Thứ sáu là việc tổ chức kiểm tra chất lượng vật liệu, thành phẩm khi nhập kho nguyên vật liệu về tới Công ty chưa được nhập kho luôn mà phải qua sự kiểm tra chất lượng của phòng KCS, ph
Trang 1ĐÁNH GIÁ CHUNG CÔNG TÁC HẠCH TOÁN NVL VỚI VIỆC TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG NVL CÔNG TY CƠ KHÍ Ô TÔ 1-5 :
Cũng như các doanh nghiệp nhà nước khácm Công ty cơ khí ô tô 1-5 gặp rất nhiều khó khăn khi chuyển sang cơ chế thị trường Nhưng với sự năng động tìm tòi nghiên cứu của lãnh đạo Công ty cũng như nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân trong Công ty, Công ty đã có những bước chuyển mới với những thành tựu hết sức to lớn Một trong những bước chuyển đó là những cải tiến trong kế toán tài chính Có thể thấy điều đó qua các mặt sau.
1.Những ưu điểm trong hạch toán NVL tại Công ty
Thứ nhất về hệ thống chứng từ tài khoản, Công ty đã tổ chức hệ thống
chứng từ và vận dụng tài khoản kế toán tương đối đúng với chế độ và biểu mẫu do Bộ tài chính ban hành Các chứng từ được lập, kiểm tra luân chuyển một cách thường xuyên, phù hợp với các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Hệ thống tài khoản của Công ty phản ánh đầy đủ mọi hoạt động kinh tế, việc sắp xếp phân loại các tài khoản trong hệ thống tài khoản của Công ty tương đối phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty.
Thứ hai về hình thức sổ kế toán: Công ty đã sử dụng hình thức Sổ nhật
ký chứng từ để hạch toán Đây là hình thức ghi sổ kế toán phù hợp với một Công ty lớn, các sổ sách nhật ký chứng từ, bảng kê, bảng phân bổ , sổ chi tiết được thực hiện tương đối đầy đủm, ghi chép cẩn thận rõ ràng có hệ thống, hạch toán tương đối chính xác theo đúng chế độ của Bộ tài chính và Nhà nước ban hành.
Thứ ba về hạch toán NVL: công tác hạch toán nói chung và công tác
hạch toán NVL nói riêng đã phản ánh đúng thực trạng của Công , đáp ứng được yêu cầu quản lý mà Công ty đặt ra Đảm bảo sự thống nhất về phạm vi và phương pháp tính các chỉ tiêu giữa kế các bộ phận liên quan Kế toán vật liệu
đã thực hiện việc đối chiếu giữa chứng từ sổ kế toán với thẻ kho, kiểm kê kho đảm bảo tính cần đối giữa chỉ tiêu số lượng và chỉ tiêu giá trị Giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết cũng thường xuyên đối chiếu đảm bảo chính xác các thông tin về tình hình biến động NVL Nhân viên thông kê phân xưởng thực hiện tốt việc theo dõi tình hình lĩnh và sử dụng NVL ở phân xưỡng, xí nghiệp, phản ánh tình hình xuất dùng kịp thời.
Hơn nữa phương pháp tính giá xuất NVL theo giá hạch toán rất phù hợp với tình hình xuất- nhập NVL của Công ty, và phù hợp với phương pháp hạch toán chi tiết sổ số dư Bởi vì để đáp ứng phương pháp sổ số dư thì cần phải tính gia theo hệ số giá.
Trang 2Thứ tư là hệ thống định mức tiêu hao NVL: Công ty đã xây dựng hệ
thống định mức tiêu hao NVL cho mỗi loại sản phẩm cũng như từng chi tiết của sản phẩm tương đối chính xác, khoa học Thông qua hệ thống này giúp cho quá trình thu mua, bảo quản dự trử và sử dụng NVL hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng NVL.
Thứ năm Công ty đã xây dựng kế hoạch thu mua hàng tháng Với khối
lượng vật liệu sử dụng lớn với nhiều chủng loại khác nhau nhưng bộ phận cung ứng thu mua vẫn cung cấp một cách kịp thời , đầy đủ cho nhu cầu sản xuất Phòng ĐHSX là nơi tổ chức trực tiếp việc thu mua và nhập kho vật liệu Cán bộ của phòng luôn làm tốt nhiệm vụ của mình từ việc tìm nguồn hàng đến việc cung ứng kịp thời đầy đủ vật liệu cho sản xuất.
