Giải đề thi Cao học Nhập Môn Tài Chính Tiền Tệ mới nhất Giải đề thi Cao học Nhập Môn Tài Chính Tiền Tệ mới nhất Giải đề thi Cao học Nhập Môn Tài Chính Tiền Tệ mới nhất Giải đề thi Cao học Nhập Môn Tài Chính Tiền Tệ mới nhất Giải đề thi Cao học Nhập Môn Tài Chính Tiền Tệ mới nhất Giải đề thi Cao học Nhập Môn Tài Chính Tiền Tệ mới nhất Giải đề thi Cao học Nhập Môn Tài Chính Tiền Tệ mới nhất Giải đề thi Cao học Nhập Môn Tài Chính Tiền Tệ mới nhất Giải đề thi Cao học Nhập Môn Tài Chính Tiền Tệ mới nhất
Trang 1CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TIỀN TỆ VÀ LƯU THÔNG TIỀN TỆ
Câu 1: Khái niệm và các hình thái của tiền tệ
- Theo K.Mark, tiền là một loại hàng hóa đặc biệt tách ra khỏi thế giới hàng hóa được dùng là vật ngang giá chung để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các hàng hóa khác và thực hiện trao đổi giữa chúng
Phân tích:
+ Tiền ra đời tồn tại và phát triển cùng với sự phát sinh tồn tại và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa Tiền có 2 thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng (giá trị sử dụng xã hội và giá trị sử dụng lưu thông)
+ lịch sử phát triển các hình thái của tiền cũng thay đổi : tiền kim loại, giấy, séc, số dư ngân hàng
+ Ngày nay, tiền không đơn thuần là phương tiện trao đổi mà người ta còn sử dụng tiền để đầu tư cho vay và xem nó như một dạng của cải một đối tượng để sở hữu
- Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, tiền tệ là bất cứ thứ gì được chấp nhận chung trong thanh toán để đổi lấy hàng hóa dịch vụ và thực hiện các nghĩa vụ tài chính.
Các hình thái của tiền tệ: Hóa tệ và tín tệ
- Hóa tệ: việc người ta sử dụng hàng hóa thông thường làm tiền Giá trị thực ăn khớp với giá trị trao đổi của tiền Gồm:
+ Hóa tệ phi kim loại: vật ngang giá chung sử dụng trong trao đổi hàng hóa thường được chọn từ những hàng hóa có giá trị sử dụng cần thiết cho nhiều người vd: vải, da cừu, thóc Ưu điểm- nhược điểm
+ Hóa tệ kim loại: kim loại được chọn làm bản vị cho chế độ của các nước đi từ những kim loại kém giá: kẽm sắt đồng đền những kim loại có giá trị cao như vàng bạc Ưu điểm: đồng nhất, giá trị ít biến đổi, dễ bảo quản dễ vận chuyển, dễ chia nhỏ hay gộp lại Nhược điểm nguồn khai thác có hạn
- Tín tệ: là dồng tiền bản thân nó không có giá trị hoặc giá trị nội tại không đáng kể so với giá trị danh nghĩa mà nó đại diện Song nhờ có sự tín nhiệm của mọi người mà nó có giá trị trong trao đổi và được sử dụng trong lưu thông.
- Bao gồm:
+ Tín tệ kim loại
+ Tiền giấy: Tiền giấy khả hoán (là loại tiền được ấn định tiêu chuẩn giá cả bằng vàng
và có thể trực tiếp chuyển đổi ra vàng theo hàm lượng mà NN đã công bố và bất cứ lúc nào cũng có thể đem để quy đổi thành vàng) và tiền giấy bất khả hoán hay tiền phù hiệu (là tiền giấy được ấn định tiêu chuẩn giá cả bằng pháp luật bắt buộc lưu hành và không thể trực tiếp chuyển đổi ra vàng theo theo tiêu chuẩn của NN
+ Bút tệ (tiền ghi sổ) tiền không tồn tại dưới dạng vật chất nó chỉ là những con số trên
tài khoản của ngân hàng
Trang 2+ Tiền điện tử: là hình thức phát triển cao của tiền ghi sổ ( bút tệ) được sử dụng qua hệ thống thanh toán tự động hay còn gọi là máy ATM
*) Liên hệ thực tế:
Trong thực tiễn hoạt động ở VN tiền vẫn đang tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau Chế độ lưu thông tiền tệ ở VN là chế độ lưu thông tiền phù hiệu Việt Nam đang sử dụng: giấy bạc Ngân hàng do NHNNVN phát hành ( tiền giấy), tiền ghi sổ trong hệ thống NH, tiền điện tử Trong thực tế tiền điện tử được thể hiện thông qua các phương tiện thanh toán như thẻ NH, dịch vụ trả tiền tự động Trong một số ít các giao dịch người ta vẫn còn sử dụng vàng làm đơn vị tiền tệ
Ở VN việc lưu thông tiền tệ đang có xu hướng tăng tỉ trọng tiền ghi sổ, tiền điện tử và giảm tỉ trọng tiền mặt lưu thông.
Câu 2: Các chức năng của tiền
- Nêu khái niệm tiền : Câu 1
- Chức năng của tiền tệ:
+ Chức năng thước đo giá trị: Tiền tệ thực hiện chức năng này khi đo lường và biểu
hiện giá trị của các hàng hóa khác và chuyển giá trị của hàng hóa thành giá cả hàng hóa
Điều kiện thực hiện chức năng:
+ Tiền phải có đầy đủ giá trị: tiền phải có tiêu chuẩn giá cả
+ Tiền phải có tiêu chuẩn giá cả( còn gọi là hàm kim lượng của đồng tiền)
Theo nguyên lý chung, hệ thống thước đo giá trị của mỗi quốc gia bao gồm: tiền đơn
vị, tiền ước số, tiền bội số Liên hệ với VN hiện nay không lưu hành tiền đơn vị và tiền ước
số mà chỉ sử dụng tiền bội số với các mệnh giá 200đ,500đ, 1000đ, theo hệ thống thang đo 1-2-5
Đặc điểm: Khi thực hiện cn thước đo giá trị không nhất thiết phải xuất hiện một lượng
tiền thực chất, bởi vì việc đo lường giá trị hàng hóa chỉ thực hiện trong tư duy, ý niệm Như vậy phép đo giá trị vẫn được thực hiện mà không cần sự hiện diện của thước đo
Chức năng phương tiện trao đổi và thanh toán: Tiền tệ thực hiện chức năng này khi
xuất hiện trong lưu thông với tư cách là môi giới trung gian cho quá trình trao đổi hàng hóa
và là phương tiện thực hiện thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính
Đặc điểm: Sự tham gia của tiền tệ vào quá trình trao đổi hàng hóa đã cho phép thay thế
phương thức trao đổi hiện vật trực tiếp H-H’ bằng phương thức trao đổi gián tiếp H-T-H’.
2
Trang 3Khi thực hiện chức năng này quá trình trao đổi hàng hóa tách làm 2 GĐ riêng biệt là mua và bán 2 quá trình này diễn ra độc lập tách rời nhau về không gian và thời gian Khi nền kinh
tế XH phát triển nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng mở rộng nhưng không phải lúc nào chủ thể cũng có đủ lượng tiền cần thiết để thực hiện thanh toán Chính vì vậy nẩy sinh hiện tượng mua bán chịu hàng hóa từ đó để thực hiện việc trả nợ người ta sử dụng tiền làm phương tiện thanh toán Bên cạnh đó tiền còn thực hiện chi trả các nghĩa vụ tài chính như : trả lương, nộp thuế vào NS, bảo hiểm
+ Quá trình trao đổi hàng hóa diễn ra nhanh chóng thuận lợi
+ Tiết kiệm chi phí lưu thông tiền trong xã hội
+ Tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng phát triển
Chức năng phương tiện tích lũy giá trị : Tiền tệ thực hiện chức năng này khi nó tạm
thời rút ra khỏi lưu thong tồn tại dưới dạng giá trị dự trữ để đáp ứng cho nhu cầu mua sắm trong tương lai.
