Lí luận dạy học là khoa học chuyên nghiên cứu về hoạt động trí dục (giáo dục trí tuệ). LLDH là một bộ phận của Giáo dục học. Cùng với sự phát triển của các khoa học giáo dục hiện nay, LLDH đã trở thành một khoa học độc lập. Nhiệm vụ chủ yếu của LLDH là tìm ra những cơ sở khoa học và xác lập những biện pháp hiệu nghiệm để nâng cao chất lượng của việc dạy và học.
Trang 1CHƯƠNG 1 NHẬP MÔN LÝ LUẬN DẠY HỌC
I KHÁI NIỆM LLDH
1 Dạy học và ý nghĩa của nó
- Dạy học là con đường, phương tiện quan trọng nhất góp phần thực hiện mục đích
và nhiệm vụ giáo dục, đào tạo của nhà trường
- Dạy học – một con đường cơ bản nhằm phát triển trí tuệ nói riêng, hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ nói chung
- Dạy học – loại hình hoạt động đặc trưng chủ yếu nhất trong các loại hình trường,
là con đường cơ bản phục vụ mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài
2 Khái niệm LLDH
Lí luận dạy học là khoa học chuyên nghiên cứu về hoạt động trí dục (giáo dục trí tuệ) LLDH là một bộ phận của Giáo dục học Cùng với sự phát triển của các khoa học giáo dục hiện nay, LLDH đã trở thành một khoa học độc lập Nhiệm
vụ chủ yếu của LLDH là tìm ra những cơ sở khoa học và xác lập những biện pháp hiệu nghiệm để nâng cao chất lượng của việc dạy và học
II ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA LLDH
Đối tượng của LLDH là những hiện tượng sư phạm chưa được nhận thức hoặc được nhận thức chưa đầy đủ về mặt khoa học, đang tồn tại và tác động đến hiện thực dạy học
Việc nhận thức và giải thích khoa học đối tượng này cho phép phát triển những thành phần lý thuyết và ứng dụng khác nhau trong LLDH, tạo ra những luận cứ và nguyên tắc mới để định hướng đúng đắn hơn, hiệu quả hơn trong việc cải thiện hoặc tổ chức mới quá trình dạy học ở trình độ phát triển cao hơn
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LLDH
1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Bao gồm các phương pháp cụ thể sau:
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho vấn đề cần nghiên cứu
2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 2CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
Chương 3 Chương 4 Chương 5 Chương 6
CHƯƠNG II QUÁ TRÌNH DẠY HỌC (QTDH)
I KHÁI NIỆM CHUNG VỀ QTDH
QTDH nói chung, quá trình dạy và học ở trường THCN-DN nói riêng là một quá trình phức tạp, rộng lớm và bao gồm nhiều thành tố có liên quan chặt chẽ với nhau
Để đưa ra một định nghĩa có tính khái quát nhất, bao quát toàn bộ hoạt động dạy và học là một công việc không dễ Hiện nay, các nhà lý luận dạy học ở Việt Nam cũng như thế giới đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về QTDH tuỳ theo quan điểm tiếp cận về hoạt động dạy và học Chẳng hạn, các nước sử dung tiếng Anh khi nghiên cứu QTDH thường xem xét hai phạm trù độc lập: dạy và học (teaching and learning) Theo đó, với họat động dạy có phương pháp dạy của giáo viên, với hoạt động học có phong cách học của mỗi cá nhân trong phạm vi tài liệu học tập chuyên đề này, chúng tôi thống nhất với khái niệm sau đây:
Quá trình dạy học là hệ thống những hành động liên tiếp và thâm nhập vào nhau của thầy và trò dưới sự hướng dẫn của thầy, nhằm đạt được mục đích dạy học và qua đó phát triển nhân cách của trò
QTDH ở trường THCN-DN là hệ thống những hành động liên tiếp và thâm nhập vào nhau của giáo viên và học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên, nhằm trang
Trang 3bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng và bước đầu hình thành kỹ xảo liên quan đến một nghề nhất định, qua đó góp phần hoàn thiện nhân cách nói chung, hình thành và phát triển nhân cách nghề nghiệp nói riêng ở học sinh
Theo anh/chị, Quá trình dạy học (dạy + học) được định nghĩa như thế nào?
II CẤU TRÚC CỦA QTDH
Quá trình dạy học bao gồm nhiều thành tố như: mục đích và nhiệm vụ dạy học, phương pháp và phương tiện dạy học, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học, kết quả dạy học… Quá trình này diễn ra và tác động qua lại với môi trường kinh tế - xã hội, môi trường khoa học – công nghệ, môi trường quốc tế hoá… Có thể khái quát cấu trúc của QTDH ở trường THCN-DN gồm các thành tố cơ bản sau:
– Mục đích giáo dục và nhiệm vụ dạy học nghề: phản ánh một cách tập trung nhấtnhững yêu cầu của xã hội (được thể hiện ở những yêu
cầu của từng ngành nghề) đối với quá trình dạy học
– Nội dung dạy học ở trường THCN-DN: bao gồm hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo liên quan đến một ngành nghề cụ thể mà
người học cần phải nắm vững trong quá trình dạy học Nội dung dạy học là một nhân tố cơ bản của quá trình dạy học ở trường THCN-DH Nội dung dạy học bị chi phối bởi mục đích và nhiệm vụ dạy học, đồng thời nó lại quy định việc lựa chọn và vận dụng phối hợp các phương pháp, phương tiện dạy học
– Phương pháp và phương tiện dạy học: là hệ thống những cách thức, phương tiệnhoạt động phối hợp của người dạy và người học
nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học
– GV với hoạt động dạy và HS với hoạt động học: Trong quá trình dạy học, giáo viênvới hoạt động dạy có chức năng tổ chức, điều
khiển, lãnh đạo hoạt động học tập của người học, đảm bảo cho người học thực hiện đầy đủ và có chất lượng những yêu cầu đã được quy định bởi mục đích và nhiệm vụ dạy học Trong quá trình dạy học, người học vừa là khách thể (của quá trình dạy), vừa là chủ thể tích cực, độc lập, sáng tạo của hoạt động học Thầy và trò cũng như hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ mối quan hệ này ở các phần tiếp theo
– Các môi trường có ảnh hưởng đến QTDH: Quá trình dạy học với tư cách là một hệthống tồn tại và phát triển trong môi trường kinh tế -
xã hội, môi trường khoa học – công nghệ và những xu thế của thời đại Nếu các thành tố: mục đích – nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, giáo viên – học sinh, kết quả… là các thành tố bên trong quá trình dạy
Trang 4học thì tah2nh tố môi trường được xem là thành tố bên ngoài của QTDH Các môi trường này không chỉ tác động đến hoạt động dạy học nói chúng
mà còn ảnh hưởng đến tất cả các thành tố cấu trúc bên trong QTDH Ngược lại, QTDH phát triển sẽ góp phần thúc đẩy sự vận động đi lên của các môi trường bên ngoài
Có thể mô hình hòa các thành tố của QTDH và mối quan hệ giữa chúng như mô hình sau đây:
Mối quan hệ giữa QTDH với các môi trường bên ngoài là mối quan hệ biện chứng Mối quan hệ này phản ánh vai trò của đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc của nền kinh tế thị trường tới từng nhân tố của quá trình giáo dục, tới chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo Và ngược lại, sản phẩm giáo dục – những người có tri thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, có phẩm chất đạo đức và thái độ đúng đắn… sẽ phát huy ảnh hưởng tích cực trở lại đối với nền kinh
tế - xã hội… Với ý nghĩa đó, giáo dục có vai trò là động lực, là điều kiện cơ bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội Đảng và Nhà nước ta đã xác định :
· Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy,
là điều kiện cơ bản đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội …
· Giáo dục và đào tạo phải đi trước sự phát triển kinh tế - xã hội…
· Biện pháp tổng quát là phải coi đầu tư cho giáo dục là một hướng chính của đầu tư phát triển…
· Phải đa dạng hóa các hình thức đào tạo, thực hiện công bằng trong giáo dục
· Giáo dục và đào tạo phải gắn chặt với yêu cầu phát triển của đất nước và phù hợp với xu thế tiến bộ của th?i ??i…
III BẢN CHẤT CỦA QTDH
Từ ngàn xưa, nghiên cứu, tìm tòi và tích lũy kinh nghiệm để rồi truyền lại cho thế
hệ sau vẫn luôn là một quá trình góp phần thúc đẩy sự tiến hóa của nhân loại Thế