Thứ sáu là việc tổ chức kiểm tra chất lượng vật liệu, thành phẩm khi
nhập kho nguyên vật liệu về tới Công ty chưa được nhập kho luôn mà phải qua sự kiểm tra chất lượng của phòng KCS, phòng KCS chịu trách nhiệm kiểm nghiệm về mặt số lượng, chất lượng thông số kỹ thuật số, chung loại quy cách Nếu kiểm tra thấy chất lượng không đảm bảo yêu cầu nhân viên cung ứng đổi lại Sau khi kiểm tra xong lập biên bản kiểm nghiệm vật tư và đóng dấu vào hoá đơn mua hàng Vì thế chất lượng của vật tư luôn được bảo đảm , từ đó khi đem vào sử dụng sẽ tránh được vật tư hư hỏng hoặc gây gián đoạn trong quá trình sản xuất, đảm bảo chất lượng đầu ra và nhằm giảm chi phí giá thành.
Bên cạnh những ưu điểm trên, hạch toán NVL ở Công ty còn có những hạn chế nhất định đòi hỏi cần tiếp tục tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện.
2.Những hạn chế trong công tác hạch toán NVL
Thứ nhất là tổ chức bộ máy kế toán chưa hợp lý Đó là sự kiêm nhiệm
trong việc hạch toán các phần hành; và việc lập phiếu xuất kho vật tư chưa hợp lý.
Thứ hai về việc xây dựng sổ danh điểm còn chưa khoa học.
Thứ ba là việc mở sổ chi tiết thanh toán với người bán chưa phù hợp Thứ tư là thiếu phiếu giao nhận chứng từ (hạch toán chi tiết vật liệu)
Thứ năm là việc không sử dụng TK 151-hàng mua đi đường.
Thứ sáu là việc chưa đưa phần mềm kế toán vào sử dụng.
II MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN NVL VỚI VIỆC TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NVL TẠI CÔNG TY CƠ KHÍ Ô TÔ 1-5.
Ý kiến thứ nhất, về bộ máy kế toán của công ty:
Mặc dù bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức theo hình thức kế toán tập trung nhưng việc tổ chức, phân công các phần hành cho từng kế toán viên
là chưa hợp lý
Trang 3Kế toán vật tư kiêm nhiệm thủ quỹ: Phần hành NVL với các nghiệp vụ xuất nhập vật tư rất nhiều với khoản 700 loại vật tư khác nhau với số lượng chứng từ rất lớn, trong khi đó việc tính thành tiền đối với các chứng từ nhập-xuất vẫn làm bằng thủ công, khối lượng công việc nhiều, phân bổ cho nhiều đối tượng sử dụng, phải phản ánh vào nhiều sổ sách Một số chứng từ xuất-nhập vật liệu mặc dù đã phát sinh ở tháng trước nhưng tháng này vẫn chưa phản ánh vào các sổ sách kế toán dẫn đến chi phí chưa chính xác Trong khi đó các nghiệp vụ về thu chi tiền mặt diễn ra rất thường xuyên và đặc biệt đối với nghiệp vụ thủ tiền từ bán hàng do giá bán rất lớn nên việc tìm kiếm tiền bạc cũng mất rất nhiều thời gian Với những đặc điểm đó công tác hạch toán NVL
ở Công ty luôn hoàn thành rất chậm, gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc đối chiếu với các sổ kế toán tổng hợp và lên báo cáo vì vậy theo em Công ty nên phân công phân nhiệm hợp lý hơn như : phần hành NVL do một người phụ trách, còn thủ quỹ là người khác Có như thế công việc kế toán NVL sẽ đảm bảo đúng thời gian,.nâng cao hiệu quả công việc và tính chĩnh xác chi phí kinh doanh trong kỳ.
