PHÂN TÍCH YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VAY NGÂN HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ 5.1 PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐỊNH LƯỢNG ĐẾN VAY NGÂN HÀNG 5.1.1 Sự ảnh hưởng tương q
Trang 1PHÂN TÍCH YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VAY NGÂN HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ
CẦN THƠ
5.1 PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐỊNH LƯỢNG ĐẾN VAY NGÂN HÀNG
5.1.1 Sự ảnh hưởng tương quan của của từng nhân tố đến các nhân tố khác
Ma trận tương quan trong nội bộ các nhóm chung cho thấy tương quan giữa các biến dự đoán khá thấp (các hệ số tương quan đều nhỏ hơn 0,5), như vậy có thể nói rằng hiện tượng đa cộng tuyến không đáng kể Do những đặc điểm của
hệ số tương quan nên chúng ta cần xem xét mối tương quan giữa từng biến với các biến khác để xem mối liên hệ của chúng với nhau có thực sự tồn tại hay không
Bảng 12: HỆ SỐ TƯƠNG QUAN CÁC YẾU TỐ TRONG NỘI BỘ NHÓM
(Nguồn: Tính toán từ số liệu thu thập trực tiếp năm 2006)
Trước hết, xét mối tương quan giữa biến năm hoạt động (X1) với những biến khác Biến này có mối tương quan với biến mức độ hiểu biết (X4) là có ý nghĩa bởi và qua nhiều năm hoạt động doanh nghiệp đã có kinh nghiệm hoạt động vì thế hệ số tương quan dương Mối tương quan với các biến còn lại thì không chắc chắn Đối với vay người thân (X2) thì theo mối tương quan nghịch tức là doanh nghiệp hoạt động càng lâu năm thì vay người thân ít lại Điều này
Trang 2đúng khi doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả liên tiếp nhiều năm, tuy nhiên nếu hoạt động không hiệu quả thì vay người thân có thể sẽ không giảm Cách giải thích tương tự đối với các mối tương quan giữa biến số năm hoạt động với các biến còn lại
Xét mối tương quan giữa biến vay người thân (X2) với các biến còn lại Đối với mối tương quan với thời gian xét duyệt món vay (X3) thì có thể giải thích theo chiều hướng nếu thời gian xét duyệt tăng thì doanh nghiệp sẽ đến nguồn vốn người thân nhiều hơn bởi vì họ cần tiền nhanh chóng cho công việc kinh doanh Biến vay người thân có mối tương quan nghịch với mức độ hiểu biết (X4), biến lãi suất vay (X5) và biến tổng tài sản (X6) điều này đúng theo khía cạnh những doanh nghiệp có mức độ hiểu biết thủ tục vay thấp hoặc khi lãi suất tăng hay tài sản cố định thấp thì xu hướng dùng vốn của người thân sẽ tăng lên
Thời gian xét duyệt (X3) có mối tương quan nghịch với biến mức độ hiểu biết (X4) và biến tài sản cố định (X6) Cho thấy thời gian xét duyệt món vay lâu khi mức độ hiểu biết thủ tục vay hoặc tài sản cố định của doanh nghiệp lớn Trong trường hợp này với những doanh nghiệp hiểu biết thủ tục vay sẽ gặp khó khăn trong việc xin vay như lập kế hoạch vay, thủ tục thiếu xót Còn đối với doanh nghiệp có tổng tài sản lớn thì họ là những doanh nghiệp lớn, do đó thời gian thẩm định hồ sơ vay như kết quả hoạt động kinh doanh, tài sản thế chấp sẽ tốn thời gian hơn doanh nghiệp nhỏ
Mức độ hiểu biết (X4) và lãi suất món vay (X6) trong bảng phân tích tương quan thì có sự tương quan với nhau, tuy nhiên trong thực tế thì hai yếu tố này không quyết định lẫn nhau được