Đặc điểm: Thực chất đây là việc chuyển thành các phương tiện mang giá trị được xã
hội chấp nhận, với mục đích chuyển thành háng hóa hoặc dịch vụ trong tương lai Sở dĩ tiền thực hiện được chức năng phương tiện cất giữ giá trị vì nó là hiện thân của của cải xã hội và
nó có thể trực tiếp chuyển hóa thành hàng hóa.
Điều kiện:
+ Tiền phải có giá trị nội tại ( tiền đầy đủ giá) hoặc phải có sức mua ổn định lâu dài + Giá trị dự trữ phải được thể hiện bằng những phương tiện hiện thực và được xã hội chấp nhận
Ý nghĩa: chức năng này cho phép người sở hữu nó dự trữ 1 sức mua cho các giao dịch cho tương lai Trong điều kiện KT phát triển khi các DN muốn đầu tư mở rộng sản xuất, khi dân cư có nhu cầu mua sắm những vật phẩm trong tương lai ngta thường cất giữ dưới dạng tiền gửi ngân hàng hoặc vàng.
Mối liên hệ giữa các chức năng của tiền tệ: 3 chức năng của tiền tệ có mqh chặt chẽ
với nhau trong đó chức năng thước đo giá trị là chức năng đầu tiên và qtrong nhất chi phối 2 chức năng còn lại:
Trang 4- Nhờ có cn thước đo giá trị mà giá trị của hàng hóa được biểu hiện ra bên ngoài thành giá cả do đó chúng có thể dễ dàng so sánh được với nhau Đây cũng là cơ sở để thực hiện trao đổi hàng hóa khác và trao đổi chúng lấy tiền Trên cơ sở này người LĐ có thể so sánh được với nhau về mức độ và trình độ mình bỏ ra cho xã hội trong một đơn vị thời gian
- Nhờ có cn phương tiện thanh toán đã làm cho sự trao đổi hàng hóa không bị ràng buộc về không gian và thời gian làm cho hàng hóa đi từ nơi SX đến tiêu dùng một cách trôi chảy hơn
- Nhờ cn phương tiện cất giữ giá trị nên việc hạch toán và tính toán hiệu quả kinh doanh trở nên thuận tiện và đầy đủ Quá trình tích lũy tiền tệ được thực hiện nhằm mở rộng quy mô sản xuất KD
*) Liên hệ thực tế: sự biểu hiện chức năng của tiền tệ trong thực tế hoạt động của
doanh nghiệp
- Chức năng thước đo giá trị giúp DN có thể hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm và quá đó đánh giá hiệu quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu về doanh thu và lợi nhuận từ đó đánh giá hiệu quả kinh doanh để lựa chọn phương án kinh doanh phù hợp
- Chức năng phương tiện trao đổi thanh toán: DN sử dụng chức năng này để mua bán hàng hóa, dịch vụ Ngoài ra còn sư dụng để thanh toán các khoản nợ đối tác, lương người lao động, thuế với nhà nước và các khoản chi phí khác
- Chức năng phương tiện cât giữ giá tri : trong quá trình phân phối lợi nhuận của DN lợi nhuận được chia ra để phân chia cho các quỹ : quỹ dự phòng tài chính, quỹ khoa học kĩ thuật, quỹ phúc lợi công đoàn Phần còn lại được DN được cât giữ nhằm tái đầu tư mở rộng
Câu 3: Khái niệm bản chất kinh tế của lạm phát
- Khái niệm: lạm phát là hiện tượng phát hành tiền vào lưu thông quá lớn vượt quá số lượng cần thiết trong lưu thông, làm cho sức mua của đồng tiền giảm sút không phù hợp với giá trị danh nghĩa mà nó đại diện.
- Bản chất của LP: là việc NN lạm dụng quyền hạn của mình trong lưu thông mà không tuân theo quy luật kinh tế dẫn đến hậu quả là tốc độ tăng lượng tiền trong lưu thông không tương quan với tốc độ tăng của hàng hóa dẫn đến mất cân đối tiền – hàng Trên thực
tế người ta sử dụng chỉ số giá CPI để đo tốc độ lạm phát.
Khi nghiên cứu về lạm phát thì có nhiều quan điểm khác nhau các quan điểm chủ yếu là:
+ quan điểm đồng nhất giữa lạm phát và sự tăng giá- gọi là lạm phát giá cả Theo quan điểm này LP là sự tăng giá nói chug của hàng hóa Khi đó giá cả hàng hóa không phản ảnh giá trị thực của hàng hóa mà giá cả cao hơn giá trị thực của hàng hóa nghĩa là sức mua đồng tiền bị giảm
4
Trang 5+ lạm phát lưu thông tiền tệ: đây là quan điểm cho rằng lạm phát là kết quả của việc gia tăng khối lượng tiền trong lưu thông với một tỉ lệ cao.
+ Lạm phát nhu cầu: là lạm phát do cầu quá mức – gọi là lạm phát cầu kéo LP này xảy ra khi các hiện tượng của nển KT làm tăng tổng cầu tiền dẫn đến tăng tổng cung tiền trong điều kiện tăng trưởng kinh tế không tương xứng dẫn đến LP LP này có thể bắt nguồn
từ nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là tăng cầu tiền do thâm hụt ngân sách hay tăng cầu tiền bắt nguồn từ nhu cầu về hàng hóa.
+ lạm phát chi phí: là LP do chi phí tăng trong khi khối lượng SX không tăng hoặc tăng ít- gọi là lạm phát chi phí đẩy Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như: tăng lương vượt quá mức tăng năng suất LĐXH, đầu tư cơ bản sử dụng vốn từ NSNN và vốn tín dụng kém hiệu quả; nguyên liệu đầu vào của một số sp thiết yếu tăng
Ảnh hưởng của Lạm phát lạm phát có 3 mức độ: LP vừa phải ( LP1 con số); LP phi
mã (LP 2 con số) và siêu LP LP không phải lúc nào cũng có ảnh hưởng xấu, tùy theo mức
độ mà có ảnh hưởng đến nền kinh tế là tích cực hay tiêu cực
- Nếu LP ở mức độ vừa phải sẽ có tác dụng kích tích nền Kinh tế xã hội phát triển Nhiều quốc gia coi đây là một chính sách của nhà nước để phát triển Kinh tế, chính phủ luôn cố gắng duy trì mức lạm phát ở mức hợp lý khoảng 5% khi đó sẽ kích thích SX trong nước phát triển khi đó giá cả có xu hướng tăng và giá trị đồng nội tệ giảm nhẹ so với ngoại tệ làm kích thực xuất khẩu hạn chế nhập khẩu.
- LP là con dao 2 lưỡi nếu không kiểm soát được LP thì LP sẽ bùng nổ Trong trường hợp LP ở mức độ cao thì sẽ có tác động tiêu cực đến nền KT và cả xã hội cụ thể
+ đối với SX, LP làm tăng giá cả Nguyên vật liệu, vật tư làm tăng chi phí, giảm doanh thu và lợi nhuận của DN dẫn đến Sản xuất bị thu hẹp tăng sự phát triển không đồng đều mất cân đối giữa các ngành Sản xuất Nếu kéo dài sẽ làm mất lòng tin các nhà đầu tư, nhà đầu tư
sẽ rút vốn ra khỏi quá trình SX để chuyển vào những hàng hóa an toàn ( vàng ngoại tệ) + đối với lưu thông hàng hóa: LP làm rối loạn lưu thông, kích thích tâm lí đầu cơ tích trữ háng hóa tạo nhu cầu giả làm mất cân đối cung cầu dẫn đến LP ngày càng tăng Trong bối cảnh sx thu hẹp nhu cầu đầu cơ tăng lên khiến giá cả ngày càng leo thang
+ đối với tiền tệ tín dụng : LP phá vỡ các chức năng của tiền tệ làm sức mua của đồng tiền giảm xuống một cách nhanh chóng, dân chúng mất lòng tin vào đồng tiền mất giá không muốn nắm giữ tiền nữa Nên dân chúng sẽ giảm gửi nội tệ vào ngân hàng, khi LP cao người dân sẽ rút tiền tk để chuyển sang các kênh đầu tư khác làm hệ thống ngân hàng gặp khó khăn trong huy động vốn
+ đối với lĩnh vực tài chính NN: LP làm nguồn thu NS giảm về cả số lượng lẫn giá trị thực tế trong khi Chính phủ vẫn phải chi NS dẫn đến bội chi
+ đối với tiêu dùng và đời sống người Lao động: LP làm tiêu dùng thực tế giảm đời sống người dân ngày càng khó khăn.
