1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KIẾN THỨC và THỰC HÀNH về QUẢN lý CHẤT THẢI rắn y tế của NHÂN VIÊN y tế tại BA BỆNH VIỆN TỈNH KIÊN GIANG năm 2018

83 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô tả kiến thức, thực hành về quản lý chất thải rắn y tế phân định, phân loại, thu gom và giảm thiểu của nhân viên y tế tại 3 bệnh viện tỉnh Kiên Giang năm 2018.. Nghiên cứu nhận thức và

Trang 1

ĐỖ THỊ NGA

KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BA BỆNH VIỆN TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2018

Trang 2

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này em đã nhận được sự động viên, giúp

đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân, tập thể, các thầy cô, gia đình và bạn bè

Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Y HàNội; Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, Phòng quản lí đào tạo Đạihọc Trường Đại học Y Hà Nội, Phòng Đào tạo, Nghiên cứu khoa học, Bộ môn Sứckhỏe môi trường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong quá trình họctập và nghiên cứu để em có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Thị Hoàn - Chủ nhiệm đề tài nghiên

cứu “Xây dựng hướng dẫn thực hiện giảm thiểu chất thải rắn y tế nguy hại tại

bệnh viện” đã cho phép em sử dụng một phần số liệu của đề tài để thực hiện khóa

luận tốt nghiệp

Em xin cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang, BV đa khoahuyện Tân Hiệp, BV đa khoa tư nhân Bình An và các khoa phòng: Ngoại lồngngực, nội tổng quát, huyết học, sản, chẩn đoán hình ảnh, vi sinh, hóa sinh, cùngtoàn thể các nhân viên y tế tại các BV đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ emtrong suốt quá trình thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Trần Thị Thoa, cô làngười đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho emtrong suốt qua trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận này

Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với bố mẹ, người thân tronggia đình em và bạn bè đã động viên, chia sẻ giúp em vượt qua mọi khó khăn trongquá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Trang 3

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-*** -LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi:

- Phòng Đào tạo đại học trường Đại học Y Hà Nội

- Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng

- Phòng Đào tạo, Nghiên cứu khoa học, Hợp tác quốc tế Viện Đào tạo Y học

dự phòng và Y tế công cộng

- Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Tên em là Đỗ Thị Nga

Sinh viên tổ 30, lớp Y6H – Y học dự phòng, Trường Đại học Y Hà Nội

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu được tiến hành nghiêm túc,trung thực Kết quả nghiên cứu chưa từng được công bố trong công trình, tài liệunào Em đã được chủ nhiệm đề tài cho phép sử dụng một phần số liệu để thực hiệnkhóa luận tốt nghiệp

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Sinh viên

Đỗ Thị Nga

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Một số khái niệm về chất thải và chất thải y tế 3

1.2 Phân định, phân loại, thu gom và giảm thiểu chất thải y tế 4

1.3 Ảnh hưởng của chất thải y tế đến sức khỏe và môi trường 8

1.4 Thực trạng kiến thức, thực hành về quản lý chất thải rắn y tế của nhân viên y tế 10

1.5 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức của NVYT về quản lý chất thải y tế 14

1.6 Một số đặc điểm về tỉnh Kiên Giang 15

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.2 Địa điểm nghiên cứu 17

2.3 Thời gian nghiên cứu 17

2.4 Phương pháp nghiên cứu 17

2.5 Biến số và chỉ số nghiên cứu 18

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 22

2.7 Sai số và cách khống chế 23

2.8 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 24

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 24

2.10 Hạn chế của nghiên cứu 24

Trang 5

3.2 Kiến thức và thực hành về quản lý chất thải rắn y tế của nhân viên y tế 27

3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức của NVYT về quản lý chất thải rắn y tế 38

Chương 4: BÀN LUẬN 40

4.1 Kiến thức, thực hành về quản lý chất thải rắn y tế của nhân viên y tế 40

4.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức của nhân viên y tế về quản lý chất thải rắn y tế 46

4.3 Bàn luận về một số hạn chế của nghiên cứu và gợi ý các nghiên cứu tiếp theo 48

KẾT LUẬN 49

KHUYẾN NGHỊ 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

BTNMT Bộ tài nguyên môi trường

QLCTRYT Quản lý chất thải rắn y tế

QLCTYT Quản lý chất thải y tế

TTLT Thông tư liên tịch

WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thông tin chung 18

Trang 7

Bảng 2.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế

của nhân viên y tế tại 3 bệnh viện 21 Bảng 3.1 Thông tin chung 25 Bảng 3.2 Kiến thức chung về văn bản và quy trình quản lý chất thải y tế 27 Bảng 3.3 Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đạt về phân định chất thải rắn y tế.

27

Bảng 3.4 Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đạt về bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu

chứa chất thải rắn y tế 28 Bảng 3.5 Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đạt về phân loại chất thải rắn y tế.

35

Bảng 3.11 Thực hành phân loại chất thải tái chế của nhân viên y tế tại bệnh

viện 36 Bảng 3.12 Mối liên quan giữa kiến thức của NVYT về quản lý CTRYT với một

số yếu tố đặc trưng cá nhân 38 Bảng 3.13 Mối liên quan giữa kiến thức của NVYT và tập huấn về

QLCTRYT 39 Bảng 3.14 Mối liên quan giữa kiến thức của NVYT và số lần tập huấn về quản

lý CTRYT 39

Trang 8

Biểu đồ 3.1 Kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế 30 Biểu đồ 3.2 Kiến thức về quản lý CTRYT của nhân viên y tế tại ba bệnh viện.

32

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ kiến thức đạt ở các khâu quản lý chất thải rắn y tế tại ba bệnh

viện 33 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ nhân viên y tế thực hành chung đạt về phân loại chất thải rắn y

tế 34

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ nhân viên y tế đạt thực hành chung về giảm thiểu chất thải rắn y tế 37

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chất thải y tế (CTYT) là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các

cơ sở y tế [1] Theo báo cáo của Cục quản lý môi trường y tế năm 2018, cả nước có13.664 cơ sở y tế, trong đó có 1.488 cơ sở khám chữa bệnh viện; 1.016 cơ sở thuộc

hệ dự phòng; 77 cơ sở đào tạo Y, dược và 11.083 trạm y tế xã Ở các bệnh viện nóiriêng, có khoảng 450 tấn chất thải rắn được phát thải/ngày, trong đó có 47 tấn chấtthải rắn y tế nguy hại, ngoài ra tổng lượng nước thải y tế từ các bệnh viện khoảng125.000m3/ngày đêm Chất thải y tế này phát sinh từ cơ sở y tế, bao gồm từ hoạtđộng y tế và hoạt động sinh hoạt của người bệnh và người nhà bệnh nhân Trong đóchất thải y tế thông thường chiếm khoảng 80%-90% tổng lượng chất thải, lượng cònlại là chất thải y tế nguy hại, gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại khônglây nhiễm [2]

Chất thải y tế tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro lây nhiễm các mầm bệnh hoặc gâynguy hại cho người bệnh, nhân viên y tế, cộng đồng và có thể gây tác động xấu đếntất cả các khía cạnh của môi trường (đất, nước, không khí) [3] Một khảo sát củaViện Y học lao động và môi trường ghi nhận: 35% số cán bộ, nhân viên y tế bịthương tích do vật sắc nhọn gây nên, 70% trong số đó thuộc ngành y Theo thống

kê, có khoảng 80% bị nhiễm HIV, HBV, HCV nghề nghiệp do thương tích của vậtsắc nhọn và kim tiêm Ngoài ra, việc tái chế, tái sử dụng hoặc xử lý không an toànchất thải y tế lây nhiễm bao gồm cả chất nhựa và các vật sắc nhọn có thể có tácđộng lâu dài đến sức khỏe của cộng đồng [4] Quản lý CTYT không đúng cũng dẫnđến sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại,…vào môi trường và gây

ô nhiễm môi trường [3] Tuy chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với chất thải sinh hoạt và chấtthải công nghiệp nhưng nếu không có phương pháp đúng đắn để xử lý, các thànhphần nguy hại trong chất thải sẽ là ẩn họa gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng,ảnh hưởng đến sức khỏe của con người cũng như cộng đồng