Hệ số tương quan giữa biến tổng tài sản (X6) với biến mức độ hiểu biết (X4) và biến lãi suất vay (X5) có dấu dương cho thấy khi doanh nghiệp lớn thì mức độ hiểu biết thủ tục vay tăng lên và họ có thể chấp nhận mức lãi suất cao hơn Điều này đúng trong thực tế là với những doanh nghiệp lớn thì họ có bộ phân kế toán hoặc chủ doanh nghiệp có trình độ trong quản lý do đó mức độ hiểu biết cao hơn doanh nghiệp nhỏ Bên cạnh đó để cần một số lượng vốn lớn trong kinh doanh thì việc chấp nhận tăng lãi suất là điều họ chấp nhận được
Trang 3Trong luận văn này em chỉ phân loại thành hai nhóm vay và không vay nên chỉ có một hàm phân biệt được ước lượng Hệ số tương quan Canonical là 0,991 Bình phương của hệ số này, (0.991)2 = 0.98, cho thấy 98% phương sai biến phụ thuộc (phân loại vay hay không vay) được giải thích bởi mô hình Hay nói cách khác là các yếu tố nêu ra trong mô hình này tác động đến sự phân biệt giữa hai nhóm vay và không vay của doanh nghiệp, còn lại là do các yếu tố khác tác động không được đề cập trong mô hình
Tiếp theo, em kiểm định xem hàm phân biệt được ước lượng có ý nghĩa hay không về mặt thống kê, bởi vì nếu hàm phâm biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê thì không thể giải thích kết quả phân tích Giả thiết:
- H0 ở đây là trong tổng thể các trung bình của các hàm phân biệt trong tất
cả các nhóm là bằng nhau (không có sự phân biệt), giả thiết này phải được kiểm định xem có ý nghĩa thống kê không
- H1 là trung bình của các hàm phân biệt trong tất cả các nhóm là khác nhau
Qua kết quả phân tích thấy rằng hệ số Wilks’ Lamda của hàm này là 0,018, chuyển thành đại lượng Chi-square là 134,513 với 7 bậc tự do Và mức ý nghĩa quan sát là 0,000 nhỏ hơn rất nhiều so với mức ý nghĩa xử lý 15% Ta có đủ cơ
sở để bác bỏ giả thiết H0 ở trên Khi giả thuyết H0 bị bác bỏ, tức là sự phân biệt
có ý nghĩa thống kê
Theo phần ước lượng và kiểm định trên cho thấy sự tương quan giữa các biến dự đoán khá yếu nên em sử dụng độ lớn của các hệ số phân biệt chuẩn hóa (Standardized Canonical Discriminant Function Coefficients) và hệ số tương quan kết cấu (Structure Corrlation) để giải thích kết quả hàm phân biệt trong bài luận văn này
5.1.2 Sự ảnh hưởng của từng yếu tố đến vay ngân hàng
Hệ số phân biệt chuẩn hóa nói lên mức đóng góp của từng nhân tố vào khả năng phân biệt
Trang 4Bảng 13: HỆ SỐ PHÂN BIỆT CHUẨN HÓA Biến Hệ số phân biệt chuẩn hóa Giá trị Sig
(Nguồn: Tính toán từ số liệu thu thập trực tiếp năm 2006)
Với mức ý nghĩa xử lý hàm phân biệt 15% thì nhân tố năm hoạt động không có ý nghĩa trong việc phân biệt vì có giá trị Sig = 97,3% > α = 15% Các nhân tố vay người thân, thời gian xét duyệt, mức độ hiểu biết, lãi suất vay và tổng tài sản đều có ý nghĩa trong việc phân biệt vì có mức giá trị Sig nhỏ hơn α khi xử lý
Hàm phân biệt trong trường hợp này có dạng:
D = – 0,216X2 – 0,217 X3 + 0,229X4 – 1,085X5 + 0,317X6
Dấu các hệ số phân biệt chuẩn hóa của hàm phân biệt được xử lý trên không đồng dạng nhau cho thấy giá trị biệt số sẽ chịu tác động không cùng hướng khi các yếu tố tố sự tăng lên hay giảm xuống Giá trị hệ số phân biệt chuẩn hóa nói lên độ lớn của mỗi yếu tố đóng góp vào giá trị biệt số D
Yếu tố lớn nhất trong quyết định tín dụng của doanh nghiệp là lãi suất Thực tế trong tất cả các mẫu phỏng vấn đều trả lời rằng lãi suất vay là quan trọng nhất trong đặc điểm món vay mà họ quan tâm Trong tổng số 52 doanh nghiệp thì có đến 35 doanh nghiệp được phỏng vấn trả lời lãi suất món vay là yếu tố quan trọng, doanh nghiệp không vay xét thấy yếu tố lãi suất là quan trọng
