1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biểu Thức Đa Nghĩa Trong Hoạt Động Suy Diễn

175 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế, như đã có dịp trình bày trong một công trình trước đó của chúng tôi, đa nghĩa là một trong những nhân tố hình thành nên quá trình trong tư duy của các chủ thể giao tiếp và được

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐOÀN CẢNH TUẤN

BIỂU THỨC ĐA NGHĨA TRONG HOẠT ĐỘNG SUY DIỄN

(Trên cứ liệu chương trình truyền hình thực tế

Ơn giời ! Cậu đây rồi)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Hà Nội – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐOÀN CẢNH TUẤN

BIỂU THỨC ĐA NGHĨA TRONG HOẠT ĐỘNG SUY DIỄN

(Trên cứ liệu chương trình truyền hình thực tế

Ơn giời ! Cậu đây rồi)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học

Mã số: 60220240

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Thu Hoài

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn đều thông qua quá trình khảo sát kĩ lưỡng, tỉ mỉ, khách quan, khoa học Kết quả nghiên cứu từ luận văn này một phần

được phát triển và mở rộng từ một nghiên cứu khoa học trước đó của chúng tôi

Học viên cao học

Đoàn Cảnh Tuấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành dưới sự chỉ dẫn tận tình của cô Lê Thị Thu Hoài và sự tham gia góp ý của các thầy cô trong khoa Ngôn ngữ học Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến cô giáo hướng dẫn của em – TS Lê Thị Thu Hoài trong suốt thời gian qua đã không ngừng động viên, nhiệt tình giúp đỡ em trong việc hoàn thành luận văn Đồng thời, em cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy

cô trong Khoa Ngôn ngữ học đã tạo điều kiện cho em học tập và rèn luyện trong suốt hai năm vừa qua để em có thể hoàn thành luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn !

Học viên cao học

Đoàn Cảnh Tuấn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử vấn đề 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và ý nghĩa luận văn 9

6 Kết cấu luận văn 10

NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12

1.1 Nghĩa, các cấp độ và bình diện trong nghiên cứu nghĩa 12

1.2 Đa nghĩa và các nhân tố quy định nghĩa 15

1.3 Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn 24

1.4 Suy diễn 31

1.5 Hội thoại và lý thuyết hội thoại 36

1.6 Chương trình truyền hình thực tế Ơn giời ! Cậu đây rồi 41

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM SUY DIỄN Ở CÁC BIỂU THỨC ĐA NGHĨA (TRÊN CỨ LIỆU CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ ƠN GIỜI ! CẬU ĐÂY RỒI 43

2.1 Đặc điểm suy diễn ở các biểu thức đa nghĩa là từ 44

2.1.1 Tính liên tưởng quy chụp 44

2.1.2 Tính tiêu cực hóa thông tin 50

2.2 Đặc điểm suy diễn ở các biểu thức đa nghĩa là ngữ 53

2.2.1 Tính phân rã 53

2.2.2 Tính đồng nhất bản chất sự vật 54

2.3 Đặc điểm suy diễn ở các biểu thức đa nghĩa là phát ngôn 56

2.3.1 Tính tiêu cực hóa thông tin 56

2.3.2 Tính thiếu căn cứ 59

Trang 6

2.3.3 Tính mâu thuẫn trong thụ đắc 61

2.3.4 Tính đồng nhất bản chất sự vật 62

2.3.5 Tính có động cơ 64

2.4 Tiểu kết 66

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC CẤU THÀNH SUY DIỄN Ở CÁC BIỂU THỨC ĐA NGHĨA VÀ CHIẾN LƯỢC GIAO TIẾP TRONG HỘI THOẠI ((TRÊN CỨ LIỆU CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ ƠN GIỜI ! CẬU ĐÂY RỒI) 78

3.1 Phương thức cấu thành suy diễn ở các biểu thức đa nghĩa 79

3.1.1 Trực tiếp giới hạn ngữ cảnh có thể tạo sinh trong tư duy từ biểu thức X 79

3.1.2 Gián tiếp giới hạn ngữ cảnh có thể tạo sinh trong tư duy từ biểu thức X 81

3.2 Suy diễn và chiến lược giao tiếp trong hội thoại 83

3.2.1 Chiến lược chối bỏ hàm ngôn 84

3.2.2 Chiến lược định hình suy diễn từ các lẽ thường 85

3.3 Tiểu kết 88

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC

Trang 9

thất bại Ông nói gà bà nói vịt, anh nói đông chị nói tây chính là biểu hiện rõ rệt

nhất của hiện tượng suy diễn do hiểu sai nội dung mà đối tượng giao tiếp cùng mình đang hướng tới Trong những trường hợp này, các biểu thức đa nghĩa được coi là một trong các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến suy diễn

Thực tế, như đã có dịp trình bày trong một công trình trước đó của chúng tôi,

đa nghĩa là một trong những nhân tố hình thành nên quá trình trong tư duy của các chủ thể giao tiếp và được hiện thực hóa thông qua các phát ngôn hay các câu ở trong diễn ngôn Tuy vậy, trong khuôn khổ một khóa luận hay một bài báo khoa học, chúng tôi vẫn chưa thể đào sâu và nghiên cứu một cách tỉ mỉ, kỹ lưỡng vấn đề Chính vì thế, ở luận văn này, chúng tôi muốn tập trung đi vào khảo sát hiện tượng suy diễn dưới tác động của các yếu tố đa nghĩa – một trong những vấn đề chưa thực

sự được giới nghiên cứu tập trung khai thác Số lượng các công trình nghiên cứu về suy diễn thực sự rất có hạn Các nghiên cứu phần lớn chỉ mới đề cập đến một vài khái niệm liên quan đến vấn đề như suy luận hay suy ý Đối với đa nghĩa, mặc dù các nghiên cứu đã có nhiều nhưng lại đa phần bàn về hiện tượng đa nghĩa ở từ hay

đa nghĩa ở các phát ngôn mà chưa khai thác đa nghĩa như một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc tạo nên quá trình suy diễn ở các cuộc hội thoại

Không thể phủ nhận được sự phát triển đa dạng của hoạt động suy diễn trong

đời sống giao tiếp hàng ngày do tác nhân đa nghĩa gây nên Vậy suy diễn ở các biểu

Trang 10

thức đa nghĩa có đặc điểm gì ?, nó được hình thành ra sao? sẽ là những vấn đề

chúng tôi tiến hành khảo cứu, phân tích ở luận văn này để từ đó, tiến đến xây dựng một vài chiến lược giao tiếp sơ khai nhất cho các đối tượng tham gia vào giao tiếp Đồng thời, hi vọng đề tài có thể đóng góp phần nào đó về mặt lý luận cho ngữ dụng học nói riêng và ngôn ngữ học nói chung

2 Lịch sử vấn đề

Như đã đề cập ở trên, số lượng các công trình nghiên cứu về hiện tượng suy diễn không nhiều Trước đây, đã có một số nhà ngôn ngữ học đề cập đến suy diễn nhưng dưới cái tên khác là suy ý như Hoàng Phê trong cuốn Logic – Ngôn ngữ học

(NXB Đà Nẵng, 2003) Tác giả cho rằng “suy ý là suy luận để biết đến cái ý của người nói Suy ý cũng vận dụng những quy tắc của suy luận logic, nhưng đồng thời

nó còn có một số quy tắc đặc trưng của nó” [22, tr 103] hay Bùi Thanh Quất trong

cuốn Giáo trình Logic hình thức (NXB Đại học Tổng hợp, 1994), dưới góc nhìn của logic học hình thức, ông đã chia suy lý ra làm hai loại, đó là suy lý trực tiếp và suy

lý gián tiếp Suy lý trực tiếp là “suy lý mà kết luận rút ra từ một tiền đề… Kết luận trong suy lý trực tiếp thu được bằng cách biến đổi một phán đoán và suy lý trực tiếp

có ba phương pháp: biến đổi, nghịch đảo và nghịch đảo phủ định” [23, tr 128] còn cái gọi là suy diễn, theo Bùi Thanh Quất là suy lý gián tiếp “phép suy diễn là một suy lý gián tiếp mà tiền đề là hai phán đoán đơn” [23, tr 130]

Giống như Bùi Thanh Quất, Nguyễn Đức Dân qua cuốn sách Nhập môn Logic hình thức và logic phi hình thức (NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2005) cũng nghiên cứu về suy diễn dưới cái nhìn của một nhà logic học, ông gọi nó là suy luận

diễn dịch trong đó suy diễn chính là phép suy luận hai tiền đề hay đó chính là hệ thống suy diễn tiền đề cổ xưa nhất : tam đoạn luận Aristotote [8, tr 147] Tuy

nhiên, Nguyễn Đức Dân còn đề cập đến một loại suy luận dựa theo dựa theo những căn cứ khác nhau như dựa theo văn hóa của cộng đồng, dựa theo kinh nghiệm tâm

lý xã hội và cá nhân; những suy luận có thể được đúc kết từ những kinh nghiệm, tri thức về thời tiết, về lao động sản xuất, … Đó là những suy luận quy nạp Và cách

Trang 11

tiếp cận loại suy luận này cũng thông qua logic hình thức với hai dạng quy nạp hoàn

toàn và không hoàn toàn [8, tr 173]

Nhìn chung, các tác giả đều có cùng quan điểm coi suy diễn là một loại suy luận hay suy lý và đều xuất phát theo hướng tiếp cận của logic hình thức, tuy nhiên cách tiếp cận đó diễn ra theo hai chiều: hoặc coi suy diễn là suy luận hay suy lý hai tiền đề hoặc đồng nhất suy diễn với suy luận và cho rằng suy diễn cũng vận dụng những quy tắc của suy luận logic nhưng còn mang một số quy tắc đặc trưng riêng của nó Một số tác giả khác cũng đề cập sơ bộ đến vấn đề này như George Yule và Gillian Brown trong Phân tích diễn ngôn (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002), Đỗ Hữu Châu với Ngôn ngữ học đại cương - Ngữ dụng học (quyển 2) (Nxb Giáo dục Việt Nam, 2007),…

Các công trình nghiên cứu về vấn đề đa nghĩa từ trước tới nay cũng đã có khá nhiều Tuy nhiên, các nghiên cứu phần lớn tập trung vào hiện tượng đa nghĩa

của từ Điển hình là các nghiên cứu từ vựng – ngữ nghĩa trong Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu, Từ vựng học tiếng Việt của Nguyễn Thiện Giáp, Cơ sở ngữ nghĩa học tiếng Việt của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Cũng đã có một số luận văn, luận án như luận án Đồng âm và đa nghĩa trong tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Hán hiện đại) của Đào Mạnh Toán hay luận án Nghiên cứu từ