hệ sau kế thừa thế hệ trước, dùng kiến thức và kinh nghiệm được truyền lại để làm nền tảng cho những kiến thức cao hơn và kinh nghiệm sâu hơn Như một dòng sông trôi ra biển cả, kiến thức và kinh nghiệm của nhân loại, trên dòng chảy của mình, có thể mang thêm phù sa, được mở rộng thêm nhờ có phụ lưu để trở nên mênh mông hơn nhưng cũng có thể teo dần rồi chấm dứt dòng chảy trong những mảnh đất khô cằn Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào việc nhận thức bản chất và quan niệm của con người về hai chữ dạy và học
Trang 5Dạy và học thường chỉ được xem là quá trình trao và nhận Thông thường, ngươiì
ta vẫn luôn quan niệm rằng học tập chỉ đơn thuần là quá trình tích lũy kiến thức và học tập kinh nghiệm từ người truyền thụ Cách quan niệm thụ động như vậy dễ biến kiến thức thành một vật thể chết khô được truyền từ tay người này sang tạy người khác Kiến thức được truyền thụ theo cách đó sẽ giống như một luồng nước nóng mà nhiệt lượng cứ phải giảm dần trong quá trình trao đổi để cuối cùng người sau chỉ biết ôm khư khư lấy một khối băng lạnh giá Phật giáo Ấn độ làm sao có thể phát triển mạnh mẽ một cách kỳ diệu ở trên đất Trung hoa nếu như nó không biến thành Thiền Tông Đó là nhờ các bậc chân sư Trung quốc đã thấu triệt được thông biến trong Hoằng pháp Nếu như các đại sư trung quốc chỉ biết ôm bo bo mớ giáo điều được truyền từ Thiên Trúc thì chắc chắc Phật giáo ở Trung quốc chỉ là một cái xác chết khô mà ngẫm ra thì việc Hoằng pháp tự bản chất cũng chỉ là quá trình dạy học Vì vậy, cần nhận thức một cách đầy đủ về bản chất của QTDH nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học hiện nay Việc nhận thức bản chất của QTDH không phải dựa trên những cơ sở cảm tính, kinh nghiệm chủ nghĩa mà cần xuất phát từ những cơ sở khoa học
1 Cơ sở để xác định bản chất của QTDH
Mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức của loài người (đặc trưng bởi hoạt động nhận thức của nhà khoa học) với hoạt động dạy học (đặc trưng bởi hoạt động nhận thức của học sinh)
Trong quá trình phát triển của lịch sử, loài người không ngừng nhận thức và cải tạo thế giới khách quan; tích lũy, hệ thống hóa, khái quát hóa những tri thức và truyền đạt lại cho thế hệ sau Quá trình truyền đạt và lĩnh hội tri thức đó được gọi là quá trình dạy học Như vậy, trong xã hội diễn ra hoạt động nhận thức của loài người và hoạt động dạy học cho thế hệ trẻ, trong đó, hoạt động nhận thức của loài người đi trước hoạt động dạy học Song hoạt động nhận thức của người học diễn ra trong môi trường sư phạm, có sự hướng dẫn, tổ chức, điều khiển của giáo viên Do vậy,
nó không lặp lại toàn bộ quá trình nhận thức của loài người, do đó, tránh được những bước đường quanh co, những sai lầm trong nhận thức Có thể tóm tắt sự giống và khác nhau khái quát giữa nhận thức của loài người (được đặc trưng bởi quá trình nhận thức (QTNT) của nhà khoa học) và quá trình dạy học (đặc trưng bởi QTNT của học sinh) như sau:
Giống nhau:
+) Là QT phản ánh thế giới khách quan vào ý thức của con người Tuy nhiên, sự phản ánh này hoàn toàn khác xa với sự phản ánh của chiến gương phẳng đối với sự vật, hiện tượng trước nó Với tư cách là một thực thể xã hội có ý thức, con người
có khả năng thu được những phản ánh khách quan về nội dung, chủ quan về hình thức Nghĩa là, về nội dung, con người có khả năng phản ánh đúng bản chất và những quy luật của thế giới khách quan; nhưng, về hình thức, mỗi cá nhân có những hình thức phản ánh khác nhau, có cách thức xây dựng nên những khái niệm,
Trang 6những cấu trúc logic riêng của mình Hay nói khác hơn, quá trình phản ánh hiện thức khách quan của con người bị khúc xạ bởi lăng kính chủ quan của mỗi cá nhân (cùng một vấn đề nhưng mỗi cá nhân nhận thức ở mức độ khác nhau, bình diện khác nhau…)
+) Về cơ bản, cũng diễn ra theo quy luật nhận thức chung của loài người Quy luật này được phản ánh trong công thức nổi tiếng của Lênin “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng duy nhất của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thức khách quan” Thật vậy, từ những yếu tố trực quan như các sự vật hiện tượng có thật, các mô hình, tranh ảnh, ngôn ngữ (nói và viết)… sẽ được chủ thể (học sinh, nhà KH) xây dựng nên những biểu tượng về chúng ở trong đầu Đây là những tài liệu cảm tính,
là cơ sở để chủ thể tiến hành các hoạt động nhận thức tiếp theo Từ những tài liệu cảm tính này, nhờ các thao tác tư duy, chủ thể nhận thức sẽ hình thành nên các khái niệm
+) Trong quá trình nhận thức, cả học sinh và nhà khoa học, muốn nhận thức đầy
đủ một vấn đề, một sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, cần phải huy động các thao tác tư duy (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, phán đoán, suy lý…) ở mức độ cao nhất Việc huy động các thao tác tư duy cũng không theo một trình tự đơn thuần mà đó là một sự phối hợp sáng tạo tùy thuộc vào mỗi cá nhân +) Kết quả nhận thức học sinh và của nhà khoa học đều có điểm chung là: nó làm cho vốn hiểu biết của chủ thể tăng lên Sau mỗi một giai đoạn nhận thức, vốn hiểu biết của chủ thể tăng lên nhờ sự tích lũy những tri thức, hình thành những kinh nghiệm mới trong quá trình nhận thức của mình
Tuy nhiên, QTNT của học sinh lại có tính độc đáo của nó so với QTNT của nhà khoa học ở những điểm khác biệt sau đây:
+) Nếu như QTNT của nhà khoa học diễn ra theo con đường mò mẫm, thử và sai thì QTNT của học sinh lại diễn ra theo con đưiờng đã được khám phá Nhà khoa học phải đảm đương nhiệm vụ khó khăn là độc lập đi vào những bí ẩn của thế giới khách quan, phát hiện và chứng minh những cái mà loài người chưa hề biết trong
tự nhiên, xã hội và tư duy, tìm ra những chân lý mới làm sâu sắc và phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại
+) Trong khi đó, QTNT của học sinh không phải tìm ra những cáo mới cho nhân loại, mà phải tái tạo những tri thức của loài người trong bản thân mình Nói cách khác, học sinh nhận thức cái mới đối với bản thân mình từ cái đã biết trong kho tàng tri thức của nhân loại Tuy nhiên, học sinh không phải nhận thức hết toàn bộ kho tàng tri thức của nhân loại mà, thông qu a quá trình gia công sư phạm, học sinh chỉ nhận thức những tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại phù hợp với từng ngành nghề và phù hợp với các môi trường bên ngoài có ảnh hưởng đến QTDH Nhờ vậy, trong một thời gian ngắn, học sinh có thể tiếp cận một cách thuận lợi những tri thức, kỹ năng của ngành nghề nhất định được phản ánh trong nội dung dạy học,
Trang 7không phải trải qua con đường mò mẫm, thử và sai Và cũng trong thời gian ngắn
ấy, học sinh có cơ hội củng cố kiến thức, rèn luyện các kỹ năng thực hành về ngành nghề tương lai của mình Hay nói khác, học sinh vừa nghiên cứu lý thuyết vừa có cơ hội thực hành trong suốt quá trình nhận thức của mình
Tóm lại: qua phân tích sự giống nhau và khác nhau trong hoạt động nhận thực của học sinh và nhà khoa học, ta có thể nhận thấy: đó là một quá trình nhận thức độc đáo, sáng tạo của học sinh vừa có tính chất nghiên cứu, vừa có tính chất thực hành nghề
Mối quan hệ giữa hoạt động dạy của Thầy và học động học của Trò
Dạy và học là hai hoạt động đặc trưng, cơ bản của quá trình dạy học Hai hoạt động này thống nhất biện chứng với nhau Sự tác động qua lại giữa dạy và học, giữa thầy và trò phản ánh tính chất hai mặt của quá trình dạy học Để tiếp cận một cách toàn diện bản chất của QTDH, chúng tôi sử dụng quan điểm tiếp cận bộ phận, tức tạm thời xem xét QTDH gồm hai phạm trù: dạy và học Việc chia tách này chỉ
có tính chất nghiên cứu trên thực tế, hai phạm trù này không thể tồn tại một cách độc lập mà chúng luôn thống nhất (nhưng không đồng nhất) với nhau Nếu có tồn tại thì không còn mang bản chất đặc trưng của QTDH Ví dụ, nếu quá trình học mà không có quá trình dạy thì đó là quá trình tự học, tự nghiên cứu (nhưng vẫn kết tinh kết quả của quá trình dạy trước đó vì một cá thể người mới sinh ra không có khả năng tự học được) hoặc nói theo dân gian “Không thầy đố mày làm nên”
a) Dạy là gi?