là 9/12 doanh nghiệp với tỷ lệ 75% và ở doanh nghiệp có vay là 65% Khi lãi suất càng tăng sẽ làm cho giá trị biệt số càng tiến về giá trị âm tức là những doanh nghiệp này có xu hướng không vay
Yếu tố tổng tài sản đóng góp vào quyết định vay hay không vay là lớn thứ hai Trong bảng giá trị trung bình nhóm vay và không vay tuy có sự chênh lệch nhiều nhau về tổng tài sản giữa các doanh nghiệp vay và không vay, tuy nhiên
Trang 5xét nếu xét kỹ hơn ta thấy trong những doanh nghiệp có vay thì số lượng doanh nghiệp có tổng tài sản duới 500 triệu cũng có một số, do đó đã dẫn đến độ lệch chuẩn trung bình về tài sản của các doanh nghiệp khá lớn Xét trong những doanh nghiệp không vay thì có đến 41,66% doanh nghiệp có tài sản nhỏ hơn 3.000 triệu và chỉ có 1 doanh nghiệp có tài sản là 5.000 triệu, trong khi đó những doanh nghiệp đi vay thì có đến 62,5% doanh nghiệp có tài sản lớn hơn 5.000 triệu và 50% doanh nghiệp được hỏi trả lời là có vay với tài sản của doanh nghiệp lớn hơn 5.000 triệu Do đó những doanh nghiệp có tài sản lớn thì quyết định vay càng thuận lợi làm cho giá trị biệt số tăng
Những yếu tố mức độ hiểu biết, thời gian xét duyệt và vay người thân có
độ lớn tương đương nhau cho thấy những nhân tố này ảnh hưởng tương đương nhau về độ lớn Yếu tố mức độ hiểu biết nói lên sự hiểu biết về thủ tục vay và khả năng quản lý của chủ doanh nghiệp Một doanh nghiệp có mức độ hiểu biết cao thì khả năng lựa chọn vay vốn ngân hàng càng thuận lợi Trong số những doanh nghiệp được hỏi thì mức độ hiểu biết trung bình của nhóm vay là 6,75 điểm cao hơn 1,00 điểm so với nhóm không vay Tuy nhiên khi xem xét kỹ hơn thì trong nhóm không vay chỉ có 50% doanh nghiệp mức độ hiểu biết trên trung bình, trong khi đó con số này là 92,5% trong những doanh nghiệp không vay
Do đó với những doanh nghiệp với mức độ hiểu biết cao thì càng có xu hướng tìm vốn vay ngân hàng
Yếu tố thời gian xét duyệt món vay cho thấy nếu thời gian xét duyệt món vay càng lâu thì doanh nghiệp càng ít chọn quyết định vay do đó yếu tố này mang dấu âm Tương tự với những doanh nghiệp vay người thân thì nhu cầu tìm đến ngân hàng sẽ thấp hơn Bởi vì những ràn buộc ở các món vay người thân dễ dàng hơn đối với khoản tín dụng của ngân hàng
5.1.3 Đánh giá tầm quan trọng của từng yếu tố đối với việc vay ngân hàng
Giá trị hệ số tương quan kết cấu cho thấy sự tương quan của từng yếu tố đối với giá trị biệt số D Hệ số này được sắp xếp theo thứ tự giảm dần
Trang 6Bảng 14: HỆ SỐ TƯƠNG QUAN KẾT CẤU
(Nguồn: Tính toán từ số liệu thu thập trực tiếp năm 2006)
Yếu tố có sự tương quan lớn nhất đối với quyết định vay hay không vay của doanh nghiệp là lãi suất Trong năm 2006 lãi suất cơ bản là 8,25%/năm do
đó lãi suất cho vay ngân hàng sẽ dao động trên 10% tùy theo khách hàng và món vay Tiền lãi là một khoản phải trả cho ngân hàng chủ yếu thông qua nguồn lợi nhuận hoạt động của doanh nghiệp Do đó khi quyết định tìm đến ngân hàng thì lợi nhuận của doanh nghiệp đạt được phải vừa trả lãi ngân hàng, nghĩa vụ cho nhà nước và các khoản phải trả khác Trong tình hình đó đối với những doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả thì nguồn vốn ngân hàng là điều họ không ưu tiên Do đó đây là yếu tố mà các doanh nghiệp luôn quan tâm hàng đầu khi vay Yếu tố có mối tương quan cũng quan trọng tiếp theo là yếu tố tổng tài sản của doanh nghiệp Yếu tố lãi suất vay là quan trọng nhất tuy nhiên quyết định vay chỉ được đưa ra sau khi đã xem xét các yếu tố về tài sản như tài sản lưu động, vốn lưu động, tài sản thế chấp
