1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Hạn chế nợ xấu trong hoạt động cho vay tại ngân hàng TMCP Việt Á, CN Đà Nẵng.

104 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 414,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các phương pháp kiểm tra, giám sát cho vay có thể áp dụng bao gồm: + Kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay, phân tích các báo cáo tài chính của khách hàng theo định kỳ; + Kiểm tra thực tế t

Trang 1

NGUYỄN XUÂN QUANG

HẠN CHẾ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT Á

CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN XUÂN QUANG

HẠN CHẾ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT Á

CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng

Mã số : 60.34.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hòa Nhân

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Xuân Quang

Trang 5

VAB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Á

VAB ĐN Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Á Chi nhánh Đà Nẵng

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn qua các năm 43

Bảng 2.3 Tình hình thu nhập qua các năm 47Bảng 2.4 Tình hình nợ xấu trong hoạt động cho vay tại

Bảng 2.5 Nợ xấu của các TCTD trên địa bàn TP Đà 53

Trang 6

Bảng 2.7 Nợ xấu phân theo ngành nghề 55Bảng 2.8 Nợ xấu phân theo cho vay có TSĐB và không

Bảng 2.9 Kết quả thu hồi nợ xấu của VAB ĐN 57Bảng 2.10 Kết quả trích dự phòng rủi ro và xử lý rủi ro

Bảng 2.11 Nợ xấu đã xử lý rủi ro theo dõi ngoại bảng

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới Kinh tế càng phát triển thì đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải ngày càng lớn mạnh để đáp ứng nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân và nhu cầu đời sống của con người

Hoạt động của ngân hàng rất đa dạng, trong đó hoạt động cho vay là một hoạt động rất quan trọng của ngân hàng thương mại Ở Việt Nam hoạt động cho vay mang lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng và hoạt động cho vay cũng là hoạt động có nhiều rủi ro nhất

Hoạt động cho vay tiềm ẩn nhiều rủi ro mà không ngân hàng nào có thể lường trước hết được Kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập thì những biến động của kinh tế thế giới cũng sẽ tác động đến nền kinh tế Việt Nam Trong những năm qua, tình hình kinh tế thế giới biến động xấu, khủng hoảng tài chính, tiền tệ đang xảy ra ở nhiều nước đã làm kinh tế Việt Nam cũng gặp khó khăn Kinh tế tăng trưởng chậm, hoạt động xuất khẩu tăng trưởng thấp đã ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thu nhập của người dân Vì vậy, hoạt động cho vay của ngân hàng cũng đã gặp nhiều khó khăn do nhiều doanh nghiệp phá sản, người dân không có thu nhập, dẫn đến không có khả năng trả được nợ vay cho ngân hàng và nợ xấu có xu hướng tăng lên

Trong hoạt động cho vay, NHTM bao giờ cũng muốn ít phát sinh nợ xấu Nợ xấu càng thấp thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng hiệu quả, lợi nhuận sẽ càng cao Ngân hàng có cho vay thì không thể nào tránh khỏi

Trang 8

không có nợ xấu nhưng nếu ngân hàng được quản trị tốt, có cán bộ giỏi, có chính sách cho vay phù hợp… thì nợ xấu sẽ ít

Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Ngân hàng thương mại cổ phần Việt

Á Chi nhánh Đà Nẵng là một trong những ngân hàng hoạt động lâu năm, với tiền thân là Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Đà Nẵng sau đó được sáp nhập với một công ty tài chính và hình thành nên Ngân hàng thương mại

cổ phần Việt Á Hoạt động cho vay tại ngân hàng tuy đã được chú trọng nhưng tình hình nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng vẫn còn nhiều

lo ngại, nợ xấu thường xuyên phát sinh và chưa được xử lý một cách căn bản Xuất phát từ nhận thức muốn nợ xấu tại ngân hàng ở mức thấp nhất để đảm bảo ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả, góp phần vào sự phát triển kinh tế

địa phương nói riêng và kinh tế đất nước nói chung, tôi chọn đề tài: “ Hạn chế nợ xấu trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Á Chi nhánh Đà Nẵng” để nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ Kết quả

nghiên cứu sẽ đề xuất giải pháp để nợ xấu trong hoạt động cho vay ít phát sinh nhất và ngày càng giảm, đảm bảo hoạt động kinh doanh của ngân hàng hiệu quả nhất

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hạn chế nợ xấu, hệ thống các tiêu chí đánh giá kết quả hạn chế nợ xấu

- Phân tích, đánh giá thực trạng hạn chế nợ xấu và kết quả hạn chế nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Việt Á Chi nhánh Đà Nẵng

- Đề xuất giải pháp và kiến nghị góp phần hạn chế nợ xấu trong hoạt động cho vay nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Việt Á Chi nhánh Đà Nẵng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 9

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan nợ xấu

và hạn chế nợ xấu trong hoạt động cho vay tại VAB ĐN

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Nội dung: Trong toàn bộ công tác quản lý nợ xấu của hoạt động tín dụng thì chỉ tập trung nghiên cứu hạn chế nợ xấu trong cho vay

+ Không gian: Tại Ngân hàng TMCP Việt Á Chi nhánh Đà Nẵng

+ Thời gian: Nghiên cứu từ thực tế cho vay từ năm 2009 đến 2011

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, đánh giá, diễn giải và tổng hợp đi từ cơ

sở lý thuyết đến thực tiễn nhằm giải quyết và làm sáng tỏ mục tiêu đặt ra của

đề tài nghiên cứu

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:

- Chương 1: Lý luận về hạn chế nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

- Chương 2: Thực trạng hạn chế nợ xấu trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Á chi nhánh Đà Nẵng

- Chương 3: Giải pháp hạn chế nợ xấu trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Á Chi nhánh Đà Nẵng

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Qua tìm hiểu đề tài các luận văn được lưu tại Thư viện trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng về đề tài nợ xấu, có các đề tài nghiên cứu liên quan như sau:

- Đề tài do học viên Lê Quốc Vũ thực hiện “ Giải pháp nhằm hạn chế

nợ xấu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” hoàn thành năm 2009

Kết quả nghiên cứu của đề tài:[12]

Trang 10

Đề tài của học viên Lê Quốc Vũ tập trung phân tích và đánh giá thực trạng nợ xấu và công tác quản lý nợ xấu của cả hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) trong 3 năm 2006 đến 2008.

Qua phân tích, đánh giá đã tìm ra những hạn chế, vướng mắc trong quá trình hạn chế nợ xấu như:

+ Hệ thống các văn bản pháp quy, các cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động quản lý nợ xấu của Ngân hàng chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và chưa bao quát được hết các tình huống có khả năng phát sinh trên thực tế, chậm chỉnh sửa bổ sung cho phù hợp

+ Cơ cấu bộ máy tổ chức xử lý nợ xấu của BIDV còn chưa thực sự đồng bộ, chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm trong công tác xử lý nợ

+ Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản (BAMC) của Ngân hàng Đầu

tư và Phát triển hiệu quả hoạt động còn rất hạn chế, chưa đạt được mục tiêu mong muốn

+ Các biện pháp quản lý hạn chế nợ xấu tại BIDV chưa thực sự đa dạng

+ Việc nhận thức, phổ biến các nội dung về nợ xấu và giải pháp quản lý

nợ xấu, cũng như những biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa nợ xấu phát sinh đến từng cán bộ cũng gặp nhiều khó khăn, mất nhiều thời gian

+ Sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương các cấp trong quá trình quản lý nợ xấu của ngân hàng còn bị hạn chế, thậm chí gây khó cho ngân hàng trong việc xử lý, thu hồi nợ xấu

- Đề tài do học viên Nguyễn Bá Diệp thực hiện “ Một số giải pháp xử

lý nợ xấu tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam” hoàn thành năm 2011

Kết quả nghiên cứu của đề tài:[3]

Trang 11

Đề tài của học viên Nguyễn Bá Diệp tập trung phân tích và đánh giá thực trạng xử lý nợ xấu tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam trong 3 năm 2009 đến 2011.

