Những nhóm thuốc đứng đầu theo doanh số bán ra ở từng quốc gia (1995): Tại Mỹ dược phẩm điều trị các bệnh thuộc về hệ thần kinh (chiếm 17% doanh số bán ra của tất cả các loại thuốc); Tại Nhật – dược phẩm điều trị các chứng bệnh về hệ tiêu hóa (15%); Tại Anh và Tây Ban Nha – các loại thuốc tim mạch (12%); Tại Pháp – kháng sinh (15%); Tại Đức – các loại thuốc điều trị những bệnh về hô hấp (11%). Trên quy mô toàn thế giới: Thuốc điều trị các bệnh viêm hô hấp cấp tính, viêm phổi và cúm (10%); Dược phẩm điều trị bệnh tim mạch (8%); Dược phẩm điều trị phong thấp (4%); Thuốc chống dị ứng (2%). Đại cương về sinh lý bệnh hô hấpHô hấp – sự trao đổi khí với môi trường nhằm cung cấp oxy và đào thải khí CO2 dưới sự điều khiển của trung tâm hô hấp ở hành não. Giai đoạn thông khí – hai động tác luân phiên hít vào – thở ra. Giai đoạn khuếch tán – trao đổi khí giữa phế nang và máu Giai đoạn vận chuyển – trao đổi khí oxy và CO2 của tế bào với máu và về phổi. Hô hấp tế bào – Sử dụng oxy trọng tế bào để tạo ra năng lượng cho hoạt động của tế bào. Rối loạn hô hấpRối loạn quá trình thông khí Rối loạn thông khí do độ cao 3000 m – bắt đầu thiếu oxy trong máu 4000 – 5000 m – độ cao tối đa chịu đựng được ko cần có thêm oxy nguyên chất. 6000 – 9000 m – thở bổ sung thêm oxy 10 000 m – oxy nguyên chất Khi áp suất oxy trong khí thở không cao hơn áp suất trong máu thì không có sự trao đổi trọng vách phế nang thiếu oxy trong máu. Não sẽ bị tê liệt, hôn mê khi thiếu oxy. Lượng CO2 cũng giảm đi Rối loạn quá trình thông khí – được đảm bảo là nhờ thành phần, áp lực không khí thở, hoạt động của bộ máy hô hấp. Khi sống ở độ cao > 4000 m – cơ thể sẽ tạo thêm hồng cầu (lên tới 6 triệuml) Rối loạn do ngạt – người bình thường cần 250 – 300 lítngày. Hiện tượng ngạt – khi đường hô hấp bị tắc nghẽn – lượng oxy giảm xuống và áp suất chỉ còn 70mm Hg. Lượng CO2 quá cao, lượng O2 thấp và cũng giống như trường hợp rối loạn do độ cao – đói oxy. Nếu thể tích O2 giảm từ 21% xuống 1214% và lượng CO2 tăng tới 8% sẽ có các hiện tượng khó thở, thở nhanh, nhức đầu, mệt mỏi … Giai đoạn kích thích hô hấp – thở nhanh, sâu, huyết áp tăng … chưa cần hô hấp nhân tạo Giai đoạn ức chế hô hấp – hô hấp chậm, ngừng thở, co giật … hô hấp nhân tạo. Giai đoạn cuối – vỏ não và trung tâm hô hấp … tê liệt, không hồi phục, các phản xạ ko còn, cơ hội cứu sống không cao. Nếu lượng O2 quá thấp hay CO2 quá cao sẽ làm tổn thương não. Lượng CO2 cao làm trung tâm hô hấp bị tê liệt. 70mm Hg (cùng mức với lượng oxy ở tĩnh mạch) Khi tỷ lệ O2 còn 8% và CO2 tới 12% cơ thể sẽ chết. Rối loạn do các bệnh của bộ máy hô hấpLiệt cơ hô hấp Do các dây thần kinh tủy sống bị hư hại (liệt cơ) Viêm đa dây thần kinh Cơ ngực Tổn thương cột sống khu vực cổ ngực. Tổn thương lồng ngực Gãy xương sườn Vẹo cột sống Tràn khí màng phổi – thủng màng phổi > Nhu