội Mối quan hệ sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ

và hưởng thụ các giá trị tinh thần

Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật Nhu cầu sinh học phải được "nhân hóa" để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học Hai mặt trên thống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người

tự nhiên - xã hội

b) Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội

Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta

thấy rằng, con người vượt lên thế giới loài vật trên cả

ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người Cả ba mối quan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người

Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội"

Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử

xã hội Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ Chỉ trong toàn bộ các mối quan

hệ xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình,

xã hội ) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình

Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người Song, ở con người, mặt tự nhiên tồn tại trong sự thống nhất với mặt xã hội; ngay cả việc thực hiện những nhu cầu sinh vật ở con người

cũng đã mang tính xã hội Quan niệm bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội mới giúp

cho chúng ta nhận thức đúng đắn, tránh khỏi cách hiểu thô thiển về mặt tự nhiên, cái sinh vật ở con người

c) Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch

sử

Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh

Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn

là chủ thể của lịch sử - xã hội C.Mác đã khẳng định:

"Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục"1 Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen cũng cho rằng: "Thú vật cũng có một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết

và không phải do ý muốn của chúng Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của

từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm

Trang 4

ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu".

Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người

hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến

giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát

triển của lịch sử xã hội Thế giới loài vật dựa vào

những điều kiện có sẵn của tự nhiên Con người thì

trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để

làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một

tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình

Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng

làm ra lịch sử của mình Con người là sản phẩm của

lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của

chính bản thân con người Hoạt động lao động sản

xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người,

vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ

mặt xã hội Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử

xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và

tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao,

phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt

ra Không có hoạt động của con người thì cũng

không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự

tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người

Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ

thể trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã

hội Do vậy, bản chất con người, trong mối quan hệ

với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến

đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp Bản chất con

người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là hệ

thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con

người Mặc dù là "tổng hoà các quan hệ xã hội", con

người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với

tư cách là chủ thể sáng tạo Thông qua đó, bản chất

con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp Có

thể nói rằng, mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử

sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trùng khớp)

với sự vận động và biến đổi của bản chất con người

Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng

tích cực, cần phải làm cho hoàn cảnh ngày càng

mang tính người nhiều hơn Hoàn cảnh đó chính là

toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến

con người theo khuynh hướng phát triển nhằm đạt

tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa

định hướng giáo dục Thông qua đó, con người tiếp

nhận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại

hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạt

động thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi con người,

sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư

duy, các quy luật nhận thức hướng con người tới

hoạt động vật chất Đó là biện chứng của mối quan

hệ giữa con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai

đoạn nào của lịch sử xã hội loài người

III/CÔNG NHIệP HOÁ -HIệN ĐạI HOÁ

(CNH-HĐH)

