1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hành vi của trẻ mẫu giáo có phong cách nhận thức khác nhau trong hoạt động vui chơi

27 893 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu hành vi của trẻ mẫu giáo có phong cách nhận thức khác nhau trong hoạt động vui chơi
Tác giả Trần Thị Nga
Người hướng dẫn PGS. TS. Lê Đức Phúc, PGS. TS. Nguyễn Thạc
Trường học Viện Khoa Học Giáo Dục Việt Nam
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 313,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phong cách nhận thức , đối tượng nghiên cứu của tâm lí học

Trang 1

trÇn thÞ nga

nghiªn cøu hµnh vi cña trÎ mÉu gi¸o

nghiªn cøu hµnh vi cña trÎ mÉu gi¸o

Trang 2

Cã thÓ t×m hiÓu luËn ¸n t¹i:

- Th− viÖn Quèc gia

- Th− viÖn ViÖn Khoa häc Gi¸o dôc ViÖt Nam

PGS TS Lª §øc Phóc

Trang 3

của trẻ HĐVC còn là phương tiện giáo dục trẻ toàn diện Khi tham gia vào các trò chơi, trẻ em ở cùng một độ tuổi, trong cùng một giai đoạn phát triển tâm lý, thể hiện các hành vi (HV) phong phú và không hoàn toàn giống nhau Quan sát hành vi của trẻ em trong vui chơi, xu hướng lựa chọn các loại trò chơi khác nhau, phản ứng với các tác động bên ngoài và trải nghiệm các sắc thái cảm xúc của trẻ cho thấy những khác biệt cá nhân rõ rệt giữa trẻ về tính tích cực, tính linh hoạt, tính cảm xúc ở các hành vi Ví dụ, một số trẻ có xu hướng thích chơi các trò chơi vận động, xếp hình, trong khi một số khác lại thích chơi các trò chơi đóng vai Hay có trẻ thích chơi cùng bạn bè, lại có trẻ thích chơi một mình Hiểu và giải thích được sự khác biệt cá nhân về hành vi trong HĐVC của trẻ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác tổ chức hướng dẫn trẻ chơi

Việc nghiên cứu lý luận cho thấy sự khác biệt cá nhân trong hành vi của trẻ được qui định bởi sự tác động của nhiều yếu tố Một trong các yếu tố đó là phong cách nhận thức (PCNT) của trẻ Do đó việc tìm hiểu HV của trẻ có PCNT khác nhau trong HĐVC là thiết thực và cần thiết Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các nhà giáo dục phát hiện ra con đường phát triển HĐVC của cá nhân mỗi trẻ, từ đó tìm ra các biện pháp hướng dẫn HĐVC phù hợp để mỗi trẻ có thể phát triển nhân cách và tâm lý một cách tích cực nhất, phù hợp với PCNT của trẻ

1.2 Phong cách nhận thức, đối tượng nghiên cứu của tâm lý học, được miêu tả là cách thức ổn định đặc trưng của cá nhân trong hoạt động nhận thức PCNT tuy không liên quan trực tiếp đến nội dung và trình độ nhận thức của cá nhân, nhưng những khác biệt cá nhân trong tổ chức, cấu trúc và hình thức nhận thức ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động nhận thức nói riêng và hoạt động tâm lý nói chung của con người Hiểu biết về PCNT của trẻ em không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với lĩnh vực lý luận về sự khác biệt cá nhân trong tâm lý học mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục trẻ

Trong giáo dục mầm non (GDMN), cách tiếp cận chương trình phù hợp với

sự phát triển của trẻ nhận được sự đồng tình của đông đảo các nhà tâm lý học và giáo dục học trên thế giới Chương trình theo hướng này thừa nhận sự khác biệt cá nhân trong PCNT, phong cách học tập, trong sự phát triển năng lực, hứng thú, cách thức, thời gian, nhịp độ và tốc độ phát triển tâm lý của cá nhân mỗi trẻ Kiến thức về PCNT của trẻ cho phép tạo ra sự phù hợp tối ưu giữa trẻ và nhà giáo dục, trẻ và nguồn học liệu, trẻ và phương pháp giáo dục - dạy học

1.3 PCNT trở thành đối tượng nghiên cứu của tâm lý học hơn 6 thập kỷ qua và hiện nay vẫn tiếp tục thu hút sự quan tâm của các nhà tâm lý học Tuy nhiên, trong lĩnh vực này vẫn tồn tại nhiều vấn đề tranh cãi Có thể liệt kê những vấn đề nhạy cảm trong nghiên cứu PCNT sau: (1) không nhất quán trong khái niệm; (2) chưa thật rõ ràng trong phân biệt PCNT với các cấu trúc tâm lý khác như năng lực, xu hướng, cảm xúc; và (3) phương pháp đo lường các thành tố tâm

lý biểu hiện của PCNT Tương tự như vậy, lý luận về trò chơi xuất hiện trong các tác phẩm của các nhà khoa học từ thế kỷ 19, nhưng cho đến nay, khái niệm, bản