Qua phân tích, đánh giá đã tìm ra những hạn chế trong việc xử lý nợ xấu như sau:

+ Việc xử lý tài sản bảo đảm gặp nhiều khó khăn nhất là TSBĐ là máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất Về mặt hồ sơ thủ tục pháp lý và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng có thẩm quyền như phòng Công chứng, Sở tài nguyên môi trường… tuy đã có phân cấp nhưng vẫn còn rườm rà làm mất nhiều thời gian của khách hàng và ngân hàng

+ Một số tài sản khi nhận làm TSBĐ tiền vay không đủ điều kiện, thủ tục giấy tờ không hợp lệ, có tranh chấp nhiều bên sở hữu nên khó xử lý và không khởi kiện được

+ Việc định giá TSBĐ khi cho vay không sát với thực tế và còn mang tính chủ quan

+ Cán bộ thực hiện công tác chỉ đạo và xử lý tài sản còn chưa có kinh nghiệm, có trường hợp năng lực yếu, chưa tích cực và chủ động trong việc xử

Trang 12

- Đề tài do học viên Nguyễn Ngọc Tuấn thực hiện “ Một số giải pháp hạn chế nợ xấu tại Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Kon Tum” hoàn thành năm 2011

Kết quả nghiên cứu của đề tài:[10]

Đề tài của học viên Nguyễn Ngọc Tuấn tập trung phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nợ xấu tại chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Kon Tum trong 3 năm 2008 đến 2010

Qua phân tích, đánh giá đã tìm ra những hạn chế trong công tác quản lý

nợ xấu như sau:

- Chưa xử lý nợ xấu một cách bài bản, chuyên nghiệp, do đó khả năng thu hồi nợ xấu là không cao

- Chưa có các biện pháp xử lý nợ qua thị trường nên việc mua bán các khoản nợ có vấn đề hay chứng khoán hóa các khoản nợ…chưa thể thực hiện

- Công tác quản lý nợ xấu chưa được chú trọng đúng mức Việc xử lý rủi ro do nguyên nhân khách quan, từ khâu lập hồ sơ ban đầu, kiểm tra, xét duyệt và xử lý còn chậm Quy chế xử lý nợ rủi ro do nguyên nhân khách quan chậm được bổ sung hoàn thiện, quy chế xử lý rủi ro do nguyên nhân chủ quan chưa được ban hành

- Công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu, đặc biệt là yêu cầu về tính phát hiện, cảnh báo, phòng ngừa từ xa

- Hệ thống thông tin báo cáo chưa phù hợp với đặc thù của Ngân hàng chính sách xã hội

Trang 13

Kết quả nghiên cứu của các đề tài đều tìm ra những hạn chế riêng trong quá trình nghiên cứu và đã đưa ra các giải pháp để khắc phục các hạn chế của từng ngân hàng.

Những đề tài trên đều nghiên cứu đến vấn đề nợ xấu tại các Ngân hàng

do nhà nước làm chủ sở hữu, mỗi đề tài nghiên cứu một góc cạnh riêng Đề tài: “Giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” nghiên cứu trên phạm vi cả nước, tập trung phân tích thực trạng nợ xấu của cả hệ thống ngân hàng đầu tư Đề tài: “Một số giải pháp xử lý nợ xấu tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam” thì nghiên cứu tại một chi nhánh và chỉ nghiên cứu về thực trạng xử lý nợ xấu Đề tài “Một số giải pháp hạn chế nợ xấu tại chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Kon Tum” thì nghiên cứu công tác hạn chế nợ xấu trong lĩnh vực cho vay theo chính sách của Nhà nước Tuy các đề tài đều nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nợ xấu nhưng nghiên cứu tại các địa bàn khác nhau và theo những đặc trưng riêng của mỗi ngân hàng

Qua nghiên cứu về tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Á Chi nhánh Đà Nẵng, tôi chọn đề tài “ Hạn chế nợ xấu trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Á chi

nhánh Đà Nẵng” Đề tài tôi nghiên cứu cũng liên quan đến nợ xấu nhưng chỉ

nghiên cứu trên phạm vi ở Chi nhánh Ngân hàng TMCP Việt Á (Ngân hàng không do Nhà nước làm chủ sở hữu), nơi chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích về thực trạng hạn chế nợ xấu, bao gồm những công tác làm cho nợ xấu ít phát sinh nhất và cả công tác làm giảm nợ xấu khi nợ xấu đã phát sinh Qua phân tích, đánh giá sẽ tìm ra những điểm yếu cũng như những tồn tại trong công tác hạn chế nợ xấu tại chi nhánh nói riêng và hệ thống Ngân hàng Việt Á nói chung, từ đó đề xuất các

Trang 14

giải pháp và có kiến nghị phù hợp để tỷ lệ nợ xấu tại chi nhánh ở mức thấp nhất và trong giới hạn cho phép.

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG

CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 CHO VAY VÀ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

a Khái niệm về hoạt động cho vay [6], [7]

Hoạt động của ngân hàng thương mại rất đa dạng, trong đó hoạt động cho vay là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu của ngân hàng thương mại

Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại gồm: Nhận tiền gửi;

cấp tín dụng; hoạt động thanh toán; vay vốn của Ngân hàng Nhà nước, vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính; góp vốn mua cổ phần; tham gia thị trường tiền tệ; kinh doanh cung ứng dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh; nghiệp vụ uỷ thác và đại lý; các hoạt động kinh doanh khác: Dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn khách hàng, tài chính; các dịch vụ quản lý, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn; tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp và tư vấn đầu tư; mua, bán trái phiếu

Trang 15

Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp; dịch vụ môi giới tiền tệ; lưu ký chứng khoán và kinh doanh vàng.

Cấp tín dụng là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả Ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức sau: Cho vay; chiết khấu, tái chiếc khấu các công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; bảo lãnh ngân hàng; phát hành thẻ tín dụng; bao thanh toán trong nước, bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế

Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoản thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi

Thông qua hoạt động cho vay ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dưới hình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được từ trong xã hội để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh

và đời sống

Cho vay là quyền của NHTM với tư cách là người cho vay yêu cầu khách hàng của mình – người đi vay muốn vay được vốn phải tuân thủ những điều kiện nhất định, những điều kiện này là cơ sở ràng buộc về mặt pháp lý đảm bảo cho người cho vay có thể thu hồi được vốn (gốc + lãi) sau một thời gian nhất định Để thu hồi được vốn, các ngân hàng có quyền yêu cầu người

đi vay đáp ứng những điều kiện vay cụ thể dựa trên cơ sở mức độ tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau giữa ngân hàng và khách hàng

Mặt khác, cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu (NHTM) sang người sử dụng (người vay), sau một thời gian nhất định lại quay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu, hay:

Trang 16

Cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể (NHTM và người vay), trong đó một bên (NHTM) chuyển giao tiền cho bên kia (người vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn (gốc và lãi) cho bên cho vay vô điều kiện theo thời hạn đã thỏa thuận.