Theo Newcomb, McCracken và Wormbord (1986) thì "Dạy là một quá trình chỉ đạo và hướng dẫn quá trình học để người học đạt được những kiến thức, kỹ năng hay thái độ mới; tăng cường lòng nhiệt tình của họ và phát triển hơn nữa các kỹ năng hiện có" Khi đưa ra định nghĩa về quá trình dạy học, các tác giả nhấn mạnh đến vai trò của người thầy trong quá trình dạy và học Theo đó, trong quá trình dạy học, người dạy đóng vai trò là "huấn luyện viên" của quá trình học Người học ở đây với tư cách vừa là đối tượng của hoạt động dạy nhưng cũng đồng thời là chủ thể của các hoạt động trong quá trình học Mục đích cuối cùng mà hoạt động dạy hướng đến ở đây là làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của người học bằng chính hoạt động TC, chủ động, tự giác và sáng tạo của người học
Còn Hunter (1976) thì nhấn mạnh đến vai trò quyết định của người dạy Bà quan niệm: "Quá trình dạy học cũng giống như quá trình ra quyết định và hành động một cách cẩn thận nhằm giúp cho quá trình học diễn ra một cách thuận lợi và thành công hơn so với khi không có quá trình dạy diễn ra" Như vậy, theo Hunter, vai trò của người người dạy là "thiết kế" quá trình dạy học Thành công của quá trình dạy học phụ thuộc nhiều vào các hoạt động dạy học ở trên lớp của người dạy Người dạy phải suy nghĩ, ra quyết định một cách thận trọng và đồng thời phải lựa chọn những bước đi cụ thể trong những tình huống nhất định nhằm đạt được mục tiêu
Trang 8của mình Còn người học là người "thi công" quá trình học tập trong một môi trường có các điều kiện và cơ hội học tập tốt
Bugelski lại nhấn mạnh đến vai trò của người học trong quá trình dạy học Bugelski cho rằng: "Dạy thực ra là một chuyện "thần thoại" vì chẳng có một hành động/hoạt động nào trong hay của chính bản thân quá trình dạy cả" Ông lập luận, không ai dạy ai cái gì cả, anh ta chỉ có thể sắp xếp các điều kiện mà ở đó người học
có thể học được Trong số các điều kiện được tạo ra như thế, quá trình học có diễn
ra hay không là phụ thuộc phần lớn vào người học chứ không phải phụ thuộc vào người dạy hay quá trình dạy Mặc dù không đề cao vai trò của người dạy nhưng cũng như Newcomb, McCracken và Wormbord, Bugelski cho rằng người dạy là những người "sắp xếp, tạo điều kiện thuận lợi" cho quá trình học diễn ra
Brown và Atkins cho rằng "Dạy có thể là và nhìn chung là một nhiệm vụ đầy khó khăn, đòi hỏi khả năng trí tuệ, những thách thức về mặt xã hội, bao gồm tập hợp các kỹ năng có thể được hình thành, củng cố và nâng cao ở người dạy nhằm cung cấp các cơ hội, điều kiện thuận lợi cho quá trình học" Do vậy, để tiến hành được một hoạt động dạy, người dạy cần phải có một sự chuẩn bị, đầu tư rất lớn không chỉ về mặt kiến thức chuyên môn mà còn chú trọng đến các kỹ năng cụ thể; có khả năng đối phó với những khó khăn; có sự cam kết về mặt xã hội
Bruner (1966) cho rằng: "Dạy là một sự nỗ lực để giúp đỡ hay tạo ra sự phát triển
ở người học" Sự phát triển ở đây bao gồm cả về thể chất lẫn tình thần; về thái độ lẫn hành vi; về kiến thức lẫn kỹ năng
Theo cách tiếp cận thông tin, GS TSKH Lâm Quang Thiệp quan niệm "Dạy là việc giúp cho người học tự mình chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng và hình thành hoặc thay đổi những tình cảm, thái độ" Theo quan niệm này, dạy không phải
là truyền thụ kiến thức một chiều, càng không phải cung cấp thông tin đơn thuần,
mà chủ yếu là giúp cho người học tự mình chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, bồi dưỡng cảm xúc và hình thành thái độ
Từ việc phân tích các định nghĩa nêu trên, theo chúng tôi, "Dạy là một hoạt động đặc trưng của người dạy nhằm tổ chức, điều khiển, tạo ra nhiều điều kiện và cơ hội cho quá trình học diễn ra một cách thuận lợi và đạt mục đích" Hoạt động dạy không có nghĩa là người dạy rót những kiến thức sẵn có của mình vào đầu người học, mà phải tổ chức, sắp xếp các điều kiện, tạo ra các cơ hội thuận lợi và điều khiển, kiểm soát quá trình học nhằm làm tăng thêm lượng kiến thức, kỹ năng và thay đổi thái độ, cách đánh giá hiện có của người học Kết quả cuối cùng của quá trình dạy là tạo điều kiện và thúc đẩy quá trình học diễn ra trong một môi trường thuận lợi nhất Hoạt động dạy là tạo ra những quy trình, thao tác chỉ đạo hoạt động học nhằm hình thành ở người học các nhu cầu thường xuyên học tập, tìm tòi tri thức, rèn luyện kỹ năng, kích thích năng lực tư duy sáng tạo Hoạt động dạy định hướng cho người học trong việc tìm tòi, đào sâu kiến thức từ lượng thông tin phong phú và rộng lớn của xã hội; hình thành thói quen tự kiểm tra, đánh giá hoạt
Trang 9động học của mình Hay nói khác hơn, dạy học là một quá trình tổ chức, điều khiển hoạt động học nhằm hình thành cho họ có thái độ, năng lực, PP học tập và ý chí học tập để họ tự khai phá những tri thức phong phú của nhân loại Điều đó cũng có nghĩa: dạy là dạy cách học, cách tiếp nhận và xử lý thông tin, vận dụng chúng vào việc giải quyết các vấn đề trong cuộc sống
b) Học là gi?
Theo Brown, Bull và Pendlebury, "Học là một sự thay đổi về kiến thức, cách hiểu,
kỹ năng và thái độ thông qua quá trình nhận thức và suy nghĩ về quá trình nhận thức đó" Sự thay đổi này là một quá trình hết sức phức tạp và phụ thuộc nhiều yếu
tố Trong đó, động cơ, niềm tin và nỗ lực của người học; sự khuyến khích và hỗ trợ của người dạy đóng vai trò quyết định đến mức độ thay đổi nông hay sâu của quá trình học Sự thay đổi nông ở đây có nghĩa là quá trình học chỉ dừng lại ở mức độ biết và hiểu những thông tin, sự kiện riêng lẻ Để đạt được mức độ thay đổi sâu hơn, người học cần phải có khả năng tạo ra mối liên hệ giữa kiến thức cũ và kiến thức mới và có khả năng vận dụng những kiến thức mới (hay sự thay đổi mới) đó vào những tình huống thực tiễn Ngoài ra, để đạt được sự thay đổi sâu, người học còn cần phải được đặt trong một môi trường mà ở đó có sự khuyến khích và hỗ trợ
từ phía người dạy
Hầu hết các chuyên gia GD phương Tây đồng ý với khái niệm "Học là một sự thay đổi trong hành vi của người học mà hành vi này có được là do việc nhận thức những thông tin, kiến thức mới và vận dụng chúng vào trong thực tiễn cuộc sống của mình" Các chuyên gia nhấn mạnh rằng, để quá trình học diễn ra, người học cần phải tham gia một cách TC vào quá trình xử lý và nhận thức thông tin Hay nói một cách ngắn gọn, học là một quá trình tư duy và hành động một cách TC Quá trình ở đây được hiểu là một loạt các hoạt động liên tục nhằm tạo ra những kết quả nhất định
Theo quan niệm của K Barry và L King, "Học tập là một quá trình thay đổi lâu dài về mặt nhân cách, hay về dung lượng những cách ứng xử theo một khuôn mẫu sẵn có Nó là kết quả của quá trình luyện tập, tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử -
xã hội" Quá trình học tập chính là quá trình thu nhận kiến thức mới, và vận dụng chúng vào trong những tình huống thực tiễn, được thực tiễn cuộc sống kiểm nghiệm
Theo quan điểm tiếp cận thông tin, "Học là quá trình tự biến đổi mình và làm phong phú giá trị con người mình bằng cách thu nhận và xử lý thông tin lấy từ môi trường thông tin" Định nghĩa này hàm nghĩa rất rộng, gồm nhiều yếu tố: thu thập, ghi nhớ, tích luỹ, và xử lý thông tin (từ môi trường xung quanh), khả năng giải quyết vấn đề để tự biến đổi bản thân Học, theo định nghĩa này có cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại bản thân người học
Trang 10Còn Hiệp hội TLH Mỹ (APA) cho rằng "Học có bản chất là một quá trình TC, nỗ lực, thống nhất từ bên trong bản thân người học nhằm thấu hiểu các thông tin và kinh nghiệm mới thông qua bộ lọc là nhận thức, tư duy và xúc cảm của cá nhân." Theo chúng tôi, "Học là một hoạt động tích cực (TC), tự lực và sáng tạo của người học nhằm tạo ra sự thay đổi trong nhận thức, thái độ và kỹ năng trên cơ sở những kiến thức, thái độ và kỹ năng hiện có của bản thân" Học là một quá trình thay đổi liên tục và tồn tại trong suốt cuộc đời của mỗi con người Quá trình dạy - học, xét cho cùng, có được kết quả tập trung ở quá trình học Nhưng, học không phải là tạo
ra bản sao của hiện thực trong não bộ của mỗi người mà là một hoạt động nhận thức đặc biệt Hình ảnh của đối tượng hiện thực tồn tại trong ý thức thông qua sự phản ánh có tính chất cải tạo, bao gồm trong đó cả sự sáng tạo với sự nỗ lực, TC của bản thân người học Hoạt động học không phải là sự tiếp nhận những kết quả sẵn có do người dạy truyền đạt cho, mà đó là hoạt động nhận thức độc lập của người học Người học là chủ thể của hoạt động học, tự mình làm ra sản phẩm cho chính mình