Trang 4

chất HĐVC chưa bao giờ được thống nhất Một vài vấn đề chưa được quan tâm thích đáng như đặc điểm vi mô của HĐVC cũng như sự khác biệt cá nhân trong hành vi chơi của trẻ em Đặc biệt, hệ thống các công trình nghiên cứu về PCNT

và HĐVC của trẻ em cho thấy vấn đề cụ thể về mối quan hệ giữa PCNT và hành

vi của trẻ trong HĐVC ít được đề cập tới, nhất là ở Việt Nam

Mặt khác, thực tiễn GDMN ở Việt Nam hiện nay cho thấy bậc học đã và

đang đổi mới mục tiêu, nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục trẻ Một trong những phương hướng quan trọng của mục tiêu đổi mới là từng bước thực hiện quan điểm giáo dục, dạy học hướng vào trẻ, tôn trọng nhu cầu, hứng thú, tính tích cực và những khác biệt cá nhân của mỗi trẻ Đổi mới tổ chức HĐVC cho trẻ ở các trường mầm non (MN) cũng không nằm ngoài định hướng này

Đề tài: "Nghiên cứu hành vi của trẻ mẫu giáo có phong cách nhận thức khác nhau trong hoạt động vui chơi" được chọn và nghiên cứu xuất phát từ các cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và bối cảnh Việt Nam đã nêu trên

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm mục đích xác định PCNT độc lập và PCNT phụ thuộc tương

đối vào trường nhận thức (PCNT ĐL và PCNT PT) và hành vi trong HĐVC của trẻ em mẫu giáo; làm bộc lộ sự khác biệt cá nhân về hành vi của trẻ có PCNT ĐL (trẻ ĐL) và trẻ có PCNT PT (trẻ PT) trong trò chơi đóng vai theo chủ đề (TCĐVTCĐ) Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp hướng dẫn HĐVC của trẻ

ĐL và trẻ PT nhằm phát triển các hành vi chơi của trẻ theo hướng tích cực

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Hành vi trong HĐVC của trẻ em mẫu giáo có PCNT độc lập và PCNT phụ thuộc tương đối vào trường nhận thức

3.2 Khách thể nghiên cứu: Trẻ em mẫu giáo 3 - 6 tuổi ở các lớp mẫu giáo thành phố Hà Nội Khách thể nghiên cứu bao gồm 236 trẻ

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ nghiên cứu biểu hiện sự khác biệt cá nhân trong HV của trẻ mẫu giáo có PCNT ĐL và PCNT PT khi tham gia vào các TCĐVTCĐ Các HV được nghiên cứu là (1) quan hệ xã hội (QHXH), quan hệ cá nhân với giáo viên (QHGV) và quan hệ cá nhân với bạn bè (QHBB); (2) hành vi tượng trưng: Sử dụng vật thay thế (VTT), thực hiện hành động tượng trưng (HĐTT), tạo tình huống tưởng tượng (THTT) và đóng vai (ĐV); và (3) vai trò thủ lĩnh (VTTL)

5 Giả thuyết khoa học

Trẻ mẫu giáo đã có biểu hiện PCNT cá nhân theo hướng độc lập tương đối hoặc phụ thuộc tương đối vào trường nhận thức Trẻ có PCNT ĐL và trẻ có PCNT PT sẽ có những biểu hiện hành vi ở các mức độ khác nhau khi tham gia vào các TCĐVTCĐ trong HĐVC Trong tổ chức HĐVC, nếu tác động bằng các biện pháp phân hóa, phù hợp với PCNT của trẻ thì hành vi chơi của trẻ sẽ thay

đổi và phát triển theo hướng tích cực, có lợi

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu hành vi của trẻ mẫu giáo có phong cách nhận thức khác nhau trong hoạt động vui chơi

6.2 Xác định rõ phong cách nhận thức độc lập, phong cách nhận thức phụ thuộc của trẻ và hành vi của trẻ tương ứng với PCNT đó trong TCĐVTCĐ

Trang 5

6.3 Đề xuất và tổ chức thực nghiệm tác động một số biện pháp phát triển hành vi chơi của trẻ có PCNT ĐL và trẻ có PCNT PT trong các TCĐVTCĐ

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

8.1.2 Luận án đã phân tích khái niệm, bản chất của PCNT ĐL và PCNT

PT Kết quả nghiên cứu là đã xây dựng được khung lý luận cho hướng nghiên cứu

sự khác biệt cá nhân trong HĐVC của trẻ em và xác định mô hình khái quát về sự khác biệt cá nhân trong HV của trẻ có PCNT ĐL và trẻ có PCNT PT khi tham gia vào các TCĐVTCĐ Cụ thể: Trẻ PT biểu hiện xu hướng hướng tới các mối quan

hệ cá nhân Trẻ ĐL biểu hiện xu hướng hướng tới công việc và thế giới vật thể

Hệ quả là trẻ PT có ưu thế hơn trong lĩnh vực xã hội, ngược lại trẻ ĐL lại tỏ ra ưu thế hơn trong giải quyết các vấn đề trí tuệ

8.2 Về mặt thực tiễn

8.2.1 Luận án đã xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá HV của trẻ trong TCĐVTCĐ: QHXH, QHGV, QHBB, biểu hiện VTTL, biểu hiện HVTT (sử dụng VTT, HĐTT, THTT và ĐV) Các tiêu chí và các biểu hiện HV được phân tích cụ thể về mặt lý luận và được kiểm chứng bằng kết quả nghiên cứu thực nghiệm

8.2.2 Luận án đã làm sáng tỏ sự khác biệt cá nhân về HV trong TCĐVTCĐ của trẻ có PCNT ĐL và trẻ có PCNT PT Những đặc điểm nhân cách khác nhau đặc trưng cho trẻ ĐL và trẻ PT dẫn đến sự khác nhau trong biểu hiện hành vi QHXH, QHGV, QHBB, sử dụng VTT, thực hiện HĐTT, tạo THTT, ĐV

và VTTL trong TCĐVTCĐ Trẻ PT biểu hiện mức độ QHXH, QHGV, QHBB và

ĐV cao hơn trẻ ĐL, ngược lại trẻ ĐL có mức độ biểu hiện HV sử dụng VTT, thực hiện HĐTT, tạo THTT và VTTL cao hơn trẻ PT Căn cứ vào sự khác biệt này, có thể phân trẻ thành hai nhóm có phong cách chơi khác nhau (PCC): Phong cách chơi cá nhân - công việc và phong cách chơi tình cảm - xã hội