Qua khái niệm về cho vay của NHTM cho thấy bản chất cho vay là một giao dịch về tiền trên cơ sở tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau Trong đó sự hoàn trả là đặc trưng thuộc về bản chất của cho vay, là nguyên tắc để phân biệt phạm trù cho vay với cấp phát của ngân sách Nhà nước

- Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng Nguyên tắc này đảm bảo phương châm hoạt động của ngân hàng là “đi vay để cho vay” và thực hiện nguyên tắc trong hạch toán kinh doanh lấy thu bù chi và có lãi

c Phân loại cho vay [5]

Cho vay của NHTM có thể phân chia thành ra nhiều loại khác nhau, tùy theo những tiêu thức phân loại khác nhau

- Căn cứ vào thời hạn cho vay:

Theo tiêu thức này cho vay có thể phân chia thành các loại sau:

Trang 17

+ Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới 1 năm Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động;

+ Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định;

+ Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư

- Căn cứ vào phương thức cho vay:

Theo tiêu thức này, cho vay có thể chia thành các loại sau:

+ Cho vay từng lần;

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng;

+ Cho vay theo dự án đầu tư;

+ Cho vay hợp vốn;

+ Cho vay trả góp;

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng;

+ Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng;+ Cho vay theo hạn mức thấu chi

- Căn cứ vào mục đích của cho vay:

Theo tiêu thức này, cho vay có thể phân chia thành các loại sau:

+ Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp;

+ Cho vay tiêu dùng cá nhân;

+ Cho vay mua bán bất động sản;

+ Cho vay sản xuất nông nghiệp;

+ Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu…

- Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng:

Theo tiêu thức này, cho vay có thể được phân chia thành các loại sau:

Trang 18

+ Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay.

+ Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác

- Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay:

Theo tiêu thức này, cho vay có thể được phân chia thành các loại sau:+ Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn;

+ Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cố định;

+ Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào

d Quy trình cho vay [5]

Quy trình cho vay là tổng hợp mô tả các bước đi cụ thể từ khi tiếp nhận nhu cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi thanh lý hợp đồng cho vay Tùy theo đặc điểm tổ chức và quản trị, mỗi ngân hàng đều tự thiết kế và xây dựng cho mình một quy trình cho vay riêng Quy trình cho vay căn bản gồm các bước: Lập hồ sơ đề nghị cho vay; phân tích và thẩm định cho vay; quyết định cho vay; giải ngân; kiểm tra, giám sát cho vay và thanh lý hợp đồng cho vay,

cụ thể như sau:

- Lập hồ sơ đề nghị cho vay:

Lập hồ sơ cho vay là khâu căn bản đầu tiên của quy trình cho vay, nó được thực hiện ngay sau khi cán bộ cho vay tiếp xúc với khách hàng có nhu cầu vay vốn Lập hồ sơ cho vay là khâu quan trọng vì nó là khâu thu thập thông tin làm cơ sở để thực hiện các khâu sau, đặc biệt là khâu phân tích và ra quyết định cho vay

Trang 19

Tùy theo quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng, loại cho vay yêu cầu

và quy mô cho vay, cán bộ cho vay hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ với những thông tin yêu cầu khác nhau Nhìn chung, một bộ phận hồ sơ đề nghị cấp cho vay cần thu thập từ khách hàng những thông tin sau:

+ Thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của khách hàng.+ Thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của khách hàng

+ Thông tin về bảo đảm cho vay

Để thu thập được những thông tin căn bản như trên, ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải lập và nộp cho ngân hàng các loại giấy tờ sau:

+ Báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất

+ Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay

+ Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết

- Phân tích và thẩm định cho vay:

Phân tích cho vay là phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách hàng về sử dụng vốn vay, khả năng hoàn trả và khả năng thu hồi vốn vay cả gốc và lãi Mục tiêu của phân tích cho vay là tìm kiếm những tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, tiên lượng khả năng kiểm soát những loại rủi ro đó và dự kiến các biện pháp phòng ngừa và hạn chế thiệt hại có thể xảy

ra Mặt khác, phân tích cho vay còn quan tâm đến việc kiểm tra tính chân thực của hồ sơ vay vốn mà khách hàng cung cấp, từ đó nhận định về thái độ trả nợ của khách hàng làm cơ sở quyết định cho vay

Trang 20

Thẩm định cho vay để đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư, khả năng trả

nợ của dự án cũng như dự báo các rủi ro có thể xảy ra khi đầu tư vào dự án để ngân hàng căn cứ ra quyết định cho vay

- Quyết định và ký hợp đồng cho vay:

Quyết định cho vay là quyết định cho vay hoặc từ chối đối với một hồ

sơ vay vốn của khách hàng Đây là khâu cực kỳ quan trọng trong quy trình cho vay vì nó ảnh hưởng rất lớn đến các khâu sau cho vay, ảnh hưởng đến uy tín và hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng Một điều không may là khâu quan trọng này lại là khâu khó xử lý nhất và thường dễ phạm sai lầm nhất Có hai loại sai lầm cơ bản thường xảy ra trong khâu này:

+ Quyết định chấp thuận cho vay đối với một khách hàng không tốt.+ Từ chối cho vay đối với một khách hàng tốt

Cả hai loại sai lầm này đều dẫn đến thiệt hại đáng kể cho ngân hàng Loại sai lầm thứ nhất dễ dẫn đến thiệt hại do nợ quá hạn hoặc nợ không thể thu hồi, tức là thiệt hại về tài chính Loại sai lầm thứ hai dễ dẫn đến thiệt hại

về uy tín và mất cơ hội cho vay

Nhằm hạn chế sai lầm, trong khâu quyết định cho vay các ngân hàng thường chú trọng hai vấn đề: một là, thu thập và xử lý thông tin một cách đầy

đủ và chính xác làm cơ sở để ra quyết định, hai là, trao quyền quyết định cho một hội đồng cho vay hoặc những người có năng lực phân tích và phán quyết

+ Cơ sở để ra quyết định cho vay:

Cơ sở để ra quyết định cho vay trước hết dựa vào thông tin thu thập và

xử lý hồ sơ cho vay, do giai đoạn trước chuyển sang Kế đến, dựa vào những thông tin khác hoặc thông tin cập nhật hóa có liên quan, thông tin đa dạng từ nhiều nguồn khác nhau đã được cập nhật hóa, đặc biệt là các thông tin đáng tin cậy từ các công ty nghiên cứu thị trường có uy tín, chẳng hạn như thông tin cập nhật về tình hình thị trường, chính sách cho vay của ngân hàng, các

Trang 21

quy định về hoạt động cho vay của Ngân hàng Nhà nước, nguồn vốn cho vay của ngân hàng, kết quả thẩm định các hình thức bảo đảm nợ vay.