Trang 6Giải pháp kiềm chế lạm phát: 1 là giảm tiền( giải pháp tình thế) 2 là tăng hàng hóa
trong lưu thông ( chiến lược lâu dài) cụ thể
Các NHTM phải đa dạng hóa các hình thức huy động vốn nhàn dỗi tỏng công chúng bằng nhiều các gói huy động hấp dẫn, phát hành trái phiếu tín phiếu
+ Biện pháp về điều hành ngân sách : nhằm giảm bớt tình trạng mất cân đối thu chi NS tiến tới cân bằng ngân sách
Tiết kiệm chi NS, cắt giảm những khoản chi không cần thiết, không tác động trực tiếp đến sực phát triển có hiệu quả của nền KT: chi cho bộ máy hành chính chi phúc lợi
Tăng cường và nâng cao hiệu quả thu NSNN bằng cách cải cách thủ tục hành chính Thực hiện chính sách thu bù đắt thiếu hụt NS:vay trong và ngoài nc, kêu gọi viện trợ
Các biện pháp khác: kiểm soát giá cả điều tiết giá cả thị trường với các mặt hàng thiết
yếu trợ giá quy định giá trần điều tiết thông qua quỹ dự trữ Quốc gia Khuyến khích tự do mậu dịch nới lỏng thuế quan nhằm tăng hàng hóa tiêu dùng giảm mất cân đối tiền-hàng Ổn định giá vàng và ngoại tệ tại tâm lý ổn định giá cả
- Giải pháp ổn định tiền tệ chiến lược
+ Xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa của nền kinh
tế quốc dân.
+ Điều chỉnh cơ cấu kinh tế phát triển ngành hàng hóa mũi nhọn cho xuất khẩu
+ nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý nhà nước
*) Liên hệ thực tế:
Trong các năm 2013- 2014 VN được đánh giá giữ vững được nền kinh tế ổn định Cụ thể theo TCTK, năm 2013 có mức tăng CPI thấp nhất trong 10 năm trở lại đây ở mức năm 2012: 6,81%; năm 2013: 6,04%) cơ quan thống kê tính toán mặt bằng giá của năm 2014 đã cao hơn so với 2013 khoảng 4,09% Mức lạm phát này thấp hơn nhiều so với mục tiêu 7%
mà Quốc hội giao Nhà nước đã kiểm soát được LP làm giá NVL giảm=> giá đầu vào SX giảm => giá cả ổn định không leo thang làm đời sống dân cư ổn định.
6
Trang 8CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐÊ CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH VÀ HỆ
THỐNG TÀI CHÍNH Câu 4: Bản chất của tài chính phân biệt tài chính và tiền tệ
- Khái niệm tài chính: là hệ thống các quan hệ KT dưới hình thái giá trị,phát sinh trong quá trình phân phối của cải xã hội thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền
tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm đáp ứng cho các lợi ích khác nhau của các chủ thể trong
xã hội.
- Nội dung và đặc trưng của các quan hệ TC
Các quan hệ tài chính bao gồm:
+ quan hệ TC giữa NN với các tổ chức cá nhân trong XH Đó là mối quan hệ chiều khi người dân nộp thuế, nhà nước dùng nó để trợ cấp, xây dựng cơ sở cấp vốn
+ quan hệ TC giữa các tổ chức cá nhân với nhau trong xã hội Đây là nhóm quan hệ tài chính đa dạng và phức tạp nhất nó bao gồm
Quan hệ giữa các DN, tổ chức KT với nhau và với các tầng lớp XH khác, dân cư Đây
là quan hệ trong thanh toán tiền mua hang hoá dvu thanh toán tiền lương tiền công…
Quan hệ giữa các DN tổ chức KT với các trung gian tài chính NHTM, TCTD, bảo hiểm… và với cá nhân đây là quan hệ trong việc huy động và đầu tư vốn trên thị trường Quan hệ giữa các tổ chức trung gian tài chính với nhau và với các tầng lớp dân cư Các mối quan hệ này phát sinh trong quá trình nhận tiền gửi, cho vay, liên doanh liên kết … Quan hệ giữa các hộ gia đình cá nhân với nhau như vay mượn thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ
+ quan hệ tài chính trong nội bộ một chủ thể một DN, NHTM… là các quan hệ phân phối điều hoà vốn giữa các bộ phận
Ngoài ra cùng với quá trình toàn cầu hoá KT còn có quan hệ giữa các chủ thể của quốc gia này với chủ thể của quốc gia khác
Qua xem xét các mối quan hệ TC trên có thể xác định được Bản chất của Tài chính cụ thể:
(1) tài chính là những quan hệ kinh tế nhưng không phải mọi quan hệ kinh tế trong xã hội đều thuộc phạm trù tài chính Tài chính chỉ bao gồm những quan hệ phân phối dưới hình thái giá trị
(2) tài chính là những quan hệ phân phối phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ đây là một đặc trưng quan trọng của tài chính Việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ mang những đặc điểm sau
- Các quỹ tiền tệ bao giờ cũng thể hiện quan hệ sở hữu sự vận động của các quỹ tiền
tệ có thể diễn ra trong phạm vi một hình thức sở hữu hoặc giữa các hình thức khác nhau nhưng khi kết thúc 1 giai đoạn vận động của quỹ thì mỗi chủ thể của hình thức sở hữu này
8
Trang 9hay hình thức sở hữu khác sẽ nhận cho mình một phần nguồn lực tài chính như là kết quả của quá trình phân phối của cái XH dưới hình thái giá trị
- Các quỹ tiền tê bao giờ cũng thể hiện tính mục đích của nguồn tài chính Trong nền
KT thị trường phần lớn các quỹ tiền tệ đều có mục đích sử dụng cuối cùng là tích luỹ hoặc tiêu dung Vd quỹ NSNN là quỹ đặc biệt của NN được dung để thực hiện các chức năng của
NN, vốn của DN để phục vụ cho HĐKD,… bên cạnh đó cũng tồn tại các quỹ trung gian hình thành và sử dụng có thời hạn để phục vụ cho việc hình thành và sử dụng của các quỹ tiền tệ có mục đích sử dụng cuối cùng khác Vd như quỹ tiền tệ của NHTM,
- Các quỹ tiền tệ luôn luôn vận động, tức là chúng thường xuyên được tạo lập và thường xuyên được sử dụng ngoài sự vận động dịch chuyển còn có 1 sự vận động khác nhằm một mục đích cụ thể nào đó mà các quỹ lớn được chia nhỏ thành các quỹ nhỏ hơn hoặc quỹ nhỏ có thể được khuyêch trương nhờ sự tập trung của các quỹ nhỏ tương ứng (3) tài chính là quan hệ kinh tế chịu sự tác động trực tiếp của nhà nước và PL nhưng tài chính không phải là hệ thống các luật lệ về tài chính Luật tài chính là công cụ của NN để điều tiết các qh tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu của NN.
Phân biệt tài chính và tiền tệ
Tài chính và tiền tệ là 2 phạm trù kinh tế độc lập và không đồng nhất với nhau nhưng
nó có mối quan hệ mật thiết với nhau
Tiền tệ về bản chất là vật ngang giá chung trong trao đổi hàng hoá với chức năng thươc đo giá trị, phương tiện lưu thông phương tiện thanh toán và phương tiện tích luỹ giá trị Tài chính không phải là tiền tệ với bản chất và chức năng như vậy, tài chính là phạm trù phân phối dưới hình thái giá trị (thông qua tiền tệ) nhưng tài chính không phải tiền hay quỹ tiền tệ Tiền tệ chỉ là phương tiện để biểu hiện các quan hệ tài chính trong quá trình phân phối của cải xã hội mà đặc trưng riêng có của nó là tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ khác nhau cho các mục đích khác nhau bao gồm 2 chức năng là chức năng phân phối và chức năng giám đốc.