Cũng có thể nói thực chất của CNH-HĐH là sự

phát triển công nghiệp , là quá trình chuyển nền sản

xuất xã hội (Công nghiệp-Nông nghiệp dịch vụ) từ

trình độ thấp lên trình độ cộng nghệ hiện đại , lực

lượng lao động sẽ chuyển dịch thích ứng về cơ cấu

ngành nghề , về trình độ tay nghề và học vấn Hiện

đại hoá , về trình độ tay nghề và học vấn Hiện đại

hoá trong công nghiệp thường được hiểu ra công

nghiệp sử dụng những yếu tố của công nghệ thuộc

loại mới nhất hoặc không tách xa loại mới nhất là

bao nhiêu

Công nghiệp hoá phải gắn liền với Hiện đại hóa

và ngược lại , đó là hai mặt không thể tách rời của

một cuộc Cách mạng và sâu sắc đó Nói đến Hiện

đại hoá là nói đến cả một quá trình lâu daì đầy gian

khổ của việc cải biến một xã hội cổ truyền thành một

xã hội hiện đại , có trình độ văn minh cao hơn , thể

hiện đầy đủ hơn những giá trị chung mà nhân loại

đang hướng tới Đối với nước ta , đó là một quá

trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội

cải biến một xã hội công nghiệp lạc hậu thành một

xã hội công nghiệp gắn việc hình thành từng bước

quan hệ sản xuất tiến bộ , ngày càng đầy đủ hơn bản

chất ưu việt của chế độ mới CNH-HĐH phải tạo ra

những điều kiện cần thiết về vật chất kỹ thuật , về

con người và khoa học công nghệ , thúc đẩy chuyển

dịch cơ cấu kinh tế nhằm huy động và sử dụng có

hiệu quả mọi nguồn lực , không ngừng làm tăng năng suất lao động xã hội , làm nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững , nâng cao đời sống vật chất , văn hóa của nhân dân , thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội , bảo vệ cải thiện môi trường sinh thái B_thực trạng về đào tạo nguồn nhân lực I/vai trò nguồn nhân lực Con người là yếu tố quyết định của lực lượng sản xuất , nó khẳng định vai trò

to lớn của nguồn lực con người trong phát triển Trong các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất thì con người được khẳng định ở vị trí hàng đầu , thiếu nó sản xuất sẽ bị mất sinh khí và tất yếu dẫn đến vô hiệu quả Đặc biệt hơn , trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước thì hơn bao giờ hết , nhân tố con người càng phải được đặt ở vị trí trung tâm Nếu không có đội ngũ tri thức và đội ngũ công nhân lành nghề-lực lượng chủ yếu trong nguồn lao động thì làm sao có được những thành tựu to lớn , tạo ra khối lượng vật chất khổng lồ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân loại Vì thế mọi hoạt động phát triển nhằm mục đích chính là vì con người , do con người Nếu không xuất phát từ con người , được tiến hành bởi con người và vì con người thì không có lý

do gì mà khoa học cũng như một quá trình sản xuất nào đó có thể tồn tại được Như vậy , con người vừa

là xuất phát điểm , là lực lượng chủ đạo là mục đích của quá trình sản xuất Tuy nhiên , sự phát triển của lực lượng sản xuất , của yếu tố con người phải gắn liền với sự phát triển quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất chỉ có thể vận động và phát triển trong phương thức sản xuất với một quan hệ sản xuất song trùng ở đây chúng ta chỉ khẳng định vai trò to lớn của con người trong CNH-HĐH chứ tuyệt nhiên không tuỵệt đối hoá nó và tách rời khỏi quan hệ sản xuất hiện thời Ngày nay , khoa học kỹ thuật đang phát triển như vũ bão , khoảng cách giữa các phát minh khoa học ngày càng rút ngắn lại , vì thế để ứng dụng có hiệu quả những thành tựu của khoa học

kỹ thuật trên thế giới vào sự nghiệp CNH-HĐH thì đòi hỏi con người phải trang bị những kiến thức , tri thức về khoa học tự nhiên đảm bảo con người có đủ trình độ để tiếp cận với những phát minh mới , vận dụng vào sản xuất Vì thế hơn lúc nào hết , vai trò của con người trong thời đại CNH-HĐH càng được khẳng định ở vị trí trung tâm của sự phát triển Đất nước thịnh hay suy , yếu hay mạnh phần lớn là phụ thuộc vào tri thức của con người nước đó II/thực trạng Không thể không phát triển con người Việt Nam , nâng cao đội ngũ những người lao động nước ta lên một tầm cao chất lượng mới Hơn nữa ,

đó cần dược coi là động lực mạnh mẽ nhất để giúp chúng ta mau chóng thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu và xây dựng xã hội ta thành một xã hội công bằng nhân