đa nghĩa từ vựng trong tiếng Việt của Phan Thị Nguyệt Hoa, đề cập đến hiện tượng

đa nghĩa ở từ Một số nghiên cứu về ngữ nghĩa – ngữ dụng cũng đề cập đến vấn đề

lưỡng nghĩa ở các câu hay lời như Ngữ nghĩa học John Lyons, Logic – Ngôn ngữ học của Hoàng Phê, Ngữ nghĩa lời hội thoại của Đỗ Thị Kim Liên, Đại cương ngôn ngữ học – Ngữ dụng học của Đỗ Hữu Châu, Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu

nào đề cập đến mối liên hệ giữa suy diễn và các biểu thức đa nghĩa trong hoạt động giao tiếp hàng ngày Tiếp thu những quan điểm trước đó của các tác giả về vấn đề có liên quan và cũng để khảo cứu sâu hơn về nghiên cứu trước đó của chúng tôi, chúng tôi tiến hành khảo sát các suy diễn được hình thành từ các biểu thức đa nghĩa là từ, ngữ và phát ngôn Từ đó, nhìn nhận một cách đúng đắn hơn về tầm quan trọng của suy diễn cũng như đa nghĩa trong việc xây dựng các chiến lược giao tiếp trong hội thoại

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn ở đây là hiện tượng suy diễn ở các biểu thức đa nghĩa là từ, ngữ và phát ngôn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu của chúng tôi có phạm vi giới hạn là 10 tiểu phẩm trong chương

trình truyền hình thực tế Ơn giời cậu đây rồi mùa 4 năm 2017 Trên cơ sở phân tích

10 tiểu phẩm này, chúng tôi muốn chỉ ra đặc điểm của các suy diễn do nhân tố đa nghĩa gây nên và phương thức cấu thành suy diễn ở các biểu thức đa nghĩa là từ, ngữ và phát ngôn cũng như một vài chiến lược có thể áp dụng trong hội thoại để giao tiếp thành công

4 Phương pháp nghiên cứu

Thống kê: Dựa trên cứ liệu 10 tiểu phẩm nói trên, chúng tôi tiến hành thống

kê để tính toán số lượng các biểu thức đa nghĩa là từ, ngữ và phát ngôn đã tạo nên quá trình suy diễn ở người nghe hay người nói; thống kê các đặc điểm suy diễn, các phương thức hình thành suy diễn từ các biểu thức đa nghĩa, qua đó lấy số liệu nhận xét, đánh giá, tổng hợp

Phân loại: Từ các biểu thức đa nghĩa đã thống kê được, đi vào phân loại các

đặc trưng suy diễn và phương thức cấu thành suy diễn ở các biểu thức đa nghĩa đó

Phân tích: Sau khi đã phân loại các biểu thức đa nghĩa là từ, là ngữ, là phát

ngôn có đặc điểm gì cũng như con đường hình thành nên suy diễn ở các biểu thức

đa nghĩa ấy, chúng tôi tiến hành phân tích các ví dụ cụ thể để chứng minh tính chân trị của các đặc điểm, các phương thức hình thành suy diễn ở những biểu thức đa nghĩa đã liệt kê

So sánh, đối chiếu: Ngoài việc tạo dựng cơ sở khoa học chắc chắn cho nghiên

cứu, phương pháp so sánh – đối chiếu được sử dụng trong nghiên cứu để chỉ ra những đặc điểm giống và khác nhau ở các biểu thức đa nghĩa là từ, ngữ và phát ngôn

Đánh giá, tổng hợp: Trên cơ sở sau khi đã thống kê, phân loại, phân tích các

Trang 13

diễn ở các biểu thức đa nghĩa, phương thức gây suy diễn trong trong giao tiếp nói riêng và đời sống thường nhật nói chung Đánh giá, nhận xét không những về vai trò mà còn cả mối quan hệ chặt chẽ giữa suy diễn và đa nghĩa cùng với các nhân tố ngữ cảnh, tâm lý xã hội cá nhân trong giao tiếp Qua đó, khái quát hóa một số chiến lược giao tiếp ban đầu cho các đối tượng giao tiếp

5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và ý nghĩa luận văn

5.1 Mục đích nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu đề tài, trước hết, chúng tôi muốn cụ thể hóa đề tài nghiên cứu trước đó của chúng tôi về đối tượng Đặt suy diễn dưới con mắt của ngữ nghĩa – ngữ dụng học, chúng tôi muốn chỉ ra các đặc điểm cũng như phương thức hình thành nên suy diễn ở các biểu thức đa nghĩa Tuy đa nghĩa chỉ là một trong những tác nhân hình thành suy diễn nhưng lại là tác nhân vô cùng quan trọng và chiếm ưu thế hơn cả Việc nhìn nhận đa nghĩa như một công cụ gây suy diễn sẽ giúp chúng ta xây dựng một chiến lược giao tiếp thích hợp, hoặc giúp chủ thể dập tắt hội thoại khi hội thoại đang đi vào bế tắc, nghĩa là hội thoại có chiều hướng tiêu cực hoặc phát triển hội thoại theo động cơ mà cá nhân mong muốn khi cuộc thoại tiến triển theo chiều hướng tích cực

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm những nội dung sau:

Thứ nhất, tiến hành thống kê các biểu thức đa nghĩa là từ, ngữ và phát ngôn đã

tạo nên suy diễn để khảo sát và phân loại đặc điểm của suy diễn ở các biểu thức đó

Thứ hai, sau khi đã thống kê, phân loại đặc điểm của suy diễn ở các biểu

thức đa nghĩa (từ, ngữ và phát ngôn), khái quát hóa phương thức hình thành nên suy diễn ở các biểu thức đa nghĩa này

Cuối cùng, trên cơ sở các đặc điểm của suy diễn và các phương thức cấu thành

suy diễn ở các biểu thức đa nghĩa là từ, ngữ và phát ngôn đã khảo cứu được, tiến đến xây dựng một vài chiến lược giao tiếp sơ khai cho các chủ thể trong giao tiếp

5.3 Ý nghĩa luận văn

Về lý thuyết, thông qua việc khảo sát và phân tích đặc điểm cũng như các phương thức hình thành suy diễn ở các biểu thức đa nghĩa là từ, ngữ và phát ngôn,

Trang 14

luận văn phần nào đó giúp củng cố lý thuyết của ngữ nghĩa - ngữ dụng học nói riêng

và ngôn ngữ học nói chung

Về thực tiễn, luận văn đóng góp một phần nhỏ trong việc chỉ ra các đặc trưng văn hóa và tư duy của người Việt Có thể thấy, suy diễn nói chung và các suy diễn được hình thành do đa nghĩa nói riêng có vai trò tối quan trọng trong việc làm đa dạng các loại hình văn học nghệ thuật ở Việt Nam như đố vui, vè, ca dao,…cũng như làm tăng yếu tố gây hài trong một số thể loại văn học như truyện cười hay các

bộ phim, chương trình hài, Nghiên cứu về suy diễn trong hội thoại hay mối liên

hệ giữa suy diễn và nhân tố đa nghĩa cũng góp phần xây dựng tư duy- ngôn ngữ logic, hạn chế những suy luận phi logic để đảm bảo các nguyên tắc hội thoại trong giao tiếp Bên cạnh đó, một số chiến lược giao tiếp được rút ra qua quá trình khảo cứu đề tài có thể giúp các cá nhân vận dụng vào trong giao tiếp, khiến cuộc hội thoại có hiệu quả hơn như đúng chủ đích của chủ thể giao tiếp

Bên cạnh đó, suy diễn cũng có khả năng ứng dụng vào thực tế khá cao điển hình là ứng dụng vào trong nghiên cứu kho dữ liệu ngôn ngữ tự nhiên, biên dịch, phiên dịch, dựng hiện trường và phá án trong ngành hình sự, hoặc các ứng dụng trong khoa học tự nhiên như mô hình động cơ suy diễn COKB trong toán học hay trong lập trình tin học,

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được bố cục thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Ở chương này, chúng tôi đề cập đến các khái niệm có liên quan đến đề tài như nghĩa, các cấp độ và bình diện trong nghiên cứu nghĩa, đa nghĩa, biểu thức, biểu thức ngôn ngữ, biểu thức đa nghĩa, chiến lược giao tiếp, các nhân tố quy định nghĩa, nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn, suy diễn, hội thoại và lý thuyết hội thoại

cũng như giới thiệu chương trình truyền hình thực tế Ơn giời ! Cậu đây rồi để làm

cơ sở lý luận cho đề tài

Trang 15

Chương 2: Đặc điểm suy diễn ở các biểu thức đa nghĩa

Trong chương 2, chúng tôi tiến hành thống kê các biểu thức đa nghĩa tạo nên suy diễn ở người nghe, phân loại đặc điểm suy diễn ở các biểu thức đa nghĩa ấy Sau

đó, phân tích các ví dụ điển hình để chứng minh và rút ra các nhận xét, đánh giá

Chương 3: Phương thức cấu thành suy diễn ở các biểu thức đa nghĩa và chiến lược giao tiếp trong hội thoại

Ở chương này, chúng tôi đi đến khái quát hóa các phương thức cấu thành suy diễn và phân loại cụ thể phương thức hình thành suy diễn ở các biểu thức đa nghĩa Qua đó, xây dựng một vài chiến lược giao tiếp trong hội thoại giúp các đối tượng giao tiếp có thể vận dụng trong cuộc sống hàng ngày

Trang 16

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Nghĩa, các cấp độ và bình diện trong nghiên cứu nghĩa

Trong cuộc sống hàng ngày, ta vẫn bắt gặp các từ nghĩa, ý nghĩa Nội dung

của những từ này thường khó xác định Phạm vi xem xét của nghĩa sẽ vô cùng rộng lớn nếu ta xem xét đến cả nghĩa của một sự việc, một vấn đề Ở đây, chúng tôi bàn

đến thuật ngữ nghĩa trong ngôn ngữ học Về đại thể, đó là phạm vi mà ngôn ngữ

học quan tâm để trả lời cho câu hỏi: Từ có nghĩa là gì? Câu có nghĩa là gì? Nếu liệt

kê cho đầy đủ thì đó là: Các hình thức ngôn ngữ, các biểu thức ngôn ngữ, các văn bản, các diễn ngôn, có nghĩa là gì ?