Câu 5: Chức năng phân phối của tài chính
-Khái niệm: Chức năng phân phối của tài chính là chức năng mà nhờ đó các nguồn lực đại diện cho những bộ phận của cải của XH được đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau để sử dụng cho những mục đích khác nhau, đảm bảo những nhu cầu khác nhau và lợi ích khác nhau của xã hội
- Đối tượng của PP là nguồn của cải XH dưới hình thái giá trị, là nguồn tài chính đang vận động một cách độc lập với tư cách là phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy giá trị trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ Xét về mặt nội dung đối tượng của phân phối bao gồm
+ Bộ phận của cải XH mới được sáng tạo ra trong năm (GDP)
Trang 10+ Bộ phận của cải XH tích lũy trong quá khứ
+ Bộ phận của cả được chuyển từ nước ngoài vào và bộ phận của cái chuyển từ trong nước ra nước ngoài
+ Bộ phận tài sản tài nguyên quốc gia có thể cho thuê nhượng bán có thời hạn
- Chủ thể phân phối là: NN, DN, các tổ chức xã hội, hộ gia đình hay cá nhân dân cư chủ thể này có thể xuất hiện với tư cách là: người có quyền sở hữu nguồn tài chính, người
có quyền lực CT, ngoài ra còn có các nhóm thành viên xã hội
- Đặc điểm của phân phối tài chính
+ phân phối TC là sự phân phối chỉ diễn ra dưới hình thái giá trị không kèm theo sự thay đổi hình thái giá trị Nói cách khác PPTC là phân phối dưới hình thái giá trị nhưng không chứa đựng sự vận động ngược chiều của 2 hình thái giá trị như trong mua bán hàng hóa
+ PP của TC là sự PP luôn gắn liền với sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định Thông qua chức năng pp tài chính các quỹ tiền tệ được hình thành và sử dụng nhưng chính trong quá trình đó bản chất của TC không thay đổi Các quỹ tiền tệ được hình thành (được khuếch trương) và sử dụng (chia nhỏ) vì những mục đích nhất định.
+ Các quan hệ PPTC không phải bao giờ cũng nhất thiết kèm theo sự di chuyển giá trị
từ chủ thể phân phối này sang chủ thể phân phối khác VD khi DN nộp thuế cho NN có sự luân chuyển giá trị từ DN sang NN Nhưng khi DN đó phân phối lợi nhuận sau thuế để hình thành các quỹ của DN (quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng ) thì không dẫn đến sự dịch chuyển giá trị sang một chủ thể khác, đây chỉ là sự phân phối từ một quỹ lớn thành các quỹ nhỏ hơn để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của DN
+ Quá trình PP diễn ra một cách thường xuyên liên tục bao gồm cả phân phối lần đầu
và phân phối lại, trong đó phân phối lại là đặc trưng của pp tài chính:
Phân phối lần đầu là sự phân phối được tiến hành trong lĩnh vực SX, cho những chủ thể tham gia vào quá trình sáng tạo ra của cải vật chất hay thực hiện các dịch vụ trong các đơn vị SX và DV Phân phối lần đầu được thực hiện trước hết tại các khâu cơ sở của hệ thống TC (TCDN, TC hộ gia đình) Kết thúc quá trình phân phối lần đầu giá trị sphẩm XH trong lĩnh vực SX được chia thành các bộ phận và được đưa vào quỹ tiền tệ cơ bản như
~ Một phần để bù đắp chi phí vật chất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất Phần này hình thành nên quỹ khấu hay TSCĐ và quỹ bù đắp vốn lưu động đã ứng ra của các đvi
~ Một phần hình thành quỹ lương của đvi để trả lương chon g LĐ Kết quả của quỹ lương tạo nên quỹ tiền tệ hộ GĐ
~ Một phần góp vào để hình thành quỹ dự phòng, bảo hiểm
~ Một phần là thu nhập của chủ sở hữu về vốn hay các nguồn tài nguyên, góp phần phục vụ cho việc tiến hành sản xuất hay dịch vụ của đơn vị phần này lại bao gồm: phần dành cho cổ đông nắm giữ cổ phần, phần giành cho các trái chủ, cho ngân hàng đã cho DN vay vốn
10
Trang 11Qua PP lần đầu, giá trị sp xã hội mới chỉ được chia thành các phần thu nhập cơ bản Nếu chỉ dừng lại ở đó việc phân phối chưa thể đáp ứng được nhu cầu nhiều mặt của toàn xã hội.
Phân phối lại là quá trình tiếp tục pp những phần thu nhập cơ bản, những quỹ tiền tệ đã được hình thành trong quá trình pp lần đầu ra phạm vi toàn XH hoặc theo những mục đích
cụ thể hơn của các quỹ tiền tệ
Phân phối lại là đặc trưng quan trọng nhất của phân phối tài chính nó sẽ diễn ra ở tất
cả các khâu của hệ thống tài chính, với mọi chủ thể trong XH Nếu như phân phối lần đầu chỉ diễn ra một lần duy nhất thì phân phối lại không giới hạn số lần pp các quỹ tiền tệ sau khi được hình thành lại được sử dụng, tạo nên sự luân chuyển không ngừng của các nguồn lực TC trong XH từ chủ thể này sang chủ thể khác Phân phối lại thể hiện qua điểm sau:
~ phân phối lại đảm bảo cho lĩnh vực không sản xuất có nguồn tài chính (vốn tiền tệ)
để tồn tại, duy trì hoạt động và phát triển
~ pp lại tác động tích cực đến chuyên môn hóa thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý thúc đẩy lực lượng sản xuất XH phát triển
~ pp lại thực hiện điều tiết thu nhập giữa các thành phần KT và các tầng lớp dân cư đảm bảo công bằng XH
Trên thực tế thì quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại diễn ra đồng thời và có sự đan xen lẫn nhau phù hợp với sự vận động của KT-XH
*) Liên hệ thực tế vận dụng chức năng phân phối trong hoạt động của các TC
- Tài chính doanh nghiệp: CN phân phối được sử dụng trong suốt quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh của DN Cụ thể, nhờ cn pp DN mới huy động tập trung vốn để đáp ứng nhu cầu vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh Khi đã huy động vốn, doanh nghiệp phải thực hiện phân phối nguồn vốn huy động được cho từng hoạt động: mua NVL, máy móc thiết bị, Khi doanh nghiệp thu được doanh thu và có lợi nhuận thì chức năng pp được sử dụng để phân chia kết quả KD nhằm thực hiện tái sản xuất kinh doanh để đáp ứng nhu cầu của DN.
- NSNN: hoạt động của NSNN bao gồm thu NS và chi NS Chức năng pp tài chính nằm trong cả 2 khâu cùa HĐ NSNN
+ Với quá trình thu NSNN chức năng pp TC thể hiện qua việc NN dùng quyền lực CT của mình phân chia của cải XH tập trung vào quỹ TT đặc biệt của NN là quỹ NSNN Hoạt động này thể hiện qua việc NN thu thuế (lấy đi một phần thu nhập của doanh nghiệp và người dân) để đổ vào quỹ NS
+ Với quá trình chi NSNN: NN lại phân phối quỹ tiền tệ tập trung được để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của NN như : chi đầu tư phát triển, giáo dục, an ninh QP
-Tín dụng: thực chất của TD là quan hệ vay mượn giữa một chủ thể này với một chủ thể khác Trong nền kinh tế các tổ chức tín dụng tiến hành tập trung các nguồn lực tài chính
Trang 12nhàn dỗi, nhỏ lẻ phân tán trong XH và dùng các quỹ đó cho các tổ chức, cá nhân khác có nhu cầu vay vốn giải quyết được mối quan hệ lợi ích của người có nguồn vốn và người có nhu cầu sử dụng vốn đây là một biểu hiện của chức năng pp tài chính.