-Bộ phận viết phiếu xuất vật tư : như phần thủ tục chứng từ nhập vật tư
đã nêu, bộ phận viết phiếu xuất vật tư do một kế toán phụ trách Do đó, mặc dù phiếu xuất về vật tư đó đã có nhưng khi xuống kho có thể không còn hoặc không đủ cung cấp cho các phân xưỡng Hơn thế, phiếu xuất vật tư được lập thành hai liên Liên 1 giao cho thủ kho để ghi vào thẻ kho sau đó đem lên phong
kế toán Liên 2 giao cho người lĩnh vật tư Như vậy mặc dù phòng ĐHSX thu mua, nhập kho NVL trong kỳ nhưng lại không nắm rõ số lượng tồn từng loại NVL trong từng ngày Chính sự không liên hệ chặt chẽ giữa ba phong kế toán, ĐHSX, kho sẽ gây ra sự ứ đọng NVL hoặc gián đoạn sản xuất do thiếu NVL Vì vậy theo em Công ty nên để phòng ĐHSX lập phiếu xuất vật tư Bởi vì phòng điều hành sản xuất với nhiệm vụ cung ứng các loại NVL căn cức vào kế hoạch sản xuất vào định mức tiêu hao NVL và căn cứ vào số lượng đã xuất của từng loại vật liệu phòng ĐHSX sẽ tính ra số lượng tồn của từng ngày từ đó dựa vào nhu cầu định mức sẽ lập phiếu xuất Khi đó phiếu xuất này sẽ được lĩnh đầy đủ các loại vật tư do phòng ĐHSX đã xác đúng số lượng còn lại của từng NVL Hơn nữa thông thường nếu nếu NVL nào đó tồn quá ít, hoặc bằng 0 thì nhân viên phụ trách phòng ĐHSX để từ đó có biện pháp đề nghị thủ trưởng đơn vị cấp thêm kinh phí để mua thêm NVL đáp ứng nhu cầu sản xuất Phiếu xuất kho nên được lập thành 3 liên Một liên lưu ỏ phong ĐHSX để ghi sổ và được cộng dồn hành ngày cho những NVL nào thường xuyên sử dụng Một liên gửi cho thủ kho để ghi sổ sách sau đó đưa lên phòng kế toán để tính thành tiền và ghi
sổ Một liên giao cho người lĩnh vật tư để theo sử dụng vật tư ở từng phân
Trang 4xưởng xí nghiệp Có như vậy sẽ cung ứng kịp thời NVL cho sản xuất và nâng cao hiệu quả sử dụng NVL tăng hiệu quả lao động.
Ý kiến thứ hai về hạch toán chi tiết NVL:
*Xây dựng hệ thống danh điểm NVL
Hệ thống danh điểm NVL còn rất đơn giản, chưa khoa học và việc kiểm tra đối chiếu còn khó khăn, không thuận tiện cho công tác quản lý NVL Và để thuận lợi cho công tác quản lý NVL được chặt chẽ hệ thống nhất, đối chiếu kiểm tra dễ dàng, dễ phát hiện sai sót và thuận lợi cho việc tìm kiếm thông tin
về một loại vật tư nào đó, thì đầu tiên Công ty nên lập lại sổ danh điểm vật liệu cho từng kho vật liệu Việc mở sổ danh điểm phù hợp sẽ góp phần giảm bớt khối lượng công việc kế toán, xử lý nhanh chóng cung cấp thông tin kịp thời phục vụ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh và thuận lợi cho việc sử dụng phần mền kế toán cho vận hành kế toán vật liệu trên máy tính.
Hệ thống danh điểm NVL sẽ gắn liền với chủng loại, quy cách, thông số,
kỹ thuật của nó, chẳng hạn:
Biểu 3.1: Sổ danh điểm NVL- Kho 1
TT
Ký hiệu
Tên vật liệu Đv tính Đơn
giá HT
Ghi chú Nhóm Danh điểm
NVL
Mở sổ danh điểm vật liệu phải nên có sự kết hợp nghiên cứu của phòng
kế toán và phòng ĐHSX sau đó trình lên ban giám đốc để thống nhất sử dụng
và quản lý trong toàn Công ty.
*Lập phiếu giao nhận chứng từ xuất (nhập) nguyên liệu
Như đã nêu ở trên, số lượng chứng từ nhập - xuất rất nhiều, diễn ra thường xuyên Cứ định kỳ 5 hoặc 7 ngày, kế toán sau khi xuống kho lấy phiếu xuất, nhập và đối chiếu với thẻ kho thấy khớp số lượng thì ký vào thẻ kho mà không lập phiếu giao nhận chứng từ giữa kế toán vật tư và thủ kho Đây là điều còn thiếu và gây khó khăn, nhầm lẫn cho việc tính giá đồng thời phải tính
số lượng nhập- xuất-tồn Vì thế nó ảnh hưởng không nhỏ đến tính khách quan của số liệu Vì vậy theo em Công ty nên lập phiếu giao nhận chứng từ nhập
Trang 5(hoặc xuất) vật liệu theo từng kho.Vì khi nhận được chứng từ kế toán kiểm tra
và tính theo từng chứng từ nhập (xuất) theo giá hạch toán cộng số tiền và ghi vào cột số tiền trên phiếu giao nhận chứng từ nhập (xuất) vật liệu Cứ 5 đến 7 ngày từ số liệu trên cột số tiền ở mổi phiếu giao nhận vào cột nhập, xuất cả số lượng và giá trị trên bảng luỹ kế nhập- xuất- tồn, đồng thời còn là căn cứ để đối chiếu với thẻ kho.