mô phổi xẹp và hạn chế diện tích hô hấp. Tràn dịch màng phổi – có dịch trong màng phổi (do nhiễm khuẩn, lao, ung thư …) Nhu mô phổi không nở ra khi hít vàoChướng ngại đường hô hấp Chướng ngại đường hô hấp trên: sưng họng, u đường hô hấp, áp xe hầu … Chương ngại đường hô hấp dưới: hen phế quản và viêm phổi Hen phế quản (dạng dị ứng hay gặp) – khó thở , co thắt cơ trơn phế quản + phù và xuất tiết làm hẹp đường thông khí – gây khó thở ra. Viêm phổi – các phế quản nhỏ, phế nang, mô liên kết vị nhiễm khuẩn – tổn thương. Rối loạn thông khí mạnh KL: Phế nang thực hiện trao đổi khí với bên ngoài (thông khí, chủ động) và bên trong (khuếch tán, thụ động). Vào: áp lực CO2 thấp hơn và áp lực O2 ở phế nang cao hơn trong máu. Ra: Máu ở mao mạch (tĩnh mạch) gần phế nang, luôn có áp lực CO2 cao và áp lực O2 thấp để thực hiện thải khí CO2 và tiếp nhận O2 Quá trình thông khí thường xuyên đảm bảo quá trình “vào”, luôn cung cấp lượng O2 mới. Màng khuếch tán đủ rộng và mỏng để thực hiện trao đổi đủ về số lượng và chất lượng. Thuốc tác dụng lên hệ hô hấp Thuốc long đờm Thuốc chữa ho Thuốc chữa hen Thuốc dùng hồi sức cấp cứu Thuốc long đờm và điều chỉnh bài tiết dịch khí –phế quản Đờm – dịch khí phế quản – có tác dụng làm sạch các hạt bụi, vi khuẩn, nhờ hệ thống lông mao đẩy ra ngoài. Thuốc long đờm: thuốc làm tăng tiết dịch và thuốc làm tiêu chất nhày. Tăng tiết dịch ở đường hô hấp, bảo vệ niêm mạc, làm lỏng đờm và đào thải ra ngoài bằng phản xạ ho. Tiêu chất nhày làm giảm độ nhớt và bị đào thải bằng hoạt động ho. Bình thường lượng dịch không nhiều nên hô hấp không bị cản trở. Đờm – dịch khí phế quản – có tác dụng làm sạch các hạt bụi, vi khuẩn, nhờ hệ thống lông mao đẩy ra ngoài. Thuốc long đờm: thuốc làm tăng tiết dịch và thuốc làm tiêu chất nhày. Tăng tiết dịch ở đường hô hấp, bảo vệ niêm mạc, làm lỏng đờm và đào thải ra ngoài bằng phản xạ ho. Tiêu chất nhày làm giảm độ nhớt và bị đào thải bằng hoạt động ho. Bình thường lượng dịch không nhiều nên hô hấp không bị cản trở. Đờm – dịch khí phế quản – có tác dụng làm sạch các hạt bụi, vi khuẩn, nhờ hệ thống lông mao đẩy ra ngoài. Thuốc long đờm: thuốc làm tăng tiết dịch và thuốc làm tiêu chất nhày. Tăng tiết dịch ở đường hô hấp, bảo vệ niêm mạc, làm lỏng đờm và đào thải ra ngoài bằng phản xạ ho. Tiêu chất nhày làm giảm độ nhớt và bị đào thải bằng hoạt động ho. Bình thường lượng dịch không nhiều nên hô hấp không bị cản trở.
Trang 1THUỐC TÁC ĐỘNG LÊN HỆ HÔ HẤP
Trang 2Tổng quan
• Những nhóm thuốc đứng đầu theo doanh số bán ra ở từng quốc gia (1995):
cả các loại thuốc);
– Tại Đức – các loại thuốc điều trị những bệnh về hô hấp (11%)
• Trên quy mô toàn thế giới:
Trang 3Đại cương về sinh lý bệnh hô hấp
• Hô hấp – sự trao đổi khí với môi trường nhằm cung cấp oxy và đào thải khí CO2 dưới sự điều khiển của trung tâm hô hấp ở hành não.
