Phạm vi nghiên cứu đề tài Luận án tập trung nghiên cứu thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật; nghiên cứu hoạ
Trang 3Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả
Lê Minh Đức
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 6
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6 1.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37
VIỆT NAM 38
2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 38 2.2 NỘI DUNG PHÁP LUẬT VÀ HÌNH THỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 53 2.3 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 71
Trang 5TRÊN THẾ GIỚI ĐỐI VỚI VIỆT NAM 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 81 Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 82
3.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 82 3.2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 97
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 121 Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 122
4.1 QUAN ĐIỂM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 122 4.2 CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 125
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 147 KẾT LUẬN 148
LUẬN ÁN 150 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
Trang 6
TAND : Tòa án nhân dân
TTHS : Tố tụng hình sự
VBQPPL : Văn bản quy phạm pháp luật
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 7Bảng 3.1 Số vụ án hình sự có luật sư tham gia trong các năm từ
Biểu đồ 3.1: Kết quả phỏng vấn về nội dung đánh giá mối quan hệ
giữa luật sư với chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự
97
Biểu đồ 3.2: Số vụ án hình sự đưa ra xét xử, số vụ án hình sự có luật
sư tham gia giai đoạn 2017 – 2019
115
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Luật sư một nghề cao quý được xã hội tôn trọng và tin tưởng Với hơn
70 năm hình thành, xây dựng và phát triển, luật sư Việt Nam trong hoạt động
tố tụng hình sự (HĐTTHS) có vai trò quan trọng, góp phần bảo đảm công lý được thực thi hiệu quả, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, giảm thiểu án oan, sai; xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, an ninh chính trị, an toàn xã hội được bảo đảm, tăng cường
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là “nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân quản lí mọi mặt của đời sống xã hội bằng pháp luật” [86] Vì vậy, mọi chủ thể tham gia vào quan hệ tố tụng hình
sự (TTHS) đều phải chấp hành pháp luật TTHS trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án Luật sư tham gia TTHS với tư cách người bào chữa cho người bị buộc tội, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự, tuân theo pháp luật thông qua việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong HĐTTHS Sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015 được ban hành
và có hiệu lực thi hành đã góp phần nâng cao vị thế của luật sư trong HĐTTHS thông qua việc kế thừa có bổ sung các quy định tiến bộ tương thích với các nền tư pháp tiên tiến nước ngoài về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS Tuy nhiên, các quyền, nghĩa vụ này vẫn chưa được bảo đảm đầy
đủ do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, các chủ thể khi thực hiện còn khó khăn, không thống nhất, ảnh hưởng đến việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án và thực thi công lý Thực trạng cần được đánh giá một cách khách quan, toàn diện, kết hợp với việc nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận để đưa ra phương hướng, giải pháp thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa
vụ của luật sư trong HĐTTHS
Trong thời gian qua, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về
Trang 9hoạt động của luật sư nói chung, trong đó có đề cập đến các quyền, nghĩa vụ của luật sư Tuy nhiên, các công trình này còn chưa cập nhật các quy định mới của pháp luật (Hiến pháp 2013, BLTTHS 2015; Luật Luật sư 2006 sửa đổi bổ sung 2012, các văn bản pháp luật khác có liên quan) và mới chỉ đề cập
ở một vài khía cạnh của đề tài, chưa nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện vấn đề thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS Từ lý luận
và thực tiễn nêu trên đã đặt ra một yêu cầu bức thiết, mang tính thời sự đối với việc thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS
Vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về quyền,
nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện
nay” làm đề tài luận án tiến sĩ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS; từ thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS Luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa
vụ của luật sư trong HĐTTHS ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án cần thực hiện một số nhiệm
Trang 10- Khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật về quyền, nghĩa
vụ của luật sư trong HĐTTHS ở Việt Nam; Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS ở Việt Nam;
- Nêu quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề cơ sở lý luận, pháp luật có liên quan và thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật
sư trong HĐTTHS ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận án tập trung nghiên cứu thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật; nghiên cứu hoạt động thực hiện quyền, nghĩa vụ của luật sư với tư cách người bào chữa cho người bị buộc tội, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự trong HĐTTHS (không bao gồm tư cách người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố)
và mối quan hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm vi toàn quốc Thời gian nghiên cứu được giới hạn từ năm 2006 (thời điểm Luật Luật
sư được ban hành) đến nay
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng quan điểm của học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp (CCTP) trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền XHCN, CCTP với thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS ở nước ta hiện nay
Trang 114.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng nhiều phương nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp lịch sử, phân tích, quy nạp sử dụng chủ yếu ở chương 2, nêu lên các cơ sở lý luận của các vấn đề đặt ra, qua đó khái quát hóa thành những luận điểm làm nền tảng lý thuyết xuyên suốt nội dung của vụ án;
- Phương pháp lịch sử, phân tích, thống kê, tổng hợp được thực hiện trong chương 3 về đánh giá thực trạng pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS;
- Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu được thực hiện với tiêu chí lựa chọn các chuyên gia luật sư có thâm niên, uy tín trong lĩnh vực tố tụng hình
sự, ở 03 khu vực của cả nước (Bắc, Trung, Nam) để phỏng vấn trực tiếp một
số nội dung chính yếu liên quan đến đề tài luận án Trong quá trình thực hiện, ngoài dữ liệu từ những luật sư được phỏng vấn, còn có các thông tin và dữ liệu mới nảy sinh có giá trị đối với đề tài Kết quả của phương pháp này được
sử dụng chủ yếu tại Chương 3 của luận án
- Phương pháp phân tích, chứng minh được sử dụng tại chương 4 nhằm đưa ra quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa
vụ của luật sư trong HĐTTHS ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN thời kỳ hội nhập
5 Những đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và tương đối toàn diện về thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu có những điểm mới như sau:
- Luận án phân tích, làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS qua đó làm sáng tỏ ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của ưu điểm, tồn tại đó khi luật sư thực hiện quyền, nghĩa
Trang 12vụ trong giải quyết vụ án hình sự hiện nay;
- Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, luận án đưa ra kiến nghị, đề xuất góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS, Luật Luật sư (LLS) và các VBQPPL liên quan đồng thời đưa ra các nhóm giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận, kết quả của luận án góp phần vào hoàn thiện lý luận về thực hiện pháp luật nói chung, thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật
sư trong HĐTTHS nói riêng; đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
- Về thực tiễn, luận án có thể làm tài liệu hữu ích với giới luật sư, tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong các cơ sở đào tạo luật và các cơ sở đào tạo chức danh tư pháp