Học chính là tạo ra sự thay đổi, nếu người học không thay đổi, điều có có nghĩa là chưa diễn ra quá trình học Sự thay đổi ở đây, một mặt là sự gia tăng về mặt kiến thức, mặt khác thể hiện người học có thái độ TC hơn, đạt được những kỹ năng mới hay hoàn thiện những kỹ năng hiện có Sự thay đổi đó có thể diễn ra ở lĩnh vực tình cảm, nhận thức hay tâm vận động (psychomotor) Tuy nhiên, sự thay đổi về mặt nhận thức sẽ là mục tiêu cuối cùng của quá trình học Nhờ có nhận thức, qua quá trình TC hoạt động, các hành vi, kỹ năng và thái độ của người học sẽ được điều chỉnh theo hướng hoàn thiện hơn
c) Mối quan hệ giữa dạy và học:
Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học được thể hiện qua môi hình sau đây:
là một sự lãng phí về nỗ lực của người dạy Nhưng may mắn thay, điều này chỉ diễn ra
trong quá trình học của một cá nhân Trong một tập thể lớp thì quá trình học diễn ra ở nhiều khía cạnh khác nhau Do đó, tất cả những gì người dạy cung cấp đều được người học (với tư cách là một tập thể) tiếp nhận tuỳ mức độ tiếp nhận của mỗi cá nhân
+) Phần vòng tròn tượng trưng cho những kiến thức do người dạy cung cấp bao giờ cũng nhỏ hơn những gì người học học được Có hai lý do lý giải điều này: thứ nhất, nhu cầu về kiến thức của người học là vô tận và rất đa dạng trong khi nội dung chương trình học là hữu hạn Thứ hai, để thoả mãn nhu cầu học đa dạng và phong phú đó, người học không
Trang 11chỉ học ở trên lớp, học từ người dạy mà còn tự học, học từ nhiều nguồn thông tin khác nhau Vì vậy, trong dạy học TC, mục đích cuối cùng của quá trình dạy – học là phát huy cao độ vai trò TC, chủ động ở người học để giúp họ tự giác tạo ra những thay đổi TC và phát triển hợp quy luật bên trong chính bản thân người học chứ người học không phải là
"một cái thùng rỗng chứa kiến thức" để người dạy "rót" đầy kiến thức vào đó
+) Phần vòng tròn tượng trưng cho "những gì được học nhưng không được dạy" sẽ tác động đến "những gì được dạy và được học" Có hai trường hợp sẽ xảy ra: một, nếu
"những gì được học nhưng không được dạy" là những kết quả hữu ích, TC sẽ góp phần rất lớn bổ sung cho "những gì được dạy và được học" nói riêng, đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người học nói chung Ngược lại, "những gì được học nhưng không được dạy" sẽ làm cản trở, hạn chế việc vận dụng "những gì được dạy và được học" vào thực tiễn cuộc sống ở người học Do đó, PPDHTC phải làm sao tác động đến
"những gì được học nhưng không được dạy" để hạn chế những tác động tiêu cực có thể xảy ra đối với người học Hay nói khác hơn, PPDHTC phải giúp cho người học hình thành năng lực tự học, tự hoàn thiện nhân cách, phát huy nội lực trong chính bản thân người học để từ đó, người học thích nghi với cuộc sống hiện đại
2 Bản chất của QTDH ở trường THCN-DN:
Qua việc nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động dạy học nói chung và hoạt động nhận thức thế giới khách quan của loài người cùng với mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học, ta có thể khẳng định: về bản chất, quá trình dạy học ở trường THCN-DN là quá trình nhận thức độc đáo có tính chất vừa nghiên cứu, vừa thực hành của người học dưới sự hướng dẫn, tổ chức, điều khiển của người dạy thông qua việc lựa chọn nội dung, phương pháp và các hình thức dạy học phù hợp
Việc nhận thức đầy đủ bản chất của QTDH là một việc làm cần thiết ở mọi thời đại Nhà giáo dục nói chung, người giáo viên – người trực tiếp đứng lớp – nói riêng cần nhận thức đầy đủ bản chất dạy học hiện đại để có quan điểm dạy học phù hợp Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong tiến trình đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
III NHIỆM VỤ DẠY HỌC
Nhiệm vụ dạy học ở trường THCN-DN được xác định dựa trên một số cơ sở chủ yếu sau đây: Mục đích và mục tiêu đào tạo của các trường THCH-DN, sự tiến bộ của CMKH &
CN, đặc điểm của các QTDH, đặc điểm của HS và thực tiễn đất nước, địa phương, điều kiện XH, chính trị… Trên cơ sở đó, chúng ta có thể nêu lên 3 nhiệm vụ chủ yếu của QTDH ở trường THCN-DN như sau:
Nhiệm vụ 1: Dạy nghề ở trình độ nhất định
Trang bị cho HS những tri thức, kỹ năng, bước đầu hình thành những kỹ xảo tương ứng
về một lĩnh vực khoa học, kỹ thuật nhất định ở trình độ hiện đại để sau khi ra trường học sinh có khả năng lập nghiệp Việc đầu tiên và trên hết là trang bị cho học sinh hệ thống tri thức khoa học, hiện đại có liên quan đến một lực vực nghề nghiệp tương lai cùa học sinh Tri thức là sự hiểu biết, là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan thông qua hoạt
Trang 12động của chủ thể nhận thức, là những kinh nghiệm loài người tích luỹ được trong quá trình đấu tranh với tự nhiên, xã hội và trong hoạt động tư duy
- Những tri thức thực hành bao gồm những tri thức về cách thức hành động, cơ sở lý luận của việc hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng
- Những tri thức về phương pháp nhận thức khoa học nói chung, phương pháp học tập, phương pháp NCKH nói riêng Đó là điều kiện để phát triển tư duy sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quá trình dạy học ở trường CĐ,THCN –DN
- Những tri thức đánh giá: Đó là những hiểu biết có liên quan tới khả năng nhận xét, phân tích, phê phán, đánh giá những quan điểm, những lý thuyết, những học thuyết…
Tri thức khoa học cơ bản, tri thức khoa học cơ sở và tri thức khoa học chuyên ngành:
- Tri thức khoa học cơ bản là tri thức tạo nên nền tảng lâu bền để từ đó học sinh có thể học tốt những tri thức cơ sở và chuyên ngành VD:Tri thức về toán học, triết học…
- Tri thức cơ sở của chuyên ngành bao gồm những tri thức đại cương về chuyên ngành,
nó được hình thành trên nền tảng của những tri thức cơ bản, đồng thời là chỗ dựa cho tri thức chuyên ngành
- Tri thức chuyên ngành là những tri thức giúp người học có thể nắm vững tri thức trực tiếp có liên quan tới nghề nghiệp tương lai Nó bao gồm những tri thức về chuyên môn rộng và phần nào về chuyên môn hẹp
- Tri thức hiện đại: là những tri thức phản ánh những thành tựu mới nhất, tiên tiến nhất
về các lĩnh vực khoa học,kỹ thuật, kinh tế, văn hoá…Đó là những tri thức phản ánh được
xu thế phát triển và phù hợp với chân lý khách quan
Nhiệm vụ 2: Dạy phương pháp nhận thức:
Bồi dưỡng cho học sinh phương pháp luận khoa học, phương pháp nghiên cứu và phương pháp tự học, giúp họ phát triển những phẩm chất và năng lực hoạt động trí tuệ sáng tạo chính là dạy phương pháp để họ tìm ra tri thức
2.1 Bồi dưỡng cho học sinh phương pháp luận khoa học, phương pháp nghiên cứu và phương pháp tự học:
Trang 13– Phương pháp tự học của học sinh là cách thức hoạt động tự giác, tích cực chủ động, tự lực và sáng tạo nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục đích, nhiệm vụ học tập, nghiên cứu nhất định Đó là các cách thức: xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra kết quả thông qua việc lựa chọn và vận dụng phối hợp các phương pháp, phương tiện nhằm thực hiện tối ưu nhiệm vụ học tập
– Phương pháp NCKH là cách thức, con đường thu thập thông tin khoa học (số liệu, sự kiện), phân tích, xử lý chúng làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu và cuối cùng đạt được mục đích nghiên cứu – Phương pháp luận khoa học là học thuyết triết học về phương pháp nhận thức và cải tạo thế giới khách quan
2.2 Phát triển những phẩm chất và năng lực hoạt động trí tuệ của người học:
Những phẩm chất của hoạt động trí tuệ cơ bản là:
Tính định hướng của hoạt động trí tuệ: thể hiện ở khả năng xác định nhanh chóng
và chính xác đối tượng của hoạt động trí tuệ, mục đích phải đạt tới và con đường tối ưu
để đạt được mục đích đó Nó chi phối hướng đi và cách thức đi của hoạt động trí tuệ, đồng thời, nó còn giúp cho học sinh có ý thức và ngăn ngừa sự đi chệh hướng cũng như kịp thời phát hiện lệch lạc và điều chỉnh có hiệu quả những lệch lạc này
Bề rộng của hoạt động trí tuệ: thể hiện ở khả năng học sinh có thể tiến hành hoạt động này ở nhiều lĩnh vực, nhất là những lĩnh vực có liên quan mật thiết với nhau
Chiều sâu của hoạt động trí tuệ: thể hiện ở khả năng nắm được ngày càng sâu sắc bản chất của sự vật, hiện tượng khách quan, giúp học sinh phân biệt được cái bản chất