Khi đề cập đến vấn đề nghĩa, theo John Lyons, có thể kể đến một số lý thuyết dưới đây:

- Thuyết quy chiếu hay sở thị (reference) (“nghĩa của một biểu thức chính là

đối tượng mà biểu thức đó chỉ ra (hay biểu thị) hoặc đại diện; tức “Fido” có nghĩa là Fido, còn “chó” thì có nghĩa hoặc là một tập hợp khái quát các con chó, hoặc là cái đặc trưng bản chất chung của chúng”)

- Thuyết ý niệm (ideation) hay tâm lí (mentality) (“nghĩa của một biểu thức

là cái ý niệm hay quan niệm, gắn với nó trong tư duy của những ai biết và hiểu được cái biểu thức đó”)

- Thuyết hành vi (behaviour) (“nghĩa của một biểu thức hoặc là cái kích

thích gợi ra nó hay cái phản ứng mà nó gợi ra, hoặc là sự kết hợp của cả hai thứ này trong một tình huống phát ngôn cụ thể”)

- Thuyết nghĩa là cách dùng (meaning-is-usage) (“nghĩa của một biểu thức

được xác đinh bởi, nếu không nói là đồng nhất với, cách dùng nó trong ngôn ngữ”)

- Thuyết thẩm định (verification) (“nếu một biểu thức có nghĩa thì cái nghĩa

này được xác định bởi chứng cứ lấy từ câu hay mệnh đề chứa biểu thức đó”)

- Thuyết điều kiện chân trị (sincerity condition) (“nghĩa của một biểu thức

là sự đóng góp của nó vào điều kiện chân trị của câu chứa nó”)

Trang 17

John Lyons cho rằng mặc dù không có lý thuyết nào trong số kể trên tự mình làm thành cơ sở cho một lý thuyết ngữ nghĩa học toàn diện và giàu sức giải thích thực tiễn song mỗi lý thuyết như vậy đều có đóng góp theo cách nào đó làm thành cái tri thức nền cho những ai đang nỗ lực xây dựng một lý thuyết như vậy

Có thể thấy, trong ngữ nghĩa học hiện đại có nhiều khuynh hướng, nhiều

cách tiếp cận với các lý thuyết khác nhau Tuy nhiên, để giải thích cho thứ nghĩa thể

hiện trong ngôn ngữ như một phức thể là không hề đơn giản Theo Lê Quang

Thiêm, về mặt khoa học, thậm chí các thuật ngữ nghĩa, ý, ý nghĩa cũng cần phải được phân biệt Nếu như ý thuộc về ý nghĩ, tư duy của con người thì nghĩa sẽ tạm được hiểu là nội dung của tín hiệu, của biểu thức ngôn ngữ, còn ý nghĩa ở đây tạm

phân biệt với ý và nghĩa đó là giá trị, tác dụng của một cái gì đó

Thứ quan niệm thích hợp và có sức lí giải hơn cả của ngôn ngữ học hiện đại gắn với vấn đề nghĩa là quan niệm tín hiệu học, xem tín hiệu ngôn ngữ là một thực

thể tâm lý có tính hai mặt: cái biểu hiện (significant) và cái được biểu hiện (signifié) Cái biểu hiện là hình thức của tín hiệu, là hình thức của các biểu thức ngôn ngữ, cái được biểu hiện là nghĩa của hình thức tín hiệu, hình thức biểu thức

trong hệ thống và trong hoạt động, hành chức Cái được biểu hiện của đơn vị, biểu thức trong từ vựng thuộc bình diện nghĩa từ vựng, cái được biểu hiện của đơn vị, biểu thức trong ngữ pháp thuộc bình diện nghĩa ngữ pháp Cái được biểu hiện trong ngữ dụng là nghĩa ngữ dụng Như vậy, cũng có thể nói nghĩa tồn tại, hiện diện trong các mặt, các cấp độ lớn nhỏ của ngôn ngữ Thuộc mặt nào, cấp độ nào thì theo đó

mà xem xét, xác định

Nghĩa thể hiện, gắn liền với hình thức biểu hiện nó Như đã thấy, các biểu thức, các hình thức ngôn ngữ cũng có nhiều dạng, loại Chỉ nói đến đơn vị có nghĩa, đơn vị mang nghĩa thì từ thấp đến cao: hình vị, từ, ngữ, câu, lời, văn bản, diễn ngôn Mỗi loại lại có rất nhiều các dạng, thể tồn tại Cần khẳng định lại, nghĩa ngôn ngữ ở

đây là nghĩa của các biểu thức ngôn ngữ học Thực chất, trong toán học, biểu thức

là tập hợp các số hoặc các chữ nối vào nhau bằng các dấu toán học [15, tr 148] hay

tương tự, theo Nguyễn Văn Đạm, biểu thức là tập hợp các chữ và các số liên lạc với

nhau bằng những dấu của các phép tính đại số Trong ngôn ngữ học, các biểu thức

Trang 18

ngôn ngữ là những đơn vị, những yếu tố, hình thức ngôn ngữ xét trên từng cấp độ

như từ, ngữ hay câu (phát ngôn) Mỗi một cấp độ này lại có thể chứa vô vàn các biểu thức khác nhau Ở cấp độ từ, mỗi một từ được coi là một biểu thức, ở cấp độ ngữ, mỗi một ngữ cũng được xem là một biểu thức và tương tự ở các câu hay phát

ngôn cũng vậy Do đó, xác định nghĩa ngôn ngữ về bản chất là xác định nghĩa của

các biểu thức ngôn ngữ Chính xác hơn, nghĩa của các biểu thức ngôn ngữ là nghĩa

của các đơn vị, các hình thức có nghĩa, mang nghĩa Việc phân giới đơn vị, hình thức ngôn ngữ dĩ nhiên phải dựa vào sự phân chia các quan hệ bên trong của các cấp độ, bình diện ngôn ngữ Cấp độ đơn vị có nghĩa, mang nghĩa thấp nhất là hình

vị, kế tiếp là từ, ngữ, câu, Nếu như trước đây người ta chỉ chú ý nghĩa từ vựng phân biệt với nghĩa ngữ pháp thì ngày nay cần phân biệt thêm nữa với nghĩa ngữ dụng Nghiên cứu nghĩa hiện nay không chỉ chú ý nghĩa lịch đại và nhấn mạnh hơn nghĩa đồng đại hoặc kết hợp biện chứng giữa chúng, không chỉ quan tâm nghĩa hệ thống – cấu trúc mà chú ý hơn nghĩa trong hoạt động hành chức, không chỉ chú ý nghĩa của ngôn ngữ mà cả nghĩa của lời nói (theo lưỡng phân của Ferdianald de Saussure), nghĩa ngữ năng và cả nghĩa ngữ thi (theo lưỡng phân của Noam Chomsky) Các nghiên cứu về nghĩa trong hoạt động, trong hành chức, nghĩa lời nói hay phát ngôn trở thành hướng nghiên cứu được chú ý quan tâm nhiều hơn trước

Cũng theo Lê Quang Thiêm, việc xem xét nghĩa phải quán triệt trong các cấp

độ của cấu trúc – hệ thống ngôn ngữ cũng như hoạt động hành chức của chúng Toàn bộ hệ thống, cấu trúc ngôn ngữ và hoạt động lại bao gồm những bình diện lớn nhỏ khác nhau mà việc nghiên cứu nghĩa phải tiến hành phân biệt và khảo sát, đặc biệt là bình diện chức năng, bình diện hành chức, hoạt động, vận hành của ngôn ngữ Nói đến các cấp độ ngôn ngữ là nói đến cấu trúc hệ thống của ngôn ngữ Cấu trúc theo cách hiểu thông thường là mạng lưới các quan hệ liên hệ giữa các đơn vị, yếu tố trong cùng cấp độ hệ thống Cấu trúc được xây dựng dựa trên quan hệ đơn vị, yếu tố này với đơn vị, yếu tố khác mà các đơn vị, yếu tố lại có cấu tạo nhất định Trong ngôn ngữ, một đơn vị phức tạp hơn (theo tôn ti) được cấu tạo từ đơn vị đơn giản hơn Ví dụ: âm vị (đơn vị có giá trị khu biệt nghĩa) cấu tạo nên hình vị (đơn vị

Trang 19

cấu tạo nên ngữ đoạn, ngữ đoạn cấu tạo câu, câu – lời nói cấu tạo văn bản, diễn ngôn Đồng thời, khi nói đến đơn vị có nghĩa tức là nói đến quan hệ tương liên, tức tương liên bình diện hình thức cái biểu hiện và bình diện nội dung cái được biểu hiện và những vận dụng, sáng tạo chúng trong giao tiếp

1.2 Đa nghĩa và các nhân tố quy định nghĩa

1.2.1 Đa nghĩa

Do có sự tồn tại các cấp độ và bình diện khác nhau trong các nghiên cứu về nghĩa ngày nay nên để giải thích thuật ngữ đa nghĩa, các nhà nghiên cứu cũng cần xuất phát từ một bình diện hay một cấp độ mà bàn luận Xem xét nghĩa từ cấp độ từ,

Đỗ Hữu Châu cho rằng từ đa nghĩa là từ có hai nghĩa trở lên hay còn được gọi là nhiều nghĩa “Từ trong trạng thái tự nhiên của nó, thường gắn liền với nhiều thuộc tính khái quát của đối tượng hay của hiện tượng làm cơ sở cho đa nghĩa tính của từ, bởi vì một vài thuộc tính của sự vật này cũng là thuộc tính chung của một số sự vật khác” [5, tr 28] Ông cũng cho rằng ý nghĩa của từ không phải là một khối không phân hóa mà là một tập hợp một số thành phần nhất định Tùy theo các chức năng

mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ có những thành phần ý nghĩa như: 1)

Ý nghĩa biểu vật tương ứng với chức năng biểu vật; 2) Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm; 3) Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái Ba thành phần trên được gọi chung là ý nghĩa từ vựng Nó đối lập với thành phần ý nghĩa thứ

tư là ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp Theo ông, hiện tượng đa nghĩa (nhiều nghĩa) có thể xảy ra cả với ý nghĩa biểu vật, biểu niệm hay biểu thái Đa nghĩa (nhiều nghĩa) chính là kết quả của sự chuyển biến ý nghĩa của từ Nguyễn

Thiện Giáp cũng có quan điểm tương tự về hiện tượng đa nghĩa khi ông lưỡng phân

ra các thành tố ngữ nghĩa: nghĩa sở chỉ, nghĩa sở biểu, nghĩa sở dụng và nghĩa kết cấu Tác giả cho rằng hiện tượng đa nghĩa của tiếng Việt có hai kiểu Đó là hiện tượng đa nghĩa của các từ độc lập về nghĩa hoạt động tự do và hiện tượng đa nghĩa của các từ độc lập về nghĩa hoạt động hạn chế Cũng theo tác giả, hiện tượng đa nghĩa của tiếng Việt chủ yếu xảy ra ở các từ Các ngữ (các đơn vị từ vựng đa âm tiết) cũng có hiện tượng nhiều nghĩa, song tỉ lệ rất thấp, chỉ có khoảng chưa đến

Trang 20

1/10 các ngữ là có hiện tượng đa nghĩa Thông thường, các ngữ cũng chỉ có khoảng 2-3 nghĩa John Lyons lại cho rằng hiện tượng đa nghĩa (polysemy) có thể do một từ

vị có lưỡng nghĩa: lưỡng nghĩa từ vựng hay lưỡng nghĩa ngữ pháp Trong khi đồng

âm (bất luận là đồng âm hoàn toàn hay không hoàn toàn) là một mối quan hệ nằm giữa hai hoặc hơn hai từ vị khác biệt nhau thì đa nghĩa hay nhiều nghĩa lại là đặc trưng của một từ vị đơn nhất Và để phân biệt rõ ràng sự khác biệt giữa đồng âm và

đa nghĩa – vấn đề mà thậm chí người bản ngữ cũng sẽ do dự và không nhất trí với nhau có lẽ phải viện đến hai tiêu chí: tiêu chí từ nguyên (lai nguyên lịch sử của từ)

và tính có liên hệ về nghĩa

Nhìn nhận khái niệm nghĩa ở một góc độ rộng hơn, theo quan niệm của

Nguyễn Thiện Giáp, đa nghĩa là kết quả của các quá trình chuyển nghĩa mà thực chất chuyển nghĩa lại là quá trình biểu trưng hóa của tín hiệu, một quá trình vốn có nguồn gốc tâm lý của nó trong đời sống xã hội và được ghi lại một cách tế nhị, độc đáo trong ngôn ngữ [11, tr 176] Nói cách khác, đa nghĩa là hiện tượng một cái biểu đạt có hai hoặc hơn hai ý nghĩa liên hệ chặt chẽ với nhau Thí dụ: từ bền có hai

nghĩa: 1) Có khả năng chịu đựng tác dụng của lực cơ học mà vẫn giữ nguyên trạng

thái, có thể giữ nguyên trạng thái được lâu (vải bền màu); 2) Có thể giữ nguyên được lâu không biến đổi, không suy yếu, dù có tác động bất lợi từ bên ngoài (làm trai chí ở cho bền) Hiện tượng đa nghĩa khác hiện tượng đồng âm ở chỗ ở hiện

tượng đa nghĩa những ý nghĩa khác nhau có quan hệ với nhau về nghĩa, tức là giữa chúng có những nét nghĩa chung, trong khi đó ở hiện tượng đồng âm, chúng không

có gì chung cả [11, tr 174]