ái , một xã hội thực sự tốt đẹp và tiến bộ , mang bản sắc dân tộc và hiện đại Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định : “Nâng cao dân trí , bồi dưỡng và phát triển nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH-HĐH ở nước ta Tại hội nghị lần thứ tư BCH TW khoá VII Đảng ta đã đề

ra và thông qua nghị quyết về việc phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới , đồng thời là mục tiêu của CNXH “Đó là con người phát triển cao về trí tụê , cường tráng về thể lực , phong phú về tinh thần , trong sáng về đaoh đức “ Phát triển con người Việt Nam toàn diện-đó cũng chính là động lực , là mục tiêu nhân đạo của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước mà chúng ta đang từng bước tiến hành Việc đánh giá đúng thực trạng nguồn lực con người

là cơ sở thực tiễn quan trọng để tìm ra phương hướng , giải pháp phát triển và sử dụng hữu hiệu nguồn lực con người trong quá trình phát triển đất nước Những năm qua , kinh tế-xã hội Việt Nam ngày càng phát triển , năng suất lao động ngày càng cao , đã tạo điều kiện cải thiện đáng kể đời sống nhân dân , giúp cho việc chăm sóc con người ngày một tốt hơn Điều kiện ăn , ở , đi lại , học hành của nhân dân đã được cải thiện so với trước Đảng và Nhà nước ta đã tạo những điều kiện thuận lợi cho

mọi người dân tham gia đóng góp ý kiến trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội

củ đất nước cũng như kế hoạch phát triển kinh tế của từng địa phương , từng cơ sở sản xuất kinh doanh Trong nhiều đơn vị kinh tế đã động viên mọi người dân đóng góp tài năng trí tuệ , thực hiện cải tiến kỹ thuật , thay đổi qui trình sản xuất nhằm tạo ra năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cao Nước ta còn nghèo nàn lạc hậu , đang trong tình trạng kém phát triển , sự phân hoá giàu nghèo , thiếu việc làm , chất lượng giáo dục đào tạo , phục vụ y tế còn thấp , tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái , văn hoá phẩm độc hại đang còn lan tràn và các tệ nạn xã hội phát triển Ưu điểm nổi bật của con người Việt Nam

là mang trong mình những phẩm chất truyền thống quí báu : Anh dũng trong chiến đấu , cần cù , bền bỉ , dẻo dai trong lao động , có khả năng sáng tạo thích ứng nhanh Tuy nhiên , lực lượng lao động dồi dào cùng với lòng nhiệt tình cách mạng , thì chưa đủ tiến hành CNH-HĐH Việt Nam đã quan tâm tới giáo dục đào tạo , đã đưa tỉ lệ số người biết chữ từ 5% trước đây , tới nay đã gần 90% dân số biết chữ Trình độ dân trí đã xó tiến bộ nhiều so với trước đây Nhiều tỉnh đã thực hiện xoá nạn mù chữ , phổ cập tiểu học hay trung học phổ thông cơ sở Hiện nay ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục năm sau cao hơn năm trước Giáo dục miền núi , vùng sâu , vùng xa được quan tâm ngày càng tốt hơn Đảng và nhà nước ta đã khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu , tạo ra điều kiện thuận lợi để “Cả nước trở thành một xã hội học tập” Trong quá trình giảng dạy , học tập , đã tìm mọi biện pháp để thực hiện “Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh , sinh viên , đề cao năng lực tự học , tự hoàn thiện học vấn và tay nghề “ Nhìn chung , mặt bằng dân trí ở nước ta còn thấp , số người được đào tạo có trình độ tay nghề cao cũng như học vấn đại học và sau đại học còn quá ít , còn thiếu nhiều cán bộ Khoa học-Công nghệ và chuyên gia giỏi Trong khi đó , do nhiều nguyên nhân , tình trạng hẫng hụt về kiến thức , bất cập về năng lực chuyên môn , nhiệp vụ trong đội ngũ cán bộ, viên chức còn khá phổ biến Đang có tình trạng lão hoá cả về tuổi tác và tri thức ở đội ngũ cán bộ khoa học , sự yếu kém về kỹ năng thực hành , khả năng ứng dụng kiến thức vào cuộc sống của tuổi trẻ Bên cạnh đó , quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường

và mở rộng giao lưu quốc tế đang mang cả mặt tích cực và tiêu cực vào quá trình chuyển biến tâm lý , ý thức tư tưởng , đạo đức của con người Việt Nam Những điều kiện sống và làm việc còn khó khăn , thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần , vấn đề vệ sinh môi trường và bảo hộ chưa tốt đã dẫn đến tình trạng ốm đau , thiếu dinh dưỡng , bệnh nghề nghiệp

và tai nạn vẫn còn ở mức cao Việc chăm sóc sức khoẻ cho các tầng lớp nhân dân đã được quan tâm Những cơ sở khám bệnh được xây dựng tới tận các xã , kể cả vùng sâu , vùng xa Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng lên nhiều so với trước đây Thể lực của người Việt Nam đã được cải thiện hơn trước Trang thiết bị trong các bệnh viện , trong cac cơ sở khám chữa bệnh ngày càng đầy đủ , ngày một hiện đại Nhìn chung , trong những năm qua , Đảng và Nhà nước ta đã chăm lo tới việc bồi dưỡng nguồn nhân lực của đất nước cả sức khoẻ , tri thức , năng lực , phẩm chất đạo đức ; tạo điều kiện cho mỗi người phát huy được khả năng của mình đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bước sang thế kỷ XXI, thế giới đang có những bước chuyển mình mạnh

mẽ, cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra như v

ũ bóo, cựng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và xu thế toàn cầu hóa, hội n hập quốc tế … Đang có tác