với cái không bản chất
Tính linh hoạt và mềm dẻo trong hoạt động trí tuệ: thể hiện không những ở khả năng học sinh tiến hành hoạt động trí tuệ nhanh chóng mà còn ở khả năng di chuyển nhạy bén từ tình huống này sang tình huống khác, không những theo hướng xuôi mà còn theo hướng ngược Tính linh hoạt và mềm dẻo của hoạt động trí tuệ giúp học sinh dẽ dàng thích ứng với các chiều hướng nhận thức đối ngược nhau, thích ứng với sự đa dạng trong các hoạt động của thực tiễn
Tính độc lập của hoạt động trí tuệ: thể hiện ở khả năng tự phát hiện và giải quyết các vấn đề trong nhận thức và trong thực tiễn; là cơ sở của các hoạt động tư duy sáng tạo Tính phê phán của hoạt động trí tuệ: thể hiện ở khả năng phân tích, đánh giá các quan điểm, các lý thuyết, các phương pháp của người khác đồng thời biết đưa ra chính
kiến của mình trên cơ sở tư duy logic
Năng lực hoạt động trí tuệ gồm:
Năng lực nhận thức thể hiện ra ở khả năng tư duy trừu tượng và tư duy độc lập,
dễ dàng di chuyển hoạt động trí tuệ vào đối tượng và quá trình mới, có khả năng tiên
đoán chính xác kết quả, suy lý và suy luận tốt
Trang 14Năng lực hành động thể hiện ở khả năng chiếm lĩnh tri thức và vận dụng linh hoạt tri thức ở nhiều tình huống khác nhau trong thực tiễn cuộc sống; khả năng tự học, tự
nghiên cứu, và khả năng độc lập công tác…
Nhiệm vụ 3 Dạy thái độ
Trên cơ sở trang bị hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho HS, QTDH ở trường THCN-DN phải nhằm hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan và những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người cán bộ khoa học, kỹ
thuật, những cán bộ “có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, năng động và sáng tạo, có khả năng thích ứng với những thay đổi về nghề nghiệp trong nền kinh tế hàng hoá, có bản lĩnh tự tạo việc làm, có ý thức thực hiện nghĩa vụ công dân…”
Một trong những nguyên tắc cực kỳ quan trọng của QTDH ở các trường THCN-DN
là phải đảm bảo sự thống nhất biện chứng giữa nội dung giáo dục tư tưởng, chính trị với nội dung tri thức khoa học trên cơ sở nền tảng những tri thức và kỹ năng nghề nghiệp tương lai
Mặt khác, việc nắm vững tri thức, kỹ năng là cơ sở và điều kiện để phát triển năng lực hoạt động trí tuệ của HS trong QTDH ở THCN-DN Trong mối tương quan giữa dạy học
và phát triển việc giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan và các phẩm chất nhân cách của người cán bộ khoa học, kỹ thuật trong tương lai vừa là mục đích, là kết quả đồng thời cũng là cơ sở tư tưởng của việc chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng và phát triển trí tuệ của học sinh Nó phản ánh rõ nét mục tiêu đào tạo của các trường THCN–DN đáp ứng yêu cầu của xã hội, cách mạng khoa học, công nghệ và yêu cầu của cuộc sống
Mối quan hệ giữa 3 nhiệm vụ:
- Nhiệm vụ 1 là cơ sở và nền tảng vì thiếu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng, thì không thể phát triển trí tuệ và thiếu cơ sở để hình thành thế giới quan khoa học
- Nhiệm vụ 2 là kết quả và điều kiện của việc nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và là
cơ sở để hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp vì phải có trình độ phát triển nhận thức nhất định mới giúp học sinh có cách nhìn, có thái độ
V ĐỘNG LỰC CỦA QTDH
Theo quan điểm của Triết học duy vật biện chứng thì sự vận động và phát triển của các
sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan là do có sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập, nghĩa là do có những mâu thuẫn Có hai loại mâu thuẫn: mâu thuẫn bên
Trang 15trong và mâu thuẫn bên ngoài Mâu thuẫn bên trong là nguồn gốc thật sự của sự phát triển, còn mâu thuẫn bên ngoài là điều kiện của sự phát triển
QTDH cũng vận động và phát triển là nhờ không ngừng giải quyết các mâu tuẫn bên trong và bên ngoài QTDH Các mâu thuẫn bên trong QTDH gồm:
– Mục đích, nhiệm vụ DH đã được nâng cao và hoàn thiện >< Nội dung
DH còn ở trình độ thấp, lạc hậu
– Nội dung DH đã được hiện đại hoá >< PP, phương tiện DH còn cũ kỹ – Yêu cầu, nhiệm vụ học tập mới >< Yêu cầu, nhiệm vụ học tập mới – Nội dung, PP, phương tiện DH đã được hiện đại hoá >< Trình độ GV còn thấp
Các mâu thuẫn bên ngoài gồm có:
– Tiến bộ của KHCN >< Nội dung DH còn lạc hậu
– Sự tiến bộ của XH >< Nhiệm vụ dạy học chưa được nâng cao
– Những tiến bộ của Công nghệ dạy học >< Trình độ còn hạn chế của
Trình tự vận động hay sự tiến triển tối ưu thể hiện ra ở trình độ sắp xếp và phối hợp (sau khi đã lựa chọn kĩ càng và có cân nhắc) thành một thể thống nhất hoàn chỉnh giữa 3 yếu tố: mục đích dạy học – nội dung dạy học và phương pháp dạy học
2 Cấu trúc logic của quá trình dạy học
Mặc dù logic của quá trình dạy học phải mang tính linh hoạt, biện chứng nhưng nó cũng có một cấu trúc chung gồm một số bước (khâu, giai đoạn) sau:
1) Đề xuất và gây ý thức về nhiệm vụ học tập, kích thích động cơ học tập
2) Tổ chức, điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức mới (tri giác tài liệu mới, khái quát hóa hình thành khái niệm khoa học)
3) Tổ chức, điều khiển học sinh củng cố và hoàn thiện kiến thức, luyện tập (rèn kĩ năng,
kĩ xảo)
4) Tổ chức, điều khiển học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo để giải quyết những bài tập với độ khó và phức tạp tăng dần (uốn nắn những sai lệch trong việc hiểu tri thức, các thao tác tư duy hay thao tác chân tay); vận dụng tri thức giải thích những hiện tượng, giải quyết những vấn đề thực tiễn đề ra một cách vừa sức
5) Tổ chức, điều khiển, kiểm tra, đánh giá việc nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo ở học sinh: phối hợp nhiều hình thức kiểm tra, đánh giá, đảm bảo những nguyên tắc kiểm tra, đánh giá; bồi dưỡng ý thức năng lực tự kiểm tra, đánh giá ở học sinh
Trang 166) Phân tích kết quả từng giai đoạn, từng bước của quá trình dạy học: đối chiếu kết quả thu được với mục đích, nhiệm vụ đề ra, phát hiện ưu, nhược, nguyên nhân và tìm ra hướng giải quyết
Mỗi bước (khâu) của quá trình dạy học một mặt hoàn thành mục đích dạy học chung, mặt khác còn có chức năng riêng biệt (mục đích lí luận dạy học riêng) Hai mặt chung và riêng phải được kết hợp chặt chẽ với nhau trong mỗi bước (khâu)
Thực hiện các khâu trong quá trình dạy học, tuỳ theo nhiệm vụ cụ thể mà thực hiện ở những mức độ khác nhau cho từng khâu; không nhất thiết phải thực hiện theo trình tự cố định trên
CỦA QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
Trang chính Lời nói đầu Chương 1 Chương 2 Chương 3 Chương 4 Chương 5 Chương 6
I QUY LUẬT CỦA QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
1 Khái niệm:
– Quy luật là hiện tượng có tính bản chất, là mối quan hệ bản chất, bên trong xuyên suốt đối tượng và quá trình (quan hệ khách quan, tất yếu,
lặp lại, phổ biến, bền vững trong những điều kiện xác định)
– Quy luật dạy học phản ánh những quan hệ chủ yếu, bên trong của những hiện tượng dạy học quy định sự thể hiện tất yếu và sự phát triển
của chúng
2 Quy luật cơ bản của quá trình dạy học
Dạy học là một quá trình luôn luôn vận động và phát triển không ngừng Sự vận động và phát triển đó theo những qui luật riêng Đó là các qui luật sau đây:
– Quy luật về tính qui định của xã hội đối với các thành tố của quá trình dạy học
– Quy luật thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy của giáo viên
và hoạt động học của học sinh
– Quy luật thống nhất biện chứng giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ của học sinh
– Quy luật thống nhất dạy học và giáo dục nhân cách
– Quy luật thống nhất giữa mục đích, nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức dạy học
Trang 17Trong các quy luật nêu trên, quy luật thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh là quy luật cơ bản, xuyên suốt QTDH
Nó phản ánh mối liên hệ tất yếu chủ yếu và bền vững giữa hai nhân tố trung tâm, đặc trưng cho tính chất hai mặt của QTDH
II HỆ THỐNG NGUYÊN TẮC DẠY HỌC
1 Khái niệm
– Nguyên tắc là tư tưởng chỉ đạo, yêu cầu cơ bản đối với hoạt động
và hành vi rút ra từ tính quy luật được khoa học thiết lập