Tuy nhiên, khái niệm đa nghĩa ở đây không chỉ dừng lại ở phạm vi từ vựng

Nó còn có thể là hiện tượng đa nghĩa ở các phát ngôn Cũng giống như ở các biểu thức là từ, một phát ngôn sẽ được coi là đa nghĩa khi phát ngôn đó có chứa từ hai ý nghĩa trở lên Theo Đỗ Hữu Châu, một phát ngôn ngoài cái ý nghĩa được nói ra trực tiếp nhờ các yếu tố ngôn ngữ (âm, từ, kết cấu cú pháp ) còn có rất nhiều ý nghĩa khác nữa mà chúng ta phải dùng đến thao tác suy ý (inference) dựa vào ngữ cảnh,

Trang 21

khiển hội thoại mới nắm bắt được Ý nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ đem lại được gọi là ý nghĩa tường minh, có tác giả gọi là hiển ngôn, còn được gọi là ý nghĩa theo câu chữ của phát ngôn Các ý nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được gọi là ý nghĩa hàm ẩn [4, tr 359]

Đỗ Thị Kim Liên khi đề cập đến nghĩa của phát ngôn lại cho rằng về các tầng nghĩa, phát ngôn thường có các nhóm sau:

- Nghĩa tự thân (hay nghĩa tường minh) là nghĩa toát ra từ toàn bộ câu chữ

mà người nghe nhận thức được Chẳng hạn khi nghe câu: Năm nay, Lan vừa tròn 26 tuổi -> thì ta hiểu người nói đến là cô Lan, tuổi 26

- Nghĩa hàm ngôn là nghĩa có được do suy ý, đó là nghĩa thực của phát ngôn trong ngôn cảnh

Năm nay, Lan tròn 26 tuổi rồi đấy -> Phát ngôn này mang nội dung hiển nhiên Lan 26 tuổi không thể chối cãi, vì vậy người nói nhằm một dụng ý khác, hàm ngôn là Lan đã đến tuổi lấy chồng

Trong một ngữ cảnh cụ thể, chủ nhà bỗng nhiên hỏi: “Bây giờ là mấy giờ rồi nhỉ?” mà chẳng nhằm mục đích muốn biết về thời gian thì hàm ngôn là muốn đuổi khách về

- Nghĩa ánh xạ (hay còn gọi là nghĩa chức năng) là loại nghĩa có liên quan chặt chẽ với nghĩa tự thân, được suy ra từ nghĩa tự thân những lại không phải nghĩa

tự thân Nghĩa này còn được gọi là nghĩa bóng

Tiếng Anh: What is done by night, appears by day (Cái gì được làm bởi ban đêm thì sẽ đến ban ngày)

Nghĩa ánh xạ: Gieo gió gặt bão

Tiếng Việt: Mẹ tròn con vuông chứ ?

Nghĩa ánh xạ: Sinh nở suôn sẻ phải không? [17, tr 81]

Như vậy, hiện tượng đa nghĩa không những được bao hàm trong các biểu thức là từ, ngữ mà còn nằm trong cả các phát ngôn Ở các đơn vị là từ hay ngữ, đa nghĩa là kết quả của các quá trình chuyển nghĩa (thực chất chuyển nghĩa lại là quá trình biểu trưng hóa của tín hiệu, một quá trình vốn có nguồn gốc tâm lý của nó

Trang 22

trong đời sống xã hội và được ghi lại một cách tế nhị, độc đáo trong ngôn ngữ - theo Nguyễn Thiện Giáp) hay nói khác đi, đa nghĩa ở từ và ngữ là khi từ hay ngữ đó có

từ hai ý nghĩa trở lên, các ý nghĩa này đều có nét nghĩa chung nào đó Các ý nghĩa này đôi khi không được cụ thể hóa trong các tài liệu chính quy như từ điển giải thích bởi chúng là nghĩa trong sử dụng, trong hành chức, nghĩa ngữ cảnh (nghĩa lâm thời) trong một số trường hợp nhất định Còn ở các biểu thức là phát ngôn, tình hình

sẽ phức tạp hơn khi đề cập đến vấn đề đa nghĩa Vì khi xem xét một phát ngôn có

đa nghĩa hay không phải dựa vào nhiều yếu tố: các yếu tố kèm lời hay phi lời bên cạnh nhân tố ngữ cảnh Tương tự như các biểu thức như từ hay ngữ, một phát ngôn nếu có chứa từ hai nghĩa trở lên sẽ được coi là đa nghĩa Ngoài ý nghĩa tường minh, một phát ngôn còn có thể có nhiều ý nghĩa hàm ẩn Trong nghĩa hàm ẩn lại chia ra làm nghĩa tiền giả định và nghĩa hàm ngôn Việc luận giải một biểu thức đa nghĩa dẫu có là từ, ngữ hay phát ngôn yêu cầu người luận giải buộc phải sử dụng đến thao tác suy ý Tuy nhiên, quá trình suy ý hình thành trong tư duy của đối tượng thuyết giải có thể đúng hoặc sai so với cái đích mà người nói hướng tới bởi phát ngôn nguồn

có nhiều nội dung ngầm ẩn khác nhau Các suy ý đúng và đạt đến cái đích tại lời của phát ngôn chính là các suy luận và ngược lại, các suy ý hình thành trong tư duy của chủ thể luận giải phát ngôn khi tiếp nhận một phát ngôn nào đó dù có được hiện thực hóa thông qua phản hồi của người đối thoại hay không nhưng khi đã không có cơ sở khoa học chắc chắn, thiếu căn cứ, cực đoan, có động cơ, tức là không tuân theo quy luật của suy luận logic đều được coi là các suy diễn

1.2.2 Các nhân tố quy định nghĩa

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi đề cập tới nghĩa theo hướng xem xét là nghĩa thể hiện trong hoạt động, hành chức Nghĩa được bộc lộ ra trong quá trình tư duy – giao tiếp bằng ngôn ngữ Nghĩa biểu hiện bằng hình thức ngôn ngữ hiện diện trong văn cảnh, ngữ cảnh giao tiếp Nghĩa cũng bộc lộ đặc trưng văn hóa tinh thần của người bản ngữ Vậy những nhân tố nào quy định nghĩa?

Trong công trình Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Đỗ Hữu Châu khi phân tích

Trang 23

tiếp theo, đã bổ sung và nêu ra năm nhân tố quy định nghĩa và thứ tự ưu tiên các nhân tố đó, theo tác giả “lần lượt là sự vật hiện tượng, những hiểu biết của tư duy (khái niệm), nhân tố người sử dụng (nhân tố lịch sử - xã hội), chức năng tín hiệu học, cấu trúc ngôn ngữ” Lê Quang Thiêm, xét từ góc độ của ngữ nghĩa học tri nhận, cũng đồng ý với năm nhân tố quy định nghĩa trên nhưng nhấn mạnh sự ưu tiên khác, vận dụng không chỉ cho từ mà cho biểu thức ngôn ngữ nói chung Các nhân tố đó lần lượt là: người nói (sử dụng và sáng tạo, sự tri nhận), chức năng tín hiệu (nhân tố quan trọng nhất) và văn cảnh (ngữ cảnh) sử dụng tín hiệu và cuối cùng là hệ thống ngôn ngữ [25, tr 69]

Nhìn chung, dù đứng ở góc độ hay khía cạnh nào, cũng không thể phủ nhận vai trò vô cùng quan trọng của ngữ cảnh trong việc phân biệt nghĩa của các biểu thức ngôn

ngữ Có rất nhiều những định nghĩa khác nhau về ngữ cảnh Trong tác phẩm “Language

and Context: A Functional linguistic theory register”, sau khi phân tích các quan điểm của các tác giả như Halliday và Hasan, Lemke, Givon về ngữ cảnh, về vai trò, tác dụng của ngữ cảnh trong việc xác định, tiếp nhận nghĩa của văn bản, L.T Helen đã khẳng định

rằng ngữ cảnh là tất cả các điều kiện nằm trong và cả nằm ngoài ngôn ngữ cho phép tiếp nhận, cho phép hiểu một phát ngôn cụ thể trong bối cảnh giao tiếp cụ thể Theo Helen,

ngữ nghĩa của văn bản được xác định, được tạo nên bởi ngữ cảnh; nghĩa thật – nghĩa thực tế (actual – occurrence meaning), nghĩa thông dụng (use – meaning), nghĩa văn bản (text meaning) đều xác định chỉ ở trong ngữ cảnh Tác giả đã tổng kết lại 3 mức độ ngữ

cảnh, đó là ngữ cảnh văn hoá (Context of culture), ngữ cảnh tình huống (Context of situation) và ngữ cảnh văn bản (Textual context) Ngữ cảnh văn bản lại bao gồm hai tiểu loại, đó là ngữ cảnh liên văn bản (Textual-crossing context) và ngữ cảnh trong văn bản

(Intertextual context)

Cũng có ý kiến cho rằng, ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ mà ở đó sản phẩm ngôn ngữ (văn bản) được tạo ra trong hoạt động giao tiếp, đồng thời là bối cảnh cần dựa vào để lĩnh hội thấu đáo sản phẩm ngôn ngữ đó

Trong đó, các nhân tố của ngữ cảnh bao gồm: nhân vật giao tiếp gồm tất cả

các nhân vật tham gia giao tiếp: người nói (viết), người nghe (đọc) với các mô hình:

Trang 24

Một người nói - một người nghe: Song thoại

Nhiều người nói luân phiên vai nhau: Hội thoại

Người nói và nghe đều có một "vai" nhất định, đều có đặc điểm khác nhau về lứa tuổi, nghề nghiệp, cá tính, địa vị xã hội, Điều đó có ảnh hưởng đến việc chi phối, việc lĩnh hội lời nói

Nhân tố thứ hai của ngữ cảnh là ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ gồm có : Bối

cảnh giao tiếp rộng (còn gọi là bối cảnh văn hóa): Bối cảnh xã hội, lịch sử, địa lý, phong tục tập quán, chính trị ở bên ngoài ngôn ngữ ; bối cảnh giao tiếp hẹp (còn gọi là bối cảnh tình huống): Đó là thời gian, địa điểm cụ thể, tình huống cụ thể và hiện thực được nói tới (gồm hiện thực bên ngoài và hiện thực bên trong của các

nhân vật giao tiếp): Gồm các sự kiện, biến cố, sự việc, hoạt động diễn ra trong thực tế và các trạng thái, tâm trạng, tình cảm của con người