động to lớn tói sự phát triển của nền kinh tế tất cả các nước trên thế giới

Trang 5

Ngày nay, trong sự phát triển nền kinh tế của đất nư

ớc không thể không

thể có sự vắng bóng của yếu tố khoa học - công ngh

ệ Bởi lẽ, khoa học - công

nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực

tiếp, trong quá trình sản xuất, nhờ vào

việc ứng dụng những thành tựu, phát minh khoa học

mà hiệu quả lao động ngày

càng cao, năng xuất lao động ngày càng tăng Do đó,

để thúc đẩy nền kinh tế đất

nước phát triển vượt bậc, thì mỗi quốc gia cần phải

quan tâm, đầu tư phát triển

khoa học đúng mức

Vậy, khoa học là một hệ thống những tri thức phản á

nh những quy luật

vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư

duy Nó bao gồm rất nhiều

những bộ môn khoa học cụ thể, giữa chúng lại có mố

i quan hệ tác động qua lại

lẫn nhau, bổ trợ cho nhau không tách rời nhau Tron

g đó, mối quan hệ giữa triết

học và sinh học là

một sự tiêu biểu cho những mối quan hệ kiểu như vậ

y

Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất

của con người về thế

giới, về vị trí vai trò của con người trong thế giới ấy

Triết học ra đời từ thực

tiễn, do nhu cầu của thực tiễn Chức năng cơ bản nhấ

t của nó là cung cấp thế

giới quan và phương pháp luận chung nhất cho

hoạt động nhận thức và hoạt

động thực tiễn cho con người

Sinh học là một bộ môn khoa học về sự sống,

về những quy luật hình

thành, vận động và phát triển của sự sống diễn ra tro

ng sinh vật, là sự giải đáp

những vấn đề cụ thể về sự trao đổi năng lượng giữa c

ơ thể động vật và thực vật

với môi trường

Nghiên cứu những thành tựu của sinh vật học dựa

trên cơ sở khái quát và

nguyên tắc của các nguyên lý và những quy luật

cơ bản của triết học, sẽ góp

phần làm sang tỏ hơn những vấn đề về bản chất sự s

ống, bản chất của di truyền,

về những vấn đề có tính toàn vẹn của cơ thể, về mối

quan hệ và sự tác động lẫn

nhau giữa cơ thể

sống với môi trường, giữa con người xã hội với tự nh

iên và vấn

đề bản chất của con người …

Hiện nay, với những phát minh khoa học có tín

h đột phá đặc biệt là

những công nghệ về biến đổi gen đã tạo ra sự khởi đ

ầu kì diệu cho sự phát triển

kinh tế - xã hội cũng như những tìm hiểu bước đầu v

ề cấu trúc con người Sinh

học hiện đại đang đặt ra rất nhiều vấn đề mà cần có

sự kết hợp liên ngành giữa

triết học và sinh học để giải quyết như: Đạo đức, nhâ

n cách con người; tương lai

con người và xã hội loài người; vấn đề dân tộc , sắc

tộc, nhân bản vô tính …

Phộp biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ b

ản hợp thành thế

giới quan và phương pháp luận triết học của c

hủ nghĩa Mác - Lê nin Nó

được cấu thành bởi hệ thống các nguyên lý các cặp p

hạm trù và các quy luật

cơ bản Trong đó, có hai nguyên lý cơ bản đó là: ngu

yên lý về sự phát triển và

nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và ba quy l

uật cơ bản đó là: Quy luật

chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành nhữ

ng sự thay đổi về chất và

ngược lại; quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các

mặt đối lập; quy luật phủ

định của phủ định

Nghiờn cứu triết học trong sinh học để vận dụn

g những kiến thức sinh học trong việc giảng dạy các nguyên lý và quy luật c

ơ bản của phép biện chứng duy vật, là một việc làm cần thiết và có nhiều ý nghĩ

a to lớn Nú giúp cho các nhà triết học hiểu biết thêm về những tri thức sinh h

ọc, giúp họ thấy rõ được cơ

sở chính xác, khoa học, để triết học dựa vào đó khái quát lên thành những

nguyên lý, những cặp phạm trù , những quy luật triết học Mác - Ăng ghen đó

núi” Mỗi lần có một phát minh vạch thời đại, ngay

cả trong lĩnh vực khoa học

tự nhiên thì chủ nghĩa duy vật không tránh khỏi thay đổi nhận thức của nú”

Lịch sử triết học nhân loại đã cho thấy, triết học du

y vật biện chứng ra đời không chỉ dựa trên những cơ sở kinh tế xã hội và

cơ sở lý luận, thỡ nú cũn dựa trên ba phát minh khoa học lớn, có tính vạch thờ

i đại Trong đó, có hai phát minh thuộc về sinh học đó là: Học thuyết tiến hóa củ

a Đác Uyn, thuyết tế bào của Svan và Slayden cùng với định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng

của Rụ bộc Maye và Len xơ

Mặt khác, nghiờn cứu triết học trong sinh học giúp c

ho các nhà sinh học nhận thức và biết vận dụng mọt cách đúng đắn sang t

ạo thế giới quan duy vật biện chứng đúng đắn và phương pháp luận khoa học triết học vào quá trình

nghiên cứu sinh học.Giỳp cho các nhà sinh học có th

ể tiến xa hơn,đi sâu hơn và đạt được thành tựu lớn hơn trong lĩnh vực nghiên cứ

u của mình

Không chỉ trong nghiên cứu mà trong lĩnh vực giản

g dạy triết học Mác -

Lê nin Thì việc vận dụng các tri thức sinh học trong giảng dạy triết học nói

chung và trong các nguyên lý và các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy

vật cũng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần t hiết Bởi lẽ, các tri thức,

các nguyên lý, quy luật triết học thường khó và trìu t ượng ,nên người học sẽ rất

khó khăn trong việc tiếp thu và lĩnh hội

Việc nghiên cứu và vận dụng tri thức sinh học vào tr ong giảng dạy triết

học sẽ làm mềm hóa tri thức triết học và làm cho bài giảng sinh động hơn ,gắn

liền với thực tiễn hơn, do vậy sẽ thu hút được người học và làm cho giờ học hiệu

quả hơn

Đặc biệt, việc vận dụng những tri thức sinh học trong giảng dạy các

nguyên lý các quy luật cơ bản của phép biện chứng , còn trang bị cho người học

những tri thức vừa rộng hơn vừa sâu hơn và toàn diệ

n hơn về thế giới để từ đó nâng cao hiệu quả trong hoạt động học tập và nghiên cứu và hoạt động thực tiễn