- Bảo hiểm: là việc xây dựng 1 quỹ dự trữ dự phòng dựa trên sự đóng góp của nhiều người và dùng quỹ này để bù đắt tổn thất khi có những rủi ro biến cố xảy ra Vì vậy, khi tạo lập quỹ bảo hiểm đồng nghĩa với việc phân phối 1 phần của cải của người tham gia trong hiện tại để thành lập nên 1 quỹ dự phòng chung là phân phối TC Khi có rủi ro xảy ra thì sử dụng quỹ này để bù đắp các tổn thất Đây là một biểu hiện rõ ràng của chức năng phân phối tài chính.
Câu 6: Chức năng giám đốc tài chính (GĐTC)
- Khái niệm: là chức năng mà nhờ đó việc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiến đối với quá trình phân phối của tài chính nhằm đảm bảo cho các quỹ tiền tệ (nguồn tài chính) luôn được tạo lập và sử dụng đúng mục đích đã định
- Đối tượng của GDDTC là quá trình vận động của các nguồn tài chính, quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ Đây cũng là đối tượng của chức năng phân phối
- Chủ thể của GĐTC cũng chính là các chủ thể của phân phối TC bao gồm: Nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức XH, hộ gia đình hay cá nhân dân cư Bởi vì để cho quá trình phân phối của tài chính đạt đến tối đa tính mục đích, tính hợp lý, tình hiệu quả thì bản thân các chủ thể phân phối phải tiền hành kiểm tra xem xét quá trình phân phối đó Sự kiểm tra
có thể có dạng: xem xét tính cần thiết, quy mô, tính mục đích và hiệu quả của việc tạo lập và
sử dụng các quỹ tiền tệ
- Kết quả của giám đốc tài chính là phát hiện những mặt được và chưa được của quá trình phân phối, từ đó giúp tìm ra các biện pháp hiệu chỉnh quá trình vận động của các nguồn tài chính, quá trình phân phối của cải XH theo mục tiêu đã định nhằm đạt được hiệu quả cao của việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ Như vậy, GĐTC không chỉ đơn thuần là kiểm tra giám sát quá trình phân phối của tài chính mà còn bao gồm khả năng tư vấn cho các chủ sở hữu nguồn tài chính, quỹ tiền tệ biết cách sử dụng nguồn tài chính sao cho hiệu quả nhất ngăn ngừa và phòng tránh rủi ro
- Đặc điểm của chức năng GĐTC:
Thứ nhất: GĐTC là giám đốc bằng tiền, thông qua sự vận động của tiền vốn khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện cất giữ giá trị GĐTC không đồng nhất với mọi loại kiểm tra, giám sát bằng đồng tiền nói chung trong XH.
Thứ hai: GĐTC được thực hiện thông qua việc phân tích đánh giá các chỉ tiêu về tài chính như: cơ cấu tài chính, hệ số nợ, hệ số an toàn vốn, khả năng tự tài trợ, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời qua đó giúp cho các chủ thể rút ra được các kết luận và kịp thời hiệu chỉnh đối với quá trình phân phối Nói cách khác GĐTC đưa tới khả năng tự kiểm tra giám sát của mỗi chủ thể trong xã hội nhằm giúp họ đạt được mục tiêu đề ra
12
Trang 13Thứ ba: GĐTC được tiến hành một cách thường xuyên liên tục và vì vật nó mang tính hiệu quả kịp thời Do quá trình phân phối TC, quá trình vận động của các nguồn tài chính diễn ra một cách thường xuyên liên tục nên GĐTC cũng diễn ra thường xuyên liên tục Chính nhờ vào đặc điểm kể trên mà GĐTC mang lại hiệu quả và tính kịp thời
- Tác dụng của GĐTC: Trong thực tiễn công tác giám đốc- kiểm tra TC được tiến hành rộng rãi trong tất cả các hoạt động và lĩnh vực khác nhau của TC, thông qua tất cả các khâu của hệ thống TC, GĐTC phát huy tác dụng to lớn đối với đời sống kinh tế xã hội
+ GĐTC đảm bảo quá trình phân phối tài chính diễn ra đúng đắn phù hợp với yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan, đáp ứng nhu cầu của mọi chủ thể trong XH
+ GĐTC góp phần thúc đẩy việc sử dụng các yếu tố nguồn lực (vật tư, lao động, tiền vốn) trong XH một các tiết kiệm và hiệu quả.
+ GĐTC góp phần thiết lập và thực thi kỉ luật tài chính trong phạm vi mỗi chủ thể và góp phần thúc đẩy việc nâng cao ý thức chấp hành các luật lệ TC của NN.
*) Liên hệ thực tế:
- chức năng GĐTC phát huy trong tất cả các hoạt động của DN từ khâu đầu vào đến khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh Mục tiêu của DN là tối đa hóa lợi nhuận , muốn đạt được mục tiêu đó GĐTC là công cụ để kiểm tra giám sát mọi hoạt động của DN giúp DN đạt được mọi mục tiêu đã đề ra.
+ Trong khâu huy động vốn:
+ Trong quá trình sử dụng vốn: thông qua việc kiểm tra giám sát giúp nhà quản lý có thể biết:việc phân bổ vốn bao nhiêu, vốn sử dụng có đúng mục đích không, quá trình sử dụng vốn có tích cực không Từ đó thì nhà quản lý có thể có những biện pháp thích ứng + trong khâu phân phối kết quả hoạt động SXKD: kiểm tra việc phân phối có đảm bảo nguyên tắc,
- Trong hoạt động ngân sách nhà nước: chức năng GĐTC được vận dụng trong suốt quá trình thực hiện của hoạt động thu và chi NSNN Cụ thể:
+ Trong quá trình thu NS: GĐTC kiểm tra quá trình thu thuế, phí, lệ phí và đánh giá hiệu quả của việc thực hiện chính sách thu NSNN Thông qua đó phát hiện việc trốn thuế, không chấp hành chính sách về NS, những hành vi trái phép của cán bộ thuế
+ Trong hoạt động chi NS: GĐTC có nhiệm vụ kiểm tra việc phân bổ NS có đúng chức năng, có hợp lý không, việc thực hiện phân bổ NSNN có nhiều đối tượng, chủ thể có liên quan do đó phải vận dụng triệt để chức năng GĐTC trong hoạt động chi NS Thông qua việc kiểm tra các chỉ tiêu tài chính của các đơn vị mà NS cấp phát để đánh giá vác đơn vị đó
có thực hiện đúng đối tượng, đúng mục tiêu.
- Trong hoạt động tín dụng: chức năng GĐ TC phát huy tác dụng để giám sát quan hệ huy động tập trung các nguồn vốn nhà rỗi, nhỏ lẻ, phân tán để tập trung lại khai thác vốn phát triển kinh tế Kiểm tra giám sát các hoạt động của quá trình vận động của lượng vốn đã cho vay, đảm bảo an toàn vốn cho các tổ chức tín dụng
- Trong hoạt động bảo hiểm: CN GĐTC được thể hiện trong quá trình huy động tập trung sự đóng góp của nhiều người đối với việc xây dựng quỹ bảo hiểm và kiểm tra giám sát
Trang 14suốt quá trình cung cấp dịch vụ bảo hiểm, nhằm đảm bảo cho việc bồi thường bù đắp hoạt động bảo hiểm kịp thời đúng đối tượng đảm bảo quyền lợi của người tham gia bảo hiểm cũng như của tổ chức bảo hiểm.
Câu 7: Khái niệm, cấu trúc của hệ thống tài chính, mối liên hệ giữa các khâu của
hệ thống tài chính Đánh giá thực trạng cấu trúc của hệ thống tài chính ở Việt Nam hiện nay.
I./ Khái niệm hệ thống tài chính:
Hệ thống tài chính là tổng thể các quan hệ tài chính trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của nền kinh tế - xã hội, nhưng giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính, các quỹ tiền tệ ở các chủ thể kinh tế - xã hội hoạt động trong các lĩnh vực đó.
