1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BCCT 2017-2018

15 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 107 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

làm thế nào để các em yếu tiến bộ, kiến thức của các em được nâng cao giáo viên đã chú ý đến việc ra các bài tập thêm để bồi dưỡng cho học sinh năng khiếu, phụ đạo cho học sinh chưa đạt.

Trang 1

“Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt môn

Toán”

I/ Thực trạng đề tài:

Hiện nay trong các trường Tiểu học, nhất là trường tôi rất quan tâm chú trọng đến công tác phụ đạo học sinh chưa đạt cũng như bồi dưỡng học sinh năng khiếu tốn làm thế nào để các em yếu tiến bộ, kiến thức của các em được nâng cao giáo viên đã chú ý đến việc ra các bài tập thêm để bồi dưỡng cho học sinh năng khiếu, phụ đạo cho học sinh chưa đạt Song giáo viên chỉ dừng lại

ở mức độ ra bài tập mà mình tham khảo ở các sách, chưa chú ý đên việc bổ sung nguồn bài tập hoặc thay thế các bài tập cùng dạng trong sách giáo khoa cho phù hợp những đặc điểm về trình độ của học sinh về thực tiễn của lớp, của địa phương nên chất lượng cũng còn nhiều hạn chế

Là giáo viên thực dạy lớp Hai nhiều năm tôi nhận thấy đa số học sinh làm được các bài tập trong sách giáo khoa Song khi đến các bài tập nâng cao thì học sinh thường gặp khó khăn trong nhận dạng bài toán, chưa hiểu sâu sắc bản chất của bài toán từ đó dẫn đến kết quả chưa đúng

Trong lớp có các em Thư, Nhựt Nam, Khánh, Ngọc… rất lúng túng khi làm bài tập toán về “nhiều hơn” nhưng trong đó lại sử dụng từ “ít hơn” Chẳng hạn: “Nhà Lan nuôi được 14 con gà, nhà Lan nuôi được ít hơn nhà Hùng 4 con gà Hỏi nhà Hùng nuôi được mấy con gà?” Đối với các bài toán này các em sẽ thực hiện ngay phép tính trừ 14 – 4 = 10 (con gà) Ngược lại, các bài toán về “ít hơn” nhưng trong đó có sử dụng từ “nhiều hơn” chẳng hạn: “Nam có 19 lá cờ, Nam có nhiều hơn Bắc 4 lá cờ Hỏi Bắc có bao nhiêu lá cờ?” các em lại thực hiện phép tính cộng Bên cạnh đó việc tính toán của các

em còn rất chậm và sai nhiều nhất là em Thư và em Nhựt Nam

Trong quá trình tìm hiểu, phân tích và tóm tắt đề toán học sinh lớp Hai cũng gặp nhiều khó khăn như khó nhận dạng bài toán từ việc tóm tắt sai dẫn đến kết quả bài toán cũng sai Từ đó chất lượng môn toán còn thấp

Trang 2

Tổng số

Là giáo viên chủ nhiệm lớp cũng là người chịu trách nhiệm chính về chất lượng giáo dục Trước kết quả trên tơi rất muốn kết quả mơn Tốn của HS tiến bộ hơn nên tôi đã mạnh dạn tìm hiểu và áp dụng đề tài này với mong muốn nâng dần chất lượng học tập của lớp

II/ Nội dung cần giải quyết:

Dạy học Toán 2 nhằm giúp học sinh bước đầu có những kiến thức cơ bản, đơn giản thiết thực về phép cộng, phép trừ có nhớ trong phạm vi 100: phép nhân, phép chia và bảng nhân chia 2, 3, 4, 5, tên gọi và mối quan hệ giữa thành phần và kết quả của từng phép tính, mối quan hệ giữa phép cộng và phép trừ, phép cộng và phép nhân: các số đến 1000, phép cộng và phép trừ các số có ba chữ số (không nhớ), các phần bằng nhau của đơn vị dạng (