8.2.3 Luận án đã xây dựng và kiểm định 6 biện pháp hướng dẫn (BPHD) như các biện pháp tác động sư phạm nhằm phát triển HV chơi và nâng cao chất lượng HĐVC của trẻ ĐL và trẻ PT, gồm: (1) xây kế hoạch phát triển HV chơi

Trang 6

phù hợp với PCNT của trẻ; (2) lựa chọn mức độ can thiệp vào trò chơi phù hợp với PCNT của trẻ; (3) luyện tập HV chơi phù hợp với PCNT của trẻ qua “mẫu”

HV của GVvà trò chơi múa rối, đóng kịch; (4) tổ chức các nhóm chơi không cùng độ tuổi; (5) điều chỉnh HV chơi phù hợp với PCNT của trẻ và (6) ghép đôi trẻ PT và trẻ ĐL trong nhóm chơi Các BPHD đề xuất có ảnh hưởng tích cực lên

sự phát triển các hành vi chơi của cả 2 nhóm trẻ, trẻ PT và trẻ ĐL Các BPHD, một mặt đã có tác dụng phát huy ưu thế của những HV phù hợp với PCNT của trẻ: QHXH và ĐV đối với trẻ PT; VTT, HĐTT, THTT và VTTL đối với trẻ ĐL, mặt khác đã phát triển ở trẻ những HV đặc trưng cho PCNT khác với PCNT của trẻ: QHXH và ĐV đối với trẻ ĐL; VTT, HĐTT, THTT và VTTL đối với trẻ PT

Hệ quả là các BPHD đã ảnh hưởng tích cực đến việc phát triển HĐVC của trẻ

8.3 Khả năng triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu

Thứ nhất, các kết quả nghiên cứu mới về HĐVC, tổ chức HĐVC cho trẻ trong luận án có thể đưa vào chương trình GDMN và chương trình đào tạo GVMN như lý luận về PCNT và sự khác biệt cá nhân trong sự phát triển tâm lý trẻ em, tổ chức HĐVC phù hợp với PCNT và PCC của cá nhân mỗi trẻ

Thứ hai, các tiêu chí đánh giá và thang trắc lượng HV chơi đã xây dựng cho luận án có thể sử dụng như một công cụ giúp GVMN quan sát và đánh giá HĐVC của trẻ; GVMN và cha mẹ trẻ có thể sử dụng các công cụ mà luận án đã

sử dụng để xác định PCNT ĐL và PCNT PT của trẻ

Thứ ba, kết quả nghiên cứu của luận án cả về mặt lý luận và thực tiễn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ giảng dạy các cơ sở đào tạo GVMN, GVMN và cán bộ quản lý bậc học nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả tổ chức HĐVC cho trẻ em mẫu giáo

Thứ tư, luận án mở ra hướng phát triển nghiên cứu mối quan hệ đa chiều giữa PCNT ĐL và PCNT PT, giới, độ tuổi với các HV chơi khác của trẻ để có thể rút ra những kết luận và ứng dụng sư phạm trong thực tiễn giáo dục

9 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần phụ lục (62 trang, 21 phụ lục), danh mục các tài liệu tham khảo (8 trang, 125 tài liệu) và danh mục các công trình đã công bố (1 trang, 6 công trình), nội dung luận án được trình bày trong 185 trang, gồm:

Mở đầu (7 trang)

Chương một: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu (68 trang)

Chương hai: Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu (30 trang) Chương ba: Kết quả nghiên cứu (74 trang)

Kết luận và kiến nghị (6 trang)

Chương 1 Cơ sở lý luận nghiên cứu hành vi của trẻ mẫu giáo

có PCNT khác nhau trong HĐVC 1.1 tổng quan vài nét lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Có rất nhiều tác giả nghiên cứu về HĐVC của trẻ em như J Piaget (Thụy Sĩ), S Freud (áo), A N Lêônchiép, D B Encônhin, P G Xamarukôva v.v

Trang 7

(Liên Xô), A Almy, J V Hoorn, J E Johnson v.v (Mỹ), J R Moyles (Anh),

M A Ebbeck, G Anne (úc), v.v Tất cả các nhà tâm lý học và giáo dục học trên thế giới đều gặp nhau tại một điểm trong lĩnh vực này là khẳng định vai trò to lớn của HĐVC đối với cuộc sống và sự hình thành nhân cách của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo Trong tâm lý học hiện đại, việc nghiên cứu HĐVC của trẻ em đã trở thành một chuyên ngành riêng là Tâm lý học trò chơi Mặc dù trò chơi xuất hiện trong lịch sử xã hội rất sớm, song các học thuyết về vui chơi mới chỉ được hình thành vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 Nghiên cứu các sách đã dẫn, có thể phân các học thuyết về vui chơi thành 3 nhóm chính: Nhóm các học thuyết cổ điển (quan

điểm sinh học), nhóm các học thuyết động lực (quan điểm chủ quan cá thể) và học thuyết hoạt động (quan điểm xã hội)