Cho đến nay, các cơ sở y tế đã có nhiều nỗ lực trong công tác quản lý chất thải

y tế nhưng vẫn đang bộc lộ một số bất cập Kiến thức và thực hành của nhân viên y

Trang 11

tế rất quan trọng trong công tác quản lý CTYT nhưng theo một số NC gần đây, kiếnthức, thực hành của NVYT còn chưa cao NC của Lâm Hoàng Dũng và NguyễnBích Diệp về quản lý CTRYT của NVYT tại 3 BV chuyên khoa thành phố Cần Thơnăm 2015 cho thấy: chỉ có 68,2% nhân viên y tế có kiến thức chung đúng về quản

lý chất thải rắn y tế và 86,9% có thực hành chung đúng về phân loại chất thải rắn y

tế [5] Nghiên cứu khác của Châu Võ Thụy Diễm Thúy và cộng sự năm 2015 vềphân loại, thu gom CTRYT tại BV đa khoa Đồng Tháp cũng cho thấy: Kiến thức cơbản về quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức thu gom của nhân viên y tế mới chỉđạt 47,8% và 49,7% [6] Những NVYT có kiến thức và thực hành về quản lý CTYTchưa tốt có thể dẫn đến sai sót trong quá trình phân loại, thu gom, cũng như toàn bộcác khâu quản lý CTYT, có thể làm tăng số lượng chất thải cũng như tăng nhữngnguy cơ đối với môi trường, sức khỏe cộng đồng và bản thân cán bộ y tế Chính vìvậy, một nghiên cứu kiến thức, thực hành về quản lý chất thải rắn y tế của nhân viên

y tế là điều cần thiết. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện NC: “Kiến

thức và thực hành về quản lý chất thải rắn y tế của nhân viên y tế tại ba bệnh viện tỉnh Kiên Giang năm 2018” với 2 mục tiêu:

1 Mô tả kiến thức, thực hành về quản lý chất thải rắn y tế (phân định, phân loại, thu

gom và giảm thiểu) của nhân viên y tế tại 3 bệnh viện tỉnh Kiên Giang năm 2018

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế của

nhân viên y tế tại 3 bệnh viện tỉnh Kiên Giang năm 2018

Đây là một phần của đề tài “Xây dựng hướng dẫn thực hiện giảm thiểu

chất thải rắn y tế nguy hại tại bệnh viện” do trường Đại Học Y Hà Nội thực hiện.

Kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng để cung cấp bằng chứng khoa học giúp các nhàhoạch định chính sách có cơ sở xây dựng hướng dẫn giảm thiểu chất thải rắn y tế

đảm bảo tính hiệu quả và có khả năng ứng dụng cao trong thực tế, quản lý tốt hơnđối với các chất thải y tế phát sinh đồng thời hướng tới mục tiêu xây dựng cơ sở y tếxanh-sạch-đẹp, bắt kịp với xu hướng của thế giới

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN

Một số khái niệm về chất thải và chất thải y tế

Chất thải (CT): là những vật chất được thải bỏ sinh ra trong quá trình hoạt

động sản xuất, ăn uống, sinh hoạt của con người

Chất thải rắn: là tất cả chất thải không phải nước thải và khí thải [7].

Chất thải y tế (CTYT): là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của

các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nướcthải y tế

Chất thải rắn y tế (CTRYT): là chất thải ở thể rắn phát sinh từ các hoạt động

chẩn đoán, xét nghiệm, khám chữa điều trị, các nghiên cứu liên quan,… bao gồmchất thải thông thường và chất thải nguy hại

Chất thải y tế nguy hại: là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc

tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm vàchất thải nguy hại không lây nhiễm [1]

Chất thải y tế thông thường là những chất thải không gây ra những vấn đề

nguy hiểm đặc biệt cho sức khỏe con người và môi trường Chất thải thông thườngđược coi là tương đương với chất thải sinh hoạt và thường phát sinh ở khu hànhchính từ các hoạt động lau dọn, vệ sinh hàng ngày của các bệnh viện [8]

Quản lý chất thải y tế (QLCTYT): là quá trình giảm thiểu, phân định, phân

loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trìnhthực hiện

Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải

chất thải y tế

Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh và

vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y tế

Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi lưu

giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất

Trang 13

thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở

xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế [1]

Phân định, phân loại, thu gom và giảm thiểu chất thải y tế.

Phân loại chất thải y tế theo tổ chức y tế thế giới (WHO).

Chất thải y tế được phân ra làm 8 loại:

- Chất thải nhiễm trùng: là chất thải có chứa mầm bệnh như vi khuẩn, virus, kýsinh trùng với số lượng đủ để gây bệnh cho những người dễ bị cảm nhiễm

 Môi trường nuôi cấy từ phòng thí nghiệm

 Rác từ phòng mổ, nhất là từ phòng mổ tử thi và bệnh nhân bị nhiễm trùng

 Rác từ phòng cách ly bệnh nhân bị nhiễm trùng

 Súc vật được tiêm truyền trong phòng thí nghiệm

 Dụng cụ hoặc vật tiếp xúc với bệnh nhân bị truyền nhiễm

 Chất thải sắc nhọn có thể làm rách hoặc tổn thương da bao gồm: bơm kimtiêm, dao mổ, bộ tiêm truyền,…

- Thuốc thải loại: gồm thuốc quá hạn, thuốc không dùng hoặc các loại vaccin,huyết thanh, kể cả chai lọ chứa đựng chúng,…

- Chất thải có tính độc với tế bào: có thể làm biến đổi gen, gây quái thai như cácthuốc chống ung thư

- Hóa chất: có thể dưới dạng rắn, lỏng, khí

 Hóa chất độc

 Hóa chất có tính ăn mòn (pH<2 hoặc pH>2)

 Hóa chất dễ gây nổ

- Rác chứa kim loại nặng, độc: chất chứa chì, thủy ngân, asen,…

- Các bình chứa khí nén: được dùng trong y tế dưới dạng oxy, khí gây mê

- Chất phóng xạ: không thể phát hiện bằng các giác quan, chúng thường gấy ảnhhưởng lâu dài (gây ion hóa tế bào) như tia X, tia α, tia β,… [9], [10]

Phân định, phân loại, thu gom và giảm thiểu chất thải y tế tại Việt Nam.

Theo thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT- BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ

Y tế - Bộ tài nguyên môi trường, chất thải y tế được phân định và phân loại như sau:

Trang 14

1.2.2.1 Phân định chất thải y tế.

Chất thải lây nhiễm bao gồm:

a) Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt

hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắc nhọn của dâytruyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh, cưa dùng trong phẫuthuật và các vật sắc nhọn khác

b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính, chứa máu

hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly

c) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng,

dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xétnghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định số 92/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định

d) Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật

thí nghiệm

Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:

a) Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại.

b) Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà

sản xuất

c) Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim

loại nặng

d) Chất hàn răng amalgam thải bỏ.

e) Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TTLT-BTNMT

ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

Chất thải y tế thông thường bao gồm:

a) Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và

chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế

b) Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc danh mục chất

thải y tế nguy hại

c) Sản phẩm thải lỏng không nguy hại.

Trang 15

1.2.2.2 Phân loại chất thải y tế.

Nguyên tắc phân loại chất thải y tế:

a) Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường phải phân loại để quản lý

ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh

b) Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bị

lưu chứa chất thải Trường hợp các chất thải y tế nguy hại không có khả năngphản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một phương pháp xử lý có thểđược phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa

c) Khi chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc ngược lại thì hỗn hợp chất

thải đó phải thu gom, lưu giữ và xử lý như chất thải lây nhiễm

Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải:

a) Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải bố trí vị trí để đặt các bao bì, dụng cụ phân loại

chất thải y tế

b) Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế phải có hướng dẫn cách phân

loại và thu gom chất thải

Phân loại chất thải y tế:

a) Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp có màu vàng.

b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi

có lót túi và có màu đen

f) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng: Đựng trong các dụng cụ có nắp

đậy kín

g) Chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi

hoặc trong thùng có lót túi và có màu xanh

Trang 16

h) Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc trong

thùng có lót túi và có màu trắng

1.2.2.3 Thu gom chất thải y tế

Thu gom chất thải lây nhiễm:

a) Chất thải lây nhiễm phải thu gom riêng từ nơi phát sinh về khu vực lưu giữ chất

thải trong khuôn viên cơ sở y tế;

b) Trong quá trình thu gom, túi đựng chất thải phải buộc kín, thùng đựng chất thải

phải có nắp đậy kín, bảo đảm không bị rơi, rò rỉ chất thải trong quá trình thu gom

c) Cơ sở y tế quy định tuyến đường và thời điểm thu gom chất thải lây nhiễm phù

hợp để hạn chế ảnh hưởng đến khu vực chăm sóc người bệnh và khu vực kháctrong cơ sở y tế;

d) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử lý sơ bộ trước khi thu gom về khu

lưu giữ, xử lý chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế;

e) Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu giữ chất thải

trong khuôn viên cơ sở y tế ít nhất 01 (một) lần/ngày;

f) Đối với các cơ sở y tế có lượng chất thải lây nhiễm phát sinh dưới 05 kg/ngày,

tần suất thu gom chất thải lây nhiễm sắc nhọn từ nơi phát sinh về khu lưu giữtạm thời trong khuôn viên cơ sở y tế hoặc đưa đi xử lý, tiêu hủy tối thiểu là 01(một) lần/tháng