Mức độ hiểu biết cũng khá quan trọng đối với phân biệt vay hay không vay Doanh nghiệp hiểu biết vay và các hoạt động tài chính, quản trị sẽ có những quyết định phù hợp Các yếu tố thời gian xét duyệt tín dụng và vay người thân có tác động không nhiều đối với việc vay hay không vay (chưa tới 10%)
Bảng 15: GIÁ TRỊ BIỆT SỐ TRUNG BÌNH CỦA TỪNG NHÓM
Phân loại nhóm Giá trị trung bình của mỗi nhóm
(Nguồn: Tính toán từ số liệu thu thập trực tiếp năm 2006)
Trang 7Giá trị biệt số trung bình của từng nhóm nhóm không vay mang dấu âm với giá trị khá lớn, trong khi đó nhóm có vay mang dấu dương Các giá trị này cho thấy các yếu tố trong mô hình có sự tác động rất rõ đối với sự phân biệt đối với mẫu trong từng nhóm phân loại mà trong đó tác động đối với những mẫu không vay mạnh hơn những doanh nghiệp có vay
Như đã trình bày trong phần xác định vấn đề, các dữ liệu được chia thành hai phần: mẫu phân tích dùng để ước lượng hàm phân biệt và mẫu kiểm tra dùng
để kiểm tra tính đúng đắn của hàm phân biệt được xây dựng
Bảng 16: KẾT QUẢ PHÂN BIỆT
Phân loại Kết quả phân biệt Tổng số Không
vay
Có vay
Mẫu phân
tích
Số doanh nghiệp
Không vay
vay
Mẫu kiểm
tra
Số doanh nghiệp
Không vay
vay
(Nguồn: Tính toán từ số liệu thu thập trực tiếp năm 2006)
Trang 8Dùng giá trị trung bình biệt số của từng nhóm để tính điểm phân biệt giữa hai nhóm
Các quan sát sẽ được phân biệt theo tiêu chuẩn này, tức là quan sát nào có biệt số lớn 0 sẽ được xếp vào những doanh nghiệp vay (giá trị biến phân loại 2), quan sát nào có biệt số nhỏ hơn 0 sẽ được xếp vào những doanh nghiệp không vay (giá trị biến phân loại 1) Trong bảng Casewise Statistics trong phân phụ lục SPSS đưa ra liệt kê kết quả phân biệt của từng quan sát một Trong phần liệt kê cho thấy trong tất cả các quan sát thuộc mẫu kiểm tra và mẫu phân tích đều cho kết quả phân biệt đúng Do đó bảng kết quả phân biệt được SPSS đưa ra cho tỉ
lệ phân biệt đúng là 100% ở cả hai mẫu phân tích và mẫu kiểm tra độc lập vì vậy ta có thể kết luận rằng mô hình phân tích biệt số được xây dựng trong luận văn này là khá tốt
5.2 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ĐỊNH TÍNH ĐẾN VAY NGÂN HÀNG TRONG KHU VỰC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
5.2.1 Phân tích mối quan hệ giữa loại hình doanh nghiệp và quyết định vay
Nhìn chung những công ty trách nhiệm hữu hạn có xu hướng vay nhiều hơn các doanh nghiệp tư nhân Sự khác biệt này không nhiều với 25% doanh nghiệp
tư nhân được hỏi trả lời là không vay và 78,6% công ty trách nhiệm hữu hạn được hỏi trả lời là có vay trong năm 2006 Do đó trong mẫu dữ liệu này có sự tác động của hình thức sỡ hữu đối với quyết định vay
Giả thiết đặt ra H0: hình thức sở hữu không có liên hệ với quyết định vay hay quyết định vay không bị ảnh hưởng bởi hình thức sỡ hữu trong tổng thể
NAZA + NBZB (-13120*9) + (3,396*30)
Trang 9Bảng 17: SỐ DOANH NGHIỆP CÓ VAY VÀ KHÔNG VAY
PHÂN THEO LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP
Loại hình Tổng
Tư nhân TNHH
Phân
loại
Không vay
Có vay
KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ MẪU Value Asymp.
