ĐÁNH GIÁ VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TẠI VIỆT NAM, VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ 4.1 KHU VỰC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TẠI VIỆT NAM Sự phát triển của khu vực tư nhân được
Trang 1ĐÁNH GIÁ VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TẠI VIỆT NAM, VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ TẠI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
4.1 KHU VỰC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TẠI VIỆT NAM
Sự phát triển của khu vực tư nhân được thể hiện qua 4 mặt: số lượng doanh nghiệp tư nhân đăng ký ngày càng nhiều, sự đóng góp của khu vực này vào tổng sản phẩm trong nước, đóng góp vào giá trị sản xuất công nghiệp và giải quyết việc làm Khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam thì nhỏ nhưng giá trị tổng sản phẩm khu vực này vẫn tiếp tục tăng qua các năm, sự gia tăng tỷ trọng của khu vực tư nhân chỉ thấp hơn tốc độ tăng khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài – khu vực kinh tế có nhiều ưu đãi nhất hiện nay - trong cơ cấu tổng sản phẩm
Bảng 2: CƠ CẤU GIÁ TRỊ TỔNG SẢN PHẨM, GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP TRONG NƯỚC PHÂN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ
ĐVT: %
Chỉ tiêu GDP SXCN GDP SXCN GDP SXCN
(Nguồn: Niên giám thống kê toàn quốc năm 2005, Tổng cục Thống kê Việt Nam)
Trang 2Nhìn vào bảng trên ta thấy với một tỉ trọng nhỏ thứ hai trong cơ cấu tỉ trọng GDP nhưng khu vực tư nhân đã tạo ra lượng giá trị sản xuất công nghiệp đứng hàng thứ ba Trong khi tỉ trọng giá trị sản xuất công nghiệp ở các khu vực Nhà nước, tập thể và cá thể có sự giảm xuất hoặc ổn định thì tỉ trọng của khu vực tư nhân tăng liên tục và tốc độ tăng còn nhanh hơn tốc
độ tăng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư của nước ngoài Năm 2004, tỉ trọng công nghiệp của khu vực này là 20,4% tăng thêm 3,7% tỉ trọng so với năm 2002, trong khi đó khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chỉ tăng
có 2,1%, khu vực nhà nước giảm 4,1%, khu vực tập thể giảm 0,2%, khu vực cá thể giảm 1,5% về tỉ trọng công nghiệp
Bảng 3: CƠ CẤU SỐ LƯỢNG DOANH NGHIỆP VÀ SỐ LAO ĐỘNG
PHÂN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ
ĐVT: %
Chỉ tiêu Doanh
nghiệp
Lao động
Doanh nghiệp
Lao động
Doanh nghiệp
Lao động
Tổng số 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
Doanh nghiệp NN 8,53 48,52 6,73 43,77 5,01 38,99
DN ngoài NN 87,80 36,64 89,60 39,61 91,55 42,90
Tập thể 6,52 3,43 5,76 3,11 5,83 2,74
Tư nhân 39,41 7,29 35,62 7,31 32,67 7,49 Công ty hợp danh 0,04 0,01 0,02 0,01 0,02 0,01 Công ty TNHH 37,33 19,81 41,89 22,09 44,59 24,15 Công ty CP 4,5
6,10 6,31 7,10 8,43 8,52
Doanh nghiệp FDI 3,67 14,84 3,67 16,62 3,44 18,11
(Nguồn: Niên giám thống kê toàn quốc năm 2005, Tổng cục Thống kê Việt Nam)
Sự phát triển của khu vực tư nhân còn được hỗ trợ bởi Luật Doanh nghiệp năm 2000 Số lượng doanh nghiệp khu vực tư nhân hiện gia tăng nhanh chóng hàng năm, số lượng doanh nghiệp hiện có năm 2004 gấp 2 lần số lượng doanh nghiệp năm 2000 (Phụ lục 1) và chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong cơ cấu
tỷ trọng doanh nghiệp ở nước ta Trong tỷ trọng các doanh nghiệp thuộc khu vực này thì doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH là chiếm tỷ trọng cao nhất,