Thu gom chất thải nguy hại không lây nhiễm:

a) Chất thải nguy hại không lây nhiễm được thu gom, lưu giữ riêng tại khu lưu giữ

chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế;

b) Thu gom chất hàn răng amalgam thải và thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng

có chứa thủy ngân: Chất thải có chứa thủy ngân được thu gom và lưu giữ riêngtrong các hộp bằng nhựa hoặc các vật liệu phù hợp và bảo đảm không bị rò rỉhay phát tán hơi thủy ngân ra môi trường

Thu gom chất thải y tế thông thường: Chất thải y tế thông thường phục vụ

mục đích tái chế và chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chếđược thu gom riêng

Trang 17

1.2.2.4 Giảm thiểu chất thải y tế

Cơ sở y tế phải thực hiện các biện pháp giảm thiểu phát sinh chất thải y tế theothứ tự ưu tiên sau:

a) Lắp đặt, sử dụng các thiết bị, dụng cụ, thuốc, hóa chất và các nguyên vật liệu

phù hợp, bảo đảm hạn chế phát sinh chất thải y tế

b) Đổi mới thiết bị, quy trình trong hoạt động y tế nhằm giảm thiểu phát sinh chất

thải y tế

c) Quản lý và sử dụng vật tư hợp lý và hiệu quả [1]

Ảnh hưởng của chất thải y tế đến sức khỏe và môi trường.

Ảnh hưởng của chất thải y tế đến sức khỏe.

Đối tượng chịu ảnh hưởng:

Tất cả các cá nhân tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với chất thải y tế nguy hại

ở bên trong hay bên ngoài khuôn viên bệnh viện, tại tất cả các công đoạn từ phátsinh, thu gom, vận chuyển và xử lý đều chịu tác động xấu đến sức khoẻ

Ảnh hưởng của chất thải y tế tới sức khỏe:

Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm.

Trong thành phần của chất thải lây nhiễm có thể chứa đựng một lượng lớn cáctác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan B,… Các tácnhân truyền nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức: qua

da, niêm mạc; qua đường hô hấp; qua đường tiêu hóa;

Chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải rất nguy hiểm, gây tổn thương

kép tới sức khỏe con người: vừa gây chấn thương: vết cắt, vết đâm, , vừa gây bệnhtruyền nhiễm như viêm gan B, HIV, nếu trong chất thải có các loại mầm bệnh này

Nước thải bệnh viện nếu bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch

bệnh cho con người và động vật qua nguồn nước khi sử dụng nguồn nước này vàomục đích tưới tiêu, ăn uống,…

Ảnh hưởng của chất thải hóa học nguy hại.

Mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ, nhưng chất thải hóa học và chất thải dược phẩm có thểgây ra các nhiễm độc cấp, mãn tính, chấn thương và bỏng, Hóa chất độc hại và

Trang 18

dược phẩm ở các dạng dung dịch, sương mù, hơi,… có thể xâm nhập vào cơ thể quađường da, hô hấp và tiêu hóa, gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy đường hôhấp và các cơ quan trong cơ thể như: gan, thận,…

Các chất khử trùng, thuốc tẩy như clo, các hợp chất natri hypoclorua có tính

ăn mòn cao Thủy ngân khi xâm nhập vào cơ thể có thể liên kết với những phân tửnhư axit nucleic, protein,… làm biến đổi cấu trúc và ức chế hoạt tính sinh học của tếbào Nhiễm độc thủy ngân có thể gây thương tổn thần kinh với triệu chứng run rẩy,khó diễn đạt, giảm sút trí nhớ,… và nặng hơn nữa có thể gây liệt, nghễnh ngãng, vớiliều lượng cao có thể gây tử vong

Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ thể con người bằng các con

đường: tiếp xúc trực tiếp, hít phải bụi và các sol khí, qua da, qua đường tiêu hóa,tiếp xúc trực tiếp với chất thải dính thuốc gây độc tế bào, tiếp xúc với các chất tiết

ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu

Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ.

Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy thuộc vào loại phóng xạ, cường độ vàthời gian tiếp xúc Các triệu chứng hay gặp là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồnnôn và nôn nhiều bất thường,… ở mức độ nghiêm trọng hơn có thể gây ung thư vàcác vấn đề về di truyền

Ảnh hưởng của bình chứa áp suất.

Đặc điểm chung của các bình chứa áp suất là tính trơ, ở điều kiện bình thườngkhông gây nguy haị, nhưng khi thiêu đốt hay bị thủng dễ gây cháy, nổ [13]

Ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường.

Đối với môi trường đất:

Quản lý CTYT không đúng quy trình, chôn lấp CTYT không tuân thủ các quyđịnh sẽ dẫn đến sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại,… gây ônhiễm đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn

Đối với môi trường không khí:

CTYT từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều có thể gây ra tác độngxấu tới môi trường không khí Trong các khâu phân loại-thu gom-vận chuyển,

Trang 19

CTYT có thể phát tán vào không khí bụi rác, nha bào gây bệnh, hơi dung môi, hóachất, Trong khâu xử lý, CTYT có thể phát sinh ra các chất khí độc hại như dioxin,furan,… từ lò đốt và CH4, NH3, H2S,… từ bãi chôn lấp.

Đối với môi trường nước:

CTYT chứa nhiều chất độc hại và các tác nhân gây bệnh có khả năng lâynhiễm cao như: chất hữu cơ, hóa chất độc hại, kim loại nặng và các vi khuẩnSamonella, Coliform, Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn Gram âm đa kháng,… Do đó,chất thải y tế không được xử lý trước khi xả thải ra môi trường sẽ có nguy cơ gây ramột số bệnh như: tiêu chảy, lỵ, tả, thương hàn, viêm gan A,…[13]

Thực trạng kiến thức, thực hành về quản lý chất thải rắn y tế của nhân viên y tế.

Thực trạng kiến thức, thực hành về quản lý chất thải rắn y tế của nhân viên y tế

trên Thế Giới.

Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý,

xử lý CTYT như nguồn phát sinh, các phương pháp xử lý chất thải y tế, biện pháplàm giảm thiểu lượng chất thải y tế, tái sử dụng chất thải y tế Một số công trìnhnghiên cứu sâu hơn về những nguy cơ của chất thải y tế đối với sức khỏe cộngđồng, ảnh hưởng của nước thải trong việc lan truyền mầm bệnh, ảnh hưởng của chấtthải nguy hại với sức khỏe như nhiễm xạ, hóa chất độc hại, chất gây độc tế bào,những tổn thương nhiễm khuẩn đối với các đối tượng tiếp xúc với CTYT Ở cácnước phát triển, một số nghiên cứu và báo cáo cũng cho thấy bức tranh tổng thể vềcông tác quản lý như từ khâu phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tếcòn nhiều tồn tại [10], [12]

Nghiên cứu nhận thức và thực hành về quản lý chất thải chăm sóc sức khỏegiữa các nhân viên bệnh viện tại một bệnh viện đại học y tế Bangalore do Suwarna,Madhukumar, Ramesh và cộng sự năm 2012 cho thấy: Kiến thức đạt của bác sĩ76,8%, của y tá 81,9%, nhận thức chung đạt 79,3% [13]

Theo báo cáo tại một cơ sở nha khoa ở Ấn Độ năm 2012 cho thấy để đánh giákiến thức và nhận thức việc quản lý CTYT của nhân viên và sinh viên cho thấy

Trang 20

không có nhiều người chú ý đến việc quản lý chất thải nhưng hầu hết các đối tượngđồng ý với thực tế rằng việc tiếp xúc với CTYT nguy hại có thể gây bệnh hoặcnhiễm trùng Các kết quả rà soát cho thấy kiến thức và trình độ nhận thức của cácđối tượng là không đầy đủ và có sự thay đổi đáng kể trong thực tế quản lý liên quanđến chất thải y sinh Vì vậy việc cung cấp kiến thức quản lý chất thải y sinh là mộtnhu cầu rất lớn để tiếp tục giáo dục và đào tạo trong các chương trình tại các cơ sởgiảng dạy ở Ấn Độ.