Văn cảnh là nhân tố còn lại: bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ cùng có

mặt trong văn bản, đi trước hoặc sau một yếu tố ngôn ngữ nào đó Văn cảnh có ở dạng ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói Ngữ cảnh có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình tạo lập và lĩnh hội văn bản Cụ thể:

Đối với người nói (viết) và quá trình tạo lập văn bản: Ngữ cảnh là cơ sở cho việc lựa chọn nội dung cách thức giao tiếp và phương tiện ngôn ngữ (từ, ngữ, câu )

Đối với người nghe (đọc) và quá trình lĩnh hội văn bản: Ngữ cảnh là căn cứ

để lĩnh hội, phân tích, đánh giá nội dung, hình thức của văn bản

Trang 25

từ "chắc" sẽ xuất hiện rất rõ ràng, nếu ta nghe thấy nó trong các phát ngôn, những chuỗi từ đại loại như sau:

Lúa đã chắc hạt; Nhà xây rất chắc; Lời nói chắc như đinh đóng cột; Ông này chắc đã có con lớn; Anh làm thế, dễ người ta không biết đấy chắc;

Từ đó, xây dựng định nghĩa về ngữ cảnh như sau:

Ngữ cảnh của một từ là chuỗi từ kết hợp với nó hoặc bao xung quanh nó, đủ

để làm cho nó được cụ thể hoá và hoàn toàn xác định về nghĩa

(Định nghĩa này cho thấy rằng ngữ cảnh có thể tối thiểu là một từ, tối đa là một chuỗi lớn hơn, có khả năng ứng với một câu, một phát ngôn, ) [6, tr 178–182]

Gillian Brown và George Yule trong Phân tích diễn ngôn (Nxb ĐHQGHN,

2002) đặc biệt quan tâm đến ngữ cảnh tình huống (The context of situation) Không

chỉ luận giải các đặc điểm của ngữ cảnh tình huống và sự hỗ trợ của nó cho cách hiểu theo dự định (giới hạn các cách hiểu có thể có được) khi trích dẫn quan điểm

của Hymes, 1962 theo Woolton, 1975 mà các tác giả còn phân biệt ngôn cảnh trong

sự đối lập với ngữ cảnh (chỉ mang tính chất tương đối trong thuật ngữ tiếng Việt) và ngữ cảnh mở rộng (extending context) Ngôn cảnh (co-text) là môi trường ngôn ngữ trong đó từ ngữ xuất hiện và ngữ cảnh (context): môi trường vật chất trong đó từ

ngữ xuất hiện [2, tr 79]

Lê Quang Thiêm trong Ngữ nghĩa học cũng thừa nhận vấn đề một lời có

nghĩa, có ý biểu hiện gì luôn luôn bị quy định bởi ngôn cảnh Nếu như một câu – câu hệ thống là phi ngôn cảnh mà ta vẫn xác định được nghĩa của nó thì ở lời, khả năng này là khó xác định Một lời luôn bị ngôn cảnh chi phối Cùng một lời mà nghĩa nghĩa, ý của lời nói ra có thể khác nhau đối với người nghe, người nói do hoàn cảnh quy định Theo tác giả, nhân tố quy định nghĩa của đơn vị trên văn bản là ngôn cảnh, còn nhân tố quy định nghĩa, ý của lời là ngôn cảnh tình huống và trong một số trường hợp đặc biệt là ngôn cảnh văn hóa Nói đến ngôn cảnh tình huống, có thể dùng gọn hơn là ngôn cảnh (bối cảnh ngôn ngữ thể hiện lời nói) tức là nói đến chủ thể hành động nói – người nói tạo lời truyền đạt đến người nghe với nội dung muốn truyền đạt Trong môi trường độc thoại, người nói thực hiện hành động nói

Trang 26

năng giả định sự vắng mặt của người nghe, người đối thoại Trong môi trường hội thoại, vai người nói và người nghe luôn luân chuyển, thay thế nhau để tiến hành cuộc thoại Các cuộc thoại có thể là song thoại, tam thoại Vì vậy, vai người nói – người nghe có sự tham gia trực tiếp – gián tiếp luôn thay đổi Hình thức lời nói cũng vì thế mà thay đổi theo Việc xác định nghĩa của lời cần thiết phải nắm chắc sự thay đổi hình thức lời trong ngôn cảnh tình huống để xác định chính xác Ngôn cảnh tình huống ở đây được hiểu như điều kiện, hoàn cảnh quy định, liên quan trực tiếp đến lời được nói ra Một lời nói ra với hình thức ngôn từ xác định phải đặt trong hoàn cảnh, điều kiện nói (độc thoại hay đối thoại, các tiền đề giả định trước cho lời) mới biết được nghĩa, ý của lời Nghĩa, ý của lời là nội dung thông điệp mà người nói muốn chuyển tải qua hình thức thể hiện của lời

Trong giao tiếp, có trường hợp người nói muốn truyền đạt thông qua biểu thức ngôn ngữ mà nghĩa của biểu thức không trùng với ý của người nói Đó là trường hợp ý được truyền đạt ngoài lời Chẳng hạn dùng “không” để nói ý “có”, dùng “xấu” để nói ý “tốt” hay ý của lời “mắng yêu”, “chửi yêu” Những lời như vậy muốn hiểu được ý (nội dung thông điệp) không những phải xét trong ngôn cảnh tình huống mà còn trong ngôn cảnh văn hóa Ngôn ngữ, lời nói có quan hệ chặt chẽ với văn hóa, là một biểu hiện của văn hóa cho nên lời nói muốn hiểu đúng ý, đúng nghĩa của nó phải xét trong quy định văn hóa [25, tr 176]

Như vậy, để có cơ sở phân tích nghĩa của các biểu thức ngôn ngữ, có thể là

từ, ngữ hay phát ngôn (lời) một cách xác đáng, cần phải viện tới các nhân tố như

người nói (sử dụng và sáng tạo, sự tri nhận), chức năng tín hiệu, hệ thống ngôn ngữ, nhưng quan trọng nhất phải kể đến là nhân tố ngữ cảnh hay ngôn cảnh giao tiếp

(bao gồm ngôn cảnh tình huống và ngôn cảnh văn hóa) Ở đây, chúng tôi đồng tình

với quan niệm của Helen về ngữ cảnh: ngữ cảnh là tất cả các điều kiện nằm trong

và cả nằm ngoài ngôn ngữ cho phép tiếp nhận, cho phép hiểu một phát ngôn cụ thể trong bối cảnh giao tiếp cụ thể Quả thật, ngữ cảnh có một tác động cực kì lớn trong

việc luận giải phát ngôn mà chúng tôi sẽ phân tích cụ thể ở dưới đây

Trang 27

Bên cạnh yếu tố ngữ cảnh, cũng phải kể đến các yếu tố kèm lời và phi lời trong việc luận giải ý nghĩa của một biểu thức là từ, ngữ hay phát ngôn

Yếu tố kèm lời (paraverbal) là các yếu tố mặc dù không có đoạn tính như âm

vị và âm tiết nhưng đi kèm với các yếu tố đoạn tính Không một yếu tố đoạn tính nào được phát âm ra mà không có yếu tố kèm lời đi theo Các yếu tố kèm lời là những yếu tố như ngữ điệu, trọng âm, cường độ, độ dài, đỉnh giọng (pitch) Những yếu tố này có một vai trò hết sức quan trọng trong việc biểu nghĩa, đặc biệt là biểu nghĩa ngữ dụng

Yếu tố phi lời (non – verbal) là cử chỉ, khoảng không gian, tiếp xúc cơ thể, tư thế cơ thể và định hướng cơ thể, vẻ mặt, ánh mặt (gesture, proxemic, body contact, posture and body orientation, facial expression, gaze) Các yếu tố như tiếng gõ, tiếng kéo bàn, xô ghế, tiếng huýt sáo, tiếng còi cũng có thể được liệt kê vào các yếu tố phi lời hay thậm chí là trang phục, bài trí của thoại trường tức những tín hiệu âm thanh không nằm trong hệ thống ngữ âm – âm vị học của một ngôn ngữ [4, tr 220]

Chúng ta có thể theo dõi các tín hiệu được sử dụng trong một cuộc hội thoại mặt đối mặt được C.K Orecchioni tập hợp và phân loại trong bảng dưới đây:

Kèm lời và phi lời nhưng bị lời khống chế

Trang 28

1.3 Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn

Một phát ngôn ngoài cái ý được nói ra trực tiếp nhờ các yếu tố ngôn ngữ (âm, từ, kết cấu cú pháp, ) còn có rất nhiều ý nghĩa khác nữa mà chúng ta cần dùng đến thao tác suy ý (inference) dựa vào ngữ cảnh, ngôn cảnh, vào các quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, điều khiển lập luận, điều khiển hội thoại mới nắm bắt

được Ý nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ mang lại gọi là ý nghĩa tường minh,

có tác giả gọi là hiển ngôn, còn được gọi là ý nghĩa theo câu chữ của phát ngôn Các ý nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được gọi là ý nghĩa hàm ẩn

Theo Đỗ Hữu Châu, để phân loại các ý nghĩa hàm ẩn (ý nghĩa không tự nhiên), chúng ta dựa vào hai tiêu chí:

(1) Bản chất của chúng (ngữ nghĩa hay ngữ dụng)

(2) Chức năng của chúng trong diễn ngôn (là đối tượng hay không phải là đối tượng của diễn ngôn)

Xét theo tiêu chuẩn (1), chúng ta phân biệt các ý nghĩa hàm ẩn nghĩa học (hiểu theo nghĩa của tín hiệu học) và ý nghĩa hàm ẩn ngữ dụng học Ta biết rằng ý

nghĩa của một phát ngôn gồm nội dung mệnh đề (nội dung miêu tả, nội dung sự vật)

và các nội dung thuộc ngữ dụng học Ý nghĩa hàm ẩn nghĩa học là ý nghĩa hàm ẩn

có quan hệ với nội dung mệnh đề đó Ý nghĩa này chỉ có quan hệ với các nhân tố ngôn ngữ biểu thị nội dung mệnh đề Ý nghĩa hàm ẩn ngữ dụng học là những ý nghĩa hàm ẩn có quan hệ với các quy tắc ngữ dụng học như các quy tắc chiếu vật, quy tắc lập luận, các hành vi ngôn ngữ, các quy tắc hội thoại, Tuy nhiên, sự phân biệt ý nghĩa hàm ẩn nghĩa học và ý nghĩa hàm ẩn ngữ dụng học không phải lúc nào cũng rành mạch bởi ranh giới giữa dụng học và nghĩa học khá mơ hồ dẫu có dấu hiệu ngữ dụng, tức là các dấu hiệu ngôn ngữ thể hiện các quan hệ ngữ dụng trong phát ngôn [4, tr 362]

Trong số các ý nghĩa hàm ẩn nghĩa học và dụng học còn có thể tách thành

hai loại: tiền giả định (presupposition – ký hiệu pp‟) và các hàm ngôn (implicature,

implication – ký hiệu imp) Có thể hình dung bảng phân loại ý nghĩa hàm ẩn của Đỗ

Trang 29

Tiền giả định nghĩa học

Tiền giả định dụng học

Xét theo tiêu chuẩn thứ hai, chúng ta phân biệt các ý nghĩa hàm ẩn tự nhiên (TN) và ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên (KTN) như Grice đã phân biệt Trong giao tiếp, có những trường hợp trong đó ý nghĩa tường minh không phải là