+ Quyền phán quyết cho vay:

Tùy theo quy mô vốn vay lớn hay nhỏ quyền phán quyết thường được trao cho một hội đồng tín dụng hay một cá nhân phụ trách Hội đồng tín dụng, bao gồm những người có quyền hạn và trách nhiệm quan trọng trong ngân hàng, thường phán quyết những hồ sơ vay vốn có quy mô lớn trong khi quyền phán quyết các hồ sơ vay có quy mô nhỏ thường được trao cho cá nhân phụ trách

Sau khi ra quyết định cho vay, kết quả có thể là chấp thuận hoặc từ chối cho vay, tùy vào kết quả phân tích và thẩm định ở khâu trước Nếu chấp thuận cho vay, cán bộ cho vay sẽ hướng dẫn khách hàng ký kết hợp đồng cho vay

và làm tiếp các bước tiếp theo Nếu từ chối cho vay, ngân hàng sẽ có văn bản trả lời và giải thích lý do cho khách hàng được rõ

- Giải ngân:

Giải ngân là khâu tiếp theo sau khi hợp đồng cho vay đã được ký kết Giải ngân là phát tiền vay cho khách hàng trên cơ sở mức cho vay đã cam kết trong hợp đồng Tuy là khâu tiếp theo sau của quyết định cho vay, nhưng giải ngân cũng là khâu quan trọng vì nó có thể góp phần phát hiện và chấn chỉnh kịp thời nếu có sai sót ở các khâu trước Ngoài ra, cách thức giải ngân còn góp phần kiểm tra và kiểm soát xem vốn cho vay có được sử dụng đúng mục đích cam kết hay không? Nguyên tắc giải ngân là luôn luôn gắn liền vận động tiền tệ với vận động hàng hóa hoặc dịch vụ đối ứng nhằm đảm bảo khả năng thu hồi nợ sau này Tuy vậy, giải ngân cũng phải tuân thủ nguyên tắc đảm bảo thuận lợi tránh gây khó khăn và phiền hà cho khách hàng

- Kiểm tra, giám sát cho vay:

Trang 22

Kiểm tra, giám sát cho vay là khâu khá quan trọng nhằm mục tiêu bảo đảm cho tiền vay được sử dụng đúng mục đích đã cam kết, kiểm soát rủi ro cho vay, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những sai phạm có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ sau này Các phương pháp kiểm tra, giám sát cho vay

có thể áp dụng bao gồm:

+ Kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay, phân tích các báo cáo tài chính của khách hàng theo định kỳ;

+ Kiểm tra thực tế tại địa điểm hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nơi

cư ngụ của khách hàng đứng tên vay vốn;

+ Kiểm tra tài sản bảo đảm tiền vay;

+ Giám sát hoạt động tài khoản của khách hàng tại ngân hàng;

+ Giám sát khách hàng thông qua việc trả lãi định kỳ;

+ Giám sát hoạt động khách hàng thông qua mối quan hệ với khách hàng khác;

+ Giám sát khách hàng thông qua những thông tin thu thập khác

- Thanh lý hợp đồng cho vay:

Thanh lý hợp đồng cho vay có thể xảy ra do khách hàng vi phạm hợp đồng hoặc do khoản vay đã đến hạn Đây là khâu kết thúc của quy trình cho vay Khâu này gồm có các việc quan trọng cần xử lý (1) thu nợ cả gốc và lãi, (2) tái xét hợp đồng cho vay, (3) thanh lý hợp đồng cho vay, cụ thể như sau:

+ Thu nợ:

Ngân hàng tiến hành thu nợ khách hàng theo đúng những điều khoản

đã cam kết trong hợp đồng cho vay Tùy theo tính chất của khoản vay và tình hình tài chính của khách hàng, hai bên có thể thỏa thuận và lựa chọn một trong những hình thức thu nợ sau: Thu nợ gốc và lãi một lần khi đáo hạn; thu

nợ gốc một lần khi đáo hạn và thu lãi theo định kỳ; thu nợ gốc và lãi theo nhiều kỳ hạn

Trang 23

Nếu đến hạn trả nợ mà khách hàng không có khả năng trả nợ thì ngân hàng có thể xem xét cho gia hạn nợ hoặc chuyển sang nợ quá hạn để sau này

có biện pháp xử lý thích hợp nhằm đảm bảo thu hồi nợ

+ Tái xét hợp đồng cho vay:

Thực chất là tiến hành phân tích cho vay trong điều kiện khoản cho vay

đã được cấp nhằm mục tiêu đánh giá chất lượng cho vay, phát hiện rủi ro để

có hướng xử lý kịp thời

+ Thanh lý hợp đồng cho vay:

Nếu hết thời hạn của hợp đồng cho vay và khách hàng đã hoàn tất các nghĩa vụ trả nợ cả gốc và lãi thì ngân hàng và khách hàng làm thủ tục thanh lý hợp đồng cho vay, giải chấp tài sản bảo đảm nếu có và lưu hồ sơ vay vốn của khách hàng vào kho lưu trữ Trong trường hợp này hai bên ngân hàng và khách hàng tiến hành thanh lý hợp đồng cho vay mặc nhiên Trong trường hợp ngân hàng giám sát và phát hiện thấy khách hàng vi phạm những cam kết ghi trong hợp đồng cho vay nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ sau này, ngân hàng có thể đề nghị và tiến hành thanh lý hợp đồng cho vay bắt buộc

* Ý nghĩa của việc xây dựng quy trình cho vay: [7]

- Việc xây dựng quy trình cho vay hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động quản trị nhằm giảm thiểu rủi ro, hạn chế nợ xấu phát sinh

- Quy trình cho vay làm cơ sở cho việc tổ chức khoa học công tác quản

lý tín dụng phù hợp với đặc điểm và tính chất hoạt động của từng ngân hàng, trong đó quy định rõ trách nhiệm của từng thành viên trong mỗi tổ chức, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ, phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban trong quá trình cho vay vì mục tiêu hiệu quả tín dụng

- Dựa vào quy trình cho vay để ngân hàng thiết lập các thủ tục hành chính, thiết kế thủ tục cho vay cho phù hợp với các quy định của pháp luật,

Trang 24

thích ứng với từng nhóm khách hàng, từng loại cho vay của ngân hàng cũng như kỹ thuật nghiệp vụ tín dụng vừa đảm bảo cho ngân hàng có đủ các thông tin cần thiết nhưng không phiền hà cho khách hàng, vừa đảm bảo mục tiêu an toàn trong kinh doanh tín dụng của ngân hàng.

- Quy trình cho vay được công bố công khai tạo điều kiện cho từng cán

bộ nhân viên nhận thức đúng vai trò, vị trí, trách nhiệm, công việc cụ thể của mình trong quá trình thực hiện cho vay, để thống nhất thực hiện, tạo sự nhịp nhàng trong quá trình xử lý đề nghị vay vốn của khách hàng

- Mặt khác quy trình cho vay còn là cơ sở để kiểm soát tiến trình cấp tín dụng và để điều chỉnh chính sách cho vay cho phù hợp với thực tiễn Thông qua công tác kiểm soát, nhà quản trị ngân hàng nhanh chóng xác định được những khâu công việc cần điều chỉnh, những quy định không còn phù hợp trong chính sách tín dụng, những bất hợp lý trong việc thực hiện quy trình, những bất cập trong đội ngũ nhân sự…để từ đó có những thay đổi nhằm tăng cường giám sát trong sử dụng vốn vay của khách hàng cũng như trong hoạt động tín dụng nói chung

1.1.2 Nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

a Phân loại nợ

Phân loại dư nợ cho vay của ngân hàng thương mại thông thường theo một trong hai phương pháp là: Phương pháp định lượng hoặc phương pháp định tính

- Phương pháp định lượng: Các ngân hàng thương mại phân loại các khoản nợ chủ yếu dựa trên cơ sở thời gian quá hạn của khoản vay

- Phương pháp định tính: Các ngân hàng thương mại phân loại các khoản nợ chủ yếu dựa trên cơ sở đánh giá khả năng trả nợ vay của khách hàng Theo thông lệ quốc tế, khả năng trả nợ của khách hàng thường được đánh giá trên các khía cạnh: Mục tiêu hoạt động và quá trình hoạt động kinh

Trang 25

doanh của khách hàng, thị trường và marketing, kế hoạch tương lai, phân tích tài chính.