Việc trang bị kiến thức về quản lý chất thải y tế cho sinh viên y khoa đóng vaitrò quan trọng trong hoạt động hành nghề Nghiên cứu của nhóm tác giả Bansal,Vashisth, Gupta năm 2013 về kiến thức, nhận thức và thực hành quản lý chất thải ykhoa giữa các học viên nha khoa tư nhân tại Tricity (Chandigarh, Panchkula vàMohali) cho thấy trong tổng số được hỏi có 52% là nam giới và 48% là nữ giới.Gần 14% số học viên nha khoa không biết về các loại khác nhau của chất thải phátsinh tại các phòng khám của họ và 12% số học viên không nhận thức được mã màusắc được sử dụng để xử lý các chất thải Khoảng 26% trong số họ thực hành cácbiện pháp sai để vứt bỏ tấm và chiết xuất răng tương ứng Khoảng 32% bác sĩ nhakhoa không biết xử lý thuốc đã hết hạn [14]

Do đặc thù công việc tại các bộ phận công tác mà kết quả nghiên cứu về quản

lý chất thải y tế có sự khác nhau đáng kể Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giảJabbari, Farokhfar năm 2014 về kiến thức, thái độ và thực hành liên quan đến quản

lý chất thải y tế của các bác sĩ tại tỉnh Mazandaran, miền bắc của Iran cho thấy: kiếnthức đạt là 65,0%, thái độ đúng 88,8% và thực hành 80,1% Bác sĩ chỉnh hình cóđiểm số thấp nhất, trong khi các chuyên gia cận lâm sàng và chuyên gia nội khoa cóđiểm số cao nhất [15]

Với kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Sarker, Harun, Hirosawa năm 2014

về đánh giá kiến thức, thực hành và các rào cản có thể có giữa các nhà cung cấpchăm sóc sức khỏe liên quan đến quản lý chất thải y tế tại Dhaka, Bangladesh chothấy tỷ lệ nhân viên có kiến thức không đạt như sau: bác sĩ 30,0%, y tá, kỹ thuậtviên là 66,7% [16]

Trang 21

Một nghiên cứu khác của nhóm tác giả Bhagawati, Nandwani, Singhal năm

2015 về nhận thức, thực hành liên quan đến quản lý chất thải y sinh học trong nhânviên y tế tại một bệnh viên chăm sóc đại học Delhi, Ấn Độ cho thấy: Kiến thức đạtmức độ khá trở nên là 80,0%, đạt ở mức trung bình là 65,0%, không đạt chiếm50,0% [17]

Kết quả của các nghiên cứu cho thấy kiến thức và thực hành của các đối tượng

là không đầy đủ Kết quả các nghiên cứu không đồng nhất do sự khác nhau về địađiểm, đối tượng, thời gian và nội dung nghiên cứu Quản lý an toàn và hiệu quả chấtthải không chỉ là một điều cần thiết hợp pháp mà là một trách nhiệm xã hội Tiếptục chương trình giáo dục và đào tạo các khóa học ngắn hạn về lây nhiễm chéo vàquản lý chất thải y sinh học là phương tiện thích hợp của việc nâng cao kiến thức.Quản lý chất thải y sinh học phải được thực hiện nghiêm túc và giám sát có hệ thống

Thực trạng kiến thức, thực hành về quản lý chất thải rắn y tế của nhân viên y tế tại Việt Nam.

Bộ Y tế đã ban hành “Quy chế quản lý chất thải y tế” năm 1999 quy định việc

xử lý chất thải toàn diện tại các cơ sở y tế nhằm làm giảm thiểu các nguy cơ gây ônhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng nhưng cho đến nay công tácquản lý, xử lý CTYT vẫn đang là vấn đề được BYT cũng như toàn xã hội quan tâm.Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu tập trung vào mô tả thực trạng côngtác quản lý CTRYT tại các cơ sở y tế từ trạm y tế xã trở lên, cùng với việc lập kếhoạch, kiểm tra, báo cáo và phân loại, thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải y tế.Nghiên cứu thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của nhân viên y tế trongquản lý và xử lý chất thải y tế tại 10 bệnh viện khu vực phía Bắc do Nguyễn VănChuyên và cộng sự năm 2012 cho thấy: Kiến thức đạt chiếm 79,4%, tỷ lệ này ở bác

sĩ là 82,4%, ở điều dưỡng là 76,8% Thái độ đúng chiếm 75,6%, tỷ lệ này ở bác sĩ là79,2%, ở điều dưỡng là 72,4% Thực hành đạt chiếm 71,9%, tỷ lệ này ở bác sĩ là76,8%, ở điều dưỡng là 67,8% [18]

Nghiên cứu của tác giả Trương Nguyễn Quỳnh Trâm năm 2013 tại các trungtâm y tế của Thừa Thiên Huế có chỉ ra nhược điểm trong quản lý chất thải y tế, xuất

Trang 22

phát ban đầu ngay từ sự chênh lệch về số lượng chất thải được báo cáo so với thực

tế tác giả quan sát được, bên cạnh đó còn có hiện tượng phân loại chất thải chưađúng, bỏ chất thải thông thường vào chất thải nguy hại cùng nhiều sai sót trong vấn

đề lưu trữ và vận chuyển chất thải y tế [19]

Một nghiên cứu khác về kiến thức, thái độ và thực hành của điều dưỡng, hộ lýtrong công tác phân loại và thu gom CTRYT tại bệnh viện II Lâm Đồng của tác giảHoàng Trung Lập và cộng sự năm 2013 cho thấy: Kiến thức đạt của điều dưỡng là99,4%, hộ lý là 97,4% [20]

Nghiên cứu kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về quản lýCTRYT của Lâm Hoàng Dũng và Nguyễn Bích Diệp tại 3 BV chuyên khoa thànhphố Cần Thơ năm 2015 cho thấy: có 68,2% nhân viên y tế có kiến thức chung đúng

về quản lý chất thải rắn y tế và 86,9% có thực hành chung đúng về phân loại chấtthải rắn y tế [5] Nghiên cứu khác của Châu Võ Thụy Diễm Thúy và cộng sự năm

2015 về phân loại, thu gom CTRYT tại BV đa khoa Đồng Tháp cho thấy: các chấtthải được phân loại ngay tại nguồn phát sinh, tuy nhiên việc thực hiện phân loại chấtthải chưa được chính xác, chỉ có 65% khoa thực hiện phân loại đạt Công tác thugom chất thải được đảm bảo về tần suất và thời gian quy định tuy nhiên tỷ lệ chấtthải vượt quá vạch ¾ theo quy định còn cao Tỷ lệ nhân viên y tế đạt kiến thứcchung về quản lý chất thải rất cao (96,4%), tuy nhiên đạt kiến thức cơ bản về quản

lý chất thải rắn y tế và kiến thức thu gom chỉ chiếm 47,8% và 49,7% Tỷ lệ đạt kiếnthức về phân loại chất thải và mã màu dụng cụ đựng chất thải là 96,1% [6]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Huy Nga và Tô Liên về thực trạng công tácquản lý chất thải rắn y tế tại các trạm y tế xã ở Việt Nam năm 2017 cho thấy: Kiếnthức cơ bản về quản lý CTRYT của CBYT chỉ chiếm 42,7%; Kiến thức về phânloại CTRYT đạt chiếm 81,1%, tuy nhiên, nội dung rất quan trọng là nhận biết cácloại chất thải để phân loại vào các dụng cụ đúng thì chỉ có khoảng 2/3 cán bộ y tếnắm được, kiến thức về thu gom CTRYT đạt chiếm 75,1%, trong đó: chỉ có 58,9%CBYT biết cách xử lý trường hợp phân loại nhầm chất thải lây nhiễm cao [21]

Trang 23

Với kết quả nghiên cứu của các tác giả về công tác quản lý chất thải y tế ở mỗibệnh viện có khác nhau điều này có thể thấy sự quan tâm của các cấp quản lý, việctriển khai những văn bản về chất thải y tế hay các lớp học ngắn hạn, chương trìnhtập huấn cho cán bộ nhân viên đến việc đầu tư trang thiết bị bảo hộ, dụng cụ cầnthiết để triển khai là khác nhau ở ngay các tuyến, tại các bệnh viện cùng tuyến.