Trang 6BIỂU 3.2: MẪU PHIẾU GIAO NHẬN CHỨNG TỪ NHẬP (XUẤT) VẬT LIỆU
Kho : Tháng 3 năm
Số
danh
điểm
Ngày
tháng ghi Tên VL
Phiếu nhập (xuất) Giá hạch toán
Xác nhận của người giao
Số liệu Số
lượng Đơn giá Số tiền
152T3 7-3-2002 Tôn 3 ly 277,379 2900 4.500 13.050.000
152T1
15-3-2002
Cộng
Ý kiến thứ ba: Hạch toán tổng hợp NVL
*Mở thêm TK 151
Thực tế tại Công ty không sử dụng TK 151- Hàng mua đang đi đường
mà chỉ sử dụng TK 152- NVL chỉ khi nào có đầy đủ chứng từ hợp lệ như hoá đơn, phiếu nhập biên bản kiểm nghiệm vật tư thì mới ghi vào sổ sách và được hạch toán vào TK 152 Trong khi đó nhà cung cấp của Công ty ở khắp mọi miền đất nước và cả ở nước ngoài do đó hoá đơn đã về nhưng hàng vẫn chưa
về cuối tháng, hoặc hàng đã về Công ty nhưng cuối tháng phòng KCS chưa kiểm nghiệm xong để hoàn tất thủ tục nhập kho Vì thế những lô hàng này không được ghi chép mà chỉ khi có đầy đủ 3 chứng từ trên mới được nhập kho, ghi sổ Như vậy, thông tin cuối tháng về HTK sẽ không đầy đủ hoặc đã ghi nhận khoản nợ chính mặc dù đã có những lô đã trả bằng tài sản của mình Như vậy mặc dù TK111, TK 112đã ghi giảm nhưng TK 151 thì chưa tăng Nếu như thế trong bảng cân đối kế toán sẽ thiếu hụt phần giá trị NVL này Do đó đề nghị Công ty nên mở thêm Tk 151 Kết cấu và cách hạch toán tương tự như chương I và đồng thời cũng cần ghi chép hàng mua đang đi đường vào NKCT
số 6 (Ghi có Tk 151) Biểu 3.4) và sổ cái TK 151
Biểu 3.4: NKCT số 6 (TK 152)
Tháng năm
TT Diễn
giải
Dư đầu thán g
Hoá đơn Phiếu
nhập Ghi có TK 151, ghi nợ các TK
Dư cuối kỳ
SH NT SH NT Tk 152 Cộng có TK 151
HT TT
Trang 7Cách ghi:
- Căn cứ vào tập hồ sơ hàng mua đang đi đường tháng trước (được xếp theo từng chủng loại hàng mua), kế toán tiến hành mở NKCT số 6 tháng này
để theo dỏi các lô hàng tháng trước nhưng tháng này về nhập kho và ghi vào
dư đầu tháng (mỗi hoá đơn một dòng)
- Sang tháng khi hàng đã về làm thủ tục nhập kho , căn cứ vào phiếu nhập ghi số hiệu, ngày tháng nhập , và ghi số tiền theo giá thực tế và hạch toán NVL nhập Cuối tháng khoá sổ, xác định tổng phát sinh TK 151 và lấy số tổng cộng của NKCT số 6 ghi vào sổ Cái Tk 151
BIỂU3.5: MẪU SỔ CÁI TK 151
Năm 2002
Dư đầu năm
Ghi Có TK
TK 152
Tk 153 Cộng phát sinh Có Tk này
Cộng phát sinh Nợ TK này
Số dư cuối tháng
Nợ
Có
Mở sổ chi tiết tài khoản 331
Việc thiết kế sổ như trên là không phù hợp vì nhà cung cấp của công ty bao gồm cả người bán thường xuyên và không thường xuyên đối với những nhà cung cấp không thường xuyên thì việc tổng hợp số dư cho từng nhà cung cấp là dễ dàng tuy nhiên đối với những nhà cung cấp thường xuyên, nếu mở như vậy thì cần phải ghi nhiều dòng(ghi Có TK 331) với thứ tự khác nhau Đến cuối tháng tổng hợp số liệu ghi Có TK 331 cho từng người sẽ rất khó khăn, không chính xác, đầy đủ.