2

1 , 3

1 , 4

1 , 5

1 ) các đơn vị đo độ dài đề-xi mét, mét, ki-lô mét, mi-li- mét, giờ và phút ngày và tháng, ki-lơ gam, lít, nhận biết một số hình học (hình chữ nhật ,hình tứ giác, đường gấp khúc), tính độ dài đường gấp khúc, tính chu vi hình tam giác, tứ giác Một số dạng toán bài toán có lời văn chủ yếu giải bằng một phép tính cộng trừ, nhân, chia

Hình thành và rèn kĩ năng thực hành về cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100 nhân chia trong phạm vi bảng tính, giải một số phương trình đơn giản dưới dạng bài “ Tìm X” tính giá trị biểu thức số (dạng đơn giản), đo và ước lượng độ dài, khối lượng dung tích, nhận biết hình và bước đầu biết tập vẽ hình tứ giác hình chữ nhật hình vuông, đường thẳng, đường gấp khúc, tính độ dài đường gấp khúc, tính chu vi hình tam giác, tứ giác, giải một số dạng của bài toán đơn về cộng, trừ, nhân, chia Bước đầu biết diễn đạt bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài thực hành, tập dượt so sánh lựa chọn, phân tích tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, phát triển trí tưởng

Trang 3

tượng trong quá trình áp dụng các kiến thức và kĩ năng Toán 2 trong học tập và trong đời sống

Tập phát hiện tìm tòi và tự chiếm lĩnh kiến thức mới theo mức độ của học sinh lớp 2 chăm chỉ, tự tin, hứng thú trong học tập và thực hành Toán

III/ Biện pháp giải quyết:

Phương pháp giải toán 2 chương trình mới, kế thừa và phát huy phương pháp dạy học truyền thống, thực hiện đổi mới phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học nói chung và Toán 2 nói riêng là phương pháp dạy học dựa vào các hoạt động học tập tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh Giáo viên tổ chức hướng dẫn cho học sinh hoạt động với sự trợ giúp của dụng cụ học tập, đồ dùng học tập của từng học sinh, từng nhóm học tập rồi thực hành, vận dụng các nội dung đó theo năng lực của mỗi em

Một số phương pháp cụ thể thường được sử dụng trong quá trình dạy học

Toán 2 là:

* Phương pháp trực quan: Học sinh được hoạt động

trên các đồ dùng, phương tiện học tập dưới sự tổ

chức hướng dẫn của giáo viên học sinh hoạt động học tập để giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức mới

* Phương pháp thực hành luyện tập: Thông qua

các hoạt động thực hành luyện tập để hình thành kiến thức và kĩ năng cho học sinh

* Phương pháp gợi mở vấn đáp: Là phương pháp

dạy học trong đó giáo viên không trực tiếp đưa ra những kiến thức đã có sẵn mà sử dụng một hệ thống câu hỏi để hướng dẫn học sinh lần lượt trả lời từng câu hỏi một Từ đó từng bước tiến dần tới kết luận cần thiết giúp học sinh tự tìm ra kiến thức mới

* Phương pháp giảng giải minh hoạ: Là phương pháp

mà giáo viên dùng để giải thích các tài liệu có sẵn phối hợp một số phương tiện trực quan để hỗ trợ cho việc giải thích

Tuy nhiên, trong một tiết dạy học toán không phải chỉ sử dụng một phương pháp nhất định mà điều cơ bản là giáo viên phải biết vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học toán sao cho phù hợp với nội dung

Trang 4

mục tiêu của từng bài, đối tượng và các diều kiện cụ thể có ở trường tiểu học Điều này đòi hỏi mỗi giáo viên phải nắm vững các phương pháp dạy học, nắm vững ưu nhược điểm của từng phương pháp để vận dụng hợp lí trong quá trình dạy học toán ở trường Tiểu học nói chung và dạy học Toán 2 nói riêng Phương pháp dạy học Toán 2 chương trình mới có những cách thể hiện mới so với phương pháp dạy học truyền thống

1) Phương pháp dạy học bài mới:

Giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh hoạt động học tập để giúp học sinh tự phát hiện và tự giải quyết nhiệm vụ của bài học

Ví dụ: Khi dạy học bài “11 trừ đi một số” trang 48 sách

giáo khoa Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng các bó que tính và que tính rời (hoặc quan sát hình vẽ trong phiếu học tập) để học sinh tự nêu được chẳng hạn: Có một bó 1 chục que tính và một que tính rời, tức là 11 que tính, lấy bớt đi 5 que tính thì còn lại mấy que tính? (tức là 11 – 5 = ?) tiếp tục hướng dẫn học sinh thực hiện và thao tác trên que tính (hoặc quan sát tranh vẽ trong phiếu học tập) để học sinh tự nêu và làm được Chẳng hạn: để bớt đi 5 que tính lúc đầu ta bớt đi một que tính rời (11 – 1 = 10) sau đó phải tháo bó que tính ra để có 10 que tính rời, lấy tiếp bốn que nữa còn lại 6 que tính (10 – 4 = 6) như vậy:

11 – 5 = 6 (Học sinh có thể nêu cách làm khác nhưng điều quan trọng là học sinh tự tìm ra được 11 – 5 = 6 Tương tự như trên cho học sinh tự tìm ra hiệu của phép trừ

11 – 2 = 11 – 5 = 11 – 8 =

11 – 3 = 11 – 6 = 11 – 9 =

11 – 4 = 11 – 7 =

Khi dạy học Toán 2 chương trình mới thì phương pháp mới thường thể hiện theo qui trình cụ thể:

Ví dụ: Khi dạy bài “11 trừ đi một số”

Bước 1: Giới thiệu phép trừ thông qua các đồ vật trực quan giáo viên nêu bài toán có 11 que tính lấy bớt đi 5 que tính còn lại mấy que tính

Trang 5

Giáo viên dẫn ra phép tính 11- 5

Bước 2: Thực hiện phép trừ trên que tính

Cho học sinh thao tác trên que tính để tìm ra kết quả Bước 3: Thực hiện tính viết

Giáo viên tổ chức hướng dẫn học

Tuy nhiên, các em thuộc công thức đến mức có thể nói ngay, viết ngay được công thức đó cũng chỉ là bước đầu của chiếm lĩnh kiến thức mới Phải qua thực hành vận dụng kiến thức mới vào để giải quyết các vấn đề trong học tập và trong đời sống thì mới có thể khẳng định học sinh đã tự chiếm lĩnh kiến thức mới như thế nào và đạt đến mức độ nào Vì vậy, sau khi đã nắm chắc bài học mới, học sinh phải làm được các bài tập trong phiếu học tập

Quá trình dạy học Toán như đã nêu sẽ dần dần giúp học sinh biết con đường, phương pháp, cách thức… phát hiện, chiếm lĩnh kiến thức mới và cách giải quyết các vấn đề gần gũi với cuộc sống Trong dạy học toán ở Tiểu học cần giúp học sinh nắm vững chắc các kĩ năng cơ bản nhất, thông dụng nhất vừa hình thành được phương pháp học tập, đặc biệt là phương pháp tự học

Giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh hoạt động học tập để giúp học sinh thiết lập được mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức đã học.

Ví dụ: Khi dạy học phép cộng có nhớ trong phạm vi

100, các bài học dạng

9 + 5; 49 + 5; 49 + 25 để vận dụng ngay kiến thức của tiết trước trong các tiết học tiếp theo Ở tiết học này cũng yêu cầu học sinh phải huy động các kiến thức đã học ở lớp 1 để phát hiện nội dung mới, chẳng hạn: khi học 9 + 5 = ? thì học sinh phải huy động các kiến thức đã học như: 9 + 1 = 10;

10 + 4 = 14 Cách viết phép cộng theo hàng theo cột, đặt kiến thức mới trong mối quan hệ với kiến thức đã học

2) Phương pháp dạy học các nội dung luyện tập thực hành:

Khác với chương trình cũ chương trình mới thời lượng thực hành, luyên tập ngay ở trên lớp của Toán 2