II./ Cấu trúc của hệ thống tài chính:
• Căn cứ vào hình thức sở hữu các nguồn lực tài chính
• Căn cứ vào mục tiêu của việc sử dụng các nguồn lực tài chính trong việc cung cấp hàng hóa dịch vụ cho xã hội
h cơ quan
tư pháp
Tài chính các đơn vị
sự nghiệ
p nhà nước
Tài chính doanh nghiệp nhà nước
Tài chính các tổ chức kinh doanh
và doanh nghiệ
p phi nhà nước
Tài chính dân
cư (hộ gia đình)
Tài chính các tổ chức phi Chính phủ
Tài chín h các cơ quan hành chín h Nhà
Tài chính các đơn vị sự nghiệ
p nhà nước
Tài chính các tổ chức phi lợi nhuận
Tài chính các loại hình doanh nghiệ
p tư nhân
Tài chính dân cư (hộ gia đình)
Tài chính các loại hình doanh nghiệp Nhà nước
Ngân
sách
nhà
nước
Trang 15• Căn cứ vào đặc điểm hoạt động của từng lĩnh vực tài chính
Chú thích: Quan hệ trực tiếp - Quan hệ gián tiếp
• Nội dung hoạt động cơ bản của các khâu trong hệ thống tài chính
- Ngân sách nhà nước: Là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia Đây là một
tụ điểm của các nguồn tài chính gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước với mục đích phục vụ cho hoạt động của bộ máy Nhà nước các cấp và thực hiện các chức năng của Nhà nước trong quản lý kinh tế - xã hội.
- Tài chính doanh nghiệp: là khâu cơ sở trong hệ thống tài chính quốc gia Đây là một
tụ điểm của các nguồn tài chính gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa hay dịch vụ.
- Bảo hiểm: là một khâu trong hệ thống tài chính, bảo hiểm có nhiều hình thức và quỹ tiền tệ khác nhau, nhưng tính chất chung và đặc biệt của các quỹ bảo hiểm là được tạo lập
và sử dụng để bồi thường tổn thất nhiều dạng cho những chủ thể tham gia bảo hiểm tùy theo mục đích của quỹ.
- Tín dụng: là một khâu tài chính đặc biệt gắn liền với việc tạo lập và sử dụng quỹ tiền
tệ thông qua việc thu hút các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để cho vay, đáp ứng các nhu cầu
về vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế - xã hội theo nguyên tắc hoàn trả có thời hạn và có lợi tức Tín dụng là một khâu trung gian quan trọng trong hệ thống tài chính.
- Tài chính các tổ chức xã hội và chính hộ gia đình, cá nhân
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TÀI CHÍNH
Trang 16III./ Mối liên hệ:
- Nêu mối liên hệ giữa các khâu theo sơ đồ trang 26.
- Tài chính hộ gia đình và tài chính doanh nghiệp là khâu cơ sở, nơi tạo ra của cải xã hội Từ hoạt động của 2 khâu này nó sẽ tạo nên thu nhập của các khâu còn lại trong hệ thống tài chính Khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có lợi nhuận -> sẽ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Như vậy từ hoạt động của TCDN tạo nên nguồn thu của NSNN Các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh luôn ý thức được có các biện pháp phòng ngừa rủi
ro chính vì vậy hoạt động của TCDN và hộ gia đình tạo nên thu nhập của khâu bảo hiểm Trong hành vi phân phối thu nhập của hộ gia đình, khoản tiết kiệm của hộ gia đình, cá nhân chính là nguồn thu của khâu tín dụng Như vậy ở đây, các hoạt động TCDN, hộ gia đình tạo
ra nguồn thu cho ngân sách, cho bảo hiểm, cho tín dụng.
- Ngược lại tín dụng là nơi cung cấp phần lớn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp bảo hiểm cũng cung cấp vốn cho doanh nghiệptrong sản xuất kinh doanh Tín dụng và bảo hiểm đều phải nộp thuế cho ngân sách nhà nước.
- Các khâu trong hệ thống tài chính có tác động, quan hệ qua lại với nhau một cách mật thiết.
IV./ Đánh giá thực trạng:
- Hệ thống tài chính ở Việt nam có đầy đủ các khâu như đã nêu ở trên và hiện nay hoạt động của khâu này đều đã tuân theo cơ chế thị trường và thị trường tài chính VN hiện nay là được đánh giá là thị trường mới nổi, năng động nhiều tiềm năng -> thu hút được sự tham gia không những chủ thể trong nước mà còn thu hút được sự tham gia của chủ thể nước ngoài trong quá trình phát triển theo hướng mở cửa hội nhập quốc tế.
- Các hoạt động của ngân sách nhà nước VN trong những năm gần đây được đánh giá điều hành ngân sách tương đối hiệu quả VN đang nằm trong tình trạng thâm hụt ngân sách Hoạt động các tổ chức tín dụng, bảo hiểm, doanh nghiệp cũng rất năng động sản xuất hàng hóa không chỉ sản xuất ra để tiêu dùng mà còn sản xuất ra để bán Hiện nay lượng vàng, tiền
dự trữ, vốn động trong dân rất lớn nhưng tận dụng chưa hiệu quả cho thấy sức hút của các tổ chức tín dụng, bảo hiểm chưa tốt Các sản phẩm của các tổ chức tín dụng chưa thực sự tạo
ra sức hút.
16
Trang 17CHƯƠNG 3 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Câu 1: Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Ngân sách nhà nước:
A, Khái niệm:
Ngân sách nhà nước là hệ thống các mối quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị,phát sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước,khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm đảm bảo choviệc thực hiện các chức năng của Nhà nước
B, Đặc điểm:
- Việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh tế chính
trị của Nhà nước, liên quan đến việc thực hiện các chức năng của Nhà nước và đượcnhà nước tiến hành trên những cơ sở pháp lý nhất định
- Các hoạt động thu chi của NSNN gắn chặt với sở hữu Nhà nước, chứa đựng
nội dung kinh tế - xã hội nhất định, chưa đựng các mối quan hệ lợi ích nhất định vàđược biểu hiện khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia
- Quỹ tiền tệ thuộc NSNN với tư cách là một quỹ tập trung của Nhà nước mang
những đặc trưng riêng biệt với các quỹ tiền tệ khác, đó là nó được chia thành nhiềuquỹ nhỏ có tác dụng riêng rồi mới được chi dùng cho những mục đích đã xác địnhtrước
- Hoạt động thu chi của NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả là
chủ yếu
C, Vai trò:
•NSNN là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu vàthực hiên cân đối thu chi tài chính của Nhà nước:
Thông thường Nhà nước không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất của cải
xã hội, do đó, để có nguồn tài chính đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của mình, Nhà nước
sử dụng NSNN làm công cụ để tạo ra nguồn thu cần thiết Đây là vai trò truyền thốngcủa Ngân sách Nhà nước trong mọi thời đại, mọi chế độ xã hội, quyết định đến sứcmạnh của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử “Sức mạnh chuyên chính củ Nhànước được quyết định bởi Ngân sách và ngược lại” – C.Mác
•NSNN là công cụ điều tiết vĩ mô của nền kinh tế - xã hội:
Vai trò này được thể hiện trên các khía cạnh sau:
- Thứ nhất: là công cụ định hướng phát triển kinh tế, hình thành cơ cấu kinh tế mới và kích thích tăng trưởng kinh tế Cụ thể:
Trang 18+ Nhà nước sử dụng vốn NSNN để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của nền kinh
tế như xây dựng, cải tạo cơ sở hạ tầng giao thông , hệ thống truyền tải điện, nước, hệthống cơ sở hạ tầng liên lạc viễn thông,…(là những lĩnh vực có ý nghĩa quyết địnhđến sự phát triển kinh tế - xã hội ) nhằm mục đích tạo điều kiện cần thiết và kíchthích kinh tế - xã hội phát triển
+ Nhà nước ưu tiên đầu tư vốn NSNN, thực hiện những ưu đãi đầu tư dưới cáchình thức khác nhau (như ưu đãi tín dụng, ưu đãi thuế suất…) vào những ngành kinh
tế, những vùng miền cần thiết như những ngành kinh tế mới (công nghệ sinh học,công nghệ xử lý môi trường,…) những vùng miền còn khó khăn, vùng xâu vùng xamiền núi hải đảo… nhằm khuyến khích phát triển những ngành nghề hay vùng miềnnày, góp phần hình thành nên cơ cấu kinh tế mới theo hướng đã định
+ Nhà nước ban hành chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất cao, kết hợpvới chính sách hạn chế đầu tư vốn NSNN vào các lĩnh vực sản xuất, cung ứng hànghóa và dịch vụ xa xỉ, hàng hóa không có lợi cho toàn xã hội
+ Khi nền kinh tế trì trệ hay suy thoái, nhà nước thường tăng chi tiêu NSNN chođầu tư phát triển, điều chỉnh giảm thuế để kích cầu, thực hiện các ưu đãi đầu tư nhằm
hỗ trợ và kích thích nền kinh tế phục hồi và phát triển
- Thứ hai: NSNN là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát.