Việc thiết kế hai sổ chi tiết TK331 sẽ gây khó khăn cho việc tìm kiếm số liệu cho từng nhà cung cấp để tính số dư cuối tháng cho từng người, có khi dễ nhầm lẫn giữa số liệu của nhà cung cấp này với nhà cung cấp khác, đồng thời vào Nhật ký chứng từ sô 5 khó khăn Vì vậy theo em, công ty chỉ nên mở một sổ chi tiết TK 331, nhưng đối với nhà cung cấp thường xuyên thì nên mở trang sổ
Trang 8riêng cho từng nhà cung cấp, còn những nhà cung cấp không thường xuyên thì được theo dõi trên một trang sổ riêng Có như vậy, cuối tháng cộng từng TK liên quan đến TL 331 sẽ dễ dàng và nhanh chóng khi vào Nhật ký chứng từ số
5, đồng thời đối chiếu, kiểm tra sẽ dễ dàng.
Do đó, để phù hợp với yêu cầu theo dõi một cách thuận lợi, liên tục có hệ thống nên mở sổ chi tiết theo mẫu sau(biểu 3.6):
Cơ sở số liệu: sổ chi tiết thanh toán với người bán tháng trước, hoá đơn, phiếu nhập vật liệu, các chứng từ thanh toán…
Phương pháp ghi:
+ Cột số dư đầu tháng: lấy số liệu ở cột số dư cuối tháng trước của sổ này:
Dư Nợ: phản ánh số tiền công ty ứng trước cho người bán tháng trước
Dư Có: phản ánh số tiền công ty còn nợ người bán tháng trước
+ Số phát sinh:
-Phần ghi Có TK 331, ghi Nợ các TK khác: ghi theo hoá đơn
Số tiền hàng ghi vào cột TK 152 theo giá thực tế(cột TK 152 được
mở để theo dõi cả giá hạch toán và thực tế Giá hạch toán sẽ được ghi sổ sau khi kế toán vật liệu tính thành tiền theo giá hạch toán trên phiếu nhập Tiền thuế GTGT ghi cột tài khoản 133
-Phần ghi Nợ TK 331 ghi có các tài khoản khác :
Khi thanh toán cho người bán tuỳ theo phương thức hạch toán ghi vào các cột tài khoản tương ứng
Số dư cuối tháng :
Số dư nợ phản ánh số tiền công ty ứng trước cho người bán nhưng cuối tháng chưa lấy hàng
- Số dư có : Phản ánh số tiền cuối tháng công ty còn nợ người bán.
Từ số liệu dòng tổng cộng của từng trang sổ chi tiết TK 331, từng dòng của trang sổ chi tiết TK 331( cho khách hàng không thường xuyên) được lập theo mẫu mới ta đưa vào Nhật ký chứng từ số 5 sẽ dễ dàng, theo từng tài khoản, số liệu dễ dàng, tránh nhầm lẫn, sai sót Trang sổ chi tiết TK 331 cho từng người bán thường xuyên và không thường xuyên được thiết kế giống hệt nhau, chỉ khác ở trang sổ đối với người bán thường xuyên thì ghi tên người bán ở ngay đầu trang, trang sổ cho những người bán không thường xuyên được ghi theo cột tên đơn vị bán
Ý kiến thứ tư về việc lập dự phòng giảm giá NVL:
Trang 9Có thể nói NVL ở Công ty rất nhiều chủng loại, giá cả lại thường xuyên biến động chẳng hạn thép, tôn giá cả đã giảm do thị trường Mỹ không nhập khẩu thép, tôn của nước ngoài , song Công ty lại không lập dự phòng giảm giá NVL để nhằm chủ động trong trường hợp có sự biến động về giá cả NVL trên thị trường Do đó việc lập dự phòng giảm giá NVL có ý nghĩa thực sự.
Việc lập dự phòng sẽ giúp cho doanh nghiệp điều hoà thu nhập hạn chế được các thiệt hại rủi ro do các tác nhân khách quan đem lại, đồng thời hoản một phần thuế phải nộp và chủ động hơn về tài chính.
Các nguyên tắc để lập dự phòng giảm giá NVL:
-Chỉ lập dự phòng giảm giá đối với những NVL mà giá thị trường hiện tại thấp hơn giá gốc (giá hạch toán).