của mình

Song, việc tìm hiểu và vận dụng các tri thức sinh học trong việc giảng dạy

các nguyên lý và quy luật cơ bản là một việc làm khô

ng hề giản đơn.Vì vậy, đề tài chỉ mới gợi ý cách vận dụng một số lĩnh vực sinh học trong phạm vi giảng

dạy các nguyên lý và quy luật của phần phép biện chứng duy vật

Xuất phát yêu cầu và thực tiễn của việc giảng dạy tri

ết học hiện nay, mà

em quyết định chọn đề tài này làm đề tài nghiờn cứu khoa học của mình: “ Sinh

học trong việc giảng dạy các nguyên lý và các quy lu

ật cơ bản của phép biện chứng duy vật

2 Lịch sử vấn đề

Việc nghiên cứu tìm hiểu và vận dụng tri thức sinh học trong giảng dạy

các nguyên lý và các cặp phạm trù cơ bản của phép b iện chứng duy vật là một

việc làm hoàn toàn mới mẻ và cũng không hề đơn giản

Ở Việt Nam hiện nay, chưa có một công trình khoa h

ọc nào nghiên cứu một cách hoàn chỉnh và tỉ mỉ để tìm ra yếu tố triết họ

c trong sinh học và đặc biệt

là việc vận dụng các tri thức sinh học vào trong giản

g dạy triết học nói chung và các nguyên lý và quy luật cơ bản cuả phép biện c hứng duy vật và cũng chưa

xuất hiện một giáo trình chuẩn và chính thức nào cho việc giảng dạỵ Bộ môn

sinh học giành cho triết học cho sinh viên và đặc biệt

là cho sinh viên chuyên ngành triết học

Tuy nhiờná hiện nay cũng đó cú một số cuốn sách và công trình khoa học

đã di vào nghiên cứu và tìm ra yếu tố triết học cũng như ý nghĩa triết học trong

một số lĩnh vực sinh học cơ bản tiêu biểu hơn cả phải kể tới:

Trong tác phẩm “ Biện chứng của tự nhiờn” Đ ược Ăng ghen viết vào

những năm 1873 - 1883 và được bổ sung thêm vào những năm 1885 - 1886

Trong đó, Ăng ghen đã dành một số chương nhất định để trình bày một cách

khái quát và cơ bản nguồn gốc của sự sống và

sự hình thành con người Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên lúc bấy giờ v

à những bằng chứng xác thực của sinh học, Ăng ghen đã chứng minh rằng: Q

uá trình hình thành sự sống

và loài người là quá trình phát triển biện chứng của t

ự nhiên Tác phẩm đã cung cấp những luận điểm quan trọng, những quan niệm d

uy vật biện chứng về quá trình phát triển biện chứng của thế giới tự nhiên sinh vật

Một trong những công trình khoa học tiêu biểu phải

kể tới cuốn: “Quan niệm biện chứng về sự phát triển trong sinh học hiện đại”, được dịch từ nguyên

bản tiến Nga, xuất bản năm 1980 Đã trình bày một c ách hệ thống những quan

niệm biện chứng về các vấn đề của sinh học hiện đại với những đóng góp tích

cực như: quan niệm giới hữu cơ như một hệ vật chất toàn vẹn tự thân phát triển,

quan niệm về tính quy luật trong sự phát triển của gi

ới hữu cơ,quan niệm về mâu thuẫn là nguồn gốc

sự phát triển của giới hữu cơ

Đặc biệt, giáo trình Triết học trong khoa học tự nhiờ

n của tác giả Nguyễn Như Hải đã trình bày một cách khái quát về ý nghĩa triết học trong các vấn đề

về sự sống, trong học thuyết tiến hóa và trong vấn đề

về sinh thái học xã hội và sinh quyển

Trong cuốn giáo trình “ Tiến húa”, xuất bản 2009 củ

a Nguyễn Xuân Viết

Tác giả đã trình bày một cách khá biện chúng và đầy đủ về quá trình tiến hóa lâu dài của giới sinh vật từ những đơn vị tiến hóa cơ sở l