7 Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được chia làm 4 chương, 10 tiết
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Luật sư tham gia vào HĐTTHS với tư cách người bào chữa, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng Trên thế giới, mỗi quốc gia có những đặc tính pháp luật riêng, ứng với đó là mô hình TTHS phù hợp Dù ở
mô hình TTHS nào thì sự tham gia của luật sư thông qua quyền, nghĩa vụ của mình đều góp phần bảo đảm quyền con người, làm rõ sự thật khách quan của
vụ án, bảo đảm công lý được thực thi Vì vậy, trong luận án “Thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự”, tác giả
sẽ nghiên cứu vấn đề này đã được đề cập ra sao, nghiên cứu như thế nào ở nước ngoài và trong nước, những vấn đề cần đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Diễn đàn nghiên cứu khoa học quốc tế đã có các công trình nghiên cứu, bài báo, tham luận của các tác giả nước ngoài đề cập đến một hoặc một vài khía cạnh về thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS, như:
-“Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư” (Basic principles on the
role of lawyers) [60] được thông qua bởi Đại hội Liên Hợp Quốc lần thứ VIII
về phòng chống tội phạm và đối xử với người phạm tội, Havana, Cuba năm 1990: các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư được xây dựng để hỗ trợ các quốc gia thành viên trong nhiệm vụ thúc đẩy và đảm bảo vai trò đúng đắn của luật sư, cần được Chính phủ tôn trọng và tính đến trong khuôn khổ luật pháp quốc gia của họ Khi thực hành các nguyên tắc này cần được các luật sư cũng như những người khác chú ý, chẳng hạn như thẩm phán, công tố viên,
Trang 14thành viên của cơ quan hành pháp và lập pháp, và công chúng nói chung Những nguyên tắc này cũng sẽ được áp dụng, khi thích hợp, cho những người thực hiện các chức năng của luật sư mà không có tư cách chính thức của luật
sư Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư bao gồm: Tất cả mọi người
có quyền kêu gọi sự giúp đỡ của luật sư về sự lựa chọn của họ để bảo vệ và thiết lập quyền của họ và bảo vệ họ trong tất cả các giai đoạn TTHS; Chính phủ sẽ đảm bảo rằng các quy trình hiệu quả và cơ chế đáp ứng để tiếp cận hiệu quả và bình đẳng với luật sư được cung cấp cho tất cả mọi người trong lãnh thổ của họ và thuộc thẩm quyền của họ, không phân biệt đối xử bằng bất
kỳ hình thức nào, như phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, màu da, nguồn gốc dân tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị hoặc ý kiến khác, nguồn gốc quốc gia hoặc xã hội, tài sản, sinh, kinh tế hoặc địa vị khác; Chính phủ đảm bảo cung cấp đủ kinh phí và các nguồn lực khác cho các dịch vụ pháp lý cho người nghèo và, khi cần thiết, cho những người thiệt thòi khác Hiệp hội luật
sư chuyên nghiệp sẽ hợp tác trong việc tổ chức và cung cấp dịch vụ, cơ sở vật chất và các nguồn lực khác; Chính phủ và hiệp hội nghề nghiệp của luật sư sẽ thúc đẩy các chương trình thông báo cho công chúng về các quyền và nghĩa
vụ của họ theo luật pháp và vai trò quan trọng của luật sư trong việc bảo vệ các quyền tự do cơ bản của họ Các nguyên tắc này đặc biệt chú ý đến việc hỗ trợ người yếu thế trong xã hội để cho phép họ khẳng định quyền lợi của mình
và ở bất kỳ đâu Những nội dung trên là tài liệu tham khảo hữu ích với đề tài luận án
- Bài viết “ Sự phát triển của luật hình sự Hoa Kỳ” (Evolution of US Criminal Law) [46] của James B.Jacobs đề cập đến việc bảo vệ quyền con người trong suốt quá trình tố tụng trong đó có quyền bào chữa, quyền có người bào chữa Tác giả lấy Hiến pháp Hoa Kỳ làm cơ sở xây dựng thủ tục TTHS và trong giới hạn của Luật hình sự Hoa Kỳ với các nguyên tắc suy đoán vô tội; quyền xuất trình chứng cứ, quyền không bị buộc phải đưa ra
Trang 15chứng cứ tự buộc tội mình, các cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh họ
có tội; quyền được xét xử công bằng và công khai; quyền được xét xử nhanh chóng Quyền có luật sư và quyền bào chữa nhằm bảo đảm tất cả bị can, bị cáo đều có luật sư bào chữa, trường hợp người bị tình nghị phạm tội không có tiền thuê luật sư thì Tòa án có thể sẽ chỉ định luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho họ Luật sư cũng có quyền khai thác các nhân chứng của họ nhằm thẩm tra về những nhân chứng của phía bên kia để kiểm tra chéo (Cross- Examination) Bài viết này là tài liệu tham khảo hữu ích với đề tài luận án
- Sách “Hướng tới một tố tụng hình sự quốc tế” (Toward an
international criminal procedure) [12] của tác giả Christoph J.M Saffeling
viết về cách phát triển một trật tự TTHS quốc tế với nội dung so sánh, phân tích những quy định bảo đảm các chuẩn mực quốc tế về quyền con người của người bị tình nghi phạm tội và quyền được bào chữa của họ Vì vậy, sách cũng chú trọng đề cập đến việc tạo hành lang pháp lý nhằm bảo đảm việc xét
xử được công bằng, các điều kiện cần thiết để luật sư giúp người bị tình nghi phạm tội thực hiện quyền được bào chữa như nguyên tắc về nghĩa vụ chứng minh lỗi của bị cáo, việc kiểm tra chéo nhân chứng (Cross- Examination), giả định vô tội, chế định thương lượng nhận tội trong tố tụng hình sự (chỉ trong một số trường hợp đáp ứng điều kiện và quy định của pháp luật)
- Báo cáo “Nghiên cứu điều tra về vấn đề có liên quan đến luật sư
trong hoạt động tố tụng hình sự” của tác giả Ninh Hồng, Tôn Lợi [43] Bài
viết đưa ra một số kiến nghị bổ sung vào "Báo cáo nghiên cứu điều tra về vấn
đề có liên quan đến luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự" của Bộ tư pháp Trung Quốc nhằm thúc đẩy công tác bảo đảm quyền lợi hành nghề của luật
sư, cải thiện môi trường hành nghề của luật sư Trung Quốc Bài viết cho rằng muốn cải thiện triệt để môi trường hành nghề của luật sư, giải quyết các vấn
đề còn tồn tại trong hoạt động tố tụng hình sự của luật sư, một mặt luật sư phải nâng cao tố chất bản thân, đồng thời với việc tăng cường ý thức phòng
Trang 16chống rủi ro nghề nghiệp, đẩy mạnh việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật hành nghề; mặt khác tích cựu tiến hành phối hợp với các cơ quan tư pháp
có liên quan nhằm bảo vệ quyền lợi của luật sư hơn nữa Tài liệu này có ý nghĩa tham khảo liên quan đến thực tiễn và giải pháp của luận án
- Báo cáo “Quyền con người trong hệ thống tư pháp hình sư” (The
human rights in criminal justice systems) tại Cuộc họp thông tin Châu Á -
Châu Âu của Param Cumarawamy và Manfred Nowak [72] Hệ thống tư pháp hình sự trong một xã hội dân chủ, tuân thủ luật pháp, phải cân bằng cẩn thận các lợi ích khác nhau và đôi khi mâu thuẫn Luật nhân quyền quốc tế thừa nhận sự cần thiết phải cân bằng quyền lực Nhà nước và quyền tự do cá nhân, đưa ra các đảm bảo tối thiểu mà các quốc gia phải tuân thủ trong suốt quá trình tư pháp hình sự của mình Báo cáo lưu ý rằng trong khi hình phạt về thể xác đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật nhân quyền quốc tế và có một xu hướng toàn cầu đang gia tăng đối với việc bãi bỏ án tử hình, các yếu tố đóng góp cho
sự phát triển tiến bộ của nhân quyền, vẫn còn là một vấn đề tranh luận đối với các quốc gia rằng muốn duy trì các hình thức trừng phạt này như là một phần của hệ thống tư pháp hình sự trong nước họ Tuy nhiên, các vấn đề mà cả những nước châu Á và châu Âu phải đối mặt cho thấy rất nhiều điểm tương đồng Hội thảo đã đề cập đến một loạt các vấn đề nhân quyền liên quan đến tất cả các giai đoạn của quá trình tư pháp hình sự, nhấn mạnh nhận thức còn sót lại rằng một cuộc xung đột tồn tại giữa lợi ích của an ninh và bảo vệ nạn nhân và quyền của bị cáo; tầm quan trọng của sự tôn trọng các chuẩn mực quốc tế; và những khó khăn và sự phức tạp đáng kể vốn có trong việc đảm bảo hoạt động hiệu quả của bất kỳ hệ thống pháp lý nào Xu hướng về Quyền con người được bảo đảm trong tư pháp hình sự của các nước là một khía cạnh tham khảo cần thiết với đề tài
- Cuốn sách “Tài liệu về quyền con người của Brownlie” (Brownlie’s
document on human rights) [45] của tác giả Ian Brownlie, đây là cuốn sách
Trang 17tổng hợp bao quát các nội dung, nguyên tắc về quyền con người; hình thức thể hiện cụ thể, rõ ràng có đề dẫn, chú thích; nội dung về những văn kiện được Liên Hợp Quốc và các bên liên quan thông qua mang tính pháp lý quốc