Tiếp cận với một số lượng khiêm tốn các công trình nghiên cứu về vui chơi của trẻ em trên thế giới hiện nay, cho thấy nghiên cứu vui chơi của trẻ em đã đi theo các xu hướng chủ yếu sau:

- Nghiên cứu bản chất và các đặc điểm đặc trưng, thành phần cấu trúc của trò chơi, vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đánh giá HĐVC

- Nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển của vui chơi trong đời sống trẻ

- Nghiên cứu đặc điểm phát triển HĐVC của trẻ em (chủ đề, nội dung, hành động chơi và quan hệ của trẻ)

- Nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động vui chơi và các chức năng tâm

lý khác và vai trò của vui chơi đối với sự phát triển tâm lý, nhân cách trẻ

- Nghiên cứu các điều kiện ảnh hưởng đến sự phát triển HĐVC của trẻ bao gồm môi trường vật chất và môi trường xã hội

- Nghiên cứu của sự khác biệt cá nhân trong HĐVC của trẻ

Hướng nghiên cứu cuối cùng tuy không phổ biến như các hướng khác nhưng cũng thu hút được sự quan tâm của các nhà TLH và GDH trong thời gian gần đây, nhất là ở các nước phương tây Sự khác biệt cá nhân trong hành vi chơi của trẻ được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau

Phong cách nhận thức thể hiện sự khác biệt cá nhân trong nhận thức Vấn

đề sự khác biệt cá nhân trong hành vi, hoạt động đặc biệt là năng lực của con người có gốc rễ trong các tác phẩm kinh điển của các nhà sinh lý học, tâm lý học, giáo dục học, xã hội học và triết học Nga thế kỷ 18, 19 (V P Paplôp, K O Usinxki, V G Belinxki, H A Đôbrôliubôp, A Ph Lazurxki, P Ph Lexgapht,

V M Bexcherep) Francis Galton (1822 - 1911) được coi là người đầu tiên nghiên cứu sự khác biệt tâm lý cá thể một cách hệ thống

Trong những năm 40, 50 thế kỷ trước, vấn đề PCHĐ cá nhân được các nhà TLH Liên Xô nghiên cứu khá sâu rộng Các hướng nghiên cứu chính là: (1) nghiên cứu động thái của các quá trình tâm lý và hành vi; (2) nghiên cứu phong cách cá nhân trong các dạng hoạt động khác nhau; (3) nghiên cứu PCHĐCN trong mối quan hệ với khí chất và kiểu hoạt động thần kinh; (4) nghiên cứu nguồn gốc, sự phát sinh, phát triển và khả năng thay đổi của PCHĐCN

PCNT là một dạng PCHĐ cá nhân biểu hiện phương thức và cách thức riêng mà cá nhân sử dụng trong quá trình nhận thức Trong lĩnh vực nghiên cứu PCNT, các tác giả đã đưa ra những cách hiểu khác nhau về bản chất, nguồn gốc

và cách phân loại PCNT như: Cross, Kogan, Messick, Vernon, Witkin (Mỹ);

Trang 8

Goldstein và Blackman (Anh) Messick đã liệt kê 19 loại PCNT khác nhau Trong số các loại PCNT, PCNT “Độc lập và phụ thuộc tương đối vào bối cảnh (hay trường) nhận thức” được nghiên cứu sâu rộng hơn cả Một số tác giả đề xuất rằng PCNT ĐL và PCNT PT là một biến số dẫn đến sự khác biệt cá nhân trong hành vi chơi của trẻ em Theo hướng nghiên cứu này phải kể đến các tác giả Beller, Coates, Lord & Jakabovics, Jenning, Steel, Saracho

1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước

ở Việt Nam, lý luận về trò chơi trẻ em luôn giữ vị trí nhất định trong các

đề tài nghiên cứu của các nhà TLH và GDH, chương trình đào tạo giáo viên nghành GDMN, chương trình giáo dục mầm non Tác giả Nguyễn Thị Ngọc

Chúc trong tác phẩm “Hướng dẫn tổ chức hoạt động vui chơi” (1981) đã đề cập

đến các loại trò chơi, mức độ và các mối quan hệ trong TCTE Trong một loạt các

công trình của mình như “Giáo dục trẻ trong nhóm bạn bè”, “Tâm lý học trẻ em trước tuổi đi học” (1988), “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mâm non” (1994), “Trò

chơi của trẻ em” (2000), tác giả Nguyễn ánh Tuyết đã phân tích rất cụ thể bản chất xã hội lịch sử của TCTE, đặc điểm và cấu trúc và sự phát triển TCĐVTCĐ của trẻ mẫu giáo Vấn đề HĐVC của trẻ cũng được nhiều tác giả khác đề cập đến như Đào Thanh Âm (1992), Ngô Công Hoàn (1995), Lê Xuân Hồng (1996), Nguyễn Xuân Thức (1997), Nguyễn Thanh Hà (2002)

Vấn đề tính không đồng đều và sự khác biệt cá nhân trong sự phát triển tâm lý trẻ em được nhiều tác giả nhắc đến Trong lĩnh vực tâm lý học quản lý, vấn đề phong cách hoạt động lãnh đạo, quản lý được đề cập trực tiếp và phổ biến hơn so với các chuyên ngành tâm lý học khác Có thể kể đến các tác giả như Nguyễn Bá Dương và Lê Doãn Tá, Trần Ngọc Khuê, Đỗ Long và Vũ Dũng, Lê Tuấn Lộc, Vũ Duy Yên Nghiên cứu của Lê Văn Hảo (2004) và Nguyễn Công Khanh (2007) có lẽ là một trong số ít công trình đề cập trực tiếp đến sự khác biệt cá nhân trong hoạt động

Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi rút ra kết luận sau:

1 Các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn trong và ngoài nước đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về HĐVC và sự khác biết cá nhân trong HV chơi của trẻ, về PCNT nói chung và PCNT ĐL và PCNT PT nói riêng cũng như mối quan

hệ của nó đối với sự khác biệt cá nhân trong HV của trẻ Những thành tựu nghiên cứu về HĐVC và PCNT chứa đựng những nội dung quan trọng trực tiếp, làm cơ

sở lý luận cho việc nghiên cứu HV của trẻ MG có PCNT khác nhau trong HĐVC

2 Nghiên cứu nguồn tư liệu được tiếp cận cho thấy các công trình nghiên cứu liên quan đến PCNT và HV chơi của trẻ chiếm một số lượng khá khiêm tốn Các công trình này mới dừng lại ở việc nghiên cứu một số HV chơi đơn lẻ của trẻ

có PCNT khác nhau, chưa mang tính hệ thống và chưa xây dựng được các tiêu chí đánh giá cụ thể cũng như đề xuất các biện pháp phát triển HV chơi của trẻ Tuy nhiên kết quả thu được từ các công trình tương đối nhất quán: PCNT ĐL và PCNT PT là một biến số dẫn đến sự khác biệt cá nhân trong HV chơi của trẻ; tác

động tích cực của giáo dục có thể làm thay đổi HV của trẻ có PCNT khác nhau

3 ở Việt Nam chưa có công trình nào tiến hành nghiên cứu một cách cơ bản và hệ thống hành vi của trẻ có PCNT ĐL hay PCNT PT trong HĐVC, đồng

Trang 9

thời vạch ra con đường, biện pháp hướng dẫn HĐVC phù hợp với PCNT của trẻ

Đây là mảng còn bỏ ngỏ của tâm lý học trẻ em lứa tuổi mẫu giáo và cũng chính

là lý do đề tài “Nghiên cứu hành vi của trẻ mẫu giáo có phong cách nhận thức khác nhau trong hoạt động vui chơi ” được chọn và nghiên cứu

1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Lý luận về hành vi trong HĐVC của trẻ mẫu giáo

1.2.1.1 Hoạt động và hoạt động chủ đạo

Hoạt động được hiểu là phương thức tác động qua lại tích cực giữa con người và thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con người Hoạt động chủ đạo là hoạt động mà sự phát triển của hoạt động ấy qui

định những biến đổi chủ yếu nhất trong các quá trình tâm lý và trong những đặc

điểm tâm lý của nhân cách trẻ ở giai đoạn đó

1.2.1.2 HĐVC là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo

a Khái niệm HĐVC: HĐVC là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, là hoạt động tự nguyện, tự do, ham thích của trẻ trong một hoạt động hoặc một trò chơi HĐVC đem lại cho trẻ trạng thái tinh thần vui vẻ, phấn khích, thoải mái và tạo ra sự phát triển tâm lý ở trẻ Động cơ của HĐVC chủ yếu nằm ở quá trình thực hiện hành động chứ không hoàn toàn bị chi phối bởi kết quả của hoạt động

b Trò chơi đóng vai theo chủ đề

- Khái niệm: TCĐVTCĐ là loại trò chơi mà trẻ mô phỏng lại một mảng nào đó của cuộc sống người lớn trong xã hội bằng việc nhập vào một nhân vật nào đó (hay còn gọi là đóng vai) trong một tình huống tượng trưng để thực hiện chức năng xã hội của vai đóng

- Đặc trưng cơ bản của TCĐVTCĐ: Tính có chủ đề, tính tượng trưng hay mô phỏng và tính sáng tạo

- Cấu trúc của TCĐVTCĐ: Chủ đề chơi; nội dung chơi; vai chơi và hành

động chơi; đồ chơi và hoàn cảnh hay tình huống chơi; các quan hệ qua lại của trẻ trong trò chơi; luật chơi

1.2.1.3 Hành vi của trẻ trong TCĐVTCĐ

a Khái niệm hành vi

HV con người là biểu hiện bên ngoài của hoạt động được điều chỉnh bởi cấu túc tâm lý bên trong của chủ thể Trong nội dung của hành vi có tri thức, thành tố bắt buộc của hành vi Hành vi được hiểu ngầm là hoạt động của con người Còn ý thức được coi là thực tại khách quan có chức năng điều khiển đối với hành vi và cùng với hành vi, ý thức là một thành tố của hoạt động

Đặc trưng hành vi trong TCĐVTCĐ của trẻ: (1) HV là biểu hiện bên ngoài của HĐVC của trẻ, nhưng được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ

Trang 10

thể, của nhân cách; (2) HV được thực hiện bởi các chủ thể có ý thức với mục đích nhất định, thể hiện ở các mặt thông tin, hành động, bày tỏ cảm xúc, quan hệ và tác động qua lại với nhau giữa các chủ thể; (3) chịu sự qui định của các đặc điểm tâm lý của chủ thể và bối cảnh khách quan cũng như các đặc điểm của trò chơi

1.2.2 Lý luận về phong cách nhận thức

1.2.2.1 Phong cách và phong cách hoạt động cá nhân

Thuật ngữ “phong cách” được dùng để chỉ những đặc tính tâm lý cá nhân của mỗi người, phong cách được hiểu là tổ hợp các cách thức hành động tương