à quần thể đến sự tiến hóa cấp độ trên loài, nguồn gốc phát sinh sự sống trên trái đất và nguồn gốc xuất

hiện loài người… Qua sự phân tích khoa học và bằn

g chứng sinh học sát thực

mà giáo trình nêu ra đã chứng tỏ rằng: Quá trình phát triển của thế giới sinh vật

tự nhiên là một quá trình tiến hoá lâu dài, phát triển t

ừ thấp đến cao, từ đơn giản

Trang 6

đến phức

tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

Gần đây nhất, trong cuốn “ Môi trường và con người

sinh thái học nhân

văn” xuất bản năm 2011 của các tác giả Vũ Quang

Mạnh và Hoàng Duy Chúc

viết đã trình bày một cách khá sinh động và phong p

hú những vấn đề mà sinh

học hiện đại ngày nay đang đặt ra Đặc biệt là vấn đề

về môi trường, về sinh

thái, vấn đề về con người trong sinh thái học nhân v

ăn và vấn đề về sinh quyển

và trí tuệ quyển …

Song, hầu hết các công trình nghiên cứu trên ch

ỉ mới dừng lại ở việc

nghiên cứu, lý giải những vấn đề cần thiết mà

sinh học hiện đại đang đặt ra, trên

lập trường duy vật biện chứng và tìm ra các yếu tố tr

iết học và ý nghĩa triết học

trong một số lĩnh vực cơ bản của sinh học mà chưa c

hỉ ra được một cách cụ thể

việc vận dụng những tri thức sinh học ấy vào trong v

iệc giảng dạy triết học, đặc

biệt là trong giảng dạy các nguyên lý và các qu

y luật cơ bản của phép biện

chứng duy vật trong các trường cao đẳng và đại học

hiện nay

Với sự thôi thúc tìm tòi nghiên cứu khoa học, và tính

cấp thiết của đề tài

Em quyết định lựa chọn đề tài: “ Sinh học trong giản

g dạy các nguyên lý và các

quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật ”, để là

m đề tài nghiên cứu của

mình nhằm góp phần cho việc học tập và

nâng cao sự hiểu biết cho sinh viên nói

chung và sinh viên khoa triết học nói riêng

Chương 1: Mối quan hệ giữa sinh học và triết

học

1.1 Khái quát chung về sinh học và triết học

1.1.1 Sinh học

Khái niệm sinh học

Sinh học là một môn khoa học về sự sống ( tiế

ng Anh là : biology bắt

nguồn từ tiếng Hi Lạp với bios là sự sống, và logo

s là môn học ) Nó là một

nhánh của khoa học tự nhiên tập chung nghiên cứu c

ác cá thể sống, mối quan hệ

giữa chúng với nhau và với môi trường Nó miêu tả

những đặc điểm và tập tính

của sinh vật ( cấu trúc, chức

năng, sự phát triển, môi trường sống); cách thức các

cá thể và loài tồn tại ( nguồn gốc sự tiến hóa

và sự phân bố của chúng )