Sig.(2-sided)
Exact Sig.(2-sided)
Exact Sig.(1-sided)
Pearson
Chi-Square
Fisher's
Exact Test
(Nguồn: Tính toán từ số liệu thu thập trực tiếp năm 2006)
Kết quả xử lý SPSS cho giá trị Chi bình phương 0,93 cho thấy sự mối liên
hệ giữa hai biến rất thấp, chuyển giá trị này với độ tự do là 1 tương đương cho giá trị mức ý nghĩa α = 76,1% > mức ý nghĩa xử lý mô hình 15% do đó ta chấp nhận giả thiết H0 Hai kiểm định khác được sử dụng trong luận văn này cũng cho kết quả tương tự Do đó với số lượng mẫu thu thập được em kết luận không
có sự liên hệ giữa hình thức sỡ hữu đối với quyết định vay
5.2.2 Phân tích mối quan hệ giữa ngành nghề và quyết định vay
Xem xét mối liên hệ giữa việc vay hay không vay với ngành nghề kinh doanh Ngành nghề kinh doanh có sự tác động khá mạnh đến quyết định vay Nói chung, những doanh nghiệp hoạt động thuộc ngành công nghiệp và chế biến muốn vay nhiều hơn những doanh nghiệp khác, doanh nghiệp thương mại sử dụng tín dụng ngân hàng nhất Trong khi 82,1% doanh nghiệp công nghiệp và
Trang 10chế biến vay; 77,8% doanh nghiệp xây dựng giao thông vận tải có đồng câu trả lời và 33,3% doanh nghiệp thương mại không vay
Bảng 18: SỐ DOANH NGHIỆP CÓ VAY VÀ KHÔNG VAY
PHÂN THEO NGÀNH NGHỀ KINH DOANH
Ngành nghề cạnh tranh
Tổng TMAI SXCB XDVTTT
Phân
loại
Không
vay
Có vay
KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ MẪU
Value df Asymp Sig (2-sided)
(Nguồn: Tính toán từ số liệu thu thập trực tiếp năm 2006)
Giả thiết đặt ra H0: ngành nghề kinh doanh không có liên hệ với quyết định vay hay quyết định vay không bị ảnh hưởng bởi ngành nghề kinh doanh trong tổng thể
Trong bảng chéo có 1 ô trong 6 ô (16,7% số ô) không quá 20% trong bảng chéo có tần số lý thuyết nhỏ hơn 5 thì giá trị Chi bình phương đáng tin cậy trong kiểm định này Kết quả xử lý cho thấy các mức ý nghĩa α là 51,6% > mức ý nghĩa xử lý 15%, các kiểm định khác cũng có giá trị tương tự vì thế em chấp nhận giả thiết H0 Vì thế với số lượng mẫu thu thập được em kết luận không có
sự liên hệ giữa ngành nghề kinh doanh đối với quyết định vay
5.2.3 Phân tích mối quan hệ giữa mức độ cạnh tranh với quyết định vay
Nhìn vào bảng mối liên hệ giữa việc tham gia tín dụng ngân hàng với mức độ cạnh tranh của từng doanh nghiệp (mức độ cạnh tranh do chủ doanh nghiệp tự đánh giá), em thấy những doanh nghiệp ý thức mức độ cạnh tranh cao sẽ vay nhiều hơn 83,3% doanh nghiệp loại này vay và 60% doanh nghiệp loại còn lại vay