ý nghĩa thông báo chính của người nói Nó chỉ là cái cớ để người nói truyền báo một hoặc một số trong những ý nghĩa hàm ẩn làm nền cho nó Lúc này cả tiền giả định, cả hàm ngôn đều có thể trở thành ý nghĩa KTN, nằm trong ý định truyền báo của người nói [4, tr 364]

Như vậy, tại sao người nói lại không nói mình muốn truyền báo một cách tường minh mà lại phải dùng lời nói hàm ẩn? Có thể vì, với lối nói bằng hàm ẩn, người nói buộc người nghe phải suy nghĩ để nắm bắt ý nghĩa thực của lời nói của mình, do đó tăng sức hấp dẫn, tăng sức thuyết phục cho lời nói Nhưng, nói chung, khi người nói dùng đến lối nói hàm ẩn do nhiều nguyên nhân, hoặc do khiêm tốn,

do không muốn trực tiếp làm mất thể diện người nghe, do muốn châm biếm, mỉa mai và quan trọng hơn nữa là không muốn chịu trách nhiệm trực tiếp về điều mình nói ra Bằng lối nói hàm ẩn, khi bị phản đối, người nói có thể chối bỏ trách nhiệm

bằng câu Tôi có định nói thế đâu, đấy là do anh nghĩ như vậy đấy chứ Người nói đã

nấp sau ý nghĩa tường minh để nói cái điều anh ta thực sự muốn nói nhưng không tiện nói [4, tr 365]

Ở đây, chúng tôi phân biệt các ý nghĩa hàm ẩn theo tiêu chí thứ nhất – tiêu chí về bản chất của các ý nghĩa hàm ẩn (ngữ nghĩa hay ngữ dụng) mà Đỗ Hữu Châu

nêu ra Do vậy, ý nghĩa hàm ẩn trong trường hợp này sẽ được lưỡng phân ra là hàm ngôn và tiền giả định

Trang 30

Hàm ngôn là một bộ phận không thể thiếu trong thực tiễn giao tiếp Tuy

nhiên, nó ít được chú ý hơn so với hiển ngôn, ít nhất là cho đến những năm 70 của thế kỉ 20 bởi hàm ngôn phụ thuộc nhiều vào ngôn cảnh và là hiện tượng thuộc lời nói Thế nhưng lời nói chính là ngôn ngữ sinh động, ngôn ngữ đang hành chức Chỉ

có ở lời nói, ngôn ngữ mới thực hiện các chức năng đa dạng của mình Và vì vậy, cũng chỉ trong lời nói chúng ta mới có được những nội dung nghĩa phong phú, đa

dạng nhất Đơn vị cơ bản của lời nói là lời [22, tr 90] Đồng quan điểm trên, B.Whorf cho rằng “thực chất của ngôn ngữ học chính là tìm hiểu nghĩa” (tr.658,

Jakobson, Selected Writing, Vol.I.The Hague, 1962) (dẫn theo Hoàng Phê, trong Logic – Ngôn ngữ học) Mặc dù quan điểm của B.Whorf đã nâng vị thế của lời nói lên một tầm mới nhưng đồng nhất nhiệm vụ nghiên cứu ngôn ngữ học là tìm hiểu nghĩa có phần hạn chế về đối tượng nghiên cứu của ngành khoa học này vì không chỉ có ngữ nghĩa ngôn ngữ học còn nghiên cứu về ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, ngữ dụng,…

Nói về hàm ngôn, L Feuerbach đã từng có một nhận xét về ngôn ngữ học

được Lenin đánh giá là “rất đúng”: “viết một cách thông minh có nghĩa là giả định người đọc cũng thông minh, là không nói hết, là để người đọc tự nói với mình những quan hệ, những điều kiện, những giới hạn – chỉ với những quan hệ, những điều kiện, những giới hạn – chỉ với những điều kiện, những giới hạn này thì một câu mới có giá trị và có ý nghĩa” Khi đối thoại, người nói (viết) và người nghe (người

đọc) muốn hiểu được nhau thì phải có một tiền đề là có những nhận thức cơ bản tối thiểu dựa trên mã giao tiếp chung, những cách suy nghĩ, suy luận đại để phải giống nhau để đạt hiệu quả tối ưu trong giao tiếp Tuy nhiên, điều ấy lại là điều kiện lý tưởng mà giữa lý thuyết và thực tế, đôi khi khoảng cách vô cùng xa Những cách suy nghĩa, cách hiểu chung, nhận thức khái quát về một vấn đề trên một cái mã tương tự là cái “phông nền chung” giúp người nói có thể nói ít mà người nghe hiểu nhiều, có lúc không nói hết mà làm cho người đối thoại với mình lại có thể tự suy ra

mà hiểu nhiểu, hiểu đầy đủ Lợi dụng điều này, lợi dụng quy tắc tiết kiệm ngôn ngữ

để có thể có sự ưu việt trong hội thoại, trong giao tiếp hàng ngày Những hàm ngôn

Trang 31

luận giải chính là các suy luận logic mà nghiên cứu này không đề cập tới, tuy nhiên

phải mượn các suy luận logic này để hướng tới các suy luận phi logic mà chúng tôi

gọi là suy diễn Chính bởi tồn tại hàm ngôn mà có hàm ý và ngụ ý Chúng có mối

quan hệ vô cùng khăng khít với suy diễn Chúng chính là các tiên đề, để người nghe

(người đọc) viện đến một tiên đề, một ngữ cảnh nào đó dù ít hay không liên quan để

lý giải về cái ý của người nói (người viết)

Quan trọng hơn thảy, hàm ngôn cho phép nói những điều mà không thể nói

bằng hiển ngôn thật đầy đủ, thật chính xác được Cái chúng ta muốn biểu đạt là

nhận thức của chúng ta về thế giới hiện thực “ngôn ngữ phản ánh hiện thực” và

“ngay trong tư duy, sự phản ánh hiện thực đã phần nào có dạng bị khúc xạ”, thì

“trong lĩnh vực ngôn ngữ sự phản ánh ấy lại bị khúc xạ thêm mức nữa”

(B.A.CepeϬpehhИkob) Điều ấy được thể hiện ở sơ đồ sau :

kết quả cuối cùng của sự khúc xạ

thực sự khúc xạ trong ngôn ngữ thực tiễn sự khúc xạ trong tư duy tiễn

Sự vật và hiện tượng trong thế giới xung quanh và những liên hệ giữa chúng

Hiện thực là vô cùng phong phú, đa dạng và luôn luôn biến động, mà tư duy

phản ánh hiện thực lại là cả một quá trình, cho nên nhận thức của con người có

thể rất phức tạp (Hoàng Phê) Khi bàn về ngôn ngữ thì cái chức năng giao tiếp của

ngôn ngữ là chức năng quan trọng nhất nhưng bên cạnh nó còn có chức năng làm

công cụ tư duy Điều kì diệu của ngôn ngữ là cho phép người ta không chỉ nói bằng

hiển ngôn mà còn có thể nói bằng hàm ngôn, tức là bằng cách để cho người nghe tự

nói với chính mình Đây chính là hình thức độc thoại hay độc thoại nội tâm Cũng

bởi vì người nghe (người đọc) tự nói với chính mình cho nên những hàm ngôn từ

Trang 32

phía người nói (người viết) có thể được phía người nghe (người đọc) thụ đắc hoặc nhận thức trùng khớp hoặc không đồng nhất với nhau mà chỉ có thể tương tự, cùng hướng với nhận thức của chủ thể phát ngôn (tạo lập văn bản)

Như vậy, hàm ngôn là tất cả những nội dung có thể suy ra từ một phát ngôn

cụ thể nào đó, từ ý nghĩa tường minh (ý nghĩa theo câu chữ) cùng với tiền giả định của nó [4, tr 362] Hay nói cách khác, hàm ngôn là những gì người nghe phải tự mình suy ra từ hiển ngôn (và tiền giả định), để hiểu được đúng và đầy đủ ý nghĩa của lời trong một ngôn cảnh nhất định [22, tr 101]

Grice trước đó cũng dùng khái niệm “hàm ngôn” (1974) để giải thích điều

người nói ngụ ý, đề nghị hay muốn nói khác với điều anh ta thực tế nói ra nhưng khác với Hoàng Phê khi chia hàm ngôn ra làm hàm ý và ngụ ý, Grice lại chia hàm

ngôn ra làm hai loại bao gồm hàm ngôn quy ước (conventional implicature) và hàm ngôn hội thoại (conversational implicature) Hàm ngôn quy ước là loại hàm ngôn nảy sinh do việc dùng những từ ngữ nào đó trong câu Ví dụ, dùng liên từ “và” để

nối hai vế trong câu ghép “Anh ấy bị tắc đường và đi học muộn” “Và” khi đó đã làm nảy sinh hàm ngôn quy ước về quan hệ nhân quả giữa hai vế “Việc anh ấy bị

tắc đường là nguyên nhân anh ta đi học muộn” Trong khi đó, hàm ngôn hội thoại là cái ý được suy ra từ ngữ cảnh, nảy sinh và biến đổi theo ngữ cảnh [21, tr 391]

Hàm ngôn là một trong những vấn đề mà ngữ dụng học quan tâm nghiên cứu Nó được đề cập trong hầu hết các công trình nghiên cứu về ngữ dụng học Các nhà nghiên cứu đều thống nhất hàm ngôn là nghĩa không hiện ngay trên bề mặt phát ngôn Nó đối lập với nghĩa hiển ngôn, là nghĩa hiện rõ trên bề mặt phát ngôn Do

đó, muốn hiểu nghĩa hàm ngôn thì phải đặt nó trong mối quan hệ với nghĩa hiển ngôn (tường minh) O.Ducrot, một nhà ngôn ngữ học hiện đại cũng đưa ra một khái niệm về hiển ngôn , đó là “cái người ta nói ra” và hàm ngôn là “cái người ta muốn nói mà không nói ra”

Còn với công trình nghiên cứu chi tiết về Những phương thức cấu tạo hàm ngôn trong hội thoại, Đỗ Thị Kim Liên (ĐHSP Vinh, Kỷ yếu “Những vấn đề Ngữ

Trang 33

suy ý từ câu chữ trong văn bản hội thoại và trong hội thoại lại có tình trạng không tương ứng về hàm ngôn giữa người nói và người nghe, biểu hiện qua các dạng: a, hàm ngôn do người nói tạo ra nhằm hướng đến người nghe muốn người nghe hiểu

và b, hàm ý mà người nói không cố tình hướng tới mà chỉ do người nghe suy ý và c, hàm ngôn do người viết hướng đến độc giả là người đọc chứ không phải do bản thân hai nhân vật hội thoại