tế và có ý nghĩa quan trọng về quyền con người, bởi những tổ chức trong khu vực và những người am hiểu về luật pháp là tài liệu tham khảo hữu ích về quyền con người đối với luận án
- Cuốn sách “Nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp
Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga” [61] do Liên hợp quốc
thực hiện năm 2010 đã làm rõ cơ cấu tổ chức cơ quan tư pháp hình sự, quy định về quyền bào chữa, tạo điều kiện để luật sư tham gia bào chữa của 5 quốc gia chọn lọc Trong đó, luật sư được phép sử dụng nhiều phương pháp đặc biệt để thu thập chứng cứ, có thể đề nghị ĐLS địa phương yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, việc hỏi cung không được ghi hình, ghi tiếng khi chưa có sự hiện diện của luật sư Những nghiên cứu về mô hình tố tụng nói trên có những nội dung liên quan đến hoạt động bào chữa của người bào chữa, trong đó có luật sư Vì vậy, việc tham khảo các tài liệu trên giúp cho việc nghiên cứu của tác giả có những hiểu biết cần thiết về các mô hình tố tụng, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật, phù hợp với
mô hình tố tụng kết hợp mà CCTP ở Việt Nam đang hướng tới
- “Báo cáo Quyền bào chữa trong pháp luật hình sự và thực tiễn tại Việt Nam” do Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) thực hiện năm
2010 [13] đã nghiên cứu và so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật các quốc gia (Trung Quốc, Đức, Nhật Bản, Australia) về quyền bào chữa - một trong những chuẩn mực bắt buộc của việc xét xử công bằng, được pháp luật quốc tế công nhận và bảo vệ; chỉ ra các điểm tích cực về tiếp cận quyền bào chữa có thể vận dụng vào Việt Nam, đồng thời đánh giá tổng quan những tồn tại trong việc tiếp cận, thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra, xét
xử vụ án hình sự ở nước ta Từ đó, đưa ra một số đề xuất phù hợp để hoàn thiện
Trang 18pháp luật, đồng thời bảo đảm, phát huy hiệu quả thực hiện quyền bào chữa trong TTHS tại Việt Nam Tài liệu này được xây dựng để phục vụ cho việc đóng góp hoàn thiện dự thảo BLTTHS 2015, tuy nhiên vẫn có giá trị tham khảo đối với luận án ở khía cạnh nghiên cứu về thực hiện quyền của luật sư bào chữa trong TTHS tương quan so sánh với pháp luật một số nước về vấn đề này
- Cuốn sách Luật của Black: Một luật sư hình sự tiết lộ những chiến lược bảo vệ trong Bốn vụ án tiêu biểu (Black's Law: A Criminal Lawyer Reveals His Defense Strategies in Four Cliffhanger Cases Paperback) [91] của Roy Black - một trong những luật sư bào chữa hình sự cứng rắn và sắc sảo nhất nước Mỹ Dù bảo vệ một người nổi tiếng giàu có hay một tử tù nghèo khổ, Black luôn cố gắng mọi cách để khách hàng của mình được xét xử công bằng Cuốn sách viết về hậu trường của bốn vụ án khó khăn và nguy hiểm để tiết lộ các chiến lược pháp lý, chiến thuật “vô căn cứ” và tâm lý phòng xử án mà tác giả đã sử dụng để đảm bảo khách hàng của mình nhận được mọi sự bảo vệ theo luật Các vụ án minh họa các cuộc đấu tranh sinh tử xảy ra thường ngày tại các tòa án hình sự của Hoa Kỳ Trong vụ án "Alvarez", tác giả đã thuyết phục bồi thẩm đoàn gác lại việc công khai xét xử vụ án nhạy cảm liên quan đến một cuộc bạo loạn chủng tộc và áp lực của xã hội đối với việc ban hành bản án để bảo vệ một sĩ quan cảnh sát Tây Ban Nha trẻ tuổi thoát án tù vì giết một thanh niên da đen Hoodlum trong khi làm nhiệm vụ Trong vụ án "Hiệp sĩ", Black phải đấu tranh với các vấn đề về giai cấp và chủng tộc khi anh ta phải trải qua cuộc đấu tranh pháp lý kéo dài bốn năm để thuyết phục các thẩm phán tòa phúc thẩm liên bang lật lại án tử hình đối với một kẻ giết người điên
rồ, tàn bạo vì sự tắc trách của các luật sư bào chữa trước đó Trong vụ án
"Hicks", Black phải chứng minh sự vô tội của một khách hàng bằng cách thuyết phục bồi thẩm đoàn rằng cảnh sát đã tiến hành một cuộc điều tra giết người cẩu thả vi phạm tố tụng nghiêm trọng Và trong vụ án "De La Mata," thời điểm mà nhà nước và xã hội đã trao cho các công tố viên, thẩm phán
Trang 19nhiều quyền lực hơn để đưa những người tình nghi tội phạm vào nhà tù, các luật sư bào chữa được coi là đứng về phía kẻ xấu Nhưng Roy Black tin rằng khi luật sư bỏ qua các quyền của bị cáo, cũng là làm giảm quyền của chính mình Trong hệ thống pháp lý có tính đối nghịch, người duy nhất đứng giữa bị cáo và nhà tù hay án tử hình - là luật sư bào chữa hình sự Tác giả cho thấy các nguyên tắc của luật pháp, tiêu biểu là kiểm tra chéo (Cross- Examination), bằng chứng cũng như quyền yêu cầu lựa chọn bồi thẩm đoàn và sử dụng khéo léo các nhân chứng trong vụ án - có thể tạo thế cân bằng với thẩm quyền ưu việt của công tố viên tiểu bang và liên bang Cuốn sách đã chỉ ra vai trò quan trọng của luật sư bào chữa hình sự khi bảo vệ các quyền cơ bản của con người trong một phiên tòa công bằng, một tài liệu có giá trị tham khảo cao cả về mặt
lý luận và thực tiễn pháp lý liên quan đến đề tài luận án
- Bài viết “Vai trò của luật sư bào chữa: không chỉ là một người biện hộ” (The role of the defense attorney: not just an advocate) của tác giả Roberta K.flowers [90] phân tích các yêu cầu đối với luật sư trong tình huống khách hàng có kế hoạch thực hiện khai man Qua đó, chỉ ra vai trò của luật sư không chỉ thể hiện ở nghĩa vụ người biện hộ cho khách hàng mà phải bảo đảm các nghĩa vụ đối với tòa án và công chúng Vì vậy, để thực hiện chức năng bào chữa có hiệu quả, phải đảm bảo vai trò 3 bên: vai trò của luật sư bào chữa, vai trò của tòa án và vai trò của bên công tố Bài viết có tính mới và gợi mở hơn
về chức năng xã hội của luật sư khi tham gia tố tụng hình sự với tư cách người bào chữa, một tài liệu tham khảo hữu ích đối với luận án
- Bài viết “chức năng bào chữa” (“Defense function”) của Đoàn luật sư Hoa Kỳ [31] đã nêu lên các tiêu chuẩn chung của người bào chữa và các chức năng của luật sư bào chữa Theo đó, Luật sư bào chữa là một thành phần thiết yếu của hệ thống tố tụng hình sự, bảo vệ công lý và lẽ phải Một tòa án thành lập đúng quy định để xét xử một vụ án hình sự phải được xem như là một thực thể ba bên bao gồm các thẩm phán, công tố viên và luật sư bào chữa cho
Trang 20bị cáo Các tiêu chuẩn cũng như chức năng của luật sư bào chữa đó là: Luật
sư bào chữa phải có lòng can đảm, sự tận tâm để tham gia giải quyết vụ án một cách hiệu quả và chất lượng, thể hiện bằng việc hành động tuân theo các quy định của pháp luật Đồng thời, khi gặp các bất cập liên quan đến chính sách hình sự và quy định của pháp luật, người bào chữa phải đề xuất ý kiến, tìm cách cải cách và cải thiện hành chính tư pháp hình sự Người bào chữa không có nhiệm vụ phải thực hiện bất kỳ chỉ thị nào của bị cáo mà không đúng với quy định của pháp luật hoặc vi phạm pháp luật Người bào chữa không được xuyên tạc hoặc bóp méo sự thật, cung cấp các chứng cứ, tài liệu sai sự thật cho Tòa án… Người bào chữa phải được hướng dẫn và tuân theo các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, những điều được làm và không được làm khi hành nghề luật sư
- Cuốn sách chuyên khảo “Những mô hình TTHS điển hình trên thế
giới” do Tô Văn Hòa chủ biên [39] đã giới thiệu các báo cáo nghiên cứu của
các nhà khoa học có uy tín quốc tế về mô hình TTHS điển hình của bảy quốc gia trên thế giới là: Hoa Kỳ, Italia, Pháp, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc Các kết quả nghiên cứu được thực hiện công phu, nghiêm túc, có ý nghĩa tham khảo rộng rãi, sâu sắc và có giá trị đặc biệt góp phần vào quá trình xây dựng và hoàn thiện Đề án “Mô hình TTHS Việt Nam” theo yêu cầu của cải cách tư pháp Có thể khái quát một số mô hình tố tụng về đặc điểm luật TTHS và vai trò, địa vị pháp lý của luật sư, như sau:
Mô hình TTHS Nhật Bản do GS Byung-Sun Cho báo cáo nghiên cứu đã thể hiện khái quát mô hình TTHS Nhật Bản thông qua việc giới thiệu hệ thống
tư pháp với hệ thống tòa án gồm: tòa án giản lược (cấp thấp nhất), tòa án quận (thẩm quyền chung trong giải quyết mọi vụ án), tòa án gia đình (thẩm quyền xét
xử về quan hệ gia đình và trẻ vị thành niên), tòa án cấp cao và tòa án tối cao; xác định hệ thống TTHS Nhật Bản là hệ thống lai với mô hình tố tụng tranh tụng là chủ yếu và BLTTHS năm 1948 vẫn giữ được các đặc tính của pháp luật lục địa,
Trang 21chủ yếu là pháp luật Anh - Mỹ đã được đưa vào đáng kể; tác giả cũng phân tích
về các giai đoạn TTHS gồm: điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; phần địa vị
tố tụng, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia TTHS cũng nêu nên địa vị pháp