Trang 6

chiếm khoảng 80% tổng số thời lượng dạy học toán ở lớp 2 Có thể nói chưa có khi nào chúng ta lại quan tâm đến thực hành luyện tập nhiều như vậy

Nhiệm vụ chủ yếu nhất của dạy học thực hành luyện tập (trong tiết dạy bài mới và trong tiết luyện tập, luyện tập chung, ôn tập ) là củng cố các kiến thức kĩ năng cơ bản của chương trình và rèn luyện các năng lực thực hành giúp học sinh nhận ra rằng: Học không chỉ để biết mà học còn để làm để vận dụng

Khi dạy các hoạt động thực hành giáo viên cần lưu

ý đến mọi đối tượng học sinh các em đều tham gia vào hoạt động thực hành luyện tập theo khả năng của mình bằng cách tổ chức sắp xếp cho học sinh làm bài tập theo thứ tự đã sắp xếp trong phiếu (hoặc do giáo viên xếp lại) không tự ý bỏ qua các bài tập mà kể cả bài tập học sinh cho là dễ không nên bắt học sinh chờ đợi nhau trong quá trình làm bài Sau mỗi bài, học sinh nên tự kiểm tra (hoặc nhờ giáo viên kiểm tra) nếu đã làm xong thì nên chuyển sang bài tập tiếp theo

Trong một tiết học có học sinh làm được nhiều bài tập nhưng cũng có những học sinh làm được số bài tập ít hơn Vì vậy, người giáo viên nên có kế hoạch giúp học sinh làm bài chậm về phương pháp làm bài, còn giúp học sinh hồn thành làm càng nhiều bài tập trong phiếu càng tốt và giúp các em này khai thác nội dung tiềm ẩn trong các bài tập

Giáo viên cần tạo sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh khi dạy thực hành, luyện tập Nếu cần thiết có thể cho học sinh trao đổi ý kiến trong nhóm nhỏ hoặc trong toàn lớp về cách giải của một số bài tập Nên khuyến kích học sinh bình luận về cách giải của bạn tự rút ra kinh nghiệm trong quá trình trao đổi ý kiến ở nhóm, ở lớp Sự hỗ trợ của học sinh trong nhóm, trong lớp phải góp phần giúp học sinh tự tin hơn vào khả năng của bản thân, tự rút ra kinh nghiệm về cách học của mình

Giáo viên nên khuyến khích học sinh tự đánh giá kết quả thực hành, luyện tập Tập cho học sinh có thói quen làm xong bài tập nào cũng phải tự kiểm tra lại

Trang 7

xem là có còn nhầm, sai hay không Cho học sinh kiểm tra lại dưới nhiều hình thức như tự kiểm tra bài của mình, đổi chéo bài để kiểm tra lẫn nhau Sau đó giáo viên phải khuyến khích để học sinh tự nói ra được những hạn chế của mình hoặc của bạn khi đã kiểm tra Trong sự phong phú, đa dạng của các bài thực hành, luyện tập thường có nhiều dạng và các mức độ khó khác nhau Nếu học sinh nhận ra được kiến thức cơ bản đã học trong hệ thống các bài thực hành, luyện tập thì các em sẽ biết cách vận dụng kiến thức cơ bản đã học để làm bài Giáo viên không nên làm thay hoặc chỉ dẫn quá chi tiết cho học sinh mà nên giúp các em biết cách phân tích bài toán để tự nhận ra được kiến thức đã học Làm như vậy là giáo viên đã tạo điều kiện cho học sinh chú ý vào kiến thức cơ bản trọng tâm của chương trình chứ không bị phân tán, suy nghĩ và hoạt động bởi các mối quan hệ không bản chất

Giáo viên nên tập cho học sinh có thói quen tìm nhiều phương án giải quyết vấn đề, không thỏa mãn với kết quả đã đạt được Khi chữa bài hoặc khi nhận xét đánh giá kết quả học tập của một tiết học, giáo viên nên động viên nêu gương những học sinh đã hoàn thành nhiệm vụ tạo điều kiện cho các em niềm tin vào sự tiến bộ, cố gắng của bản thân vì những kết quả đã đạt được của mình của bạn