Một số yếu tố liên quan đến kiến thức của NVYT về quản lý chất thải y tế.

Công tác tổ chức đào tạo, tập huấn.

Do đặc thù ngành y tế, việc học tập, cập nhật kiến thức mới trong công tácluôn được chú trọng và khích lệ Nếu việc đào tạo, tập huấn không hoặc chưa đượctriển khai sẽ có thể dẫn đến thiếu hụt kiến thức cho nhân viên y tế, cũng như ảnhhưởng đến kết quả điều trị chăm sóc cho bệnh nhân [22]

Trình độ học vấn.

Trình độ học vấn có ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành của NVYT về phânloại và thu gom CTYT Theo nhiều NC thì trình độ học vấn càng cao thì kiến thức,thực hành sẽ cao hơn so với người khác [22], [23] Kết quả NC của tác giả HoàngThị Định năm 2014 về kiến thức, thực hành phân loại, thu gom CTRYT của cán bộđiều dưỡng BV đa khoa tỉnh Thanh Hóa và một số yếu tố liên quan cho thấy: nhữngcán bộ có trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên có kiến thức đạt cao gấp 2,2 lần sovới những người có trình độ trung cấp trở xuống [23]

Giới tính.

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Chuyên và cộng sự năm 2012 cho thấy

nữ giới có tỷ lệ kiến thức đạt cao gấp 1,4 lần nam giới [18] Nghiên cứu khác củaHoàng Thị Định năm 2014 cũng cho thấy: cán bộ nữ có kiến thức về phân loại vàthu gom CTRYT cao hơn 1,2 lần so với cán bộ nam [23] Nghiên cứu gần đây củaNguyễn Huy Nga và Tô Liên năm 2017 cũng cho thấy: Tỷ lệ CBYT nữ giới có kiếnthức đạt về QLCTRYT cao hơn 2,1 lần so với CBYT nam giới [21]

Thâm niên công tác.

Thâm niên công tác trong ngành y cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến kiếnthức, thực hành của cán bộ y tế trong công tác phân loại, thu gom CTYT Theo NC

Trang 24

của Nguyễn Văn tĩnh năm 2012 tại ba bệnh viện đa khoa huyện Hòn Đất, huyệnChâu Thành, huyện An Biên của tỉnh Kiên Giang cho thấy: NVYT có thâm niêncông tác ≥5 năm có kiến thức đạt cao gấp 1,1 lần so với NVYT có thâm niên côngtác <5 năm [24] Một NC khác của Hoàng Thị Thúy về thực trạng quản lý chất thảirắn y tế và kiến thức, thực hành của nhân viên y tế bệnh viện đa khoa Đông Anhnăm 2011 cho thấy: cán bộ y tế có thâm niên công tác ≥10 năm thì có kiến thứckhông đạt cao gấp 2,08 lần so với cán bộ y tế có thâm niên công tác < 10 năm [25].

Tham gia các khóa đào tạo, tập huấn chuyên môn.

Sự tham gia vào các khóa đào tạo tập huấn chuyên môn về quản lý CTYT dẫnđến những thay đổi về nhận thức, thực hành của NVYT trong công tác phân loại,thu gom rác thải Các nghiên cứu trước đây đều có một phát hiện giống nhau, đó làcác NVYT tham gia các khóa đào tạo thì đều có kiến thức và thực hành đạt cao hơn.Một NC khác của tác giả Nguyễn Văn Tĩnh năm 2012 tại ba bệnh viện đakhoa huyện Hòn Đất, huyện Châu Thành, huyện An Biên của tỉnh Kiên Giang chothấy: có mối liên quan giữa tập huấn về CTYT với kiến thức, những nhân viên chưatập huấn quản lý CTYT có kiến thức không đạt cao gấp 2,09 lần so với nhân viêntham gia tập huấn [24] Kết quả NC của tác giả Đào Ngọc Phong và cộng sự năm

2006 tại 8 bệnh viện cho thấy: sự hiểu biết của cán bộ y tế về nguy cơ của CTYTđối với môi trường và sức khỏe cũng như quản lý CTYT chưa đầy đủ, nguyên nhânchủ yếu là do chưa được tập huấn đầy đủ và thường xuyên [26] Nghiên cứu gầnđây của tác giả Nguyễn Huy Nga và Tô Liên về thực trạng công tác quản lý chấtthải rắn y tế tại các trạm y tế xã ở Việt Nam năm 2017 cho thấy: Nhóm CBYT đượctập huấn có kiến thức đạt cao hơn 8,5 lần so với nhóm chưa được tập huấn Kết quảnày khá dễ hiểu và cho thấy được tầm quan trọng của công tác đào tạo, tập huấn cán

bộ y tế trong quản lý chất thải rắn y tế [21]

Một số đặc điểm về tỉnh Kiên Giang.

Tỉnh Kiên Giang được chia thành 2 thành phố (Rạch Giá, Hà Tiên) và 13huyện (trong có 02 huyện đảo là Phú Quốc và Kiên Hải), tổng cộng có 145 đơn vịcấp xã gồm 12 thị trấn, 16 phường và 117 xã trực thuộc, có tổng diện tích tự nhiên

Trang 25

là 634.852,67 ha, bờ biển hơn 200 km với hơn 137 hòn, đảo lớn nhỏ, trong đó lớnnhất là Phú Quốc diện tích 575,4 km² và cũng là đảo lớn nhất Việt Nam Kiêngiang là tỉnh có quy mô dân số lớn thứ 2 trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, sau

An Giang (2,2 triệu người), năm 2012 dân số trung bình Kiên Giang khoảng 1,90triệu người Kinh tế chủ yếu là nông - ngư - công nghiệp và du lịch [27]

Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang là bệnh viện hạng I, với 900 giường bệnh,

là tuyến điều trị cao nhất, chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh chonhân dân trong tỉnh Bệnh viện với đội ngũ 820 nhân viên biên chế, trong đó có 200cán bộ, thầy thuốc có trình độ đại học và trên đại học (trong đó có 158 bác sĩ) ởnhiều chuyên khoa khác nhau [28]

Bệnh viện đa khoa tư nhân Bình An tiền thân là phòng khám đa khoa Bình

An, với quy mô 10 tầng, bao gồm 06 khoa lâm sàng, 05 khoa cận lâm sàng, 08phòng chức năng với trên 300 cán bộ nhân viên có trình độ: 05 thạc sĩ, 01 bác sĩCKII, 13 bác sĩ CKI, 30 bác sĩ, 01 dược sĩ đại học cùng các kỹ thuật viên, điềudưỡng, nữ hộ sinh tay nghề cao [29]

Trang 26

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhân viên y tế tham gia quá trình quản lý CTYT (bác sĩ, dược sĩ, y sĩ, y tá, kỹthuật viên, hộ lý) tại các bệnh viện tỉnh Kiên Giang: Bệnh viện đa khoa tỉnh KiênGiang, Bệnh viện đa khoa tư nhân Bình An, Bệnh viện đa khoa huyện Tân Hiệp

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn.

- Nhân viên y tế đồng ý tham gia nghiên cứu

- Nhân viên y tế có thời gian công tác từ 6 tháng trở lên

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ.

Nhân viên y tế nghỉ dài ngày : ốm, nghỉ thai sản, đi học tập trung,…

2.2 Địa điểm nghiên cứu

- Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang (46 Lê Lợi, Thanh Vân, Thành phố RạchGiá, Tỉnh Kiên Giang)

- Bệnh viện đa khoa tư nhân Bình An (82 Nguyễn Trung Trực, phường VĩnhBảo, Thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang)

- Bệnh viện đa khoa huyện Tân Hiệp (Khu phố B, quốc lộ 80, TT.Tân Hiệp,huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang)

2.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 08/2018 đến 12/2018

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu.

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.4.2 Mẫu và cách chọn mẫu.

Chọn mẫu chủ đích mỗi BV: Dự kiến phỏng vấn 120 người/BV gồm các đối tượng:

- Chọn toàn bộ cán bộ, nhân viên khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn BV (10-15 người)

- Nhân viên y tế chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch, mua sắm, lưu kho, quản

lý trang bị vật tư y tế (3-5 người)

- 50% điều dưỡng các khoa lâm sàng (85 người), chọn ngẫu nhiên 1-2 bác sĩ

Trang 27

- 50% kỹ thuật viên tại mỗi khoa cận lâm sàng (10 người), chọn ngẫu nhiên

1-2 bác sĩ

Thực tế chúng tôi đã phỏng vấn được 358 đối tượng nghiên cứu tại 3 bệnhviện (cụ thể: BV tỉnh Kiên Giang phỏng vấn được 144 đối tượng NC, BV huyệnTân Hiệp phỏng vấn được 103 đối tượng NC, BV tư nhân Bình An phỏng vấn được

111 đối tượng NC)

2.5 Biến số và chỉ số nghiên cứu.

Bảng 2.1 Thông tin chung.