– Giai đoạn thông khí – hai động tác luân phiên hít vào – thở ra
– Giai đoạn khuếch tán – trao đổi khí giữa phế nang và máu
– Giai đoạn vận chuyển – trao đổi khí oxy và CO2 của tế bào với máu và về phổi
– Hô hấp tế bào – Sử dụng oxy trọng tế bào để tạo ra năng lượng cho hoạt động của tế bào
Trang 4Rối loạn hô hấp
• Rối loạn quá trình thông khí
– Rối loạn thông khí do độ cao
• 3000 m – bắt đầu thiếu oxy trong máu
• 4000 – 5000 m – độ cao tối đa chịu đựng được ko cần có thêm oxy nguyên chất
• 6000 – 9000 m – thở bổ sung thêm oxy
• 10 000 m – oxy nguyên chất – Khi áp suất oxy trong khí thở không cao hơn áp suất trong máu thì không có sự trao đổi trọng vách phế nang thiếu oxy trong máu
– Não sẽ bị tê liệt, hôn mê khi thiếu oxy Lượng CO2 cũng giảm đi
Trang 5- Rối loạn quá trình thông khí – được đảm bảo là nhờ thành phần, áp lực không khí thở, hoạt động của bộ máy hô hấp
- Khi sống ở độ cao > 4000 m – cơ thể sẽ tạo thêm hồng cầu (lên tới 6 triệu/ml)
Trang 6• Rối loạn do ngạt – người bình thường cần 250 – 300 lít/ngày
• Hiện tượng ngạt – khi đường hô hấp bị tắc nghẽn – lượng oxy giảm xuống và áp suất chỉ còn 70mm Hg Lượng
CO2 quá cao, lượng O2 thấp và cũng giống như trường hợp rối loạn do độ cao – đói oxy
• Nếu thể tích O2 giảm từ 21% xuống 12-14% và lượng CO2 tăng tới 8% sẽ có các hiện tượng khó thở, thở
nhanh, nhức đầu, mệt mỏi …
– Giai đoạn kích thích hô hấp – thở nhanh, sâu, huyết áp tăng … chưa cần hô hấp nhân tạo
– Giai đoạn ức chế hô hấp – hô hấp chậm, ngừng thở, co giật … hô hấp nhân tạo.
– Giai đoạn cuối – vỏ não và trung tâm hô hấp … tê liệt, không hồi phục, các phản xạ ko còn, cơ hội cứu
sống không cao
Trang 7- Nếu lượng O2 quá thấp hay CO2 quá cao sẽ làm tổn thương não.
- Lượng CO2 cao làm trung tâm hô hấp bị tê liệt.
- Khi tỷ lệ O2 còn 8% và CO2 tới 12% cơ thể sẽ chết.
Trang 8Rối loạn do các bệnh của bộ máy hô hấp
• Liệt cơ hô hấp
– Do các dây thần kinh tủy sống bị hư hại (liệt cơ)
– Viêm đa dây thần kinh
– Tràn khí màng phổi – thủng màng phổi -> Nhu mô phổi xẹp và hạn chế diện tích hô hấp
– Tràn dịch màng phổi – có dịch trong màng phổi (do nhiễm khuẩn, lao, ung thư …) Nhu mô phổi không
nở ra khi hít vào
Trang 9– Chướng ngại đường hô hấp
• Chướng ngại đường hô hấp trên: sưng họng, u đường hô hấp, áp xe hầu …
• Chương ngại đường hô hấp dưới: hen phế quản và viêm phổi
– Hen phế quản (dạng dị ứng hay gặp) – khó thở , co thắt cơ trơn phế quản + phù và xuất tiết làm hẹp đường thông khí – gây khó thở ra
– Viêm phổi – các phế quản nhỏ, phế nang, mô liên kết vị nhiễm khuẩn – tổn thương Rối loạn thông khí mạnh
–KL: Phế nang thực hiện trao đổi khí với bên ngoài (thông khí, chủ động) và bên trong (khuếch tán, thụ động) –Vào: áp lực CO2 thấp hơn và áp lực O2 ở phế nang cao hơn trong máu.
–Ra: Máu ở mao mạch (tĩnh mạch) gần phế nang, luôn có áp lực CO2 cao và áp lực O2 thấp để thực hiện thải khí CO2 và tiếp nhận O2
Trang 10- Quá trình thông khí thường xuyên đảm bảo quá trình “vào”, luôn cung cấp lượng O2 mới.
- Màng khuếch tán đủ rộng và mỏng để thực hiện trao đổi đủ
về số lượng và chất lượng.