– Nguyên tắc dạy học là những luận điểm cơ bản có tính qui luật của lí luận dạy học, có tác dụng chỉ đạo toàn bộ tiến trình giảng dạy và học tập phù hợp với mục đích dạy học nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học Nguyên tắc dạy học chỉ đạo việc xác định nội dung, phương pháp, hình thức dạy học phù hợp với mục đích giáo dục, nhiệm vụ dạy học và những tính quy luật của quá trình dạy học Nguyên tắc dạy học mang tính lịch sử – xã hội Trong lịch sử phát triển của LLDH, có những nguyên tắc mới xuất hiện, bảo toàn và hoàn thiện những nguyên tắc đã được hình thành trước đây mà chưa mất ý nghĩa trong hoàn cảnh mới của hoạt động nhà trường, nhưng cũng có nguyên tắc không còn phù hợp trong xu thế phát triển của xã hội như nguyên tắc
2 Hệ thống nguyên tắc
Trong công tác dạy học, cần phải tuân theo những nguyên tắc sau đây:
2.1 Thống nhất tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học
a) Nội dung nguyên tắc
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải trang bị cho học sinh những tri thức khoa học chân chính, chính xác, phản ánh những thành tựu hiện đại khoa học, kĩ thuật, văn hóa; dần dần cho học sinh tiếp xúc với một số phương pháp nghiên cứu, có thói quen suy nghĩ và làm việc một cách khoa học; qua đó hình thành cơ sở thế giới quan khoa học, niềm tin, sự say mê, hứng thú trong học tập cũng như những phẩm chất đạo đức cần thiết
b) Biện pháp thực hiện
Để thực hiện tốt nguyên tắc này, trong quá trình dạy học, giáo viên cần tổ chức, điều khiển người học chiếm lĩnh hệ thống những tri thức cơ bản, hiện đại về các lĩnh vực khoa học Mặt khác cần tăng cường giáo dục tư tưởng, chính trị, giáo dục
và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý thức nhân văn và lòng khoan dung cho thế hệ trẻ
2.2 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong dạy học a) Nội dung nguyên tắc
Trang 18Trong quá trình dạy học, phải làm cho học sinh nắm vững những tri thức lý thuyết, tác dụng của nó đối với cuộc sống, đối với thực tiễn, có kĩ năng vận dụng chúng vào thực tiễn, góp phần cải tạo hiện thực khách quan
b) Biện pháp thực hiện
Khi xây dựng kế hoạch, chương trình dạy học, cần lựa chọn những môn học và những tri thức phổ thông cơ bản, phù hợp với những điều kiện tư nhiên, tình hình thực tiễn xây dựng và bảo vệ tổ quốc, chuẩn bị cho các em tham gia vào cuộc sống
Về nội dung dạy học: Cần làm cho học sinh thấy được nguồn gốc thực tiễn của các khoa học, nghĩa là khoa học nảy sinh là do nhu cầu thực tiễn và trở lại phục vụ thực tiễn ; phản ánh tình hình thực tiễn vào trong nội dung dạy học , khai thác vốn sống của các em
Về phương pháp dạy học: Cần vận dụng các phương pháp như thí nghiệm, thực nghiệm, nghiên cứu tài liệu thực tế, luyện tập nhằm hướng dẫn học sinh tập vận dụng tri thức đã học vào nhiều tình huống khác nhau như : giải thích hiện tượng thực tế, giải các loại bài tập thực tế, tổng kết kinh nghiệm thực tế, tiến hành tăng hiệu suất lao động
· Về hình thức tổ chức dạy học: Tận dụng các hình thức dạy học ở vườn trường, xưởng trường, ở các cơ sở sản xuất Những hình thức dạy học này giúp các em kết hợp một cách sinh động việc nghe giảng lí thuyết với việc xem tận mắt tình hình thực tế, đồng thời lại vận dụng được những điều đã học
2.3 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng trong dạy học
a) Nội dung nguyên tắc
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học, phải làm cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với những sự vật hiện tượng, hay các hình ảnh của chúng từ đó họ có thể nắm khái niệm, qui luật, lý thuyết trừu tượng, khái quát Và ngược lại, có thể cho học sinh nắm cái trừu tượng, khái quát rồi xem xét các sự vật, hiện tượng cụ thể, đảm bảo được mối liên hệ qua lại giữa tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng
b) Biện pháp thực hiện
Sử dụng phối hợp nhiều loại phương tiện trực quan khác nhau với tư cách là các phương tiện nhận thức và các nguồn tri thức trong khi giảng bài, khi tổ chức, điều khiển hoạt động lĩnh hội tri thức mới, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, ôn tập, củng cố tri thức
Kết hợp việc trình bày các phương tiện trực quan với lời nói, nghĩa là kết hợp hai
hệ thống tín hiệu với nhau
Rèn luyện cho học sinh óc quan sát và năng lực rút ra những kết luận có tính khái quát
Trang 19Sử dụng lời nói giàu hình ảnh để giúp học sinh vận dụng những biểu tượng đã có nhằm hình thành những biểu tượng mới
Tổ chức, điều khiển học sinh, trong những trường hợp nhất định, nắm những cái khái quát, trừu tượng (khái niệm, qui tắc ) rồi từ đó đi đến những cái cụ thể, riêng biệt (lấy ví dụ cụ thể minh họa, vận dụng qui tắc để giải các bài tập cụ thể )
Cho học sinh làm các bài tập nhận thức đòi hỏi phải thiết lập mối liên hệ giữa cụ thể hóa và trừu tượng hóa, giữa tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng
2.4 Nguyên tắc đảm bảo thống nhất giữa tính vững chắc của tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo và tính mềm dẻo của quá trình tư duy trong dạy học
a) Nội dung nguyên tắc
Trong quá trình dạy học, đòi hỏi học sinh phải nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
để khi cần, có thể nhớ, vận dụng được một các linh hoạt, sáng tạo trong các tình huống nhận thức hay hoạt động thực tiễn khác nhau Bên cạnh đó rèn luyện ở học sinh phẩm chất tư duy nói chung, phẩm chất mềm dẽo để vận dụng điều đã học vào tình huống quen thuộc và tình huống mới
b) Biện pháp thực hiện
Trong dạy học, cần làm nổi bật cái cơ bản của từng đề mục, từng chương để học sinh tập trung sức lực và trí tuệ vào đó, không bị phân tán vào tình huống không cơ bản
Trong dạy học, học sinh phải biết sử dụng phối hợp các loại ghi nhớ, ghi nhớ không chủ định và ghi nhớ có chủ định, ghi nhớ máy móc và ghi nhớ ý nghĩa Trong khi học bài, có những cái phải học thuộc lòng, có cái nhớ đại ý
Hướng dẫn học sinh biết cách sử dụng sách giáo khoa và tài liệu học tập khác Hướng dẫn học sinh biết cách ôn tập
2.5 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và vừa sức riêng trong dạy học
a) Nội dung nguyên tắc
Đảm bảo nguyên tắc này trong dạy học là phải vận dụng nội dung, phương pháp, hình thức dạy học nhằm thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của mọi thành viên trong lớp đồng thời phải quan tâm đến từng cá nhân người học, đảm bảo cho mọi người đều
có thể phát triển ở mức tối đa so với khả năng của mình
Trang 20Cần cá biệt hóa việc dạy học
Đây là biện pháp cơ bản để giúp đỡ riêng từng loại đối tượng học sinh, thậm chí từng học sinh
2.6 Thống nhất vai trò chủ đạo của người dạy và vai trò tích cực, tự giác, độc lập của học sinh trong dạy học
a) Nội dung nguyên tắc
Trong dạy học, phải đảm bảo mối quan hệ thuận lợi nhất giữa sự chỉ đạo sư phạm của thầy giáo và lao động tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh
b) Biện pháp thực hiện
Hoạt động dạy học phải hướng vào người học sinh ; phải phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh ; tạo điều kiện cho họ có thể học tập bằng chính hoạt động của mình
Giáo dục cho học sinh ý thức đầy đủ, sâu sắc về mục đích, nhiệm vụ học tập, từ đó
để điều chỉnh và hoàn thiện hơn công tác dạy và học
CHƯƠNG 5 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Trang chính Lời nói đầu Chương 1 Chương 2 Chương 3 Chương 4 Chương 5 Chương 6
I KHÁI NIỆM PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
- Phương pháp là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích đã định Phương pháp có cấu trúc phức tạp bao gồm mục đích được đề ra, hệ thống hành động (hoạt động), những phương tiện cần thiết (phương tiện vật chất, phương tiện trí tuệ), chủ thể, quá trình làm biến đổi đối tượng, kết quả sử dụng phương pháp (mục đích đạt được)
- Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động có trình tự, phối hợp, tương tác của giáo viên và học sinh nhằm đạt được mục đích dạy học
Trang 21II HỆ THỐNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
1 Những luận điểm xuất phát:
- DH ở trường THCN-DN là 1 quá trình thống nhất biện chứng giữa dạy và học nghề
- Trình độ nhận thức của HS ngày càng phát triển theo sự tiến bộ của quá trình học tập nghề nghiệp
- Cách thức hoạt động của thầy và trò ở THCN-DN bị quy định bởi nội dung dạy học và đảm bảo cho HS nắm vững nội dung này
- Hoạt độâng học tập của HS THCN-DN tuy có những nét độc đáo, song có những nét giống với hoạt động học tập của HS phổ thông
2 Phân loại các phương pháp dạy học :
THEO MỤC ĐÍCH LLDH CỦA CÁC GIAI ĐOẠN DH GỒM 5 TẬP HỢP PPDH:
1.Nghiên cứu tài liệu mới
2 Củng cố kiến thức
3 Vận dụng- luyện tập
4.Hệ thống hoá, khái quát hoá (ôn tập, tổng kết.)