đối ổn định và hệ thống hành vi đặc trưng cho mỗi cá nhân hướng vào mục tiêu

và ảnh hưởng tới hiệu quả công việc trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định

PCHĐCN trong TLH được xem xét trước hết như một tổ hợp các cách thức, đặc điểm và hành vi đặc trưng trong hoạt động của con người Ba dấu hiệu chính của PCHĐCN là: (1) hệ thống ổn định và bền vững của các thủ pháp và biện pháp hoạt động của cá nhân; (2) hệ thống này được qui định bởi một số phẩm chất nhân cách nhất định; (3) hệ thống này là phương tiện thích nghi hiệu quả với những yêu cầu của chủ thể và những đòi hỏi khách quan Nhờ có

hệ thống này, hoạt động của cá nhân đó có hiệu quả

Klimôp đã xây dựng khái niệm PCHĐCN như sau: “PCHĐCN là một hệ thống các phương tiện tâm lý hình thành mang tính cá nhân mà mỗi người sử dụng một cách tự giác hay tự phát nhằm cân bằng tối ưu các đặc điểm cá nhân (bị quy định bởi kiểu hoạt động thần kinh cao cấp) với đối tượng và các điều kiện bên ngoài của hoạt động”

động nhận thức và các thuộc tính nhân cách của cá nhân đó

c Đặc điểm của phong cách nhận thức

PCNT là phong cách đặc trưng của mỗi cá nhân do hoàn cảnh cá nhân hoặc đặc tính của hệ thống thần kinh qui định PCNT là một đặc điểm tâm lý cá nhâ chỉ liên quan đến cấu trúc và hình thức thể hiện chứ không liên quan đến nội dung của nhận thức PCNT có thể coi vừa là một thuộc tính vừa là một quá trình tâm lý PCNT ảnh hưởng tới các quá trình, chức năng và trạng thái tâm lý cá nhân (tình cảm, động cơ, hứng thú, tính cách) tạo thành nét riêng của nhân cách PCNT biểu hiện ở cá nhân như một dãy chuyển tiếp liên tục có hai cực, ở hai đầu cực là nơi xuất hiện những đặc điểm khác biệt nổi bật, đối lập nhau Xuất phát từ tính hai cực của PCNT, không có PCNT "xấu" hay "tốt" mà giá trị của nó phụ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện và tính chất hoạt động nhận thức cụ thể của cá nhân

Trang 11

d Phân loại PCNT: Việc phân loại PCNT thường được xem xét theo hai hướng, phân loại PCNT theo nhóm chung và phân loại thành các PCNT cụ thể

e Phân biệt PCNT và một số khái niệm: PCNT và năng lực, kỹ năng nhận thức; PCNT và phương pháp nhận thức; PCNT và cách thức nhận thức

1.2.2.3 PCNT độc lập tương đối với trường nhận thức đối lập với PCNT phụ thuộc tương đối vào trường nhận thức (PCNT ĐL và PCNT PT)

a Khái niệm PCNT ĐL và PCNT PT

Thuật ngữ "Phụ thuộc tương đối vào trường" và "Độc lập tương đối với trường" được H Witkin sử dụng đầu tiên trong các tác phẩm của mình Cơ sở lý luận của các nghiên cứu thực nghiệm của Witkin liên quan tới ba quan điểm sau: (1) tâm lý học Gestalt, (2) khái niệm “sự phân hoá” (differentiation) và “tích hợp

hệ thống hay thống hợp” (hierrarchic intergration) của Werner và (3) tâm lý học

“cái Tôi” (ego psychology) PCNT ĐL và PCNT PT được hiểu là những cách thức tương đối bền vững, ổn định mà cá nhân thường sử dụng để lĩnh hội và phát triển kiến thức: tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng và giải quyết vấn đề và tạo ra những sai biệt cá nhân trong hoạt động nhận thức và các thuộc tính nhân cách của cá nhân đó, biểu hiện ở khả năng tách biệt đối tượng (item) nhận thức khỏi bối cảnh hay trường nhận thức (field or context) hay nói theo cách khác, PCNT

ĐL và PCNT PT là "sự khác biệt cá nhân ở mức độ độc lập với các dấu hiệu ngoại cứ (bên ngoài) trong hoạt động nhận thức”

b Một số vấn đề có liên quan đến khái niệm PCNT ĐL và PCNT PT

- Trong hoạt động nhận thức của một cá nhân, không hoàn toàn có sự tách bạch rạch ròi từng loại PCNT ĐL hay PCNT PT Mỗi cá nhân có thể lựa chọn một phong cách thích hợp với từng điều kiện hoạt động cụ thể, hoặc nghiêng về PCNT ĐL (độc lập chiếm ưu thế), hoặc nghiêng về PCNT PT (phụ thuộc chiếm

ưu thế) Tuy nhiên, xét trong mối tương quan với các cá nhân khác, mỗi cá nhân vẫn biểu hiện phong cách nhận thức hoặc phụ thuộc hoặc độc lập tương đối

- Thuật ngữ trường (field) hay bối cảnh (context) nhận thức trong khái niệm PCNT ĐL và PCNT PT được xem xét trong khuôn khổ của tâm lý học Gestalt và tâm lý học về trường của K Lewin

- Phân biệt PCNT ĐL và PCNT PT với tính độc lập

c Cấu trúc của PCNT ĐL và PCNT PT: Cấu trúc chung của PCNT ĐL và PCNT PT bao gồm các đặc điểm tạo thành hạt nhân và các đặc điểm tạo thành phần phụ trợ của hạt nhân PCNT ĐL và PCNT PT

d Đặc điểm nhân cách của người có PCNT ĐL và người có PCNT PT 1.2.3 Hành vi của trẻ có PCNT ĐL và PCNT PT trong TCĐVTCĐ 1.2.3.1 Biểu hiện quan hệ của trẻ trong TCĐVTCĐ