Trang 3tuy nhiên ta thấy tỷ trọng của doanh nghiệp tư nhân giảm và ngược lại công ty TNHH lại tăng qua các năm Điều này thể hiện xu hướng phát triển tất yếu của các doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh Bên cạnh đó cũng phải nói đến sự tăng trưởng đều đặn của công ty cổ phần tuy chúng chiếm chưa tới 10% tổng số lượng các doanh nghiệp Trong xu thế hợp tác, xã hội hoá và cổ phần hóa thì công ty cổ phần sẽ giữ vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế
Bên cạnh sự phát triển về số lượng, khu vực doanh nghiệp tư nhân còn đóng vai trò là kênh tạo việc làm có hiệu quả cho xã hội Khả năng tạo việc làm của doanh nghiệp tư nhân có sự tăng trưởng thần kỳ Năm 2000 khu vực này thu hút hơn 850.000 công nhân chiếm 24,28% tổng số lao động cả nước, trong khi
đó khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt tỉ lệ là 59,05% Đến năm 2004 khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước đã tạo ra hơn 2.317.000 việc làm tương đương 40,16% tổng số lao động cả nước, qua mặt khu vực doanh nghiệp nhà nước trở thành khu vực tạo ra nhiều công ăn việc làm nhất trong nền kinh tế
4.2 KHU VỰC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, số lượng doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ chiếm phần lớn và có vị trí chi phối trong khu vực doanh nghiệp tư nhân Những đặc tính chủ yếu của khu vực doanh nghiệp tư nhân tại vùng này gồm 3 đặc điểm: thứ nhất là đa phần doanh nghiệp có cơ chế quản trị không minh bạch, thứ hai là có giới hạn về vốn, lĩnh vực hoạt động và trang thiết bị sản xuất, thứ ba là thiếu sự ổn định trong hoạt động
Cũng theo nguồn số liệu thống kê trên, sự phân bố số lượng các doanh nghiệp tư nhân tại các tỉnh không đồng đều nhau trong những năm gần đây Phần đông doanh nghiệp chủ chốt thì tập trung hầu hết ở Cần Thơ, tiếp theo đó
là Kiên Giang, Cà Mau và Long An Khi sắp xếp những doanh nghiệp này theo khu vực địa lý thì chúng ta được 03 nhóm tương ứng với 03 đặc tính lĩnh vực hoạt động chủ yếu của từng nhóm Nhóm thứ nhất bao gồm Cà Mau, Kiên Giang, An Giang và Sóc Trăng, đây là nhóm có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp nghề cá và các loài thủy hải sản Số lượng doanh nghiệp tư
Trang 4nhân tại đây tăng gấp đôi trong khoảng thời gian từ năm 1999 đến 2003 Thành phố Cần Thơ với đặc tính là vùng trung tâm của đồng bằng nên nó có mối liên
hệ với nhiều nhóm Những doanh nghiệp tư nhân tại thành phố Cần Thơ nhận được nhiều lợi ích từ sự phát triển của những lân cận, những doanh nghiệp này đóng vai trò là nơi dự trữ nhiều loại nguyên vật liệu, cung cấp những tiến bộ công nghệ và cung cấp những lĩnh vực dịch vụ cho cả vùng Nhóm thứ hai bao gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang và Vĩnh Long đang có sự phát triển liên tục về số lượng doanh nghiệp đăng ký mới kể từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng này vẫn còn thấp hơn nhóm thứ nhất Những doanh nghiệp tại đây có lợi thế là những nơi nằm gần Thành phố Hồ Chí Minh và có cơ sở hạ tầng khá tốt (chủ yếu là hệ thống giao thống vận tải) khi so sánh với những vùng khác của đồng bằng Những doanh nghiệp
tư nhân thuộc nhóm này chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và thương mại, chẳng hạn như chế biến gạo, chế tạo và buôn bán máy móc hoặc xây dựng Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân tại đây có nét tương đồng với sự phát triển của những doanh nghiệp tư nhân tại Bình Dương và Đồng Nai (Bình Dương và Đồng Nai là hai điển hình thành công với mô hình phát triển kinh tế với vai trò là vệ tinh của Thành phố Hồ Chí Minh) Nhóm thứ ba là bốn tỉnh bao gồm: Bạc Liêu, Bến Tre, Trà Vinh và Hậu Giang Những doanh nghiệp ở đây thì nhỏ bé và thể hiện xu thế tốc độ phát triển chậm hơn các khu vực khác Những tỉnh này có những điều kiện bất lợi về điều kiện tự nhiên cũng như cơ sở hạ tầng