Khuyến khích học sinh tìm những phương án và lựa chọn được những phương án tốt nhất cho bài làm của mình Dần dần, học sinh sẽ tạo được thói quen không bằng lòng với kết quả đạt được và có mong muốn tìm giải pháp tốt nhất cho bài làm Vì vậy điều quan trọng là giáo viên và học sinh khai thác các tìm năng ở những bài tập có sẵn trong sách giáo khoa tổ chức trao đổi ý kiến về các cách giải của học sinh chứ không nhất thiết phải là học sinh làm được nhiều bài tập và giáo viên cung cấp thêm nhiều bài tập kể cả bài tập khó cho học sinh

Tuy nhiên, để có những ưu điểm nêu trên thì người giáo viên phải có sự chuẩn bị thật chu đáo, công phu và sẽ mất nhiều thời gian cho sự chuẩn bị tiết dạy

Trang 8

• Phân dạng các bài tập :

a/ Hệ thống các bài tập trắc nghiệm:

- Trắc nghiệm đúng sai

- Trắc nghiệm lựa chọn trong nhiều phương án (Hãy khoanh tròn vào chữ trước câu trả lời đúng)

- Trắc nghiệm điền khuyết (điền số thích hợp vào chỗ trống )

- Trắc nghiệm nối theo mẫu

b/ Bài tập tự luận

• Tiêu chuẩn đối với các dạng bài tập

- Đảm bảo tính khoa học

- Đảm bảo tính thực tiễn

- Đảm bảo tính lô- gíc

- Đảm bảo tính giáo dục sư phạm

- Đảm bảo tính đúng địa chỉ (đúng trình độ, đúng mạch kiến thức, đúng phương pháp giải, đúng dạng toán, câu chữ trong sáng)

Dựa vào các dạng bài tập đã có và tiêu chuẩn đối với mỗi dạng tôi nghiên cứu và chia ra các cách khai thác đề toán như sau:

a/ Tìm nhiều cách giải cho một đề toán

b/ Từ bài tập đã giải ra bài tập mới

c/ Đặt bài toán ngược với bài toán đã giải

d/ Từ bài tập đã cho đặt câu hỏi gợi ý để học sinh phát hiện ra tính chất quan trọng của phép toán hoặc cung cấp kiến thức cho học sinh

*Áp dụng các cách khai thác để tạo hệ thống bài tập rèn luyện năng lực tư duy cho học sinh

a/ Tìm nhiều cách giải cho một đề toán:

Sau khi đã giải xong bài toán, giáo viên hướng dẫn học sinh bằng cách cho học sinh xem xét bài toán có thể giải bằng cách khác nào nữa không? Nếu giải được bằng cách khác thì yêu cầu học sinh giải để so sánh các cách giải với nhau Từ đó, tìm ra cách giải hay nhất Song ở lớp 2 học sinh mới chỉ giải toán đơn nên việc giải bài toán theo nhiều cách thường rất ít

Ví dụ: Bài tập 1, trang 103 SGK Nối các điểm để được một đường gấp khúc gồm:

Trang 9

a/ Hai đoạn thẳng b/ Ba đoạn thẳng

B A B

A .C C .D

Bài toán này giúp học sinh biết nối các điểm cho trước để được đường gấp khúc Tôi cho vài em nêu miệng cách nối Sau đó các em tự làm vào vở, khi đã làm xong tôi sẽ hỏi các em ngoài các cách nối này các em còn cách nối nào khác không? Từ đó các em sẽ suy nghĩ để tìm ra những cách nối khác Tóm lại, việc đi sâu vào tìm hiểu các cách giải khác nhau cho một bài toán có vai trò to lớn trong việc rèn luyện kĩ năng, củng cố kiến thức phát huy trí thông minh óc sáng tạo cho học sinh Những cách giải khác nhau của một bài toán góp phần hình thành và củng cố cho học sinh về tính chất của các phép tính số học Trong khi cố gắng tìm ra các cách giải khác nhau của bài toán học sinh sẽ có dịp suy nghĩ đến những khía cạnh khác nhau của bài toán ấy