-Lập dự phòng giàm giá NVL được xác định một lần vào cuối niên độ kế toán trên cơ sở kết quả kiểm kê NVL và đối chiếu giá trên sổ kế toán với giá thị trường của NVL đó.
-Việc trích lập dự phòng giảm giá NVL không được vựơt qua số lợi nhuận thực tế phát sinh của công ty sau khi đã hoàn nhập các khoản dự phòng
đã trích từ năm trước.
- Trước khi lập dự phòng, công ty phải lập Hội đồng thẩm định mức độ giảm giá của nguyên vật liệu.
*Công thức trích lập dự phòng giảm giá nguyên vật liệu:
Mức dự phòng cần
lập cho VLA = Số lượng VLA x Mức chênh lệch trên sổ kế toán(giá hạch toán) với giá thị trường VLA
Ta có bảng sau theo dõi dự phòng giảm giá nguyên vật liệu cho từng kho
Biểu 3.6: BẢNG THEO DÕI DỰ PHÒNG GIẢM GIÁ NGUYÊN VẬT LIỆU
Kho 1: Năm 2003
Nhóm Danh
điểm
Tên VL
Đvị tính
Đơn giá hạch toán (Giá trên sổ KT)
Đơn giá TT
mức chênh lệch HT-TT
Số lượng
Mức dự phòng
* Phương pháp hạch toán dự phòng giảm giá nguyên vật liệu:
- Cuối niên độ N, kế toán lập dự phòng giảm giá nguyên vật liệu.
Nợ TK 6426: chi phí dự phòng
Có TK 159: Trích dự phòng
Trang 10- Cuối niên độ N+1, hoàn nhập dự phòng đã lập từ năm N
Nợ TK 159: Hoàn nhập dự phòng
Có TK 721
Và lập dự phòng cho năm N+1
Nợ TK 6462
Có TK 159 Tóm lại qua việc phân tích cũng như cách hạch toán dự phòng như trên, thiết nghĩ công ty nên trích dự phòng giảm giá nguyên vật liệu Như vậy, vừa tuân thủ nguyên tắc thận trong trong kế toán, vừa góp phần bình ổn trong hoạt động sản xuất kinh doanh và điều hoà thu nhập
Ý kiến thứ năm, về việc tăng cường hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu:
Việc sử dụng có hiệu quả nguyên vật liệu là một vấn đề bức xúc đối với mọi doanh nghiệp sản xuất Bởi vì có sử dụng tốt và hiệu quả nguyên vật liệu
sẽ là tiền đề thúc đẩy sản xuất phát triển và đem lại thu nhập thị phần rộng lớn cho doanh nghiệp, từ đó sẽ nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Như phân tích ở chương II, việc sử dụng nguyên vật liệu ở Công ty cơ khí ôtô 1 -5 là tương đối tốt và có hiệu quả Hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu năm
2003 cao hơn năm 2002 Có được điều đó là do đã xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu hợp lý, khoa học cho từng chi tiết, sản phẩm, do nguyên vật liệu được kiểm tra chất lượng trước khi nhập kho, do nguyên vật liệu được bảo quản trong điều kiện tương đối tốt tránh bị hư hỏng, mất mát Tuy vậy, giá thành các sản phẩm của công ty vẫn tương đối cao, dẫn đến giá bán phải cao
do đó đòi hỏi tiếp tục hạ giá thành, có giá bán phù hợp để nâng cao thị phần
Để có được điều đó thì công ty cần tiếp tục nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu, nâng cao chất lượng thu mua đầu vào.
Vậy theo em, nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu, công ty cần: -Đối với những nguyên vật liệu tồn kho quá lâu do nhập kho quá nhiều
so với nhu cầu sản phẩm hoặc do không còn đáp ứng được yêu cầu về tính năng kỹ thuật để sản xuất sản phẩm… công ty cần tiến hành giải phóng ngay bằng cách bán hay trao đổi cho các đơn vị có nhu cầu để nhanh chóng thu hồi, tăng tốc độ chu chuyển của nguyên vật liệu, đồng thời giải toả được mặt bằng kho bãi, giảm bớt chi phí bảo quản.
- Đối với những nguyên vật liệu nhập ngoại, giá trị lớn nên tìm hiểu, nghiên cứu mua nguyên vật liệu trong nước thay thế cho các nguyên vật liệu này mà vẫn đảm bảo chất lượng, giá cả lại rẻ hơn, giảm được các chi phí về vận chuyển,xăng, công tác phí cho nhân viên thu mua… Như vậy, giá thành sản