Trong nền kinh tế thị trường, những biến động về giá cả, cung cầu trên thịtrường có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến người sản xuất và người tiêudùng, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của các ngành, các lĩnh vực củanền kinh tế Về nguyên lý, mọi sự biến động về giá cả đều có nguyên nhân từ sự mấtcân đối cung cầu Bằng việc sử dụng các công cụ thuế và chi tiêu NSNN, Nhà nước
có thể tác động vào tổng cung hoặc tổng cầu để điều tiết thị trường và bình ổn giá cả
Cụ thể:
+ Đối với thị trường hàng hóa thông thường:
Nhà nước sử dụng quỹ NSNN để hình thành và sử dụng các quỹ dự trữ cần thiếtbằng tiền tệ, vật tư, hàng hóa thiết yếu… Khi giá cả mặt hàng nào đó tăng cao quámức, Nhà nước sẽ đưa hàng hóa dự trữ đó ra thị trường để tăng cung; ngược lại khigiá cả của mặt hàng nào đó giảm xuống quá mức, có khả năng gây thiệt hại lớn chongười sản xuất, Nhà nước sẽ bỏ tiền ra mua các hàng hóa đó theo mức giá nhất địnhđảm bảo lợi ích cho người sản xuất, từ đó có tác dụng bình ổn thị trường và bảo vệnền sản xuất
18
Trang 19+ Đối với các thị trường khác như thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trườngsức lao động,…
Nhà nước thường thực hiện một cách kết hợp và đồng bộ các công cụ tài chính,tiền tệ, giá cả, lãi suất,… để điều tiết, trong đó việc sử dụng công cụ cụ thể củaNSNN như trái phiếu, công trái, … được Nhà nước chú trọng nhằm tạo sự phát triểnbền vững và ổn định của các loại thị trường này
Về vấn đề kiềm chế và kiểm soát lạm phát, Nhà nước sử dụng các công cụ khácnhau trong đó việc điều chỉnh chính sách thuế và chi tiêu NSNN được xem làm mộttrong những biện pháp cốt yếu Khi sử dụng biện pháp này Nhà nước thường thựchiện theo hướng tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế đối với các hoạt động đầu tư và thắtchặt chi tiêu của Chính phủ nhằm kích cung, giảm cầu (hàng hóa) và giảm lượngcung tiền, từ đó sẽ có tác dụng kiềm chế lạm phát
- Thứ ba: NSNN là công cụ điều tiết thu nhập và góp phần giải quyết các vấn đề
Nhà nước còn sử dụng các chính sách chi Ngân sách để thực hiên các chươngtrình dân số, kế hoạch hóa gia đình, đảm bảo công ăn việc làm, trợ cấp thất nghiệp,trợ cấp cho các bộ phận dân cư gặp khó khăn do ảnh hưởng của thiên tai, tai nạn, trợcấp cho các đối tượng thuộc diện chính sách,… nhằm đảm bảo đời sống, an toàn vàphúc lợi xã hội, giải quyết những vấn đề về xã hội
•NSNN là công cụ kiểm tra giám sát các hoạt động kinh tế xã hội:
Là một phạm trù tài chính, NSNN cũng có chức năng giám đốc tài chính
Nhà nước sử dụng NSNN làm công cụ để kiểm tra, giám sát quá trình hìnhthành, phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo những mục đích đã định Nội dungkiểm tra giám sát gồm: việc chấp hành các quy định về nghĩa vụ của các chủ thể liênquan trong việc nộp thuế, phí lệ phí; việc sử dụng các nguồn tài chính, tài sản Nhànước theo mục tiêu đã đặt ra; việc chấp hành các quy định pháp lý về NSNN,… Việc
Trang 20kiểm tra giám sát của NSNN luôn dựa trên quyền lực Nhà nước và mang tính đơnphương theo phân cấp của hệ thống bộ máy hành chính Nhà nước.
D, Liên hệ thực tế: đánh giá việc phát huy các vai trò của NSNN ở VN hiện nay:
+ Trong vai trò là công cụ huy động nguồn tài chính đảm bảo cho nhu cầu chitiêu và thực hiện cân đối thu chi tài chính của Nhà nước: NSNN ở Việt Nam đã đảmnhiệm được phần lớn các chi tiêu của Nhà nước, tuy nhiên quỹ NS vẫn còn hạn hẹp
và vẫn còn thâm hụt trong những năm gần đây
+ Trong vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô của nền kinh tế - xã hội
Trong những năm vừa qua, thông qua các chính sách về NSNN, Nhà nước đãthực hiện tốt mục tiêu bình ổn giá cả thị trường, kìm hãm lạm phát, giữ được tỷ lệlạm phát ở mức thấp, cụ thể chỉ số giá tiêu dùng năm 2017 tăng 6,2- 6,3% so với năm
2016, và năm 2018 giảm xuống còn sấp xỉ 2% so với năm 2017
Đối với việc điều tiết thu nhập, bảo đảm công bằng xã hội, Nhà nước đã sử dụngcông cụ NSNN khá tốt, chi cho xóa đói giảm nghèo không ngừng tăng, việc áp dụngthuế thu nhập cá nhân được tiến hành trên diện rộng, NSNN tăng qua các năm,…+ Trong vai trò là công cụ kiểm tra giám sát các hoạt động kinh tế của xã hội:nhìn chung NSNN phát huy khá tốt vai trò giám sát kiểm tra của mình, là công cụ đắclực của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng và nhiệm cụ vủa Nhà nước
Câu 2: Khái niệm, đặc điểm, nội dung kinh tế của thu Ngân sách Nhà nước Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN Đánh giá thực trạng thu NSNN Việt Nam hiện nay và đề xuất giải pháp tăng thu.
A, Khái niệm
Thu Ngân sách Nhà nước là việc Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để huyđộng, tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia để hình thành quỹ tiền tệ cần thiếtnhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
B, Đặc trưng:
- Thu NSNN là một hình thức phân phối nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà
nước với các chủ thể trong xã hội, dựa trên quyền lực của Nhà nước, nhằm giải quyếthài hòa các mối quan hệ về lợi ích kinh tế
- Thu NSNN gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm trù
giá trị khác nhau như giá cả, thu nhập, lãi suất,… trong đó, chỉ tiêu quan trọng biểuhiện thực trạng của nền kinh tế có ảnh hưởng đến quy mô và mức độ động viên củacủa thu Ngân sách nhà nước là tổng sản phẩm quốc nội sự vận động của các phạm
20
Trang 21trù giá trị này có ảnh hưởng đến sự tăng giảm mức thu, đồng thời đặt ra yêu cầu nângcao tác dụng điều tiết các công cụ thu NSNN.