Do đó, học sinh sẽ hiểu sâu được mối quan hệ giữa các cái đã cho và cái phải tìm trong đề toán Việc tìm

ra nhiều cách giải khác nhau sẽ giúp học sinh có dịp

so sánh các cách giải Chọn ra được cách giải hay và từ đó tích luỹ được nhiều kinh nghiệm để giải toán Không những thế, nó còn giúp học sinh tìm ra cho mình con đường ngắn nhất để đi tới đích, không vội bằng lòng với kết quả đầu tiên Quá trình tìm nhiều cách giải khác nhau là quá trình rèn luyện trí thông minh, óc sáng tạo khả năng suy nghĩ một cách linh hoạt của học sinh

b) Từ các bài tập đã giải ra các bài tập mới:

Sau khi học sinh đã thực hiện xong yêu cầu của bài toán, giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác phát triển bài toán bằng cách ra các bài toán mới tương tự bài toán vừa giải Việc giải các bài toán mới phát triển này là một biện pháp rất tốt giúp học

Trang 10

sinh nắm vững cách giải các bài toán cùng loại, giúp học sinh nắm vững hơn mối quan hệ bản chất trong mỗi bài toán, mối quan hệ giữa các đại lượng, từ đó học sinh hiểu bài toán sâu sắc hơn

Ví dụ: Bài tập 2 trang 24 Sách giáo khoa “ Nam có 10

viên bi, Bảo có nhiều hơn Nam 5 viên bi Hỏi Bảo có bao nhiêu viên bi?”

Bài toán trên là một trong những bài toán về nhiều hơn Vì thế trong bài toán xuất hiện từ “nhiều hơn” thì học sinh sẽ làm phép cộng để tìm đáp số Để học sinh phải “ động não” không đi theo thói quen làm toán như trên tôi đã thay đổi từ chỉ quan hệ trong bài toán để phát triển thành bài toán sau:

“Nam có 10 viên bi Nam có ít hơn Bảo 5 viên bi Hỏi Bảo có bao nhiêu viên bi?”

Bài toán mới này không tồn tại từ “nhiều hơn” nhưng vẫn phải thực hiện phép tính cộng để giải Học sinh sẽ phải suy nghĩ tìm tòi cách giải bài toán này Cho nên nhất thiết các em phải hiểu được nghĩa của từ ít hơn ở trong bài tốn này Như vậy, qua hai ví dụ trên giáo viên phải hướng dẫn để học sinh so sánh và rút

ra được những nhận xét Trong ví dụ 1 bài toán đầu ta dùng từ “nhiều hơn” còn ở bài sau ta dùng từ “ít hơn” nhưng lời giải đều phải như nhau Từ đó, nhắc nhở học sinh tránh quan niệm sai hễ cứ thấy “nhiều hơn” là làm tính cộng và “ít hơn” là làm tính trừ

c/ Đặt bài toán ngược v ới bài toán đã giải:

Sau khi học sinh đã giải xong một bài toán giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác, phát triển bài toán bằng cách đặt các bài toán ngược lại theo nguyên tắc sau: “Thay đáp số vào một trong những điều đã cho và đặt câu hỏi vào điều đã cho ấy” Đây là kiểu bài toán được sử dụng phổ biến trong khi thiết kế bài tập vừa nhằm củng cố khắc sâu vừa nhằm nâng cao kiến thức cho học sinh tiểu học

Ví dụ: Bài tập 2 Trang 118 Sách giáo khoa

Có 32 học sinh xếp thành 4 hàng đều nhau Hỏi mỗi hàng có mấy học sinh?

Mục đích của bài toán này là giúp học sinh rèn luyện kỹ năng học thuộc lòng bảng chia 4 và vận

Ngày đăng: 19/06/2020, 01:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w