Loại nghĩa hàm ẩn thứ hai là tiền giả định Có người cho rằng tiền giả định

cũng có giá trị thông báo, coi tiền giả định cũng chính là hàm ngôn, đồng nhất tiền giả định và hàm ngôn Theo quan niệm này, trong ngữ nghĩa của câu, của lời, có hai cấp bậc thông báo: “cấp bậc hàm ngôn hay là tiền giả định và cấp bậc hiển ngôn” (C J Fillmore) Cũng có một quan niệm khác, tuy không đồng nhất tiền giả định với hàm ngôn nhưng cũng coi tiền giả định là hàm ngôn, là một hình thức hàm ngôn quan trọng, là cái hàm ngôn nằm ngay trực tiếp trong bản thân “nghĩa từ ngữ” (signification littérale) của lời Theo quan niệm này, nếu hàm ngôn cho phép người

ta có thể nói một điều nào đó mà “làm như là đã không nói” thì “nhờ có hiện tượng tiền giả định, người ta có thể nói một điều nào đó mà lại vẫn làm như là điều ấy hà tất phải nói” cho nên có thể “xếp tiền giả định vào trong các hình thức hàm ngôn” (O Ducrot)

Tuy nhiên, ở đây, chúng tôi đồng tình với Đỗ Hữu Châu cũng như Hoàng Phê khi xem tiền giả định và hàm ngôn nằm trong một phạm trù lớn hơn: phạm trù nghĩa hàm ẩn của phát ngôn bởi chúng đều không được nói ra một cách tường minh, chúng chỉ có thể được nắm bắt nhờ thao tác suy ý Tuy nhiên, vẫn có khá nhiều trường hợp nhập nhằng giữa tiền giả định và hàm ngôn, đặc biệt đối với trường hợp cả hai đều là ý nghĩa KTN Theo Đỗ Hữu Châu, có thể dựa vào một số đặc điểm sau để phân biệt tiền giả định và hàm ngôn:

- Quan hệ với ý nghĩa tường minh

- Quan hệ với hình thức ngôn ngữ tạo nên phát ngôn

- Lượng tin và tính năng động hội thoại

- Phản ứng đối với các dạng phát ngôn

Trang 34

Tiền giả định là những hiểu biết được xem là bất tất phải bàn cãi, bất tất phải đặt lại thành vấn đề, đã được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, dựa vào chúng mà người nói tạo nên ý nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình

Ví dụ: Anh ta đi lấy thuốc cho vợ

pp‟ : Anh ta đã có vợ

Hiểu biết “anh ta đã có vợ” được xem là không còn bàn cãi gì nữa, có nó

người nói mới nói Anh ta đi lấy thuốc cho vợ Nếu tranh cãi xảy ra thì xảy ra với ý nghĩa tường minh Ví dụ: nói Anh ta đi lấy thuốc cho vợ là không đúng, có thể là

anh ta đi chơi, có thể là anh ta đi lo việc cho cơ quan hay đi chạy hàng,

Đặc điểm này có thể được hiểu là: tiền giả định luôn luôn đúng Tuy nhiên, trong giao tiếp thông thường, không phải không có những trường hợp người nói tạo

ra một phát ngôn mà ý nghĩa tường minh dựa trên một tiền giả định sai, bịa đặt Lúc này vấn đề tranh cãi sẽ rơi vào chính cái tiền giả định đó Đây là một chiến lược hội thoại, chiến lược gài bẫy tiền giả định [4, tr 366]

Tiền giả định nói chung ít lệ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp còn hàm ngôn lệ thuộc sâu sắc vào ngữ cảnh giao tiếp Một phát ngôn có thể có nhiều tiền giả định

nhưng chỉ có một hoặc một số có dính líu đến (quan yếu với) ý nghĩa tường minh của phát ngôn C Kerbrat Orecchioni đưa ra định nghĩa về tiền giả định như sau:

“Chúng tôi xem tiền giả định là tất cả những thông tin mặc dầu không được truyền báo một cách tường minh (tức là không cấu thành đối tượng truyền báo chân chính của thông điệp) nhưng phải được tự động diễn đạt bởi tổ chức hình thức của phát ngôn, nằm sẵn trong tổ chức của phát ngôn bất kể hoàn cảnh phát ngôn như thế nào.” Quan điểm này nhấn mạnh rằng tiền giả định, do tính chất “bất tất phải bàn cãi của nó” phải có quan hệ với các yếu tố ngôn ngữ cấu thành phát ngôn, phải có những dấu hiệu ngôn ngữ đánh dấu nó [4, tr 370]

Trong một phát ngôn, tiền giả định không có hiệu quả thông tin nhưng vẫn

có lượng tin Lượng tin này tuy không quan yếu đối với hiệu quả thông tin của phát ngôn đang xem xét nhưng vẫn là cần thiết để lý giải hiệu quả thông tin của phát

Trang 35

tin Chẳng hạn trong trường hợp ý nghĩa hàm ẩn KTN rơi vào tiền giả định thì chính tiền giả định lại có hiệu quả thông tin cao hơn là ý nghĩa tường minh và hàm ngôn

Có lẽ, điều quan trọng đối với giao tiếp là ở tính năng động hội thoại của tiền giả định, ý nghĩa tường minh và hàm ngôn Nói chung, ý nghĩa tường minh và hàm ngôn có tính năng động hội thoại cao hơn tiền giả định, nghĩa là ý nghĩa tường minh

và hàm ngôn (nằm trong ý định truyền báo của phát ngôn) là một giai đoạn trong hội thoại, từ giai đoạn này mà hội thoại tiến lên một bước mới [4, tr 373]

Cũng theo Đỗ Hữu Châu, các tiền giả định thông thường có những đặc điểm sau khi phát ngôn biến đổi dạng:

mới thật sự có ý nghĩa, được gọi là tiền giả định [22, tr 94] Tiền giả định, thật ra là

những điều mà người nói coi như là người đối thoại đã biết, coi như là bất tất phải nói, không làm giá trị thông báo, không có chức năng thông báo Vì coi là bất tất

phải nói cho nên không nói ra Nếu ở đây có hai cấp độ thì đó là cấp độ của cái nói

ra và cấp độ của cái không nói ra (tiền giả định) Trong cái nói ra, lại có sự đối lập giữa cái nói ra trực tiếp (hiển ngôn) và cái nói ra gián tiếp (hàm ngôn) Có thể nghĩ

rằng cái nói ra gián tiếp thì cũng như là không nói ra nhưng thật ra có một sự khác nhau rất cơ bản Chính cái không nói ra vì cho là bất tất phải nói (tiền giả định) cùng với cái nói ra trực tiếp (hiển ngôn) là cơ sở cho cái nói ra gián tiếp (hàm

ngôn), người nghe hiểu được hàm ngôn là nhờ vào tiền giả định và hiển ngôn

Trang 36

tưởng giữa con người với con người.Cùng lúc với giao tiếp, ngôn ngữ diễn đạt tư

tưởng mà tư tưởng chính là kết quả của tư tuy trừu tượng Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy hết sức chặt chẽ và suy diễn ở đây góp phần làm rõ mối quan hệ gắn

bó ấy Suy diễn chính là một hình thức cụ thể của tư duy Nó tồn tại tiềm tàng trong đầu óc mỗi chúng ta Ngôn ngữ chính là phương tiện để biểu đạt tư duy cũng như khi giao tiếp, suy diễn được hiện thực hóa dưới dạng các lời nói

Gillian Brown và George Yule đã có nhận định rằng: “Vì nhà phân tích diễn ngôn, giống như người nghe, không tiếp cận trực tiếp đến nghĩa theo dự định của người nói khi tạo ra phát ngôn, anh ta thường phải dựa vào quá trình luận suy để đi đến một cách hiểu nào đó đối với phát ngôn hay đối với liên hệ giữa các phát ngôn Những luận suy như thế gồm có nhiều loại khác nhau Có thể sự thật thì chúng ta có khả năng rút ra một kết luận nào đó từ các tiên đề cho trước, qua suy luận diễn dịch nhưng chúng ta hiếm khi được yêu cầu làm như thế trong diễn ngôn chúng ta gặp hàng ngày.” [2, tr 61]

Nhận định của Brown và Yule đã góp phần khẳng định tồn tại một quá trình

tư duy mà người nghe hay người đọc (những nhà phân tích diễn ngôn) có thể viện đến những tiên đề đã cho một cách chặt chẽ hay lỏng lẻo để phán đoán ý của người nói (người viết) trong các diễn ngôn của anh ta

Tuy nhiên giống như Gilian Brown và George Yule với thuật ngữ luận suy (inference), qua nghiên cứu của chúng tôi thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách trực tiếp đến thuật ngữ “suy diễn” mà các tác giả thường nhắc đến suy

diễn dưới cái tên là suy ý hay suy lý

Như đã trình bày ở phần lịch sử vấn đề, Hoàng Phê trong cuốn Logic-Ngôn ngữ

học (Trung tâm Từ điển học, Nxb Đà Nẵng, 2003) định nghĩa “suy ý là suy luận để biết cái ý của người nói Suy ý cũng vận dụng những quy tắc của suy luận logic, nhưng đồng thời nó còn có một số những quy tắc đặc trưng của nó” [22, tr 103]

Khái niệm suy diễn tiếp tục gián tiếp tục được nhắc đến với cái tên suy lý trong quyển “Giáo trình Logic hình thức” (Nxb Đại học Tổng hợp, 1994), cái gọi là

Trang 37

gián tiếp mà tiền đề là hai phán đoán đơn” [23, tr.130] hay Nguyễn Đức Dân với

“Nhập môn Logic hình thức và Logic phi hình thức” cho rằng “suy diễn chính là phép suy luận hai tiền đề hay đó chính là hệ thống suy diễn tiền đề cổ xưa nhất : tam đoạn luận Aristotote” [8, tr 147]

Không phủ nhận quan điểm của các tác giả đi trước về các thuật ngữ luận suy, suy ý hay suy lý, trong nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các suy diễn trong hội thoại tiếng Việt mà theo chúng tôi, khái niệm suy diễn có nội hàm hẹp hơn so với các khái niệm luận suy, suy ý hay suy lý mà các nhà nghiên cứu

trước đã đề cập Nếu như luận suy bao gồm những hình thức luận suy khá lỏng lẻo

và các hình thức luận suy hết sức chặt chẽ (Yule and Brown) thì suy diễn chính là cái hình thức suy luận khá lỏng lẻo ấy Còn nếu suy ý là suy luận để biết cái ý của người nói; suy ý vừa vận dụng những quy tắc của suy luận logic, vừa mang một số quy tắc đặc trưng của nó (Hoàng Phê) thì suy diễn ở đây lại là suy ý tuy nhiên suy diễn hiếm khi tuân theo những quy tắc của suy luận logic mà chỉ tuân theo nhưng quy tắc đặc trưng của riêng nó Tương tự vậy, nếu suy lý bao gồm suy lý gián tiếp

và suy lý trực tiếp (Bùi Thanh Quất) thì cái gọi là suy diễn đã manh nha trong dạng suy lý gián tiếp mà “phép suy diễn là một suy lý gián tiếp mà tiền đề là hai phán đoán đơn”