Quan hệ của trẻ trong HĐVC là hệ thống các mối quan hệ xúc cảm tương

đối ổn định với hai tuyến quan hệ cơ bản, quan hệ xã hội và quan hệ cá nhân

a Quan hệ xã hội (quan hệ công việc): HĐVC là hình thức đặc biệt của hoạt động chung của trẻ em Mức độ QHXH của trẻ trong vui chơi được nghiên cứu dựa trên ba dấu hiệu: Sự tương tác xã hội (tương hỗ); sự tương hợp tâm lý; và

sự tổ chức và phối hợp các hành động, biểu hiện qua sự thống nhất hành động của nhóm QHXH của trẻ trong khi chơi được hiểu là sự tương tác xã hội, sự tương

Trang 12

hợp tâm lý của trẻ với bạn chơi khác, sự tổ chức và phối hợp hành động cũng như tình huống chơi của trẻ được biểu hiện qua cử chỉ, giọng nói, điệu bộ v.v

QHXH của trẻ trong HĐVC có những đặc điểm sau: (1) là quan hệ khách quan; (2) là quan hệ gián tiếp; (3) là quan hệ mang tính nghi thức

b Quan hệ cá nhân của trẻ trong TCĐVTCĐ: QHCN là quan hệ giữa trẻ với nhau, giữa trẻ với người lớn trên cơ sở của những tình cảm và sự đồng nhất với nhau ở một mức độ nhất định Trong quan hệ này, cá nhân trẻ bộc lộ các đặc

điểm riêng của mình mà trong QHXH ít có điều kiện bộc lộ QHCN hỗ trợ cho QHXH nhằm điều hòa các quan hệ tâm lý, giúp cho nhóm chơi hoàn thành ý tưởng chơi đã đặt ra Thông qua QHCN, trẻ thỏa mãn nhu cầu giao lưu tình cảm với bạn bè và người lớn Cơ sở xúc cảm của trẻ trong QHCN với bạn bè và giáo viên có thể xếp vào hai nhóm lớn là tương liên và bất tương liên

1.2.3.2 Hành vi tượng trưng

HVTT trong TCĐVTCĐ được hiểu là việc sử dụng các vật, cử chỉ, điệu bộ, lời nói như các ký hiệu mang tính tượng trưng để thay thế cho những đối tượng khác (bao gồm cả sự vật và con người) hoặc cho một ý tưởng, một hoàn cảnh vắng mặt trong một trò chơi HVTT trong TCĐVTCĐ bao gồm: (1) sử dụng vật thay thế (VTT); (2) hành động tượng trưng (HĐTT); (3) đóng vai người khác (ĐV); (4) tình huống chơi giả bộ hay tình huống chơi tưởng tượng (THTT)

1.2.3.3 Biểu hiện vai trò thủ lĩnh

Vai trò thủ lĩnh của trẻ trong TCĐVTCĐ được hiểu là cá nhân có khả năng

đóng vai trò trung tâm trong việc tổ chức hoạt động phối hợp và điều khiển những mối quan hệ qua lại của nhóm chơi, là trẻ được nhóm thừa nhận và có ảnh hưởng chi phối các trẻ khác trong những hoàn cảnh có ý nghĩa đối với nhóm chơi VTTL của trẻ được biểu hiện qua các hoạt động (1) xác định chủ đề và phương hướng phát triển trò chơi; (2) tổ chức nhóm chơi và trò chơi; (3) chỉ huy nhóm chơi; và (4) kiểm tra, đánh giá nhóm chơi

Chương 2

Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 2.1 tổ chức nghiên cứu

2.1.1 Nghiên cứu lý luận

2.2.2 Nghiên cứu thực tiễn

2.2.2.1 Mục đích: Xác định PCNT ĐL và PCNT PT của trẻ; khảo sát thực trạng các HV của trẻ khi tham gia vào TCĐVTCĐ; tìm hiểu sự khác biệt cá nhân

về HV giữa trẻ ĐL và trẻ PT khi tham gia vào các TCĐVTCĐ; đề xuất các biện pháp tác động sư phạm nhằm phát triển hành vi chơi của trẻ ĐL và trẻ PT

2.2.2.2 Nội dung

- Xác định PCNT ĐL và PCNT PT; khảo sát thực trạng các hành vi của trẻ mẫu giáo khi tham gia vào các TCĐVTCĐ

- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu thích hợp làm bộc lộ các hành vi của trẻ ĐL và trẻ PT trong TCĐVTCĐ Phân tích sự khác biệt cá nhân trong biểu hiện quan hệ của trẻ: QHGV, QHBB, QHXH; biểu hiện HVTT: sử dụng VTT, thực hiện HĐTT, tạo THTT và ĐV; biểu hiện VTTL

Trang 13

- Đề xuất và thẩm định một số biện pháp nhằm phát triển hành vi chơi của trẻ có PCNT khác nhau

2.2.2.3 Các câu hỏi nghiên cứu thực tiễn

1 Có sự khác biệt nào trong kết quả xác định PCNT ĐL và PCNT PT của trẻ trên cơ sở giới tính và độ tuổi trong các nhóm?

2 Có sự khác biệt nào trong kết quả nghiên cứu QHXH, QHGV và QHBB của trẻ trên cơ sở PCNT ĐL và PCNT PT và giới trong các nhóm?