Ở Việt Nam hiện nay phân loại nợ thực hiện theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành quy định về Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng

để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng và Quyết định số 18/2007/QDD-NHNN ngày 25/4/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy định

về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 493/2005/QDD-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, quy định phân loại nợ theo phương pháp định lượng hoặc theo phương pháp định tính, cụ thể như sau:

- Phân loại nợ theo phương pháp định lượng:

Tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ theo năm (05) nhóm như sau:+ Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; các khoản nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 Quyết định 493

+ Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu); các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 Quyết định 493

Trang 26

+ Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2; các khoản

nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 Quyết định 493

+ Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 Quyết định 493

+ Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa

bị quá hạn hoặc đã quá hạn; các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 Quyết định 493

Khoản 2 Điều 6 Quyết định 493 quy định: Tổ chức tín dụng có thể phân loại lại các khoản nợ vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn trong các trường hợp sau đây:

+ Đối với các khoản nợ quá hạn, tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây: Khách hàng trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi bị quá hạn (kể cả lãi áp dụng đối với nợ gốc quá hạn) và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong thời gian tối thiểu sáu tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, ba tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị

Trang 27

quá hạn; có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ bị quá hạn đã được xử lý, khắc phục; tổ chức tín dụng có đủ cơ sở (thông tin, tài liệu kèm theo) đánh giá là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại.

+ Đối với các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy

đủ các điều kiện sau đây: Khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại trong thời gian tối thiểu sáu tháng đối với các khoản nợ trung và dài hạn, ba tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn được cơ cấu lại; có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ phải cơ cấu lại thời hạn trả nợ đã được

xử lý, khắc phục; tổ chức tín dụng có đủ cơ sở (thông tin, tài liệu kèm theo)

để đánh giá là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn

đã được cơ cấu lại còn lại

Khoản 3 Điều 6 Quyết định 493 quy định: Tổ chức tín dụng phải chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong các trường hợp sau đây:

+ Toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một tổ chức tín dụng phải được phân loại vào cùng một nhóm nợ Đối với khách hàng có từ hai khoản

nợ trở lên tại tổ chức tín dụng mà có bất cứ một khoản nợ nào bị phân loại theo quy định vào nhóm có rủi ro cao hơn các khoản nợ khác, tổ chức tín dụng phải phân loại lại các khoản nợ còn lại của khách hàng vào nhóm có rủi

ro cao nhất đó

+ Đối với khoản cho vay hợp vốn, tổ chức tín dụng làm đầu mối phải thực hiện phân loại nợ đối với khoản cho vay hợp vốn theo các quy định tại Điều này và phải thông báo kết quả phân loại nợ cho các tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn Trường hợp khách hàng vay hợp vốn có một hoặc một số các khoản nợ khác tại tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn đã

Trang 28

phân loại vào nhóm nợ không cùng nhóm nợ của khoản nợ vay hợp vốn do tổ chức tín dụng làm đầu mối phân loại, tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân loại lại toàn bộ dư nợ (kể cả phần dư nợ cho vay hợp vốn) của khách hàng vay hợp vốn vào nhóm nợ do tổ chức tín dụng đầu mối phân loại hoặc do tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân loại tuỳ theo nhóm

nợ nào có rủi ro cao hơn

+ Tổ chức tín dụng phải chủ động phân loại các khoản nợ được phân loại vào các nhóm theo quy định vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo đánh giá của tổ chức tín dụng khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây: Có những diễn biến bất lợi tác động tiêu cực đến môi trường, lĩnh vực kinh doanh của khách hàng; các khoản nợ của khách hàng bị các tổ chức tín dụng khác phân loại vào nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn (nếu có thông tin); các chỉ tiêu tài chính của khách hàng (về khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, tỷ lệ nợ trên vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm; khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin tài chính theo yêu cầu của tổ chức tín dụng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng

- Phân loại nợ theo phương pháp định tính:

Tổ chức tín dụng có đủ khả năng và điều kiện thực hiện phân loại nợ theo phương pháp định tính căn cứ trên Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ

Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với hoạt động kinh doanh, đối tượng khách hàng, tính chất rủi ro của khoản nợ của tổ chức tín dụng;

Thực hiện phân loại nợ cụ thể như sau:

+ Nhóm 1(Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn

Trang 29

+ Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ

+ Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi

+ Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao

+ Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ

chức tín dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn

b Nợ xấu

Về phương diện lý thuyết, khái niệm Nợ xấu được dùng để chỉ các khoản

nợ không có khả năng trả cả gốc lẫn lãi Thông thường, một khoản cấp tín dụng mà thời gian chi trả quá hạn từ 3 tháng trở lên được xem là một khoản

nợ xấu Mặt khác, thời gian quá hạn dù là một tiêu chí chủ yếu nhưng cũng chỉ là một trong những tiêu chí để đánh giá một khoản nợ là nợ xấu Những tiêu chí định tính khác cũng được các ngân hàng sử dụng kết hợp với thời gian quá hạn để phân loại nợ xấu

- Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê - Liên hợp quốc, “về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”

Như vậy, nợ xấu về cơ bản cũng được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ Đây được coi là định

Trang 30

nghĩa của Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) đang được áp dụng phổ biến hiện hành trên thế giới

Một định nghĩa mới về nợ xấu theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc

tế (IFRS) và IAS 39 vừa được Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế cho ra đời

và được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 Về

cơ bản IAS 39 chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay (khách hàng) Hệ thống này được coi

là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn

[8]

- Nợ xấu theo quy định Việt Nam tại Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước như sau: Nợ xấu là những khoản nợ thuộc nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ)

và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)

Cụ thể nhóm 3 trở xuống theo phương pháp định lượng là các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, khoản nợ bị gia hạn Theo phương pháp định tính tại Điều 7 của Quyết định 493 thì các ngân hàng thương mại sẽ căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp Như vậy, nợ xấu đánh theo phương pháp định tính và theo phương pháp định lượng sẽ có sự khác nhau

Hiện nay, một số ngân hàng thương mại ở Việt Nam đã hạch toán nợ xấu dựa vào đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng Tuy nhiên, còn nhiều ngân hàng thương mại hạch toán nợ xấu theo thời gian quá hạn trên 90 ngày; việc xác định nợ xấu dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng đang gặp nhiều khó khăn do hệ thống thông tin quản lý chưa đảm bảo để xếp hạng tín dụng Một lý do khác là tình trạng tài chính của một bộ phận lớn các doanh nghiệp,