4.3 SỰ ĐÓNG GÓP CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN VÀO NỀN KINH
TẾ TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Khi xem xét vai trò của kinh tế tư nhân trong nền công nghiệp Kinh tế tư nhân đóng một vai trò quan trọng để khuyến khích chuyển đổi cấu trúc nền kinh
tế như là một phần của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa Nó giúp xác định và sắp xếp trật tự của lĩnh vực cộng nghiệp so với lĩnh vực nông nghiệp Năm 2000, giá trị sản lượng công nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân là 9.037,1
tỷ VND chiếm hơn 38,73% tổng giá trị sản lượng công nghiệp toàn vùng Năm
Trang 52004, con số này tăng lên 20.622,4 tỷ tương đương hơn một nửa giá trị sản lượng công nghiệp toàn vùng đồng bằng Xét về khu vực kinh tế tư nhân, trong năm 2002, khu vực kinh tế tư nhân đã vượt qua khu vực kinh tế nhà nước trong
tỷ trọng sản lượng công nghiệp Tỷ trọng giá trị sản lượng công nghiệp của khu vực này trong tổng giá trị sản lượng công nghiệp toàn vùng tăng từ 38,73% (năm 2000) lên đến 46,30% (năm 2004) Sự đóng góp này đến từ tất cả các thành phần của kinh tế tư nhân, nhưng những doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng quyết định trong khu vực kinh tế này
Bảng 4: TỶ TRỌNG SẢN LƯỢNG CÔNG NGHỆP THEO THÀNH PHẦN
KINH TẾ TẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
ĐVT: %
Khu vực 2000 2001 2002 2003 2004
Khu vực kinh tế địa phương 85,71 84,16 84,25 84,36 85,84
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam, 2005)
Tốc độ phát triển nhanh của khu vực kinh tế tư nhân cũng góp phần vào sự tăng trưởng của vùng Bảng 2 thể hiện tốc độ phát triển trung bình trong giai đoạn 2000 – 2004 của ngành công nghiệp là 16,5% Tốc độ tăng trưởng này gấp đôi tốc độ phát triển trung trình của giai đoạn 1996 – 1999 Xu hướng này ngụ
ý rằng tốc độ phát triển của khu vực kinh tế này là kết quả của hàng loạt doanh nghiệp mới được thành lập và /hoặc những doanh nghiệp đang tồn tại mở rộng hoạt động của họ sau khi Luật Doanh nghiệp đi vào cuộc sống (tham khảo phụ lục 1)
Trang 64.4 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
5.4.1 Mức độ đóng góp của doanh nghiệp tư nhân vào kinh tế
Tại Đồng bằng Thành phố Cần Thơ, khu vực kinh tế tư có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế đó là sản lượng công nghiệp, thương mại dịch vụ và tạo công ăn việc làm Thứ nhất, khu vực kinh tế này đóng góp vào sản lượng công nghiệp cao hơn khu vực kinh tế nhà nước ví dụ như chế biến gạo, thủy sản
và chế biến cá Thứ hai, kinh tế tư nhân đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở địa phương, là nhân tố quan trọng đóng góp không nhỏ cho giá trị sản xuất và xuất khẩu của địa phương Thêm vào đó, khả năng tạo công ăn việc làm của doanh nghiệp tư nhân là rất lớn và trở thành một trong những kênh tạo việc làm chính
Bảng 5: TỶ TRỌNG GIÁ TRỊ TỔNG SẢN PHẨM TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ PHÂN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ
ĐVT: %
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
1 Khu vực Nhà nước 41,08 42,44 38,15 36,74 30,16 27,75