3 Có sự khác biệt nào trong kết quả nghiên cứu VTT, HĐTT, THTT, ĐV trong TCĐVTCĐ trên cơ sở của PCNT ĐL và PCNT PT và giới trong các nhóm?

4 Có sự khác biệt nào trong kết quả nghiên cứu biểu hiện VTTL trong TCĐVTCĐ trên cơ sở PCNT ĐL và PCNT PT và giới tính trong các nhóm?

5 Có sự khác biệt nào trong kết quả nghiên cứu hành vi QHXH, HVTT và VTTL trong TCĐVTCĐ của trẻ ĐL và trẻ PT trên cơ sở những điều chỉnh của biện pháp hướng dẫn (BPHD) HĐVC trong các nhóm?

2.2.2.4 Tiến trình nghiên cứu: Chuẩn bị nghiên cứu; thiết kế tiêu chí, thang đánh giá, điều tra thử; nghiên cứu thực trạng; thực nghiệm tác động

2.2.2.5 Tiêu chí và thang đánh giá trong nghiên cứu thực tiễn

a Tiêu chí và thang đánh giá PCNT ĐL và PCNT PT

PCNT ĐL và PCNT PT của trẻ được đo bằng trắc nghiệm hình ẩn của S Coates và được kiểm tra lại bằng trắc nghiệm vẽ hình người của F Goodenough

b Tiêu chí và thang đánh giá hành vi của trẻ trong TCĐVTCĐ

Tiêu chí và thang đánh giá Quan hệ của trẻ trong TCĐVTCĐ

Quan hệ cá nhân với giáo viên và Quan hệ cá nhân với bạn bè

• Quan hệ cá nhân với giáo viên (QHGV)

+ Tiêu chí đánh giá: (1) biểu hiện sự chú ý và quan tâm đến GV; (2) phản ứng xúc cảm đối với GV; và (3) nhu cầu mong đợi GV chú ý đến mình

+ Thang điểm: Thang đo Likert với 5 mức độ Tổng điểm là 45 điểm

• Quan hệ cá nhân với bạn bè (QHBB)

+ Tiêu chí đánh giá: (1) được bạn bè yêu mến, lựa chọn; (2) biểu hiện sự gần gũi, quan tâm đến bạn bè, muốn kết bạn; (3) biểu hiện sự nhạy cảm với cảm xúc và ý kiến của bạn bè; (4) biểu hiện nhu cầu và sự dễ dàng hòa nhập vào nhóm chơi; (5) biểu hiện hành vi gây hấn

+ Thang điểm: Sử dụng thang đo Likert với 5 mức độ đối với mỗi biểu hiện hành vi trên cơ sở tần xuất Đối với tiêu chí 1, thang đánh giá là giá trị hệ số lựa chọn của bạn bè qua kết quả trắc đạc xã hội Tổng điểm là 50 điểm

Tiêu chí và thang đánh giá Quan hệ xã hội (QHXH)

+ Tiêu chí đánh giá: (1) biểu hiện tương tác xã hội; (2) biểu hiện sự tương hợp tâm lý; (3) biểu hiện sự phối hợp hành động (PHHĐ) để đạt mục đích chung

+ Thang đánh giá: Không có biểu hiện hoạt động chung: 0 điểm Có biểu hiện hoạt động chung: Có ít nhất 2 trẻ tham gia vào một TCĐVTCĐ Mức độ QHXH: Mức 1: chơi cạnh nhau Mức 2: chơi cạnh nhau, có ý thức về bạn chơi Mức 3: chơi cùng nhau đơn giản Mức 4: chơi cùng nhau Mức 5: chơi tập thể

Tiêu chí và thang đánh giá Hành vi chơi tượng trưng

Sử dụng vật thay thế (VTT)

+ Tiêu chí: (1) thể loại và tính chất VTT; (2) mức độ linh hoạt khi sử dụng

Ngày đăng: 11/04/2013, 20:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Điểm trung bình, độ lệch chuẩn của PEFT theo giới - Nghiên cứu hành vi của trẻ mẫu giáo có phong cách nhận thức khác nhau trong hoạt động vui chơi
Bảng 3.1. Điểm trung bình, độ lệch chuẩn của PEFT theo giới (Trang 15)
Bảng 3. 6. Phân bố HĐTT của trẻ PT và trẻ ĐL  MGB (N = 60)   MGN (N = 60)   MGL (N = 60) - Nghiên cứu hành vi của trẻ mẫu giáo có phong cách nhận thức khác nhau trong hoạt động vui chơi
Bảng 3. 6. Phân bố HĐTT của trẻ PT và trẻ ĐL MGB (N = 60) MGN (N = 60) MGL (N = 60) (Trang 18)
Bảng 3.9. Phân bố hành vi biểu hiện VTTL của trẻ PT và trẻ ĐL - Nghiên cứu hành vi của trẻ mẫu giáo có phong cách nhận thức khác nhau trong hoạt động vui chơi
Bảng 3.9. Phân bố hành vi biểu hiện VTTL của trẻ PT và trẻ ĐL (Trang 20)
Bảng 3.10. Kiểm nghiệm F - test kết quả TN  ở nhóm TN và ĐC - Nghiên cứu hành vi của trẻ mẫu giáo có phong cách nhận thức khác nhau trong hoạt động vui chơi
Bảng 3.10. Kiểm nghiệm F - test kết quả TN ở nhóm TN và ĐC (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w