Sinh học bao hàm nhiều ngành khoa học khác nhau đ

ược xây dựng trên

những nguyên lý riêng Có bốn nguyên lý tạo thành

nền tảng cho sinh học hiện

đại đó: Lý thuyết tiến hóa tế

bào; tiến hóa; di truyền và cân bằng nội tại

Sự ra đời của sinh học bắt đầu từ thế kỷ XIX, khi các

nhà khoa học tìm

thấy các đặc điểm chung cơ bản giữa các loài

Ngày nay, sinh học đã trở thành môn học chuẩn và b

ắt buộc trong các trường

học các cấp và cao đẳng, đại học trên khắp thế giới v

à rất nhiều bài báo được công

bố hàng năm ở trên khắp các tạp trớ chuyờn ngành v

ề y học và sinh học

1.1.2 Triết học

Khái niệm triết học

Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất

của con người về thế

giới, về

vị trí , vai trò của con người trong thế giới ấy

Triết học ra đời là dựa trên yêu cầu đòi hỏi của hoạt

động lý luận và hoạt

động thực tiễn

● Cơ sở hình thành của triết học Mác

Triết học Mác - Lê nin ra đời vào những năm bốn m ươi của thế kỷ XIX,

là một trong ba bộ phận cấu thành nên chủ nghĩa Má

c - Lê nin Nú có hai chức năng cơ bản đó là cung cấp thế giới quan và phương pháp luận chung nhất cho

nhận thức khoa học và cho hoạt động thực tiễn

Ngoài cơ sở về kinh tế xã hội và cơ sở lý luận, thì sự

ra đời của triết học Mác - Lê nin còn được chuẩn bị bởi sự phát triển

và thành tựu của khoa học tự nhiên nửa đầu thế kỷ XIX Ba phát min

h khoa học lớn có tính chất vạch thời đại đó là:

Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng d

o nhà vật lý học người Đức Rôbéc Maye vào năm 1842 - 1845, đã chứng mi

nh một cách khoa học về mối quan hệ không tách rời nhau, sự chuyển hóa lẫn nhau và được bảo toàn của

các hình thức vận động của vật chất trong giới tự nhiên

Học thuyết tiến hóa của Đác Uyn, đã đem lại cơ sở k hoa học về sự phát

sinh, phát triển đa dạng về tính di truyền, biến dị và mối liên hệ hữu cơ giữa các

loài động vật và thực vật trong quá trình chọn lọc

tự nhiên

Học thuyết về cấu tạo tế bào thực vật và động vật do các nhà khoa học

người Đức M Slayden và T Savanxo xây dựng vào những năm 30 của thế kỳ

XIX, là một căn cứ khoa học quan trọng để chứn

g minh sự thống nhất về mặt nguồn gốc, hình thái và cấu tạo vật chất của cơ thể th

ực vật, động vật và giải thích quá trình phát triển sự sống trong mối liờn hệ của chúng

Chính nhờ những thành tựu của khoa học tự nh iên giữa thế kỷ XIX đã

vạch ra mối liờn hệ, sự chuyển hóa, tác động qua lại lẫn nhau giữa các khoa học

cụ thể với triết học, từ đó có cái nhìn biện chứng về s

ự tồn tại và phát triển của giới tự nhiên

Như vậy, Triết học Mác - Lê nin là sự kế thừa tất cả những tư tưởng tinh

hoa của nhân loại từ trước tới nay, là sự tổng kết nh ững thành tựu của khoa học

tự nhiên, đặc biệt là những thành tựu của sinh học hi

ện đại, là kết quả của quá trình hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn sôi nổi của Mác và Ăng ghen

Phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lê nin

Những nội dung cơ bản trong Triết học Mác - Lê nin bao gồm : Chủ nghĩa

duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Tr ong chủ nghĩa duy vật biện

chứng thì phép biện chứng duy vật là một phần nội d ung chiếm một vị trí cực kỳ

quan trọng, còn việc xây dựng nên chủ nghĩa duy vậ

t lịch sử được coi là một trong hai cống hiến vĩ đại của triết học Mác

Phép biện chứng duy vật, là một bộ phận lý luậ

n cơ bản hợp thành thế giới quan và phương pháp luận triết học Mác - Lê ni

n Nó được xây dựng trên

cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm tr

ù cơ bản và những quy luật phổ biến phản ánh hiện thực khách quan Trong hệ th ống đó nguyên lý về mối

liên hệ phổ biến và nguyên lý về

sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất

Ăng ghen định nghĩa: “ Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học

về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên của xã

hội loài người và của tư duy.”

Phép biện chứng bao gồm : Hai nguyên lý cơ bản đó là: nguyên lý về mối

liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển; ba quy luật cơ bản đó là: quy luật

Ngày đăng: 25/07/2017, 15:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w