Biến số Định nghĩa biến số Loại biến

số

Công cụ

và cách thu thập

số liệu

Tuổi Năm sinh dương lịch Biến rời

rạc

Bộ câuhỏi tựđiền

Giới Giới tính Nam /Nữ Biến nhị

phânChức danh chuyên

môn

Lĩnh vực chuyên môn làm việc Biến

danh mụcTrình độ chuyên môn

kỹ thuật

Bằng cấp chuyên môn cao nhất được căn cứ để xếp ngạch lương

Biến thứhạngThâm niên công tác Thời gian từ lúc bắt đầu làm việc

trong lĩnh vực chuyên môn đến nay

Biến liêntụcTập huấn, hướng dẫn

về quản lý CTRYT

Đối tượng đã được tập huấn, hướng dẫn về quản lý CTRYT

Biếndanh mục

Bảng 2.2 Kiến thức, thực hành về quản lý chất thải rắn y tế (phân định, phân loại,

thu gom và giảm thiểu) của nhân viên y tế tại 3 bệnh viện.

Trang 28

Nhóm biến số Biến số Loại

biến số

Công cụ và cách thu thập số liệu

Bộ câu hỏi

tự điềnĐịnh nghĩa quản lý CTRYT

Quy trình quản lý CTRYT

Kiến thức về phân

định chất thải rắn

y tế

CTYT phân định mấy loại

Tên các loại CTYT

Tên các loại CT lây nhiễm

Tên các loại CT nguy hại không lây nhiễm

Tên các loại CT rắn y tế thông thường

Loại CTYT đựng trong bao bì, dụng

cụ, thiết bị y tế có màu đen.

Loại CTYT đựng trong bao bì, dụng

cụ, thiết bị y tế có màu xanh.

Loại CTYT đựng trong bao bì, dụng

Nguyên tắc phân loại CTRYT

Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải

Cách phân loại CTYT

Kiến thức về thu

gom chất thải y tế

Nguyên tắc thu gom CTYT thông thường

Trang 29

Nhóm biến số Biến số Loại

biến số

Công cụ và cách thu thập số liệu

Nguyên tắc thu gom CT lây nhiễm

Nguyên tắc thu gom CT nguy hại không lây nhiễm

Kiến thức về giảm

thiểu CTRYT

Định nghĩa giảm thiểu CTYT

Nguyên tắc giảm thiểu CTRYT

Kiến thức cần có để giảm thiểu CTYTThực hành phân

Bộ câu hỏi

tự điền

Phân loại găng tay y tế không có dínhdịch hoặc máu phát sinh từ cáckhoa/phòng của bệnh viện (trừ khoacách ly)

Bảng 2.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế của

nhân viên y tế tại 3 bệnh viện.

Biến số Chỉ số Công cụ và cách

thu thập số liệu

Tuổi Mối liên quan giữa kiến thức và nhóm

tuổi

Bộ câu hỏi tự điền

Giới Mối liên quan giữa kiến thức và giới

Mối liên quan giữa kiến thức và trình

độ chuyên môn kỹ thuật

Thâm niên công

tác

Mối liên quan giữa kiến thức và thâm niên công tác ( <5 năm và ≥5 năm)

Trang 30

Thang điểm đánh giá:

Dựa vào mức phân loại NC của tác giả Nguyễn Văn Tĩnh “Nghiên cứu kiến

thức, thái độ, thực hành về xử lý chất thải y tế của nhân viên bệnh viện huyện, tỉnh

Kiên Giang và một số yếu tố liên quan năm 2012” [24] và NC của tác giả Chu Thị

Luyến “Kiến thức, thực hành của nhân viên y tế trong quản lý chất thải rắn y tế và

một số yếu tố liên quan tại bệnh viện tim Hà Nội năm 2015” [30] Chúng tôi đã đưa racách cho điểm và đánh giá kiến thức, thực hành về QLCTRYT của NVYT như sau:

- Với mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, trả lời sai được 0 điểm Câu hỏi cónhiều lựa chọn, trả lời đúng tất cả các lựa chọn được tính là trả lời đúng câu hỏi đó

và được 1 điểm, trả lời sai hay thiếu đều được tính là trả lời sai câu hỏi đó và được 0điểm (phụ lục số 02)

- Cách phân loại điểm: tổng điểm mỗi đối tượng NC đạt được từ 70% tổng số

điểm tối đa của kiến thức hoặc thực hành sẽ được tính là đạt, dưới 70% tổng số điểm sẽ được tính là chưa đạt

Đánh giá điểm kiến thức : Tổng số điểm tối đa là 23 Phân loại :

Kiến thức đạt : khi đạt từ 70% tổng số điểm trở lên (16-23 điểm)

Kiến thức chưa đạt : khi đạt dưới 70% tổng số điểm (0-15 điểm)

Đánh giá điểm thực hành mỗi khâu QLCTRYT: Tổng số điểm tối đa mỗi

khâu chỉ là 2 điểm nên:

Thực hành đạt : khi đạt cả 2 điểm

Thực hành chưa đạt : khi chỉ đạt 0-1 điểm

Điểm kiến thức ở mỗi khâu quản lý CTYT của đối tượng NC đạt được từ 70%

tổng số điểm tối đa của khâu quản lý đó sẽ được tính là đạt, dưới 70% tổng số điểm

sẽ được tính là chưa đạt.

Trang 31

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

2.6.1 Công cụ thu thập số liệu.

Bộ câu hỏi đánh giá kiến thức, thực hành của NVYT về quản lý chất thải rắn y

tế (phụ lục số 01) được thiết kế tự điền gồm 2 phần:

- Phần 1: Thông tin chung gồm 7 câu hỏi về thông tin của đối tượng nghiên cứu

- Phần 2: Kiến thức và thực hành về quản lý chất thải rắn y tế gồm 6 phần nhỏ:

 Kiến thức chung về văn bản và quy trình quản lý chất thải y tế gồm 3 câu hỏi

 Kiến thức về phân định chất thải rắn y tế gồm 5 câu hỏi

 Kiến thức về bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải rắn y tế gồm 5 câu hỏi

 Kiến thức về phân loại chất tahỉ rắn y tế gồm 4 câu hỏi

 Kiến thức về thu gom chất thải y tế gồm 3 câu hỏi

 Kiến thức về giảm thiểu chất thải rắn y tế gồm 3 câu hỏi

2.6.2 Quy trình thu thập số liệu.

Bước 1:

Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ

- Nội dung bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên quy định của thông tư liên tịch số58/2015/TTLT- BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế - BTNMT

- Thử nghiệm và hoàn thiện: tiến hành điều tra thử bộ câu hỏi trên 10 đối tượngnghiên cứu để đánh giá sự phù hợp và hoàn thiện dựa trên kết quả điều tra thử bộcông cụ sao cho phù hợp với đối tượng NC

Bước 2:

Tiến hành tập huấn điều tra cho điều tra viên và giám sát viên

- Nghiên cứu viên tổ chức gặp mặt và tập huấn điều tra viên, phổ biến bộ câu hỏi

và cách thức triển khai thu thập số liệu

- Điều tra viên là cán bộ và sinh viên trường Đại học Y Hà Nội

- Giám sát viên là cán bộ trưởng khoa kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện đó và cán

bộ trường Đại học Y Hà Nội

Bước 3:

Tiến hành thu thập số liệu tại 3 bệnh viện:

Trang 32

- Mời đối tượng tham gia vào nghiên cứu, giải thích bộ câu hỏi tự điền.