(Nguồn: Cục Thống kê Thành phố Cần Thơ, năm 2005)
Như đã nói ở chương giới thiệu Thành phố Cần Thơ, thành phố này có tốc
độ phát triển GDP trung bình là hơn 18%/năm trong giai đoạn 2000 – 2005 Sự phát triển đó nói lên sự phát triển chung của nền kinh tế mà trong đó sự đóng góp của khu vực tư nhân là không nhỏ Trong giai đoạn 2000 – 2005, đánh dấu
sự lớn mạnh của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh mà trong đó khu vực tư nhân
là nổi bật nhất Sự đóng góp này vào năm 2000 chỉ chiếm hơn 14% tổng giá trị
Trang 7GDP của tỉnh Cần Thơ cũ, tuy nhiên sự đóng góp này đã tăng hơn gấp đôi với gần 30% tổng giá trị GDP chỉ sau 5 năm với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của khu vực này là hơn 38%/năm Sự đóng góp này tăng trong điều kiện chia tách tỉnh vào năm 2003 càng nói lên sự lớn mạnh của khu vực doanh nghiệp này
Bảng 6: TỶ TRỌNG GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ PHÂN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ
ĐVT: %
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
(Nguồn: Cục Thống kê Thành phố Cần Thơ, năm 2005)
Trong tổng giá trị sản xuất tại địa bàn mà khu vực tư nhân đã đóng góp cho Thành phố thì sự đóng góp vào giá trị sản xuất công nghiệp là một trong những đặc điểm nổi bật nhất trong vai trò kinh tế của khu vực tư nhân Từ giai đoạn
2000 – 2005, sự đóng góp của giá trị công nghiệp vào tổng giá trị sản xuất của Thành phố là hơn 30% và đặc biệt là trong năm 2005 chiếm tới 44%, điều này là nói lên xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Thành phố đang diễn ra mạnh mẽ Sự lớn mạnh nhanh chóng của khu vực tư nhân trong lĩnh vực công nghiệp đã tạo động lực thúc đẩy quá trình sắp xếp lại trong khu vực sản xuất công nghiệp và làm thay đổi sự tương quan cấu trúc giữa khu vực công nghiệp
và khu vực nông nghiệp trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa của thành phố Trong những năm 2000 và 2001, tỷ trọng công nghiệp của khu vực này chiếm chưa tới 10% tổng giá trị sản xuất công nghiệp Những năm tiếp theo đánh dấu sự nhảy vọt thần tốc của khu vực này, năm 2004 tỉ trọng này tăng gấp xấp xỉ 5 lần – chính thức vượt khu vực Nhà nước về giá trị công nghiệp và năm
Trang 82005 tỉ trọng này là 48,7% tỉ trọng – tiếp tục dẫn đầu về tỉ trọng công nghiệp ở địa bàn
Doanh nghiệp tư nhân còn đóng một vai trò quan trọng là tạo công ăn việc làm Giải quyết nạn thất nghiệp là một trong những mục tiêu hàng đầu ở Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và Thành phố Cần Thơ nói riêng – nơi mà một trong những thách thức lớn nhất là sự phát triển nhanh chóng và liên tục của lực lượng lao động
Bảng 7: TỈ TRỌNG LAO ĐỘNG CÔNG NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ PHÂN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ
ĐVT: %
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
(Nguồn: Cục Thống kê Thành phố Cần Thơ, năm 2005)
Tại Thành phố Cần Thơ, khu vực tư nhân đóng góp hơn 40% giá trị sản xuất công nghiệp và tạo việc làm cho hơn 30% lao động công nghiệp Ở đây có mối liên hệ mật thiết giữa sự đóng góp vào công nghiệp và việc tạo việc làm của khu vực doanh nghiệp này Khả năng tạo công ăn việc làm công nghiệp của khu vực tư nhân có hiệu quả hơn khu vực doanh nghiệp nhà nước và các khu vực kinh tế khác, điều này được chứng minh bởi tỉ trọng lao động trong công nghiệp của doanh nghiệp tư nhân tăng khoảng 5% trong giai đoạn 2000 – 2005 trong khi đó các khu vực kinh tế khác đều giảm tỉ trọng lao động công nghiệp