lý của luật sư bào chữa khi có cả các quyền đại diện và quyền hạn cá nhân với tư cách là người bảo vệ bị cáo hoặc người bị tình nghi phạm tội, trong đó với tư cách đại diện có quyền hạn rất toàn diện để thực hiện mọi hành vi tố tụng của bị cáo hoặc người bị tình nghi phạm tội Sau khi bị truy tố, bị cáo được tự do gặp luật sư của mình để chuẩn bị các lý lẽ bào chữa,…;
Về mô hình TTHS của Trung Quốc do GS Liling Yue nghiên cứu đã khái quát về TTHS của Trung Quốc; các chủ thể tố tụng và các giai đoạn của quá trình TTHS; chứng cứ hình sự và xu hướng cải cách luật TTHS Trung Quốc Trong đó, TTHS được chia thành hai giai đoạn chính: giai đoạn trước xét xử (bao gồm lập hồ sơ vụ án, điều tra và truy tố) và giai đoạn xét xử (bao gồm xét xử sơ thẩm, kháng cáo nếu có hoặc các thủ tục tố tụng đặc biệt khác) Vai trò của luật sư bào chữa bị hạn chế trong giai đoạn điều tra, đến khi có quyết định truy tố và nghi phạm chính thức thuê luật sư thì được thể hiện rõ hơn với quyền hạn như có thể tra cứu, trích dẫn và sao chép tài liệu, văn bản
tố tụng; phỏng vấn, liên lạc với nghi phạm bị tạm giữ; … nhưng quan trọng
và thể hiện toàn diện nhất trong giai đoạn xét xử với quyền hạn của người bào chữa và quyền tương tự của bị cáo
- Cuốn sách “ So sánh các hệ thống Tư pháp Hình sự” (Comparative Criminal Justice Systems) [74] của tác giả Philip L Reichel (Hoa Kỳ) tái bản lần thứ 6, 2012 viết về các mô hình TTHS Trong cuốn sách này, tác giả đã phân tích đặc điểm và so sánh các truyền thống pháp luật khác nhau trên thế giới Cuốn sách cũng phân tích làm rõ và so sánh các loại mô hình TTHS, đặc biệt là
mô hình TTHS kiểm soát tội phạm và mô hình TTHS công bằng Những nghiên cứu cho thấy rằng mặc dù cùng chung mục đích là tìm ra sự thật, phát hiện và xử
lý tội phạm nhưng mỗi truyền thống pháp luật lại sử dụng mô hình TTHS khác
Trang 22nhau và đặt vấn đề là cách thức nào được xem là tốt nhất để tìm ra sự thật Sự khác nhau giữa các mô hình TTHS tất yếu dẫn đến sự khác nhau, trong đó có sự khác nhau về địa vị pháp lý của các chủ thể và cách thức vận hành các chức năng TTHS, luật sư bào chữa là một trong những chủ thể đó
- Cuốn sách “ Hệ thống pháp luật và luật pháp của Liên Bang Nga” (Law and legal system of the Russian Federation) của William Burnham [129] được viết để giới thiệu cho sinh viên luật, luật sư về các đặc điểm chính của luật pháp và các tổ chức pháp lý của nước Nga ngày nay Cuốn sách với 14 chương bao gồm hầu hết các lĩnh vực quan trọng của pháp luật Nga, trong đó có các vấn đề về thủ tục tố tụng hình sự (chương XI), luật sư (phần D chương IV), các quyền cá nhân trong đó nổi bật quyền được bảo vệ tư pháp và đối xử bình đẳng (mục D chương VI) Cuốn sách đã nghiên cứu, phân tích về quyền của luật sư bào chữa trong giải quyết vụ án hình sự, cụ thể tập trung vào các vấn đề: Liệt
kê các văn bản pháp luật của các nước cộng hòa thuộc liên bang quy định về quyền của luật sư bào chữa; đưa ra tỷ lệ phần trăm các vụ án hình sự có sự tham gia của luật sư bào chữa từ giai đoạn xét xử; chủ thể nào được đại diện cho bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự… Nổi bật nên một số quyền của luật
sư như: chỉ cần sự thừa nhận của Đoàn luật sư nơi mà luật sư tham gia và có một lệnh từ tổ chức luật sư ủy quyền cho luật sư đại diện nhận bào chữa cho khách hàng; trong giai đoạn điều tra, luật sư bào chữa được quyền có mặt khi người bị tình nghi hoặc bị can đưa ra lời khai trước điều tra viên (thậm chí trước cả giai đoạn đó trong một số trường hợp); quyền thu thập chứng cứ của luật sư bào chữa như hoạt động điều tra độc lập (điểm mới đáng ghi nhận tại Điều 83 BLTTHS Liên bang Nga năm 2001); luật sư có quyền tham gia bào chữa từ thời điểm khách hàng bị bắt trên thực tế; trong giai đoạn xét xử, nếu luật sư bào chữa theo chỉ định không xuất hiện tại phiên tòa thì việc xét xử vụ
án phải được hoãn sang thời điểm khác Bị cáo có thời hạn 05 ngày để lựa chọn người bào chữa mới và nếu người bào chữa mới không thể có mặt thì tòa án chỉ
Trang 23định người bào chữa khác Cuốn sách này là một tài liệu nghiên cứu tham khảo hữu ích liên quan đến luật sư trong HĐTTHS với tư cách là người bào chữa
- Bài “Sự thật về việc trở thành một luật sư bào chữa hình sự” (The
Truth About Being a Criminal Defense Attorney) [23] của Dylan Thomson von Brendel phỏng vấn hai luật sư bào chữa hình sự có tiếng của Hoa Kỳ là Robert Foley và Dana Kinsella về lý do lựa chọn nghề, những nguy hiểm, nhìn nhận của xã hội cũng như thách thức khi làm luật sư bào chữa hình sự, hai người cũng chia sẻ những trải nghiệm trong hoạt động hành nghề Cuộc phỏng vấn chân thật và sâu sắc về quan điểm, nhìn nhận của người trong nghề khi trở thành một luật sư bào chữa hình sự trong xã hội Hoa Kỳ, khi ai đó phải đối mặt với một hành vi phạm tội hình sự thì toàn bộ sức nặng của hệ thống tư pháp và nhà nước cùng việc truy tố đang giáng xuống người đó, khi
ấy có luật sư bào chữa; luật sư là một phần quan trọng của hệ thống kiểm tra
và cân bằng trong thực hiện pháp luật, làm cho mọi thứ hoạt động hiệu quả và hợp pháp, bởi vì nhìn vào thẩm quyền và quyền lực mà cơ quan thực thi pháp luật có, cần có cơ chế để kiềm chế sức mạnh đó, kiểm tra lại công việc của họ, đảm bảo rằng họ tuân theo đúng các quy tắc pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội Tài liệu tham khảo hữu ích với việc thực hiện phỏng vấn chuyên sâu phục vụ cho đề tài
- Cuốn sách “Cẩm nang luật hình sự - Biết quyền của bạn, tồn tại hệ
thống” (The criminal law handbook - Know your right, Survive theo System)
[73] của tác giả Paul Bergman và Sara J Berman được thiết kế dưới dạng câu hỏi, câu trả lời dễ hiểu và các ví dụ minh họa để giải thích hệ thống tư pháp hình sự, trong và ngoài phòng xử án, giúp người đọc có những kiến thức cơ bản về luật, thủ tục tố tụng hình sự của Hoa Kỳ Cuốn sách gồm 27 chương, trong đó nội dung về luật sư (bao gồm cả luật sư công, luật sư tư), quyền bào chữa, thủ tục bào chữa, chất vấn tại tòa… tập trung tại các chương 7 (luật sư bào chữa hình sự), chương 8 (tìm hiểu mối quan hệ giữa luật sư và khách
Trang 24hàng trong vụ án hình sự, chương 11 (xây dựng chiến lược bào chữa), chương
14 (trao đổi thông tin với công tố), chương 15 (điều tra các sự kiện), chương
16 (điều trần sơ bộ), chương 17 (quyền cơ bản của bào chữa), chương 18 (quy tắc chứng cứ cơ bản trong các phiên tòa hình sự) đã giải thích quyền có luật
sư, sự khác biệt giữa luật sư công và luật sư tư, sự giữ bí mật của luật sư với khách hàng, diễn giải, minh họa các thủ tục tố tụng có sự tham gia của luật sư trong quá trình bào chữa cho khách hàng, đồng thời cũng chỉ ra điểm khác biệt giữa luật Liên bang với luật của các bang về các nội dung liên quan đến vấn đề này
- Trong cuốn La bàn đạo đức của luật sư Hoa Kỳ: Sự thật, Công lý, Quyền lực và Lòng tham (The Moral Compass of the American Lawyer: Truth, Justice, Power, and Greed) [89], Richard Zitrin và Carol M Langford
cố gắng giải thích đạo đức pháp lý cho những người không phải là luật sư Trong khi họ cung cấp một sự bảo vệ mạnh mẽ của hệ thống công lý Mỹ, họ cũng lưu ý những thảm họa đạo đức gây ra bởi sự thái quá của quá trình đối nghịch Các luật sư không được trả tiền để bảo vệ "Sự thật, Công lý và Con đường Mỹ", các tác giả lưu ý; họ được trả tiền để bảo vệ khách hàng của họ,
và nghĩa vụ của sự vận động nhiệt tình đôi khi thúc đẩy các luật sư làm việc bên lề của sự chính trực Một số luật sư đứng trên đường lối đạo đức, hoặc bỏ qua lại với sự trừng phạt; những người khác lặn dài qua rìa và không bao giờ quay trở lại Khách hàng muốn thuê luật sư thành công, tất nhiên, và luật sư thành công thường là những người sẵn sàng bỏ qua ranh giới của trách nhiệm nghề nghiệp Đạo đức của nghề nghiệp dường như được xác định bởi bất cứ điều gì khó khăn nhất có thể thoát khỏi Các luật sư chân chính sẽ đi đến tận cùng của sự thật và sẵn sàng chịu đựng những mũi dùi của dư luận khi bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng Một tổng quan sâu rộng về những tình huống khó xử về đạo đức phải đối mặt với mọi luật sư của nghề luật mỗi ngày - cho dù họ là luật sư bào chữa hình sự, luật sư tư, luật sư nội bộ công ty
Trang 25Các tác giả cũng đưa ra một đánh giá thẳng thắn về những thiếu sót của toàn
bộ hệ thống tư pháp Hoa Kỳ, từ các trường luật đến phòng xử án, và những gì