5 Kiểm tra – đánh giá
THEO NGUỒN PHÁT, THU THÔNG TIN DẠY HỌC:
1.Dùng lời nói và chữ viết
Trang 22- Độc lập làm thí nghiệm
THEO KIỂU NỘI DUNG VÀ CÁCH TỔ CHỨC LOGIC SỰ NHẬN THỨC, LĨNH HỘI CỦA HS
1.Thông báo tái hiện
2.Làm mẫu,bắt chước
3.Giải thích – tìm kiếm bộ phận (từng phần)
4.Nêu vấn đề –nghiên cứu
THEO MỤC ĐÍCH SƯ PHẠM CHUYÊN BIỆT GỒM HỆ THỐNG PPDH CHUYÊN BIỆT HOÁ:
- Dạy học chương trình hoá
- Dạy học dùng phương tiện nghe- nhìn
- Dạy học bằng máy tính điện tử
- Dạy học nêu vấn đề –Ơrixtic
- Dạy học bằng grap
- Dạy học bằng tình huống mô phỏng hành vi
- Dạy học theo cách tiếp cận môđun
Sự phân loại các PPDH nói trên chỉ có tính chất tương đối, do đó không nên tuyệt đối hoá nó, vì:
+ Trong điều kiện CMKH, CN đang phát triển mạnh mẽ, có thể có những PPDH mới xuất hiện nên các PPDH cụ thể có tính biến động cao
+ Mặc dù các PPDH kể trên có nét chung, có thể có những PP được sử dụng trong quá trình dạy học cho nhiều bộ môn khác nhau Nhưng trong thực tiễn dạy học, do tính đặc thù của từng bộ môn nên có thể có những phương pháp đặc thù của bộ môn
+ Tuỳ theo mục đích, yêu cầu dạy học cụ thể, có thể vận dụng chủ yếu kiểu PPDH nào đó và từ kiểu phương pháp này có thể lựa chọn các nguồn thông tin và phương pháp cụ thể cần thiết
+ Không có kiểu nhóm hay PPDH cụ thể nào có tính vạn năng, nên trong QTDHĐH, cần vận dụng chúng 1 cách linh hoạt, biết phối hợp hợp lý và tối
ưu giữa chúng tuỳ theo mục đích dạy học,nội dung tài liệu, đặc điểm tâm sinh lý của HS
Trang 233 Hệ thống các phương pháp dạy học
3.1 Nhóm phương pháp dùng lời
3.1.1 Phương pháp thuyết trình
Là phương pháp chuyển giao và tiếp nhận một khối lượng kiến thức lớn có hệ thống bằng ngôn ngữ nói của giáo viên trong suốt tiết học (1)
Là PPDH bằng lời nói sinh động của giáo viên để trình bày tài liệu mới hoặc tổng kết những tri thức mà học sinh đã thu lượm được một cách có hệ thống (2)
- Dựa trên mức độ, tính chất hoạt động nhận thức của học sinh, thuyết trình được phân thành hai mức:
a Thuyết trình thông báo – tái hiện
(1) Đặc điểm cơ bản của phương pháp này, như tên gọi của nó đã chỉ
rõ, tính chất thông báo của lời giảng của thầy và tính chất tái hiện sau khi
lĩnh hội của trò
(2) Mô hình của phương pháp này như sau:
+ Giáo viên (G) tác động vào đối tượng nghiên cứu, lần lượt thông báo cho trò những kết quả tác động; đồng thời G trực tiếp điều khiển luồng thông tin đến với học sinh
+ Học sinh (H) thì tiếp nhận những thông tin đó mà không cần tác động trực tiếp gì đến đối tượng Họ nghe, nhìn, cùng tư duy theo lời giảng của giáo viên, hiểu ghi chép và ghi nhớ những tri thức đã được giáo viên “chuẩn bị sẵn”
(3) Phương pháp này chỉ cho phép học sinh đạt đến trình độ tái hiện của sự lĩnh hội mà thôi Sự hoạt động của trò là tương đối thụ động
* Ưu điểm của thuyết trình thông báo – tái hiện
+ Học sinh học được hình mẫu của tư duy khoa học, phát triển trí tuệ
Trang 24+ Hình thành tư tưởng tình cảm tốt đẹp, niềm tin và hoài bão qua ngôn ngữ và nhân cách của giáo viên
+ Tạo điều kiện phát triển năng lực chú ý, tính tích cực tư duy của học sinh, nhờ vậy trò hiểu sự giảng giải của giáo viên và ghi nhớ được bài học + Tính kinh tế cao
- Nhược điểm:
+ Dễ làm người học thụ động (không tác động trực tiếp vào đối tượng mà chỉ nghe, nhìn, cùng tư duy theo lời giảng của thầy, hiểu ghi chép và ghi nhớ);
+ Ít phát triển tư duy tự lực sáng tạo và kĩ năng
+ Dễ làm người học mệt mỏi vì kích thích đơn điệu
b Thuyết trình nêu vấn đề
- Thuyết trình nêu vấn đề là một kiểu phương pháp thuyết trình chứ không phải là sự phối hợp thuyết trình với nêu vấn đề
- Thuyết trình nêu vấn đề là một kiểu của phương pháp thuyết trình nên không thay đổi bản chất, cấu trúc của nó, mà vẫn mang toàn bộ những đặc điểm vốn có của phương pháp thuyết trình Song nó phát triển theo một hướng khác tích cực hơn – trình bày của nó mang tính “nêu vấn đề” Giữa thuyết trình nêu vấn đề và dạy học nêu vấn đề có điểm chung là “tính có vấn đề” nhưng không phải là một vì:
- Phương pháp nêu vấn đề là phương pháp giáo viên thường xuyên nêu ra vấn đề, tạo ở học sinh những hoàn cảnh có vấn đề và cùng học sinh giải quyết Tri thức tìm ra hoàn toàn do học sinh “khám phá” dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên Tính tích cực của chủ thể nhận thức được phát huy tới mức độ cao nhất và có hiệu quả rõ rệt
- Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề là phương pháp giáo viên trình bày hệ thống tri thức theo một trình tự logic hợp lí dưới dạng nêu vấn đề gợi mở,
“tính nêu vấn đề” thể hiện ở chỗ “vấn đề” được nêu ra không nhất thiết phải mang tính thường xuyên, liên tục và không phải là một giai đoạn, một bước hay một chu kì như phương pháp nêu vấn đề Việc “nêu vấn đề” ở đây mang tính định hướng cho tư duy của học sinh và định hướng cho sự trình bày Như vậy, việc “nêu vấn đề” không làm thay đổi bản chất của phương pháp mà lại có khả năng kích thích được tư duy của học sinh
Trang 25Điểm khác nhau giữa thuyết trình thông báo – tái hiện với thuyết trình nêu vấn đề là ở chỗ: thuyết trình nêu vấn đề hình thành tri thức bằng kết hợp hai con đường lĩnh hội: thông báo – tiếp nhận và tìm kiếm Học sinh có thể tìm ra hoặc không tìm ra tri thức cần thiết song cả hai trường hợp đều có tác dụng lớn là tư duy của học sinh được định hướng nên có sự nỗ lực của tư duy thực sự Do đó việc hình thành tri thức chắc chắn hơn, có cơ sở và mang tính hệ thống, liên tục hơn
Như vậy phương pháp thuyết trình nêu vấn đề đã hướng vào chỗ yếu nhất, khắc phục được nhược điểm cơ bản nhất của phương pháp thuyết trình Nó chính là sự phát triển theo một hướng mới của phương pháp thuyết trình truyền thống
3.1 2 Phương pháp đàm thoại
a Khái niệm
Phương pháp đàm thoại là giáo viên đặt ra một hệ thống câu hỏi, trò lần lượt trả lời, có thể trao đổi qua lại, tranh luận với nhau và cả với giáo viên, qua đó trò lĩnh hội được nội dung bài học Linh hồn của phương pháp là hệ thống câu hỏi và chất lượng, hiệu quả của phương pháp này phụ thuộc nhiều vào chúng
b Các loại câu hỏi
Các loại câu hỏi có thể được phân chia theo nhiều cách khi dựa trên những
cơ sở khác nhau như các khâu của quá trình dạy học hoặc mức độ của quá trình nhận thức
- Dựa vào các khâu của quá trình dạy học