Nếu xét về hiệu quả sản xuất của lao động công nghiệp tại từng khu vực kinh tế thì ta thấy giá trị sản xuất công nghiệp bình quân lao động của khu vực
tư nhân đạt gần 400 triệu đồng/lao động trong năm 2005, giá trị này chỉ thấp hơn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Tính hiệu quả này tăng liên tục và nhanh chóng từ giai đoạn 2000 – 2005 kèm với sự gia tăng về tỉ trọng lao động công
Trang 9nghiệp như trên là tín hiệu tích cực trong tương lai – điều này cho thấy vai trò ngày càng to lớn của khu vực tư nhân trong nền kinh tế
Bên cạnh những đóng góp to lớn cho giá trị sản xuất công nghiệp và tạo việc làm, doanh nghiệp tư nhân tại Thành phố Cần Thơ hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp còn đơn điệu về lĩnh vực hoạt động và số lượng lao động của từng doanh nghiệp còn khiêm tốn Những ngành công nghiệp chủ yếu của khu vực doanh nghiệp tư nhân chủ yếu là những ngành công nghiệp nhẹ như: chế biến lương thực thực phẩm, nước giải khát, may mặc, sản xuất sản phẩm từ gỗ, chế tạo bàn ghế, sản xuất giấy và in ấn Những ngành như công nghiệp chế tạo máy động cơ, hóa chất còn khiêm tốn về qui mô, số lượng và đặc biệt là hàm lượng khoa học kỹ thuật trong những ngành công nghiệp này còn thấp, do đó khả năng tạo giá trị tăng thêm cho sản phẩm còn thấp Những hạn chế trên một phần do nguyên nhân khách quan như sự độc quyền hoạt động của Nhà nước trong một
số lĩnh vực, điều kiện tự nhiên khách quan và cơ sở hạ tầng bị hạn chế Một nguyên nhân rất lớn là đến từ qui mô của các doanh nghiệp tư nhân ở Thành phố Cần Thơ – nguyên nhân này sẽ được đề cập ở phần sau của luận văn này
Với vai trò là trung tâm của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Thành phố Cần Thơ đã phát huy thế mạnh về thương mại và dịch vụ của mình Doanh thu thương mại và dịch vụ của Thành phố tăng liên tục, góp phần vào sự tăng trưởng đó là sự đóng góp của khu vực tư nhân Năm 2000, khu vực này đạt hơn 3.500 tỉ đồng doanh thu thương mại và dịch vụ đạt tỉ trọng 31%, đến năm 2005 tăng hơn 2 lần đạt hơn 7.800 tỉ đồng tương đương tỉ trọng 39% Sự lớn mạnh này thể hiện sự lớn mạnh về số lượng và chất lượng của doanh nghiệp tư nhân trong thương mại dịch vụ
Bảng 8: DOANH THU THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ PHÂN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ
ĐVT: tỉ đồng
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Tổng số 11.360 12.137 14.417 14.661 18.185 19.983 Khu vực nhà nước 3.637 4.292 4.928 3.811 4.729 5.075 Khu vực tập thể 69 35 72 73 42 46
Trang 10Khu vực cá thể 4.117 4.156 3.945 4.740 6.260 6.965 Khu vực tư nhân 3.525 3.638 5.445 6.013 7.125 7.866 Khu vực FDI 12 16 27 23 29 31
(Nguồn: Cục Thống kê Thành phố Cần Thơ, năm 2005)
Số lượng doanh nghiệp tư nhân tham gia vào lĩnh vực thương mại dịch vụ tăng và ngày càng tập trung vào vai trò hệ thống bán sĩ, cung cấp hàng hóa dịch
vụ cho toàn vùng Hình thành những đầu mối trung tâm phân phối hàng hóa cho vùng ở những doanh nghiệp tư nhân đang là xu hướng – những trung tâm hàng hóa này không những tạo nguồn thu lớn mà còn góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa cho vùng theo những trục giao thông thủy bộ chính Các doanh nghiệp
tư nhân hoạt động thương mại và dịch vụ có đặc điểm là tính linh hoạt trong hoạt động kinh doanh cao nhưng có hạn chế về qui mô vốn và kinh nghiệm quản
lí kinh doanh