có thể được thực hiện để khắc phục tình hình Một tài liệu tham khảo hay về khía cạnh đề cao đạo đực hành nghề luật sư đối với luận án
- Báo cáo “Quyền trong thực tế: tiếp cận với luật sư và quyền tố tụng trong tố tụng hình sự và lệnh bắt giữ ở châu Âu” (Rights in practice: access to
a lawyer and procedural rights in criminal and European arrest warrant proceedings) của Cơ quan Liên minh châu Âu về các quyền cơ bản (FRA) [33] xem xét cách thức áp dụng trong thực tế các quyền tố tụng hình sự quan trọng (bao gồm quyền tiếp cận luật sư), dựa trên các cuộc phỏng vấn với hơn
250 người là thẩm phán, công tố viên, cảnh sát, luật sư, nhân viên của các cơ quan giám sát các nhà tù, cũng như các bị cáo của 08 quốc gia thành viên EU Báo cáo tập trung phân tích về quyền tiếp cận luật sư; bị cáo bị tước quyền tự
do đặc biệt phải đối mặt với những khó khăn thực tế trong việc tiếp cận trực tiếp với luật sư Cảnh sát đôi khi ngăn cản các bị cáo tiếp xúc với luật sư từ đầu, tước đi cơ hội của luật sư để đặt câu hỏi có thể giúp bị cáo chuẩn bị bào chữa hiệu quả Các bị cáo không phải lúc nào cũng được phép nói chuyện riêng với luật sư của họ trước khi thẩm vấn lần đầu, thay vào đó là cuộc trao đổi ngắn diễn ra trong các hành lang công cộng với sự có mặt của cảnh sát Báo cáo cũng chỉ ra rằng đối với các vụ án xuyên biên giới, xuyên quốc gia thì vấn đề rào cản ngôn ngữ là nguyên nhân khó khăn trong việc tiếp cận luật
sư Liên quan đến việc cung cấp cho các bị cáo thông tin về quyền của họ để tiếp cận luật sư, cũng như việc tiếp cận hiệu quả với luật sư trong thực tế, báo cáo phát hiện sự tôn trọng và hiệu quả khác nhau giữa các quốc gia thành viên thực thi và các quốc gia thành viên ban hành Các cơ quan thực thi thường không cảm thấy có thẩm quyền bình luận về các quyền ở các quốc gia khác, vì vậy không thông báo cho những người bị bắt theo EAW (đảm bảo bắt giữ Châu Âu) về quyền liên hệ và chỉ định luật sư tại nước thành viên,
Trang 26không hỗ trợ đầy đủ cho các bị cáo trong việc chỉ định luật sư ở đó Tài liệu có giá trị tham khảo hữu ích đối với đề tài luận án ở khía cạnh thực tiễn về thực hiện quyền tiếp cận luật sư trong hội nhập với các nền tư pháp TTHS Châu Âu
Từ những tài liệu nghiên cứu tham khảo trên, tác giả nhận thấy mặc dù
mô hình TTHS ở mỗi nước có sự khác nhau nhưng pháp luật TTHS đều có quy định về việc bảo đảm quyền con người, quyền được bào chữa của người
bị tình nghi phạm tội hay người bị buộc tôi; luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ bằng các hoạt động chung cơ bản của các nền tư pháp hình sự trên thế giới Các công trình nghiên cứu đã đề cập, phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn về luật sư trong TTHS (chủ yếu với tư cách là người bào chữa) trong bảo đảm quyền con người, quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội/người tình nghị phạm tội
Nhìn chung, những nghiên cứu trên đã cung cấp cho tác giả một khối lượng kiến thức nền tảng về quyền con người, quyền có luật sư bào chữa, một số nguyên tắc bảo đảm vai trò của luật sư trong TTHS một số quốc gia và của quốc tế Tham khảo các tài liệu trên giúp cho việc nghiên cứu của tác giả có thêm những kiến thức về các mô hình TTHS và địa vị pháp lý của luật sư trong các mô hình tố tụng đó Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật TTHS, nâng cao vị thế của luật sư thông qua việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong mô hình TTHS kết hợp thẩm vấn - tranh tụng theo yêu cầu CCTP mà Việt Nam đang hướng đến
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
- Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự
+ Đề tài Bộ Tư pháp “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức luật sư và hành nghề luật sư trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay”, chủ nhiệm đề tài Nguyễn Văn Thảo – Viện khoa học Pháp lý, Bộ
Tư pháp [94] là công trình nghiên cứu lớn có liên quan đến luật sư và tổ chức
Trang 27hành nghề luật sư Đề tài nghiên cứu của Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp
đã tiếp cận các hoạt động tư pháp của luật sư khi hành nghề ở nhiều lĩnh vực, trong đó có hoạt động tham gia tố tụng hình sự, đưa ra quan điểm và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hành nghề luật sư, hoạt động của luật sư tại Việt Nam Tuy nhiên, do đề tài thực hiện và hoàn thành ở thời điểm BLTTHS 2003 mới có hiệu lưc hơn 01 năm, phạm vi nghiên cứu rộng nên vấn đề liên quan đến thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS chưa được nghiên cứu, cập nhật đầy đủ, chuyên sâu và kịp thời + Đề tài cấp Bộ Tư pháp “Phương pháp đào tạo các chức danh tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” do PGS TS Phan Hữu Thư là chủ nhiệm
đề tài [96] đã chỉ ra được cơ sở khoa học và thực tiễn của sự cần thiết phải hoàn thiện phương pháp đào tạo các chức danh tư pháp trong đó có luật sư; xác định phương pháp đào tạo mới trên cơ sở quan điểm lấy người học làm trung tâm nhằm tạo sự chủ động cho người học và người dạy trong việc nhanh chóng chiếm lĩnh tri thức nghề nghiệp; phân tích thực trạng áp dụng các phương pháp đào tạo trong hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp, qua đó
đề xuất những biện pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế đó Đề tại phân tích đặc thù trong đào tạo luật sư qua đó xây dựng phương pháp đào tạo tích cực phù hợp trong đó nhấn mạnh việc tham gia các buổi đóng vai, diễn án là nhằm rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, hiểu hơn về vai trò, chức năng của các chủ thể khác trong phiên tòa Đề xuất “đào tạo thực tế” thay cho “thực tập” phải được tăng lên, phù hợp với mục đích, yêu cầu của giai đoạn đào tạo này với sự phân bổ quỹ thời gian hợp lý cho việc đào tạo tại toà án, viện kiểm sát
và các văn phòng, công ty luật Đề tài có giá trị thực tiễn cao liên quan đến khía cạnh nâng cao chất lượng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của nguồn luật sư
+ Sách “Vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự” của Nguyễn Văn
Tuân [106] trình bày một các có hệ thống về vị trí, quyền và nghĩa vụ của
Trang 28Luật sư cũng như chức năng của Luật sư trong TTHS, những đóng góp thiết thực của luật sư vào việc làm sáng tỏ sự thật của vụ án, hỗ trợ cho tòa án trong việc ra những bản án hình sự bảo đảm được các yêu cầu của công tác xét xử Cuốn sách là tài liệu tham khảo, bổ ích cho những người làm công tác bào chữa trong việc sử dụng quyền do pháp luật quy định để tự bảo vệ các lợi
ích hợp pháp của mình Tác giả cũng là chủ biên cuốn sách “Luật sư và vấn
đề đạo đức nghề nghiệp” [108] trình bày về thực trạng vấn đề đạo đức của
luật sư và yêu cầu nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp luật sư, các quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp của luật sư và các văn bản pháp luật
về tổ chức và hoạt động luật sư tính đến năm 2004 Cuốn sách chuyên khảo phân tích về vấn đề đạo đức nghề nghiệp đối với luật sư, một định hướng chính trong việc xây dựng, ban hành bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư Việt Nam năm 2011, một tài liệu hữu ích liên quan đến đề
tài luận án nghiên cứu Hay bài “Về sự tham gia của luật sư trong tố tụng
hình sự” [107] của Nguyễn Văn Tuân nêu ra một trong những quyền quan
trọng nhất của bị can, bị cáo là quyền được có người bào chữa Luật sư là một trong những diện người bào chữa cho bị can, bị cáo Bài viết nêu các quyền của luật sư với tư cách người bào chữa, bao gồm quyền tham gia tố tụng hình
sự, giai đoạn tố tụng mà luật sư tham gia và quan điểm của tác giả
+ Sách “Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự và chỉ dẫn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự - dành cho thẩm phán, thẩm tra viên, hội thẩm, kiểm tra viên, luật sư, các học viên tư pháp” [21] Nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự là một hoạt động thường xuyên và quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng và luật sư Sách chỉ ra mối liên
hệ giữa chất lượng nghiên cứu hồ sơ của luật sư có ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả giải quyết vụ án hình sự Theo đó, nếu luật sư nghiên cứu hồ sơ nghiêm túc, chặt chẽ và khoa học thì sẽ nâng cao được chất lượng giải quyết
vụ án, ngược lại làm qua loa sơ sài thì chất lượng giải quyết vụ án không cao,