Trang 31

đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước rất khó khăn, vốn tự có chỉ đạt từ 5 - 10% tổng vốn hoạt động, khả năng sinh lời rất thấp nếu áp dụng phương pháp phân tích dòng tiền tương lai và xếp hạng tín dụng thì rất nhiều doanh nghiệp, thậm chí tập đoàn lớn không đủ tiêu chuẩn để vay vốn và toàn bộ nợ của họ hiện tại có thể xếp hạng là nợ xấu

c Tác hại của nợ xấu đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng và nền kinh tế [1],[7]

- Gây tổn thất về tài chính cho ngân hàng: Nợ xấu làm tăng chi phí hoạt động hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng Nếu thu không đủ chi ngân hàng sẽ bị thua lỗ Hơn nữa kể cả trường hợp không lỗ thì do nợ xấu gia tăng dẫn đến phải tăng trích lập dự phòng rủi ro khiến lợi nhuận của ngân hàng bị suy giảm

- Làm giảm uy tín của ngân hàng, làm mất lòng tin của công chúng là những tổn thất còn lớn hơn rất nhiều so với những tổn thất về mặt tài chính Các thua lỗ trong hoạt động của ngân hàng luôn ảnh hưởng bất lợi đến niềm tin của công chúng Không một ai muốn gửi tiền vào một ngân hàng mà ngân hàng đó có tỷ lệ nợ xấu vượt quá mức cho phép, có chất lượng tín dụng không tốt và gây ra nhiều vụ thất thoát lớn Khi dân chúng thiếu tin tưởng vào khả năng kinh doanh của ngân hàng, họ sẽ không tiếp tục gửi tiền vào ngân hàng

và ngân hàng không có tiền để tiếp tục để cho vay làm cho uy tín của ngân hàng ngày càng giảm

- Ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng: Hoạt động chủ yếu

của ngân hàng là nhận tiền gửi của dân chúng và doanh nghiệp, sau đó sử dụng nguồn tiền này để cho vay Nếu các khoản cho vay không thu hồi được thì ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn vì các khoản tiền gửi vẫn phải thanh toán đúng hạn Trong lúc không huy động được vốn do mất uy tín, người rút tiền ngày càng tăng lên, kết quả là ngân hàng gặp khó khăn trong khâu thanh toán

Trang 32

- Ngân hàng bị thua lỗ có thể làm cổ đông mất vốn đầu tư, những người gửi tiền có thể mất đi những khoản tiền gửi tiết kiệm mà suốt đời mới có được Tình trạng tài chính xấu của một ngân hàng còn tạo ra sự nghi ngờ của những người gửi tiền về sự ổn định và khả năng thanh toán của cả hệ thống ngân hàng, gây tác động xấu đến tình hình tài chính của các ngân hàng khác, kéo theo sự phản ứng dây chuyền và phá vỡ tính ổn định của thị trường tài chính.

- Làm chậm quá trình chu chuyển vốn của các ngân hàng thương mại, giảm vòng quay của vốn, giảm hiệu quả sử dụng vốn, giảm lợi nhuận và dẫn đến nộp ngân sách cũng sẽ giảm

- Ngân hàng bị thua lỗ và bị phá sản, sẽ ảnh hưởng đến nhiều người không vay được tiền ngân hàng, nhiều doanh nghiệp không được đáp ứng nhu cầu vốn…làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, gây rối loạn trật tự xã hội

1.2 HẠN CHẾ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 Nội dung công tác hạn chế nợ xấu

Hạn chế nợ xấu là quá trình ngân hàng sử dụng các công cụ, biện pháp trước, trong và sau khi cho vay nhằm khống chế nợ xấu ở mức thấp nhất trong giới hạn cho phép

Mục tiêu của hạn chế nợ xấu là giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp nhất Quá trình hạn chế nợ xấu là các hoạt động nhằm đạt mục tiêu được triển khai trong toàn bộ quá trình cho vay từ những hoạt động trước khi cho vay đến cả những hoạt động sau khi đã giải ngân cho khách hàng vay

Công tác hạn chế nợ xấu là hoạt động thường xuyên và hết sức quan trọng Nội dung công tác hạn chế nợ xấu có thể tiếp cận theo những góc độ khác nhau, theo cách tiếp cận từ thực tế hoạt động cho vay tại ngân hàng, để

Trang 33

đạt được mục tiêu hạn chế nợ xấu cần tập trung vào các nội dung cơ bản sau: [5] ,[9]

- Xác định kế hoạch và thiết lập chính sách tín dụng:

Để hạn chế nợ xấu, các ngân hàng cần xác định kế hoạch và thiết lập cho mình chính sách tín dụng phù hợp Chính sách tín dụng là hệ thống các quan điểm và công cụ do Hội đồng tín dụng đề ra và thực thi khi xem xét cấp tín dụng cho khách hàng nhằm mục tiêu quản lý tốt dư nợ và hạn chế rủi ro khi cho vay Chính sách tín dụng nói chung có hai trạng thái hay hai kiểu chính sách: mở rộng hoặc thắt chặt và được thực hiện thông qua các công cụ như lãi suất, tỷ lệ tham gia vốn của ngân hàng và tiêu chuẩn xét duyệt cấp tín dụng

Chính sách tín dụng mở rộng thể hiện ở những nội dung sau: Lãi suất cho vay ở mức thấp và vừa phải; tỷ lệ tham gia của vốn ngân hàng cho vay so với tổng nhu cầu vốn của khách hàng cao (từ 70-80%), quy trình đánh giá và xét duyệt cho vay nhanh chóng và ở mức độ dễ dàng Chính sách tín dụng mở rộng thích hợp nên được áp dụng trong hoàn cảnh tình hình nền kinh tế tăng trưởng và công tác quản lý tín dụng của ngân hàng được đảm bảo

Ngược lại, chính sách tín dụng thắt chặt thể hiện ở những nội dung: Lãi suất cho vay ở mức cao, tỷ lệ tham gia của vốn ngân hàng cho vay so với tổng nhu cầu vốn của khách hàng thấp (dưới 60%), quy trình đánh giá và xét duyệt cho vay kỹ lưỡng và ở mức độ khó khăn Chính sách tín dụng thắt chặt thích hợp và nên được áp dụng trong hoàn cảnh ngân hàng quản lý tín dụng kém hiệu quả hoặc nền kinh tế có dấu hiệu chựng lại mở đầu cho thời kỳ suy thoái

Chính sách tín dụng phù hợp là chính sách tín dụng linh hoạt chuyển đổi qua lại giữa hai trạng thái mở rộng và thắt chặt, tùy theo tình hình của nền kinh tế cũng như tình hình quản lý tín dụng của ngân hàng Mặt khác, chính sách tín dụng của ngân hàng cần gắn bó chặt chẽ với chính sách kinh tế vĩ mô,

Trang 34

đặt biệt là gắn với chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ương và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như lãi suất, tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng GDP.