Trang 11Thuốc tác dụng lên hệ hô hấp
• Thuốc dùng hồi sức cấp cứu
Trang 12Thuốc long đờm và điều chỉnh bài tiết dịch khí –phế quản
• Đờm – dịch khí - phế quản – có tác dụng làm sạch các hạt bụi, vi khuẩn, nhờ hệ thống lông mao đẩy ra ngoài
• Thuốc long đờm: thuốc làm tăng tiết dịch và thuốc làm tiêu chất nhày Tăng tiết dịch ở đường hô hấp, bảo vệ niêm mạc, làm lỏng đờm và đào thải ra ngoài bằng phản xạ ho Tiêu chất nhày làm giảm độ nhớt và bị đào thải bằng hoạt động ho
• Bình thường lượng dịch không nhiều nên hô hấp không bị cản trở
Khi có bệnh, dịch tiết nhiều và gây cản trở đường hô hấp
Xét nghiệm đờm sẽ chuẩn đoán được nguyên nhân gây bệnh đường hô hấp
Có sự thay đổi về hình thái, độ đậm đặc nhận biết được tiến trình của bệnh và nguyên nhân
Trang 13OH
OHOH
Trang 14Thuốc chữa ho
• Ho
– Cơ chế phản xạ bảo vệ của cơ thể để tống các dị vật ở phần hô hấp trên ra ngoài
– Là hiện tượng thể hiện triệu chứng của một số bệnh: viêm nhiễm đường hô hấp, viêm phế quản, viêm phổi
và nhiễm lạnh
• Chỉ dùng thuốc giảm ho trong trường hợp không có đờm (cảm cúm, kích thích, dị ứng … )
• Không dùng thuốc giảm ho trong trường hợp ho có đờm (vì đây là cơ chế làm sạch đường thở - viêm phế quản
…)
• Thuốc giảm ho là điều trị triệu chứng nên cần kết hợp với các thuốc khác để điều trị nguyên nhân bệnh
Thường không nhất thiết điều trị ho, nhưng nếu ho nhiều sẽ gây tổn thương mao quản, mết mỏi, khó thở và do đó có thể làm dịu cơn ho bằng các thuốc giảm ho, nhưng đồng thời cũng phải điều trị các bằng kháng sinh và các loại thuốc khác
Trang 15Cơ chế và một số loại thuốc chính
• Cơ chế tác dụng của thuốc giảm ho là ức chế trung tâm ho ở hành tủy và giảm kích thích ở các vùng liên quan, các dây thần kinh
Các thuốc thông thường: codein,
thuốc phiện, codethilin, narcotin
…
Khi điều trị có thể phối hợp với
các thuốc long đờm
Trang 16• Thuốc chữa ho ngoại biên
– Làm giảm phản xạ ho bằng cách giảm nhạy cảm (bảo vệ hoặc bao phủ) các thụ cảm quan ở đường hô hấp (mật ong, xiro…)
– Gây tê các đầu dây thần kinh gây phản xạ ho: (menthol, benzonat, lidocain …)
• Thuốc giảm ho trung ương - ức chế trực tiếp/nâng cao ngưỡng kích thích của trung tâm ho ở hành tủy, an
Pholcodine
Trang 18Thuốc điều trị Hen
• Hen phế quản – viêm mãn tính đường hô hấp Nguyên nhân do dị ứng (phấn hoa, thực phẩm,…) không dị ứng (nhiễm khuẩn, lao lực – gắng sức, rối loại nội tiết …)
• Có hai nhóm thuốc chính:
– Thuốc làm giãn phế quản: thuốc hủy phó giam cảm; thuốc cường hệ beta-adrenergic.
• Kích thích các receptor beta-adrenergic làm giãn cơ trơn khí phế quản – có tác dụng ngắn hạn – nhanh (salbutamol, terbutalin … dạng hít, tác dụng dau 2 phút thời gian 5 tiếng) Hoặc tác dụng dụng lâu – 12 tiếng (gắn vào receptor mạnh hơn: salmeterol, formoterol …)
– Thuốc chống viêm
Trang 19HO
CH3
OCH3
Trang 20(+)-Camphor (long não) tự nhiên - dẫn xuất bicyclopentan - thu được bằng phương pháp chưng cất cuốn hơi nước hoặc được tổng hợp từ α-pinen (1) qua hợp chất formiat (2) Kích thích cơ quan hô hấp
Trang 21Menthol
• 2-hydroxy-1-isopropyl-4-methylhexan với tất cả các nhóm thế đều nằm ở vị trí equatorial được sử dụng làm thuốc giảm đau bôi ngoài da và làm thuốc sát trùng trong điều trị viêm nhiễm đường hô hấp trên Ngoài ra, nó còn được sử dụng chống đau co thắt khi điều trị chứng đau thắt ngực
Tác động lên hệ thần kinh TƯ điều khiển trung tâm hô hấp ở hành não - cafein, các alcaloid của xanthin