Trang 29có thể dẫn đến làm gia tăng tỷ lệ án bị hủy, sửa hoặc nghiêm trọng hơn là làm oan, sai người vô tội Chất lượng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự phụ thuộc vào kỹ năng phương pháp nghiên cứu hồ sơ của mỗi luật sư, nếu nghiên cứu
hồ sơ tốt và phương pháp nghiên cứu chuyên sâu, khoa học thì chất lượng nghiên cứu sẽ cao Việc nâng cao chất lượng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án hình
sự, một yêu cầu không thể thiếu trong hoạt động tố tụng hình sự Vì vậy, cuốn sách nhấn mạnh rằng những người tiến hành tố tụng và luật sư cần nâng cao
kỹ năng nghiên cứu hồ sơ góp phần tìm ra sự thật vụ án hình sự
+ Cuốn Sổ Tay Luật Sư [59] do Liên ĐLS Việt Nam và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật thực hiện giới thiệu và phân tích chuyên sâu về luật
sư, hành nghề luật sư và các kỹ năng hành nghề cần có của luật sư trong từng
lĩnh vực cụ thể, bao gồm: Tập 1 - Luật sư và hành nghề luật sư; Tập 2 - Kỹ
năng hành nghề luật sư trong tố tụng hình sự, hành chính, dân sự: giới thiệu
những kỹ năng hành nghề của Luật sư tham gia tranh tụng các loại vụ án hình
sự, hành chính, dân sự và kỹ năng của Luật sư khi tham gia tố tụng trọng tài, trong đó ở Chương 2 Kỹ năng cơ bản của luật sư khi tham gia tố tụng hình sự
đã tập trung làm rõ hơn những kỹ năng cụ thể của Luật sư trong các giai đoạn TTHS khác nhau, bắt đầu từ khi Luật sư nhận được yêu cầu từ phía khách hàng cho đến khi Luật sư tham gia tại phiên tòa Có thể nói cuốn Sổ tay Luật
sư tập 2 đã giới thiệu khá chi tiết các kỹ năng của luật sư khi tham gia TTHS
từ việc tiếp xúc khách hàng, thủ tục đăng ký bào chữa, bảo vệ quyền lợi; tham gia hoạt động điều tra; các kỹ năng trao đổi công việc, phối hợp thực hiện trong quan hệ với viện kiểm sát, tòa án; nghiên cứu hồ sơ vụ án; xây dựng đề cương xét hỏi; chuẩn bị luận cứ bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho khách hàng; nhận thức và kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa; Tập 3: Kỹ
năng hành nghề luật sư tư vấn trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại
Cuốn Sổ tay Luật sư đặc biệt là tập 2 phần 1 và phần 2 có giá trị tham khảo
Trang 30hữu ích đối với phần cơ sở lý luận và phần thực trạng của luận án tác giả đang nghiên cứu
+ “Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư ở Việt Nam
hiện nay” của tác giả Phan Trung Hoài [40] Tác giả đã đưa ra những vấn đề
có tính khái quát chung về nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động luật sư thông qua việc làm rõ các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động của luật sư; khái niệm, vị trí, vai trò của luật sư, nghề luật sư
và pháp luật về luật sư trong đời sống xã hội; trong hoạt động nghề nghiệp và trong hệ thống pháp luật tư pháp của Việt Nam, luận án tập trung phân tích về mặt lý luận nhu cầu khách quan của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với luật sư thông qua các khái niệm khoa học về luật sư, nghề luật sư và pháp luật
về luật sư, phân tích thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật; đánh giá được nhu cầu về hoàn thiện pháp luật về luật sư, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng cơ bản để hoàn thiện pháp luật về luật sư Tuy nhiên, thời điểm thực hiện luận án sử dụng BLTTHS năm 2003 để phân tích, đánh giá thực trạng từ
đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về luật sư, nên đến nay khi BLTTHS năm 2015 đã có hiệu lực thì không còn nhiều giá trị và tính thời sự nữa Nhưng việc phân tích, khái niệm, bản chất, vai trò của nghề luật sư và luật sư ở Việt Nam trong luận án này vẫn là giá trị tham khảo hữu ích để củng
cố và làm rõ thêm về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS ở Việt Nam hiện nay
+ “Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật tố tụng hình sự Việt
Nam” [75] của Nguyễn Trọng Phúc đã đưa ra khái niệm về biện pháp ngăn
chặn, các tiêu chí, căn cứ phân loại, phân biệt các biện pháp ngăn chặn và ý nghĩa của chúng, phân tích nguyên tắc áp dụng, thay thế, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, hệ thống hóa lịch sử ra đời và phát triển của các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật TTHS từ thời kỳ phong kiến cho đến năm 2010, từ
đó rút ra những giá trị tiến bộ, nhân đạo để kế thừa Luận án đánh giá các biện
Trang 31pháp ngăn chặn theo 4 tiêu chí: đối tượng áp dụng, căn cứ áp dụng, người có thẩm quyền áp dụng, thủ tục thực hiện cũng như bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền gây ra, chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân Khái quát các nghiên cứu pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng, thay thế, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, bồi thường thiệt hại, phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan Qua đó, nêu quan điểm và phương hướng hoàn thiện các biện pháp ngăn chặn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong công cuộc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm ở Việt Nam
+ “Nguyên tắc tranh tụng trong TTHS Việt Nam - những vấn đề lý luận
và thực tiễn” [36] của Nguyễn Văn Hiển đã nêu quan điểm tranh tụng là
nguyên tắc cơ bản trong TTHS và khả năng áp dụng nguyên tắc này trong các
mô hình TTHS khác nhau Phân tích, đánh giá về mặt lịch sử và thực tiễn thể hiện nguyên tắc tranh tụng trong xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm của các nước về áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong các mô hình TTHS cụ thể, rút ra kinh nghiệm cho xây dựng và áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong điều kiện Việt Nam Từ đó xác định yêu cầu cơ bản và những điều kiện cần thiết phục vụ cho việc đề xuất các định hướng, giải pháp thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong TTHS trên phương diện lý luận, pháp lý, thực tiễn Hệ thống pháp luật theo truyền thống pháp luật nước XHCN và có ảnh hưởng của truyền thống pháp luật các nước châu Âu lục địa nên mô hình tố tụng xét hỏi có tiếp thu những yếu tố tích cực của mô hình tố tụng tranh tụng Luận án nghiên cứu tranh tụng với tính chất là một nguyên tắc cơ bản trong TTHS và đặt chúng trong mô hình TTHS cụ thể của Việt Nam thời điểm BLTTHS năm 2003 đang có hiệu lực Đây là một tài liệu tham khảo có ích với phần lý luận và quan điểm, giải pháp của luận án
+ “Các chức năng trong tố tụng hình sự ở Việt Nam, những vấn đề lý
luận và thực tiễn” của Nguyễn Mạnh Hùng [44] đưa ra một số lý luận về
chức năng của TTHS; thực trạng các vấn đề đặt ra đối với các chức năng
Trang 32TTHS, qua đó đưa ra các quan điểm, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật
về chức năng của TTHS đáp ứng yêu cầu về CCTP và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta Tác giả đã phân tích làm rõ về cơ sở lý luận, ý nghĩa nội hàm, phạm vi của từng chức năng trong TTHS, xác định được 3 chức năng cơ bản của TTHS là chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử, mỗi chức năng có nhiều chủ thể tham gia, mỗi chủ thể có tư cách khác nhau trong TTHS Trong luận án, tác giả nêu ra chức năng bào chữa hiện diện trong 3 giai đoạn tố tụng (điều tra, truy tố và xét xử), là trao cho người bị buộc tội cơ hội được bảo vệ quyền lợi chính đáng, hỗ trợ họ tự vệ trước các cáo buộc của bên buộc tội, từ đó phản ánh khách quan nguyên tắc công bằng giữa các bên Luận án đã đổi mới quan điểm về nhận thức mô hình TTHS ở Việt Nam không còn nguyên nghĩa là mô hình thẩm vấn mà đã có sự kết hợp hài hòa của 02 mô hình tố tụng: thẩm vấn và tranh tụng Tác giả cũng đưa ra được một số nguyên tắc và một số giải pháp đổi mới chức năng tố tụng trong mô hình TTHS ở Việt Nam Luận án mới chỉ dừng lại trong việc đánh giá chức năng từng mô hình tố tụng, các chủ thể thực hiện chức năng ấy trong việc bảo
vệ quyền con người, quyền công dân mà không đề cập đến quyền, nghĩa vụ của Luật sư trong TTHS
+ “Cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Hiền [37] Tác giả đã đưa ra cơ
sở lý luận, cơ sở thực tiễn và hệ thống giải pháp nhằm xây dựng nguyên tắc tranh tụng trong TTHS Việt Nam và thực trạng, quan điểm giải pháp xây dựng nguyên tắc tranh tụng trong TTHS ở Việt Nam hiện nay Luận án chỉ tập trung vào nguyên tắc tranh tụng dưới góc độ nghiên cứu lịch sử Nhà nước