- Đa dạng hóa danh mục cho vay:

Căn cứ chính sách tín dụng, ngân hàng xây dựng danh mục cho vay phù hợp từng thời kỳ Quản trị danh mục cho vay làm cân đối và kiềm chế rủi

ro danh mục bằng cách nhận dạng, dự báo và kiểm soát mức độ rủi ro với từng khách hàng, từng lĩnh vực, từng loại sản phẩm tín dụng…Đa dạng hóa danh mục cho vay là giải pháp phòng ngừa rủi ro rất hiệu quả trong hoạt động cho vay

Khi một ngân hàng phát triển chiến lược và kế hoạch kinh doanh của mình, họ phải xem xét đến các yếu tố và mức độ rủi ro của thị trường mục tiêu và phân khúc khách hàng của mình, sự kết hợp các loại sản phẩm, loại tiền cho vay, khả năng cấp tín dụng và trọng tâm của danh mục

Mặc dù hiểu rất rõ tầm quan trọng của việc đa dạng hóa danh mục cho vay, song ở trong một giai đoạn nhất định, có nhiều ngân hàng hay đầu tư nhiều vào những ngành theo xu hướng, trào lưu chung, ví dụ như: phân bón, thép, xi măng, bất động sản, năng lượng, đầu tư xây dựng cơ bản Một danh mục cho vay phụ thuộc chủ yếu vào một, vài ngành hoặc loại mặt hàng là cực

kỳ nguy hiểm Không có ngành nào là không có rủi ro và chỉ có đa dạng hóa mới giảm thiểu được rủi ro

- Thực hiện nghiêm túc quy trình cho vay:

Thực hiện nghiêm ngặt quy trình cho vay, thực hiện tốt công tác phân tích và thẩm định cho vay, tăng cường kiểm tra, giám sát khoản vay, theo dõi sát hoạt động kinh doanh, nguồn thu nhập của khách hàng để thu nợ cho vay kịp thời thì nợ xấu sẽ ít phát sinh Trong việc thực hiện quy trình cho vay của ngân hàng, đặc biệt chú trọng đến phân tích và thẩm định cho vay là khâu rất quan trọng trong toàn bộ quy trình cho vay Thực hiện tốt phân tích và thẩm

Trang 35

định cho vay sẽ giúp cho việc đưa ra quyết định cho vay chính xác và giảm thiểu rủi ro khi cho vay Để thực hiện tốt công tác phân tích và thẩm định cho vay, ngân hàng cũng cần chú ý thêm những công tác sau:

+ Xếp hạng tín dụng:

Mục đích của xếp hạng tín dụng là dựa trên cơ sở số liệu kiểm tra, phân tích dữ kiện từ các hồ sơ, các báo cáo tài chính để nhận xét đánh giá tình hình hoạt động, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán của doanh nghiệp nhằm xác định khả năng thu hồi vốn của ngân hàng

Ngân hàng định kỳ cần thực hiện xếp hạng tín dụng cho khách hàng, đánh giá lại khả năng trả nợ của khách hàng để từ đó có mức phân bổ dự phòng, điều chỉnh lại giới hạn cấp tín dụng cho khách hàng cho phù hợp hoặc thực hiện những biện pháp cần thiết để xử lý kịp thời những phát sinh bất thường

+ Bảo đảm tiền vay:

Quyết định cho vay phải trải qua nhiều khâu, dù phân tích, thẩm định rất kỹ nhưng vẫn không thể loại bỏ hoàn toàn sai lầm, nghĩa là vẫn còn tiềm

ẩn rủi ro khi cho vay Do vậy, để hạn chế rủi ro khách hàng không trả được nợ thì cần sử dụng hình thức bảo đảm tiền vay Khi khách hàng không còn khả năng trả nợ thì tiến hành xử lý tài sản để thu hồi nợ

+ Mua bảo hiểm khoản cho vay:

Trong nhiều trường hợp khách hàng vay vốn, đặc biệt là khách hàng cá nhân, không có tài sản thế chấp hoặc cầm cố nhưng họ vẫn có nhu cầu vay vốn Những khoản cho vay tiêu dùng để mua bất động sản chỉ dựa vào thu nhập của khách hàng để xem xét cho vay Thế nhưng, thu nhập thì hoàn toàn

lệ thuộc vào tình hình việc làm của khách hàng Những khách hàng nào có việc làm không mấy ổn định hoặc việc làm quá phụ thuộc vào tình trạng nền kinh tế, không thể đảm bảo có thu nhập để trả nợ vay mua bất động sản trong

Trang 36

một khoản thời gian dài đến 20 hoặc 30 năm Trong những trường hợp như vậy, ngân hàng cho khách hàng vay với điều kiện khách hàng mua bảo hiểm tín dụng Những khi khách hàng rơi vào tình trạng thất nghiệp, không có khả năng lao động, không có thu nhập trả nợ vay ngân hàng thì Công ty bảo hiểm

sẽ trả nợ thay cho khách hàng

- Tái cấu trúc các khoản nợ:

Đối với khách hàng phát sinh các khoản nợ trả không đúng hạn, ngân hàng cần phân tích, đánh giá lại tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng trả

nợ của khách hàng để có biện pháp tái cấu trúc các khoản nợ một cách hợp lý

để hạn chế nợ xấu Cụ thể như:

+ Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ: Đối với khách hàng khó khăn tạm thời về nguồn thu để trả nợ thì ngân hàng cần điều chỉnh lại kỳ hạn trả nợ cho hợp lý, phù hợp với thời gian có nguồn thu để khách hàng trả nợ đúng hạn

+ Chuyển vốn vay ngắn hạn sang cho vay trung, dài hạn: Khách hàng

có thể do khó khăn tạm thời về nguồn vốn đầu tư cho tài sản cố định nên đã

sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư vào tài sản dài hạn dẫn đến yếu khả năng thanh khoản, không trả nợ đúng hạn cho ngân hàng Ngân hàng cần cho vay trung, dài hạn để bù đắp khoản thiếu hụt của tài sản ngắn hạn đã sử dụng

để mua tài sản cố định nhằm giảm áp lực trả nợ đến hạn giúp khách hàng tăng cường hoạt động sản xuất kinh doanh và ngân hàng có điều kiện thu hồi dần được nguồn vốn đã cho vay

- Trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động cho vay:

Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng vay vốn không trả nợ đúng hạn như đã cam kết trong hợp đồng

Dự phòng rủi ro tạo ra nguồn bù đắp tổn thất cho ngân hàng khi rủi ro xảy ra Do vậy, lập quỹ dự phòng rủi ro được coi là một trong những biện

Trang 37

pháp quan trọng để tăng khả năng chống đỡ rủi ro trong cho vay của ngân hàng, giúp ngân hàng có thể ổn định và phát triển Mỗi ngân hàng thương mại cần phải trích lập dự phòng rủi ro đúng và đủ theo quy định của pháp luật.

- Bán các khoản nợ:

Ngân hàng có thể dùng biện pháp bán các khoản nợ khó có khả năng thu hồi cho các Công ty mua bán nợ để tiết kiệm thời gian và chi phí xử lý Tuy nhiên các khoản nợ bán cho Công ty mua bán nợ thường giá trị thu hồi thấp hơn nhiều so với khoản cho vay nên ngân hàng cần cân nhắc kỹ đối với các khoản nợ mình muốn bán

Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này nhằm nhanh chóng đưa các khoản nợ xấu ra khỏi bảng cân đối, các ngân hàng thường thành lập một tổ chức có tính chuyên môn hóa cao gọi là Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Công ty này sẽ thực hiện mua lại các khoản nợ của ngân hàng và thực hiện các biện pháp chuyên môn để đòi nợ từ khách hàng

- Sử dụng các biện pháp pháp lý để thu nợ:

Khi khách hàng không có thiện chí trả nợ hoặc không còn khả năng trả được các khoản nợ vay, ngân hàng cần chủ động xử lý các tài sản thế chấp, bảo lãnh một cách nhanh chóng để giảm các tổn thất do giá trị tài sản thế chấp, bảo lãnh giảm sút theo thời gian Đối với các khoản nợ mà ngân hàng không thể trực tiếp bán tài sản thế chấp, bảo lãnh hoặc không có tài sản bảo đảm để trả nợ thì ngân hàng khởi kiện ra Tòa án để thu nợ Tòa án sẽ có những phán quyết bắt buộc khách hàng trả nợ cho ngân hàng và cơ quan Thi hành án sẽ trực tiếp xử lý tài sản thế chấp, bảo lãnh, phong tỏa tài khoản và

xử lý những tài sản khác của khách hàng để trả nợ cho ngân hàng

- Sử dụng quỹ dự phòng để xử lý rủi ro:

Khi sử dụng tất cả các biện pháp để thu hồi nợ xấu nhưng vẫn không đạt hiệu quả, ngân hàng có thể sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong cho

Trang 38

vay Thực chất của biện pháp này là ngân hàng sử dụng nguồn tài chính của mình để xử lý gánh nặng nợ xấu một cách nhanh chóng nên ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của ngân hàng Việc sử dụng biện pháp này một cách mạnh mẽ sẽ làm giảm đáng kể lợi nhuận của ngân hàng trong khi vốn cho vay vẫn chưa thu hồi được Vì vậy, ngân hàng cần chú trọng vào các biện pháp thu hồi hiệu quả hơn.

1.2.2 Ý nghĩa của hạn chế nợ xấu

- Giảm tổn thất về tài chính cho NHTM: Khi cho vay mà hoạt động hạn chế nợ xấu thực hiện tốt, nợ xấu sẽ ở mức thấp thì Ngân hàng sẽ giảm được chi phí, giảm khả năng mất vốn, bảo đảm tình hình tài chính lành mạnh

- Làm tăng uy tín của NHTM: Hạn chế nợ xấu tốt thì hoạt động của Ngân hàng hiệu quả hơn, lợi nhuận sẽ cao hơn làm cho uy tín của Ngân hàng tăng lên, khách hàng sẽ gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn, có nguồn vốn dồi dào để cho vay

- Ổn định hệ thống ngân hàng, góp phần phát triển kinh tế đất nước: Khi hoạt động hạn chế nợ xấu của từng ngân hàng thực hiện tốt, nợ xấu được khống chế ở mức thấp sẽ đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định, đảm bảo nguồn vốn đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế, đất nước phát triển

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hạn chế nợ xấu

* Để xây dựng các chỉ tiêu đánh giá kết quả hạn chế nợ xấu thì dựa vào các chỉ tiêu sau:

- Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu / Tổng dư nợ

-Tỷ lệ nợ xấu đã thu hồi = Nợ xấu đã thu hồi/Tổng dư nợ

Nợ xấu đã thu hồi là nợ xấu phát sinh trước đây đã được ngân hàng thu hồi trong kỳ

- Tỷ lệ trích lập dự phòng RR=Dự phòng rủi ro đã trích lập/Tổng dư nợ

Trang 39

Dự phòng rủi ro đã trích lập là số dư quỹ dự phòng rủi ro mà ngân hàng

đã trích lập

- Tỷ lệ nợ xấu đã xử lý rủi ro = Nợ xấu đã xử lý rủi ro/Tổng dư nợ

Nợ xấu đã xử lý rủi ro là nợ xấu đã được ngân hàng sử dụng dự phòng

để xử lý rủi ro (những khoản nợ này được đưa ra hạch toán theo dõi ở ngoại bảng)

* Từ các chỉ tiêu trên xây dựng nên các chỉ tiêu đánh giá kết quả hạn chế nợ xấu:

- Mức giảm tỷ lệ nợ xấu: Tỷ lệ nợ xấu giảm theo thời gian thì công tác hạn chế nợ xấu thực hiện tốt hơn

- Sự cải thiện tỷ trọng các nhóm nợ trong nợ xấu: Chỉ tiêu này phản ánh

sự biến động của nợ nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 trong tổng nợ xấu qua thời gian Tỷ trọng của nhóm nợ rủi ro cao hơn trong tổng nợ xấu giảm theo thời gian phản ánh hoạt động hạn chế nợ xấu tốt hơn

- Mức giảm Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro: Chỉ tiêu này giảm phản ánh công tác hạn chế nợ xấu được cải thiện tốt hơn

- Mức tăng Tỷ lệ nợ xấu đã thu hồi: Chỉ tiêu này càng tăng thì cho thấy công tác thu hồi nợ xấu tốt hơn

- Mức tăng Tỷ lệ nợ xấu đã xử lý rủi ro: Tỷ lệ nợ xấu đã xử lý rủi ro tăng phản ánh nợ xấu trong nội bảng giảm, chỉ tiêu này tăng cho thấy ngân hàng tăng cường xử lý nợ xấu bằng nguồn trích lập dự phòng rủi ro

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hạn chế nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại [4], [9]

Nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hạn chế nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng, trong đó những nhân tố bên trong ngân hàng tác động rất lớn

và những nhân tố bên ngoài cũng có ảnh hưởng không nhỏ

* Nhân tố bên ngoài ngân hàng:

Trang 40

- Do khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế: Khi kinh tế tăng trưởng, các ngành kinh nghề doanh đều thuận lợi, dư nợ cho vay tăng trưởng nhanh nhưng gặp khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế thì các doanh nghiệp sẽ không ứng phó kịp, tồn kho lớn, hàng hóa khó tiêu thụ dẫn đến nhiều doanh nghiệp đối mặt với nguy cơ thua lỗ, thu nhập giảm sút không đảm bảo khả năng trả

nợ vay ngân hàng

- Tình hình an ninh, chính trị trong nước, khu vực và quốc tế không ổn định: Hoạt động kinh tế sẽ rất khó khăn, kinh tế đất nước sẽ đình đốn, không phát triển làm giảm thu nhập của doanh nghiệp và người dân

- Chính sách của Nhà nước không thuận lợi:

Khi các chính sách kinh tế của Nhà Nước không đồng bộ, các thủ tục hành chính phức tạp, không rõ ràng dẫn đến các tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng và hoạt động Ngân hàng cũng sẽ bị ảnh hưởng theo

Sự thay đổi liên tục các chính sách kinh tế vĩ mô như cơ chế lãi suất, tỷ giá, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách thuế thay đổi qui hoạch xây dựng hạ tầng, thay đổi cơ chế tài chính, cơ chế sử dụng tài nguyên thiên nhiên cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của cá nhân, tổ chức khiến đối tượng này gặp nhiều khó khăn và sẽ ảnh hưởng đến khả năng nợ cho các Ngân hàng thương mại

Sự thay đổi trong quan hệ quốc tế, trong quan hệ ngoại giao của chính phủ cũng là nguyên nhân gây rủi ro lớn cho kinh doanh cho vay của Ngân hàng Những yếu tố đó nhiều khi gây khó khăn và hạn chế việc mở rộng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng

Những tác động của môi trường bên ngoài tới bên vay vốn sẽ làm cho

họ bị tổn thất tài chính, dẫn đến việc không thực hiện được việc trả đầy đủ nợ gốc và lãi đối với Ngân hàng, thậm chí là mất khả năng thanh toán đi đến phá sản hoặc giải thể

Ngày đăng: 22/11/2017, 18:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w