- Đối tượng hoàn thiện bộ câu hỏi tự điền, giải thích và hỗ trợ đối tượng hoàn thiệnphiếu điều tra

2.7 Sai số và cách khống chế.

- Sai số hệ thống:

 Sai số do đối tượng nghiên cứu không hiểu câu hỏi nhưng không trao đổi vớiđiều tra viên

 Sai số do đối tượng nghiên cứu không trả lời hết câu hỏi, trao đổi và sao chép nhau

 Sai số trong quá trình nhập liệu

- Biện pháp khắc phục :

 Bộ câu hỏi được thiết kế dễ hiểu, rõ ràng

 Tiến hành điều tra thử sau đó chỉnh sửa bộ câu hỏi cho phù hợp với đối tượng NC

 Điều tra viên được bố trí để giải đáp thắc mắc khi đối tượng hoàn thành bộ câuhỏi tự điền

 Giám sát chặt chẽ trong việc thu thập số liệu

 Cuối mỗi buổi điều tra, các phiếu được xem lại, sửa và bổ sung cho đầy đủ

 Nhập liệu cẩn thận, sau khi nhập liệu xong kiểm tra ngẫu nhiên 20% số phiếuđiều tra

2.8 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Số liệu sau khi thu thập sẽ được kiểm tra, làm sạch, mã hóa và nhập bằng phầnmềm Epidata 3.1 Sau đó sẽ được phân tích và xử lý bằng phần mềm Stata 12.0

- Các biến số định lượng được chuyển sang biến số định tính và các biến định tínhđược mô tả bằng tần số và tỷ lệ phần trăm So sánh tỷ lệ giữa các biến định tínhđược kiểm định bằng test χ2, Fisher’s exact test

- Phân tích mối liên quan giữa các biến số qua tỷ suất chênh (OR)

- Mức ý nghĩa thống kê được xác định với α = 0.05

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu đã được sự đồng ý của Hội đồng xét duyệt đề cương do trường ĐạiHọc Y Hà Nội thành lập và phê duyệt

Trang 33

- Nghiên cứu được tiến hành với sự cho phép của Ban giám đốc BV tỉnh KiênGiang, BV huyện Tân Hiệp, BV tư nhân Bình An.

- Đối tượng nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện tham gia nghiên cứu

- Quy trình thu thập số liệu và công bố kết quả được giữ bí mật cho đối tượng NC

- Đối tượng NC được giải thích và cung cấp đầy đủ các thông tin về nghiên cứu

2.10 Hạn chế của nghiên cứu.

- NC chỉ đánh giá được kiến thức, thực hành của nhân viên y tế tại thời điểm NC

- Nghiên cứu mới chỉ làm cấu phần định lượng nên chưa tìm được nguyên nhânchính của việc kiến thức, thực hành quản lý CTYT chưa tốt

- Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi tự điền, những câu hỏi được thiết kế sẵn, điềunày có thể như một gợi ý cho đối tượng để trả lời và lựa chọn

- NC đánh giá thực hành bằng bảng hỏi tự điền, không quan sát trực tiếp nên sẽcòn nhiều đối tượng trả lời không đúng với thực tế thực hành của bản thân mình

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung.

Thông tin chung Tần số

(n=358)

Tỷ lệ (%) Tuổi

Trang 34

Thông tin chung Tần số

(n=358)

Tỷ lệ (%)

Bệnh viện đang công tác

BV đa khoa tỉnh Kiên Giang 144 40,2

BV đa khoa huyện Tân Hiệp 103 28,8

BV đa khoa tư nhân Bình An 111 31,0

Tập huấn, hướng dẫn về quản lý chất thải rắn y tế không?

Bảng thông tin chung về đối tượng NC cho thấy:

Trong tổng số 358 nhân viên y tế, đa phần nhân viên y tế còn trẻ, chủ yếu ởnhóm dưới 40 tuổi chiếm tỷ lệ 74,9%; nhóm từ 40 tuổi trở lên chỉ có 25,1% Nhân viên

nữ cao gấp 2,3 lần nhân viên nam, NVYT nam, nữ có tỷ lệ lần lượt 30,5%; 69,6%

Y sĩ/Điều dưỡng chiếm phần lớn các bệnh viện 60,3%; Bác sĩ/Dược sĩ chiếm22,9%; kỹ thuật viên/dược trung chỉ có 6,4% Nhân viên y tế có trình độ từ caođẳng trở lên tương đương với NVYT có trình độ dưới cao đẳng, tỷ lệ lần lượt là51,7% và 48,3%

Các nhân viên y tế chủ yếu là có thâm niên công tác từ 5 năm trở lên chiếm76,3%; thâm niên dưới 5 năm chỉ chiếm 23,7% Đa phần các NVYT đều được tập

Trang 35

huấn, hướng dẫn về quản lý CTRYT chiếm tỷ lệ 79,6%; chỉ có 20,4% nhân viên y

tế chưa tập huấn và chủ yếu các nhân viên y tế được tập huấn từ 2 lần trở lên chiếm78,2%; tập huấn 1 lần chỉ có 21,8%

Trong 3 bệnh viện, BV tỉnh Kiên Giang có tỷ lệ nhân viên y tế cao nhất chiếm40,2%; bệnh viện tư nhân Bình An và bệnh viện huyện Tân Hiệp tỷ lệ nhân viên y

tế tương đương nhau; tỷ lệ lần lượt là 31,0% và 28,8%

3.2 Kiến thức và thực hành về quản lý chất thải rắn y tế của nhân viên y tế.

3.2.1.Kiến thức về phân định, phân loại, thu gom và giảm thiểu chất thải rắn y tế.

3.2.1.1 Kiến thức về phân định chất thải rắn y tế.

Bảng 3.2 Kiến thức chung về văn bản và quy trình quản lý chất thải y tế.

Kiến thức chung về văn bản và quy trình quản lý

CTYT

Tổng = 358 Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Quy định về QLCTYT theo thông

Bảng 3.3 Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đạt về phân định chất thải rắn y tế

Kiến thức Tổng= 358

Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Biết chất thải rắn y tế được phân định làm 3 loại 200 55,9Biết đầy đủ tên của 3 loại chất thải y rắn y tế 279 77,9

Trang 36

Biết đầy đủ các loại chất thải lây nhiễm 290 81,0Biết đầy đủ các loại chất thải nguy hại không lây nhiễm 214 59,8Biết đầy đủ các loại chất thải rắn y tế thông thường 233 65,1

Nhận xét:

Bảng trên cho thấy: Chỉ có 55,9% NVYT biết chất thải rắn y tế được phân làm 3loại nhưng biết đầy đủ tên của 3 loại CTRYT lại chiếm tỷ lệ cao hơn 77,9%; NVYTbiết đầy đủ các loại chất thải lây nhiễm có tỷ lệ tương đối cao 81,0%; Biết đầy đủcác loại chất thải nguy hại không lây nhiễm, chất thải rắn y tế thông thường có tỷ lệthấp hơn lần lượt là 59,8% và 65,1%

3.2.1.2 Kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế.

Bảng 3.4 Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đạt về bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa

chất thải rắn y tế.

Kiến thức

Tổng = 358 Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Biết đầy đủ các đặc tính của bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu

chứa chất thải rắn y tế 202 56,4Biết bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm

Biết bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải nguy hại

không lây nhiễm có màu đen 299 83,5

Biết bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế thông

Biết bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải tái chế có

Nhận xét:

Từ bảng trên cho thấy: tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đạt về bao bì, dụng

cụ, thiết bị lưu chứa chất thải rắn y tế tương đối cao; các NVYT biết phân loạiCTRYT đúng màu sắc của bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa rất tốt; tuy nhiên kiến

Trang 37

thức đạt của nhân viên y tế về các đặc tính của bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứachất thải rắn y tế còn chưa cao, chỉ chiếm 56,4%.

Bảng 3.5 Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đạt về phân loại chất thải rắn y tế

Kiến thức

Tổng= 358 Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Biết người có trách nhiệm phân loại CTRYT 317 88,6Biết đầy đủ nguyên tắc phân loại chất thải y tế 281 78,5Biết đầy đủ vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại CTYT 317 88,6Biết đầy đủ cách phân loại chất thải y tế 213 59,5

về cách phân loại chất thải y tế còn chưa cao, chỉ đạt 59,5%;

3.2.1.3 Kiến thức về thu gom chất thải rắn y tế.

Bảng 3.6 Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đạt về thu gom chất thải rắn y tế

Trang 38

Đa phần NVYT biết đầy đủ nguyên tắc thu gom chất thải y tế thông thường84,4%; tỷ lệ biết đầy đủ nguyên tắc thu gom chất thải lây nhiễm và nguyên tắc thugom chất thải nguy hại không lây nhiễm thấp hơn, có tỷ lệ lần lượt là 61,7% và 68,7%.