và pháp luật; đóng góp trong vấn đề xác lập khái niệm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS với những đặc điểm, nội dung, vai trò, ý nghĩa cũng như mối quan hệ của nguyên tắc này với một số nguyên tắc khác của luật TTHS; chỉ ra những bất cập, nguyên nhân trong quy định và thực tiễn áp dụng về tranh tụng
Trang 33của pháp luật TTHS Mối quan hệ giữa nguyên tắc tranh tụng với các nguyên tắc khác trong TTHS Việt Nam: không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Nguyên tắc này đã được sửa đổi,
bổ sung trong luật TTHS 2015: không ai bị coi là có tội cho đến khi được chứng minh theo thủ tục luật định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu
lực pháp luật)
+ Bài “Vai trò của Luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự theo mô
hình tranh tụng ở một số nước” của Nguyễn Ngọc Khánh [48] đề cập đến một
số vấn đề mang tính chất chung nhất về vai trò của luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự theo mô hình TTHS tranh tụng- một mô hình TTHS đang được
áp dụng ở nhiều nước trên thế giới Đồng thời, tác giả đưa ra những bài học kinh nghiệm giúp các nhà làm luật tham khảo trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tố tụng hình sự ở Việt Nam
+ Bài Vai trò của Luật sư trong hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ
Luật Tố tụng hình sự năm 2015 [76] của Bùi Thị Chinh Phương nêu ra Bộ
luật TTHS 2015 đã có nhiều quy định tiến bộ nhằm nâng cao vị thế, vài trò và quyền của luật sư; vai trò của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo đồng thời giúp cho việc giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp luật Bài viết cũng nêu ra một số yêu cầu đối với luật sư để bảo đảm tranh tụng hiệu quả và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của thân chủ Bài viết này là một tài liệu tham khảo liên quan đến đề tài ở khía cạnh góp phần bảo đảm quyền của luật sư trong tranh tụng tại phiên tòa hình sự
+ Bài Quyền gặp, làm việc của luật sư với người bị tạm giữ, tạm giam
trong giai đoạn điều tra [41]của tác giả Phan Trung Hoài nêu ra những khó
khăn thực tế khi thực hiện quyền gặp, làm việc của luật sư với người bị tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra mặc dù quyền này đã được Hiến pháp
2013, Bộ luật TTHS 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Thông tư
Trang 34liên tịch số 01/2018/TTLT ngày 23-1-2018 của Bộ Công an - Bộ Quốc phòng
- TAND tối cao - Viện KSND tối cao quy định cụ thể, rõ ràng Nhiều cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra vẫn nhận thức và yêu cầu luật sư thực hiện quyền này với người bị tạm giữ, tạm giam phải được sự chấp thuận của cơ quan điều tra hoặc theo kế hoạch hỏi cung của điều tra viên; hay trong các buổi làm việc, hỏi cung, thường các luật
sư không được đặt câu hỏi, hoặc nội dung hỏi cũng bị kiểm soát,… mặc dù không có bất cứ từ ngữ nào quy định về việc luật sư gặp khách hàng trong giai đoạn điều tra bắt buộc phải có mặt điều tra viên hoặc phải được sự chấp thuận trước của cơ quan điều tra Qua đó, tác giả đề xuất cơ quan có thẩm quyền sớm ban hành VBQPPL để kịp thời hướng dẫn, quán triệt cơ quan, người tiến hành tố tụng trong bảo đảm quyền gặp riêng của luật sư với người
bị tạm giữ, tạm giam Đây cũng là một phân tích thực tế hữu ích liên quan đến
đề tài nghiên cứu nhằm bảo đảm dân chủ hóa hoạt động tố tụng, tôn trọng sự thật khách quan và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, công dân trong các vụ án hình sự
- Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến thực hiện pháp luật
về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự
+ Đề tài cấp Bộ Tư pháp “Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam: Thực trạng, nhu cầu và định hướng phát triển” do TS Nguyễn Văn Tuân chủ nhiệm đề tài [109] đã chỉ ra sự cấp thiết phải nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về thực trạng nhu cầu hoạt động dịch vụ pháp lý ở Việt Nam với đội ngũ luật sư
là lực lượng nòng cốt trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Đề tài đã nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về dịch vụ pháp lý; nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, bên cạnh nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật và thực tiễn của các nước
về dịch vụ pháp lý mà chủ yếu do các tổ chức hành nghề luật sư và luật sư thực hiện bao gồm cả dịch vụ tư vấn và tham gia tố tụng để rút ra bài học kinh
Trang 35nghiệm ở nước ta Mục tiêu hướng đến bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội, góp phần tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân thông qua xây dựng mô hình dịch vụ pháp lý phù hợp đáp ứng được nhu cầu thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật có liên quan trong đó có LLS 2006 Đề tài này có giá trị tham khảo rất hữu ích đối với luận án ở khía cạnh chức năng xã hội quan trọng của luật sư Việt Nam thông qua các hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý bao gồm hoạt động tham gia tố tụng trong thời kỳ hội nhập sâu rộng
+ Cuốn sách “Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam” [30] của
Nguyễn Minh Đoan chuyên khảo về thực hiện và áp dụng pháp luật, gồm 05
chương, trong đó: Chương 1- Thực hiện pháp luật bàn về khái niệm, mục
đích, ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật, các hình thức thực hiện pháp luật Đưa ra quan điểm về thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật (trang 15); được tiến hành thông qua các hình thức: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp
luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật (trang 15-18) Chương 2 Áp dụng
pháp luật Chương 3 Quy trình thực hiện và áp dụng pháp luật thì quy trình
thực hiện pháp luật gồm hai giai đoạn: chuẩn bị đưa văn bản hay quy định pháp luật vào thực tiễn và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật trên thực
tế Chương 4 - Những bảo đảm thực hiện pháp luật, tác giả dành chương này
để phân tích một số yếu tố và điều kiện cơ bản bảo đảm, gồm: Chất lượng của
hệ thống pháp luật thực định; trình độ ý thức pháp luật trong xã hội và các
điều kiện và môi trường thực hiện pháp luật (trang 49-75) Chương 5- Hiệu
quả thực hiện pháp luật ở Việt Nam luận bàn về các tiêu chí đánh giá hiệu quả
thực hiện pháp luật, thực trạng hiệu quả thực hiện pháp luật ở Việt Nam và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Trang 36(trang 119-161) Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích trong phần cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS ở Việt Nam
+ PGS TS Nguyễn Văn Mạnh (chủ biên), “Thực hiện pháp luật - những
vấn đề lý luận và thực tiễn” [67] Trong công trình này các tác giả đã phân
tích các vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật (khái niệm, chủ thể, nội dung, hình thức, các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật), những vấn đề đặt ra trong thực tiễn thực hiện pháp luật ở Việt Nam Đây là những vấn đề lý luận cơ bản
về thực hiện pháp luật có giá trị tham khảo khi nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ luật sư trong HĐTTHS
+ Vấn đề thực hiện pháp luật cũng được đề cập và phân tích tương đối
sâu dưới góc độ xã hội học pháp luật có cuốn sách: Xã hội học pháp luật [70] của TS Ngọ Văn Nhân (Tái bản lần thứ nhất, có chỉnh sửa, bổ sung), Nxb
Hồng Đức, Hà Nội, 2012 (408 trang) Cuốn sách dành 02 chương phân tích vấn đề thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật dưới góc độ xã hội học pháp
luật (Chương VII- Các khía cạnh xã hội của hoạt động thực hiện pháp luật và Chương VIII- Các khía cạnh xã hội của hoạt động áp dụng pháp luật) Tại
hai chương này, tác giả trình bày khái quát về hoạt động thực hiện pháp luật
và áp dụng pháp luật; phân tích nội dung nghiên cứu các khía cạnh xã hội của hoạt động thực hiện pháp luật như: sự phù hợp giữa các quy tắc của chuẩn mực pháp luật với lợi ích của chủ thể thực hiện pháp luật; cơ chế thực hiện pháp luật; các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện pháp luật Tác giả phân tích nội dung nghiên cứu các khía cạnh xã hội của hoạt động áp dụng pháp luật về mối quan hệ giữa chính trị và áp dụng pháp luật; mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và quyết định áp dụng pháp luật; vai trò của các nhân tố chủ quan và khách quan trong hoạt động áp dụng pháp luật; vấn đề hậu áp dụng pháp luật Cuốn sách cũng dành nhiều trang viết để phân tích, luận giải những biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp
Trang 37luật Cuốn sách có giá trị tham khảo đối với việc khảo sát thực tiễn phục vụ việc viết luận án ở những vấn đề có liên quan
+ Tài liệu “Khảo sát Luật sư chỉ định theo pháp luật tố tụng hình sự và
thực tiễn tại Việt Nam” do Văn phòng luật sư NHQuang & Cộng sự thực hiện
trong khuôn khổ của Dự án “Tăng cường Năng lực Hội Luật Gia Việt Nam”
do UNDP tài trợ [121] đã nghiên cứu về quyền bào chữa và người bào chữa chỉ định tại Việt Nam theo Công ước về Quyền dân sự và Chính trị (ICCPR) trong các vụ án mà theo quy định của pháp luật đòi hỏi phải có người bào chữa thông qua khảo sát thực tế tại các Đoàn luật sư ở Việt Nam Đây là một tài liệu góp ý trong việc xây dựng dự thảo Bộ luật TTHS 2015 Qua đó, đã làm rõ “quyền được xét xử công bằng”,“quyền bào chữa” theo ICCPR, có liên quan trực tiếp đến luật sư và việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của luật sư, đặc biệt là luật sư bào chữa chỉ định, vì vậy là tài liệu tham khảo hữu ích đối với
đề tài luận án
+ “Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong TTHS” của
Hoàng Thị Sơn [93] phân tích vai trò của người bào chữa trong TTHS, tập trung vào sự tham gia tố tụng của luật sư với tư cách người bào chữa là chính, không đi sâu phân tích đối với bào chữa viên nhân dân và người đại diện Luận
án cơ bản đã giải quyết có tính hệ thống các vấn đề về thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong TTHS, đưa ra được các khái niệm quyền bào chữa, cơ sở
để quy định quyền bào chữa, phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện quyền bào chữa ở nước ta và đưa ra các kiến nghị của tác giả về hoàn thiện pháp luật và giải pháp khác nâng cao hiệu quả thực hiện quyền bào chữa
+ Đề tài “Hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự” [120] của Ngô Thị Ngọc Vân đưa ra khái niệm Hoạt
động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là các công việc, thao tác nghề nghiệp do luật sư tiến hành trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên cơ sở quy định của pháp luật và quy tắc đạo đức luật
Trang 38sư nhằm chống lại việc buộc tội, xác định sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của
họ, góp phần xác định sự thật vụ án Hoạt động bào chữa của Luật sư trong xét xử sơ thẩm góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả xét xử vụ án hình sư nhưng vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế trong thực tiễn Nguyên nhân tồn tại đó
do bất cập trong quy định của pháp luật cũng như nhận thức và tổ chức thực hiện hoạt động bào chữa trên thực tế Tác giả nhận định trong quá trình cải cách tư pháp cần củng cố, tăng cường tổ chức và hoạt động của Luật sư và phải đặt trong tổng thể cải cách tư pháp, trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam
+ Đề tài “Bào chữa chỉ định theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
cho người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” [38]
của Trương Minh Hiếu cơ bản trình bày được các vấn đề lý luận về bản chất pháp lý, xác định được giới hạn và cách thức điều chỉnh của pháp luật TTHS đối với chủ thể đặc biệt này và luật sư trong vai trò người bào chữa chỉ định chiếm đa số; một quy định có tính nhân đạo của Nhà nước và góp phần vào việc nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng Người viết đã đưa ra một số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện quyền bào chữa tốt hơn của người dưới 18 tuổi phạm tội
+ “Thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật” [115] của Đào Trí
Úc luận bàn về bản chất việc thực hiện pháp luật là sự chuyển hóa các yêu cầu chung được xác định trong các nguyên tắc và quy phạm pháp luật vào trong các hành vi cụ thể của các chủ thể Thực hiện pháp luật là hướng đến kết quả tích cực của quá trình điều chỉnh pháp luật, mà điều chỉnh pháp luật cần bảo đảm hai yêu cầu: thực hiện hành vi hợp pháp hoặc không thực hiện hành vi trái pháp luật Ngoài ra, quá trình và kết quả của việc thực hiện pháp luật chính là thước đo hiệu quả điều chỉnh pháp luật Với những yếu tố thuộc về nội dung và hình thức của quá trình thực hiện pháp luật cũng như các yếu tố
Trang 39mang tính tác nhân của quá trình đó, tác giả đã thể hiện được vị trí và tầm quan trọng của thực hiện pháp luật trong hệ thống pháp lý Cụ thể, thực hiện pháp luật là một phạm vi độc lập (các hình thức thực hiện) gắn với hoạt động của các chủ thể tương ứng, theo đó là những nguyên tắc, những phạm vi thẩm quyền nội dung phương pháp và trình tự, thủ tục thực hiện pháp luật tương ứng và thích hợp; thực hiện pháp luật là tổng thể những hoạt động và hành vi hết sức đa dạng ở những cấp độ khác nhau, từ hành vi của cá nhân công dân trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ chủ thể pháp lý của mình, việc thực hiện các điều kiện tổ chức và hoạt động của pháp nhân, hay thực hiện các thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan công quyền… cho đến hoạt động lập pháp của Quốc hội Tác giả nhận định thực hiện pháp luật dù hiểu theo nghĩa là một quá trình hay theo nghĩa là kết quả của quá trình đó thì đều đóng vai trò quan trọng đối với việc hình thành ý thức pháp luật và văn hóa pháp luật Như vậy, ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật với tính cách là những tác nhân thúc đẩy hiệu quả thực hiện pháp luật cũng chịu sự tác động mà chính quá trình và kết quả của việc thực hiện pháp luật tạo ra
Theo tác giả thì sử dụng pháp luật thông qua việc sử dụng các thẩm quyền luật định cũng không thể là một sự tùy tiện mà ngược lại cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng, thận trọng Hoạt động áp dụng pháp luật cũng góp phần
bổ sung pháp luật, làm phong phú các nguồn sáng kiến pháp luật, gắn bó chặt chẽ với nhu cầu giải thích pháp luật, có tiềm năng đối với việc bổ sung sửa đổi pháp luật hoặc ban hành pháp luật mới Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra vấn
đề cơ chế thực hiện pháp luật và những điều kiện bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật Trong đó, thực hiện pháp luật là hành vi và hoạt động của con người, dù họ là cá nhân, công dân hay cán bộ, công chức của cơ quan công quyền Đối tượng của việc thực hiện pháp luật là con người Nhận thức về pháp luật, mức độ chia sẻ những giá trị và đòi hỏi của các quy định pháp luật cần được thực hiện cũng là tiền đề quan trọng và có mối liên hệ mật thiết với
Trang 40thực hiện pháp luật Có thể thấy rằng, bài viết đã có những đóng góp nhất định về lý luận thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật ở Việt Nam Bên cạnh những công trình khoa học nêu trên thì cũng có những bài viết
có liên quan đến thực hiện pháp luật có thể kể đến như: GS TSKH Đào Trí
Úc, Xã hội học thực hiện pháp luật - những khía cạnh nhận thức cơ bản,
[114] Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 02/2005, Hà Nội; TS Tạ Thị Minh
Lý, Bàn về tổ chức thực hiện pháp luật, [66], Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp,
số 2+3/2011, Hà Nội; PGS.TS Phan Trung Lý, Bảo đảm thi hành pháp luật ở
địa phương - khó khăn, thuận lợi và giải pháp [65], Tạp chí Tổ chức Nhà
nước, số tháng 4/2009, Hà Nội; TS Nguyễn Sĩ Dũng và ThS Hoàng Minh
Hiếu, Việc tổ chức thực hiện pháp luật trong bối cảnh xây dựng Nhà nước
pháp quyền ở nước ta, [20], Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 13/2010, Hà
Nội Nhóm các bài viết này đã nêu khái quát về hoạt động thực hiện pháp luật trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể như trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền hay tại địa phương; luận bàn về cách tổ chức thực hiện cũng như các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật theo các hình thức cụ thể
Những công trình trên đây cũng gợi mở cho tác giả những nội dung lý luận về thực hiện pháp luật, thực hiện pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta để vận dụng vào nghiên cứu đề tài “Thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự
ở Việt Nam hiện nay”
1.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.2.1 Kết quả tình hình nghiên cứu
Thứ nhất, pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư và thực hiện pháp
luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS có vai trò quan trọng trong bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội (chủ yếu), bị hại, đương sự - người yếu thế trong vụ án hình sự, góp phần