Quá trình dạy học xét về mặt cấu trúc bao gồm các khâu với những chức năng đặc thù của chúng Các khâu của quá trình dạy học bao gồm vào bài; tổ chức, điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức mới; củng cố tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và kiểm tra Do chức năng đặc thù của từng khâu nên có kiểu câu hỏi tương ứng
+ Khâu vào bài (đề xuất vấn đề, giác ngộ nhiệm vụ) nhằm tạo tâm lí tích cực cho học sinh làm việc với tài liệu (bài học) mới Do đó câu hỏi vào bài cần nêu bật vấn đề cần tìm hiểu nhằm gây sự chú ý của học sinh đối với bài mới, đồng thời tạo được ở các em ý thức về những nhiệm vụ chủ yếu khi nghiên cứu bài học Đó cũng là những nội dung chính của bài mà
Trang 26học sinh cần nắm vững Câu hỏi có thể là bất ngờ đối với nhiều học sinh,
do đó tạo được sự chú ý ở các em và sau khi trả lời được câu hỏi thì các
em cũng lĩnh hội được nội dung bài học
+ Khâu tổ chức, điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức mới
Việc lĩnh hội tri thức của học sinh bắt đầu từ chỗ tri giác các đối tượng, hiện tượng hay quá trình
Để lĩnh hội tri thức mới, học sinh phải huy động cả kinh nghiệm, vốn sống và những tri thức, cách thức hành động đã lĩnh hội mà có liên quan đến vấn đề học tập Khi ấy, giáo viên phải dùng những câu hỏi để khai thác vốn sống, kinh nghiệm của HS
+ Khâu củng cố kiến thức
Củng cố kiến thức có thể được thực hiện khi ôn tập thường xuyên hoặc ôn tập tổng kết
+ Khâu kiểm tra: câu hỏi kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh có thể là câu hỏi tái hiện, hoặc câu hỏi sáng tạo với các mức độ khó khác nhau, tuỳ theo loại và hình thức kiểm tra
c Những yêu cầu của câu hỏi
- Câu hỏi cần được diễn đạt rõ ràng, ngắn gọn, không mơ hồ hoặc quá chung chung Trong câu hỏi không dùng các thuật ngữ trừu tượng hoặc không phổ biến Câu hỏi được phát biểu chính xác về mặt khoa học, chính xác về từ ngữ và cấu trúc câu
- Câu hỏi cần nêu bật vấn đề phải giải quyết, gợi cho học sinh suy nghĩ về cách giải quyết vấn đề đó, thúc đẩy học sinh tìm tòi, phát hiện
Câu hỏi chỉ thúc đẩy HS tư duy khi chúng nằm trong vùng phát triển gần nhất, HS cố gắng hết mức cộng với sự giúp đỡ của giáo viên chắc chắn các em tìm ra câu trả lời
Để kích thích hoạt động chung của cả lớp, cần nêu câu hỏi chung cho cả lớp rồi mới chỉ định HS trả lời; cho phép HS tham gia nhận xét, bổ sung cho câu trả lời của bạn
- Cần có thái độ bình tĩnh khi học sinh trả lời sai hay chưa đúng trọng tâm câu hỏi, tránh nôn nóng, cắt ngang ý của học sinh mà cần thiết đặt thêm câu hỏi gợi mở, dẫn dắt để họ tự tìm ra lời đáp Cần tạo điều kiện để học
Trang 27sinh tự mình nêu ra câu hỏi, những thắc mắc trong quá trình lĩnh hội tri thức bài học
- Nên khen ngợi khi học sinh trả lời đúng
- Thừa nhận phần đúng, đề nghị những học sinh khác bổ sung phần thiếu
- Khi học sinh trả lời sai, giáo viên động viên ghi nhận sự đóng góp sau đó sửa câu trả lời chứ không nên phê bình
d Ưu điểm và hạn chế của phương pháp đàm thọai
- Kích thích tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh
- Bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt bằng lời những vấn đề khoa học một cách chính xác, đầy đủ và xúc tích
- Giúp giáo viên thu tín hiệu ngược từ học sinh nhanh, kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy và học, học sinh cũng thu được tín hiệu ngược để kịp thời điều chỉnh hoạt động học tập - nhận thức của mình
- Nhưng nếu vận dụng không khéo léo, phương pháp đàm thọai sẽ làm mất thời gian ảnh hưởng đến kế hoạch dạy học; biến đàm thoại thành cuộc đối thoại giữa giáo viên và một vài học sinh mà không thu hút toàn lớp tham gia vào hoạt động chung Nhất là câu hỏi đưa ra chỉ cần nhớ lại một cách máy móc sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy logic, tư duy sáng tạo
ở học sinh
< xml="true" ns="urn:schemas-microsoft-com:vml" prefix="v" namespace=""> 3.2
Phương pháp trực quan
a Khái niệm
Là phương pháp sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật
dạy học để hình thành, củng cố, hệ thống hoá và kiểm tra tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo nghề nghiệp ở HS
Phương pháp trực quan là nhóm các phương pháp huy động các giác quan của học sinh tham gia vào quá trình nhận thức làm cho việc tiếp thu kiến thức trở nên dễ dàng và việc ghi nhớ trở nên bền vững hơn
b Ưu điểm và những hạn chế của phương pháp trực quan
- Giúp học sinh có thông tin đầy đủ và sâu sắc về đối tượng hoặc hiện tượng nghiên cứu trên cơ sở huy động nhiều giác quan tham gia vào quá trình tri giác đối tượng nhận thức
- Làm thỏa mãn và phát triển hứng thú của người học
Trang 28- Làm cho tài liệu học tập vừa sức hơn đối với học sinh bằng tính trực quan thông qua những phương tiện dạy học
- Tăng cường lao động của người học và bằng cách đó nâng cao nhịp điệu nghiên cứu tài liệu học tập
- Làm tăng khối lượng công tác tự lực của học sinh
Nếu tổ chức vận dụng đúng đắn về mặt sư phạm thì phương tiện dạy học đóng vai trò như là nguồn thông tin và giải phóng người giáo viên khỏi nhiều công việc mang tính chất thuần tuý kĩ thuật trong tiết học như thông báo thông tin chẳng hạn, dành nhiều thời gian cho công tác hoạt động sáng tạo với học sinh
Tuy nhiên, nếu tổ chức không hợp lí sẽ làm cho học sinh phân tán sự chú
ý, thiếu tập trung vào những dấu hiệu bản chất, làm mất thời gian Nếu quá lạm dụng phương tiện trực quan đôi khi phá vỡ logic khoa học của bài học và hạn chế sự phát triển năng lực tư duy trừu tượng của học sinh
3.3 Nhóm phương pháp thực hành
Nhóm phương pháp thực hành bao gồm phương pháp luyện tập, ôn tập và phương pháp thí nghiệm, thực hành
3.3.1 Phương pháp luyện tập
a Định nghĩa
Phương pháp luyện tập là phương pháp dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh lặp lại nhiều lần những hành động nhất định trong những hoàn cảnh khác nhau nhằm hình thành và phát triển kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp Bất cứ môn học nào cũng cần và có thể tổ chức cho học sinh luyện tập Việc luyện tập không chỉ hình thành những kĩ năng, kĩ xảo từng môn học mà còn hình thành kĩ năng, kĩ xảo chung như kĩ năng tư duy, kĩ năng tổ chức học tập một cách khoa học
Có nhiều loại luyện tập như luyện tập tái hiện (theo mẫu) và luyện tập sáng tạo (không theo mẫu); luyện tập nói, luyện tập viết và luyện tập lao động
b Các loại bài luyện tập
Các bài luyện tập có thể tồn tại dưới dạng câu hỏi, bài tập hay bài toán thường gặp