Trang 39

3.2.1.4 Kiến thức về giảm thiểu chất thải rắn y tế.

Bảng 3.7 Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đạt về giảm thiểu chất thải rắn y tế

Kiến thức Tổng= 358

Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Biết đầy đủ khái niệm giảm thiểu chất thải y tế 259 72,4Biết đầy đủ nguyên tắc giảm thiểu chất thải rắn y tế 182 50,8Biết đầy đủ kiến thức cán bộ y tế cần có để giảm thiểu

CTYT trong các cơ sở y tế 170 47,5

Nhận xét:

Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đạt về giảm thiểu nói chung còn thấp; NVYTbiết đầy đủ kiến thức cán bộ y tế cần có để giảm thiểu CTYT là kém nhất, tỷ lệ chỉ có47,5%; NVYT biết đầy đủ khái niệm giảm thiểu CTYT, biết đầy đủ nguyên tắc giảmthiểu chất thải rắn y tế cũng chưa cao, tỷ lệ lần lượt là 72,4% và 50,8%

3.2.1.5 Kiến thức của nhân viên y tế về quản lý chất thải rắn y tế tại 3 bệnh viện.

Biểu đồ 3.1 Kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế.

Nhận xét:

Biểu đồ trên cho thấy: Kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế của nhân viên y

tế còn chưa cao, tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đạt chỉ chiếm 58,4%

Bảng 3.8 Kiến thức các khâu quản lý chất thải rắn y tế.

Trang 40

STT Khâu quản lý CTRYT

Kiến thức Đạt Chưa đạt

1 Kiến thức chung về văn bản và quy

trình quản lý chất thải y tế

242 67,6 116 32,4

2 Kiến thức phân định CTRYT 149 54,2 164 45,8

3 Kiến thức về bao bì, dụng cụ, thiết bị

lưu chứa CTRYT

297 83,0 61 17,0

4 Kiến thức phân loại CTRYT 271 75,7 87 24,3

5 Kiến thức thu gom CTRYT 248 69,3 110 30,7

6 Kiến thức giảm thiểu CTRYT 227 63,4 131 36,6

Nhận xét:

Kết quả bảng trên cho thấy: Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đạt ở các khâuquản lý CTRYT còn chưa cao, thấp nhất là kiến thức về phân định CTRYT chỉ đạt54,2%; cao nhất là kiến thức về bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTRYT cũng chỉđạt 83,0%; kiến thức về giảm thiểu CTRYT cũng tương đối thấp (63,4%) Các kiếnthức chung về văn bản và quy trình quản lý CTYT; kiến thức về phân loại và thugom CTRYT cũng chưa cao, tỷ lệ lần lượt là 67,6%; 75,7% và 69,3%

Ngày đăng: 05/07/2020, 16:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Bhagawati G, Nandwani S, Singhal S (2015). Awareness and practices regarding bio-medical waste management among health care workers in tertiary care hospital in Delhi. Indian Journal of Medical Microbiology, 33(4), 580–582 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indian Journal of Medical Microbiology
Tác giả: Bhagawati G, Nandwani S, Singhal S
Năm: 2015
18. Nguyễn Văn Chuyên, Đồng Khắc Hưng, Chu Đức Thành (2012). Thực trạng kiến thưc, thái độ và thực hành của nhân viên y tế trong quản lý và xử lý chất thải y tế tại 10 bệnh viện khu vực phia Bắc. Tạp chí Y dược học quân sự, (1), 57–63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y dược học quân sự
Tác giả: Nguyễn Văn Chuyên, Đồng Khắc Hưng, Chu Đức Thành
Năm: 2012
19. Trương Nguyễn Quỳnh Trâm (2013), Nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn tại các trung tâm y tế huyện của Tỉnh Thừa Thiên-Huế, Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật, Trường Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lýchất thải rắn tại các trung tâm y tế huyện của Tỉnh Thừa Thiên-Huế
Tác giả: Trương Nguyễn Quỳnh Trâm
Năm: 2013
23. Hoàng Thị Định (2015), Kiến thức, thực hành về phân loại, thu gom chất thải rắn y tế của cán bộ điều dưỡng bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa và một số yếu tố liên quan năm 2014. Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thực hành về phân loại, thu gom chất thảirắn y tế của cán bộ điều dưỡng bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa và một sốyếu tố liên quan năm 2014
Tác giả: Hoàng Thị Định
Năm: 2015
24. Nguyễn Văn Tĩnh (2012), Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về xử lý chất thải y tế của nhân viên bệnh viện huyện, tỉnh Kiên Giang và một số yếu tố liên quan năm 2012, Luận văn bác sĩ chuyên khoa II, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về xử lýchất thải y tế của nhân viên bệnh viện huyện, tỉnh Kiên Giang và một số yếu tốliên quan năm 2012
Tác giả: Nguyễn Văn Tĩnh
Năm: 2012
25. Hoàng Thị Thúy, Phan Văn Tường (2012). Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức, thực hành của nhân viên y tế bệnh viện đa khoa Đông Anh năm 2011. Tạp chí Y học thực hành, 816(4), 145–150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Hoàng Thị Thúy, Phan Văn Tường
Năm: 2012
26. Đào Ngọc Phong (2006), Thực trạng quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện tuyến huyện năm 2006. Đề xuất và áp dụng mô hình can thiệp. Đề tài cấp bộ, Trường đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý chất thải y tế tại các bệnh việntuyến huyện năm 2006. Đề xuất và áp dụng mô hình can thiệp
Tác giả: Đào Ngọc Phong
Năm: 2006
30. Chu Thị Luyến, Vũ Khắc Lương, Lê Thị Thanh Xuân (2015), Kiến thức, thực hành của nhân viên y tế trong quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện tim Hà Nội năm 2015, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thựchành của nhân viên y tế trong quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố liênquan tại bệnh viện tim Hà Nội năm 2015
Tác giả: Chu Thị Luyến, Vũ Khắc Lương, Lê Thị Thanh Xuân
Năm: 2015
32. Nguyễn Xuân Chi, Nguyễn Thanh Lộc và cộng sự (2015). Nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành về quản lý chất thải rắn y tế của cán bộ y tế tại bệnh viện quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh năm 2013. Tạp chí Y học thực hành, 957(4), 2–4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Xuân Chi, Nguyễn Thanh Lộc và cộng sự
Năm: 2015
33. Lê Thị Tài, Đào Ngọc Phong, Đinh Hữu Dung và các cộng sự (2003). Thực trạng hiểu biết về chất thải y tế và quản lý chất thải y tế tại sáu bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh. Tạp chí nghiên cứu Y học, 2, 47–53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu Y học
Tác giả: Lê Thị Tài, Đào Ngọc Phong, Đinh Hữu Dung và các cộng sự
Năm: 2003
14. Bansal (2013). Knowledge, awareness and practices of medical waste management between private dental practitioners in Tricity (Chandigarh, Panchkula and Mohali) Khác
15. Jabbari (2014). Knowledge, attitudes and practices related to medical waste management in the province of Mazandaran doctors, north of Iran Khác
16. Saker, Hirosawa (2014). Assessnment of knowledge, practice and possible barriers between providers of health care related to medical waste management in Dhaka, Bangladesh. 214 Khác
20. Hoàng Trung Lập, Hoàng Thị Toàn, Cao Thị Phượng và các cộng sự (2013).Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của điều dưỡng, hộ lý trong công tác phân loại và thu gom chất thải rắn y tế tại bệnh viên II Lâm Đồng Khác
21. Nguyễn Huy Nga và Tô Liên (2017). Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các trạm y tế xã ở Việt Nam năm 2017. Bộ Y Tế - Cục quản lý môi trường Y tế, &lt;http://vihema.gov.vn/thuc-trang-cong-tac-quan-ly-chat-thai-ran-y-te-tai-cac-tram-y-te-xa-o-viet-nam.html&gt;, accessed: 16/03/2019 Khác
27. Bách khoa toàn thư (2019). Giới thiệu tỉnh Kiên Giang. Wikipedia tiếng Việt,&lt;https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ki%C3%AAn_Giang&amp;oldid=48669867&gt;, accessed: 03/03/2019 Khác
28. Giới thiệu Bệnh Viện Đa Khoa Kiên Giang. &lt;http://bvdkkiengiang.vn/gioi-thieu-chung&gt;, accessed: 03/03/2019 Khác
29. Bệnh viện Bình An Giới thiệu bệnh viện đa khoa tư nhân Bình An.&lt;http://bvbinhan.com.vn/ver/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=1&amp;Itemid=3%3E&gt;, accessed:03/03/2019 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w