Trong các sách Ngôn ngữ học đại cương ở Việt Nam, hẳn chúng ta thường gặp một luận điểm có tính phổ quát luận (universalism) rằng: Tư duy (với kết quả là những khái niệm, phán đoán, suy lý) là mang tính nhân loại, còn ngôn ngữ mới có tính dân tộc Trong ngữ pháp học chức năng luận, Cao Xuân Hạo là một nhà phổ

quát quyết liệt, ông viết: “…và nếu ta chấp nhận một phần nào quan niệm của

E.Sapir và B.L.Whorf, có thể tư duy khác nhau về một sự tình…nhưng cách tri giác của loài người đối với một hiện thực là một, và dù hệ thống các ngôn ngữ có phân

chia thế giới khác nhau đến đâu…dù ngữ pháp của các ngôn ngữ có phân biệt các

phạm trù, các chức năng, các sắc độ tình thái một cách khác nhau đến đâu, thì cách cảm thụ những sự tình của thế giới hiện thực vẫn như nhau…”

Trang 38

Lý Toàn Thắng trong Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 24/2008 (tr 178-185) đã trích dẫn một thí dụ thực nghiệm tâm lý được tiến

hành năm 2005 ở Đại học Michigan Mỹ để làm sáng tỏ phần nào tư tưởng phổ quát luận:

27 sinh viên du học người Trung Quốc (14 nam, 13 nữ) và 25 sinh viên người Mỹ và Tây Âu(10 nam, 15 nữ) được mời tham gia thí nghiệm: họ được mời vào một căn phòng ngồi cách một màn hình (52, 8cm), mắt nhìn thẳng (không nhìn sang hai bên), đầu cũng giữ thẳng và được đội một chiếc mũ đặc biệt có gắn camera

để theo dõi chuyển động của nhãn cầu Họ được chiếu cho xem lần lượt 3 bức ảnh,

có hình một con vật hay đồ vật (cái thuyền, máy bay) trên một phông nền nào đó,

cứ 03 giây một bức Sau khi xem xong, họ được mời sang một phòng khác, nghỉ 10 phút nhưng không phải để ăn uống, mà để quên đi những bức ảnh vừa xem bằng cách thức sau: họ được yêu cầu làm tính nhẩm với phép tính trừ đi 7 là phép trừ nhẩm khó nhất, bắt đầu từ 100 cho đến hết, để buộc bộ não của họ phải hoạt động rất tích cực Sau 10 phút đó, họ lại được đưa đi xem tiếp các bức ảnh với một cách thức có khác đi như sau: người ta vừa chiếu lại các bức ảnh cũ 100%, vừa xen vào chiếu 36 bức ảnh không còn hoàn toàn giống như cũ mà có chỗ “mới” là thay đổi con vật (hay đồ vật) mới trên phông nền cũ hoặc ngược lại thay đổi phông nền mới trong khi con vật (hay đồ vật) vẫn như cũ Nhiệm vụ của các sinh viên thử nghiệm viên là phải trả lời thật nhanh xem họ đã nhìn thấy bức tranh đó ở lần chiếu trước hay chưa ? Kết quả rất thú vị, hóa ra là người phương Đông và người phương Tây

có “cách nhìn thế giới khác nhau”, cụ thể là: lúc ban đầu họ đều giống nhau là nhìn vào phông (nền) của bức tranh (mất khoảng 4/10 giây) nhưng sau đó thì khác - nếu sinh viên Mỹ nhìn vào đối tượng trung tâm của bức ảnh, thí dụ là một con hổ và họ bắt đầu nhận dạng nó rất to, mình vằn vện, tai tròn thì sinh viên Trung Quốc lại chỉ nhìn qua con hổ, còn sau đó họ để ý đến các phần khác của phông nền bức ảnh như

có vũng nước dưới chân con hổ, sau nó là một cây to Do đó, khi được xem các bức ảnh lần thứ hai, sinh viên Trung Quốc không nhận ra là bức ảnh cũ nếu ta thay đổi phông nền của bức tranh (thí dụ, thay vì máy bay đang bay trên trời, ta lại cho nó

Trang 39

dàng nhớ là đã thấy bức ảnh có máy bay này, nhưng lại khó nói rõ là nó đang bay trên trời hay đang đậu ở sân bay Một trong những tác giả của thí nghiệm này, R

Nisbett, cho rằng: “Dường như sự khác nhau trong cách tiếp nhận thông tin từ môi trường xung quanh là hệ quả của những nền văn hóa khác nhau mà con người được giáo dục trong đó”

Quả đúng như vậy, sự tiếp nhận thông tin, sự phản ánh hiện thực từ thế giới khách quan qua sự khúc xạ của tư duy, của ngôn ngữ và để ra cái “sản phẩm cuối cùng” còn sẽ khác nữa bởi sự tri nhận thế giới của mỗi người, sự phán đoán của mỗi người còn dựa vào cái kinh nghiệm sống, nền văn hóa và tri thức họ có được Chưa kể đến, từ và câu rồi cho đến diễn ngôn đều có những mặt bên trong so với lớp vỏ bề ngoài của nó; vậy nên cách luận giải thông tin của các chủ thể tiếp nhận thông tin có thể khác nhau; yếu tố tâm lý cũng là một trong những nhân tố tác động đến sự thuyết giải này

Nói tóm lại, như đã đề cập ở trên, chúng tôi cho rằng: Các suy ý đúng và đạt đến cái đích tại lời của phát ngôn chính là các suy luận và ngược lại, các suy ý hình thành trong tư duy của chủ thể luận giải phát ngôn khi tiếp nhận một phát ngôn nào đó dù có được hiện thực hóa thông qua phản hồi của người đối thoại hay không nhưng khi đã không có cơ sở khoa học chắc chắn, thiếu căn cứ, cực đoan, có động cơ, tức là không

tuân theo quy luật của suy luận logic đều được coi là các suy diễn

Suy diễn là hình thức thuyết giải thông tin của các chủ thể tham gia vào giao

tiếp khi tiếp nhận một thông tin nào đó, đi ngược lại với quy luật của suy luận logic

Nó có thể được hiện thực hóa qua ngôn ngữ hay ẩn tàng trong tư duy, được hay không được phản hồi bởi các đối tác cùng tham gia vào giao tiếp nhưng tựu chung

là các suy ý được hình thành trên các tiền đề thiếu cơ sở Hay nói cách khác, đó là

cách thức liên tưởng của người nghe (người đọc) khi tiếp nhận một thông tin tuân

theo một số quy tắc nhất định nào đó Suy diễn có thể được hiện thực hóa thông qua

ngôn ngữ hoặc cũng có thể ẩn tàng trong tư duy của mỗi chúng ta Tuy nó chưa được biểu hiện ra ngôn ngữ và kết quả hóa trong các phát ngôn của người nghe nhưng là chủ thể luận giải, chúng ta cũng có thể nhận dạng được chúng

Trang 40

1.5 Hội thoại và lý thuyết hội thoại

Trong cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học của Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Văn Hiệp, các tác giả cho rằng hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời giữa những người tham gia giao tiếp nhằm những mục đích nào đó Thực tế đời sống cho ta thấy có nhiều kiểu hội thoại khác nhau phân theo tình huống, mục đích hội thoại, vị thế của các nhân vật hội thoại và cả số lượng người tham gia giao tiếp Ví dụ: hội thoại trên đường phố khác với hội thoại trong gia đình, hội thoại giữa bạn bè than thiết khác với hội thoại giữa những người mới gặp nhau lần đầu, hội thoại về một chủ đề nghiêm túc khác với hội thoại nhằm mục đích giết thời giờ, tán gẫu,…Có thể có cuộc hội thoại của hai người, ba người, nhiều hơn ba người…[21, tr 377]

Hội thoại được coi là một tổ chức diễn ngôn có cấu trúc Các đơn vị tham gia vào cấu trúc của hội thoại gồm có cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại và tham thoại

Trong một cuộc nói chuyện (giữa hai hoặc nhiều người) người ta có thể nói về một chuyện hoặc nói hết chuyện này đến chuyện khác Mỗi chuyện như

vậy là một cuộc thoại Ba tiêu chí để xác lập một cuộc thoại là: nhân vật hội thoại (một cuộc thoại, nói chung, phải có sự hiện diện liên tục của những

người tham gia hội thoại Tuy nhiên, khi có một người nào đó “bỏ cuộc” (trừ khi cuộc thoại chỉ có hai người) hoặc khi có một người mới gia nhập vào cuộc

thoại, thì vẫn không nhất thiết phải chuyển sang cuộc thoại khác), tính thống nhất về thời gian và địa điểm và tính thống nhất về đề tài diễn ngôn (mỗi cuộc

thoại đều có xu hướng thống nhất về một đề tài, tuy nhiên, cũng có những cuộc thoại có đổi đề tài hoặc “chuyện nọ xọ chuyện kia”)

Một cuộc thoại thường gồm nhiều đoạn thoại Đoạn thoại là đơn vị gồm một

số cặp trao lời, đáp lời gắn bó với nhau về một chủ đề duy nhất và một mục đích duy nhất Cùng một cuộc thoại có thể có những cách phân chia đoạn thoại khác nhau Đoạn thoại có chỗ mở thoại và chỗ kết thúc Đoạn mở thoại có chức năng khai mào cuộc thoại và thương lượng hội thoại (thương lượng về đề tài, về thái độ…) Đoạn kết thúc chủ yếu là để đưa cuộc thoại đến chỗ kết thúc một cách hợp lí

Ngày đăng: 25/07/2020, 22:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
2. Gillian Brown, George Yule (2002), Phân tích diễn ngôn, Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn
Tác giả: Gillian Brown, George Yule
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia
Năm: 2002
3. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở Ngữ dụng học, tập 1, Nxb Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2003
4. Đỗ Hữu Châu (2009), Đại cương Ngôn ngữ học, tập 2, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
5. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 1999
6. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2009), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
7. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 1998
8. Nguyễn Đức Dân (2005), Nhập môn Logic hình thức và Logic phi hình thức, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Logic hình thức và Logic phi hình thức
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2005
9. Nguyễn Văn Đạm (2004), Từ điển tiếng Việt tường giải và liên tưởng, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt tường giải và liên tưởng
Tác giả: Nguyễn Văn Đạm
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2004
10. Nguyễn Thiện Giáp (2004), Dụng học Việt ngữ, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
11. Nguyễn Thiện Giáp (2010), 777 thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 777 thuật ngữ ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2010
12. Cao Xuân Hạo (1991), Sơ thảo Ngữ pháp chức năng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo Ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1991
13. Cao Xuân Hạo (1998), Tiếng Việt: Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt: Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
14. Nguyễn Văn Khang (2014), Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
15. Nguyễn Lân (2006), Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nxb Tổng hợp, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 2006
16. David Lee (2015), Dẫn luận Ngôn ngữ học tri nhận, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận Ngôn ngữ học tri nhận
Tác giả: David Lee
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2015
17. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Những phương thức cấu tạo hàm ngôn trong hội thoại, Kỷ yếu những vấn đề Ngữ dụng học, Hội ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu những vấn đề Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Năm: 1999
18. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ nghĩa lời hội thoại, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa lời hội thoại
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 1999
19. Lyons, J (2006), Ngữ nghĩa học dẫn luận, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học dẫn luận
Tác giả: Lyons, J
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2006
20. Từ Thu Mai (2000), Nghĩa hàm ẩn hội thoại trong truyện cười dân gian Việt Nam với sự vi phạm ngữ cảnh giao tiếp, Kỷ yếu Ngữ học trẻ 2000, Hội ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Ngữ học trẻ
Tác giả: Từ Thu Mai
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w