C, Nội dung kinh tế của các khoản thu:
•Thuế:
KN: Thuế là một hình thức đóng góp của các tổ chức và cá nhân cho Nhà nướcmang tính nghĩa vụ theo luật định, nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.Thuế có những đặc trưng cơ bản sau:
- Thuế là một hình thức động viên mang tính bắt buộc và không hoàn trả trực
tiếp Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị của mình để thiết lập tính bắt buộc củathuế và thể chế hóa bằng các quy định pháp lý, cho nên mọi tổ chức và cá nhân liênquan phải tuân thủ, nếu không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước tức là viphạm pháp luật và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật
- Thuế được thiết lập dựa trên nguyên tắc luật định Mọi sự thiết lập sắc thuế hay
sửa đổi bổ sung các điều khoản thuế đều phải được đưa ra bàn bạc tại cơ quan lậppháp và phải được chính cơ quan này phê chuẩn thì mới có hiệu lực và chính thức ápdụng
- Thuế làm chuyển đổi quyền sở hữu nguồn tài chính từ sở hữu tập thể và cá thể
thành sở hữu Nhà nước
- Trong nền kinh tế thị trường, thuế được Nhà nước sử dụng làm công cụ để điều
tiết vĩ mô nền kinh tế Thông qua thuế Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế tíchlũy, đầu tư, tiêu dùng, ; bên cạnh đó thuế còn là công cụ phân phối lại thu nhập làmgia tăng tiết kiệm trong khu vực tư nhân và đảm bảo công bằng xã hội
•Lệ phí:
KN: Lệ phí là một khoản thu của NSNN vừa mang tính chất bù đắp chi phí choviệc thực hiện một số thủ tục hành chính của Nhà nước, vừa mang tính chất độngviên đóng góp cho NSNN
Đặc điểm:
- Lệ phí cũng là khoản thu mang tính bắt buộc, và chỉ những người được hưởng
lợi ích từ hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước mới phải nộp lệ phí
- Lệ phí là khoản thu có tính chất đối giá, nghĩa là lệ phí thực chất là khoản tiền
mà dân chúng trả cho Nhà nước khi họ được hưởng những lợi ích hay dịch vụ do Nhànước cung cấp (đối giá ở đây không phải là ngang giá)
- Lệ phí mang tính chất hoàn trả trực tiếp Bởi lẽ, những thủ tục hành chính mà
Nhà nước thực hiện cho người dân thực chất là một hình thức phục vụ và chỉ những
tổ chức cá nhân được hưởng lợi ích từ các hoạt động này mới phải đóng góp
•Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước:
Trang 22Bao gồm:
- Thu nhập từ góp vốn của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế: cổ tức được chia từ
CtyCP, lãi được chia từ doanh nghiệp liên doanh,…
- Tiền thu hồi vốn của Nhà nước từ các cơ sở kinh tế: vd như tiền thu từ bán đấu
giá cổ phần khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, tiền thu từ bán doanh nghiệpnhà nước,
- Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước: thu hồi vốn và lãi từ các hoạt động cung
cấp tín dụng như tín dụng hỗ trợ phát triển, cho vay ưu đãi đối với các đối tượngchính sách xã hội,…
- Thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản, tài nguyên quốc gia: cho thuê đất chuyên
dùng, đất rừng, cho thuê mặt nước, vùng trời, mặt biển; bán tài nguyên khoáng sản,bán vật tư hàng hóa từ quỹ dự trữ của Nhà nước,…
•Các khoản thu từ hoạt động sự nghiệp:
Trong quá trình triển khai các hoạt động sự nghiệp, Nhà nước thành lập, đầu tư
cơ sở vật chất, cấp kinh phí cho các tổ chức sự nghiệp công lập trong các lĩnh vựcnhư giáo dục, y tế, thể thao, văn hóa,… Để bù đắp một phần chi phí cho các hoạtđộng này, các tổ chức sự nghiệp công lập tiến hành thu một số khoản phí như học phí,viện phí, thủy lợi phí,… Đây là những khoản thu vừa mang tính chất phục vụ chongười dân được hưởng lợi ích từ các hoạt động sự nghiệp công lập, vừa mang tínhchất động viên đóng góp cho NSNN
•Thu từ vay nợ:
Để bù đắp thiếu hụt NSNN và đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển, Nhànước tiến hành huy động các nguồn tiền trong xã hội dưới các hình thức khác nhautrong đó phải kể đến các khoản vay nợ trong nước và ngoài nước
Khi vay nợ trong nước, Nhà nước thường sử dụng hình thức phát hành các loạitrái phiếu Nhà nước như trái phiếu kho bạc, tín phiếu kho bạc, trái phiếu đầu tư,… đểhuy động vốn rộng rãi từ dân chúng
Khi vay nợ nước ngoài, Nhà nước thực hiện dưới hình thức ký hiệp định vay nợvới Chính phủ nước cung cấp tín dụng; hoặc ký hiệp định vay nợ với các tổ chức tàichính tiền tệ quốc tế như NH thế giới, NH phát triển Châu Á,…; hoặc phát hành tráiphiếu Chính phủ trên thị trường tài chính quốc tế
•Thu khác:
Ngoài các khoản thu kể trên, thu NSNN còn bao gồm các khoản tiền khác nhưcác khoản viện trợ không hoàn lại, các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức cá
22
Trang 23nhân trong và ngoài nước, thu từ hợp tác với nước ngoài; thu tiền phạt, tịch thu, tịchbiên tài sản,
D, Các yếu tố ảnh hưởng đến thu NSNN:
Số thu NSNN chịu ảnh hưởng từ việc xác định mức độ động viên và tỷ lệ độngviên vào NSNN Trong thực tế, mức độ động viên và tỷ lệ động viên vào NSNN ởmỗi quốc gia có sự khác nhau song đều bắt nguồn từ các yếu tố ảnh hưởng cơ bản sauđây:
- GDP bình quân đầu người:
GDP bình quân đầu người là một chỉ tiêu phản ánh trình độ tăng trưởng và pháttriển của nền kinh tế, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước;
là một yếu tố khách quan quyết định mức độ động viên của NSNN
- Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế:
Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển kinh tế nói chung và hiệuquả của các doanh nghiệp nói riêng Tỷ suất lợi nhuận bình quân càng lớn thì khảnăng nâng cao khả năng huy động cho NSNN càng lớn Đây là yếu tố quyết định đếnviệc nâng cao tỷ suất thu cho NSNN
- Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên (dầu mỏ,
khoáng sản):
Đối với các nước có nguồn tài nguyên dồi dào và phong phú thì việc khai thác
và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu to lớn cho NSNN Với cùng một điềukiện phát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản lớnthì tỷ lệ động viên vào NSNN cũng lớn hơn
- Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước:
Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố(quy mô tổ chức bộ máy Nhà nước, hiệu quả hoạt động của bộ máy, chính sách sửdụng kinh phí,…), khi các nguồn tài trợ khác cho chi phí hoạt động của nhà nướckhông có khả năng tăng lên thì việc tăng mức độ chi phí của Nhà nước sẽ đòi hỏi phảităng tỷ suất thu của NSNN
- Tổ chức bộ máy thu nộp:
Tổ chức bộ máy thu nộp có ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả hoạt động của bộmáy này Nếu tổ chức hệ thống cơ quan thuế, hải quan, kho bạc Nhà nước gọn nhẹ,đạt hiệu quả cao, chống được thất thu thuế, trốn lậu thuế thì đây sẽ là yếu tố tích cựclàm giảm tỷ suất thu NSNN mà vẫn đảm bảo thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của Nhànước
E, Liên hệ: đánh giá thực trạng thu và đề xuất giải pháp tăng thu:
Trang 24- Thực trạng thu NSNN ở Việt Nam trong những năm gần đây:
Trong ba năm trở lại đây, thu NSNN tăng dần qua các năm từ năm 2012, 2013đến năm 2014 Bởi lẽ, nền kinh tế Việt Nam đã dần hồi phục lại sau thời kỳ khó khănnăm 2011, năm 2013 được coi là đáy suy thoái của nền kinh tế và đến năm 2014 kinh
tế Việt Nam đã được phục hồi Cụ thể năm 2014 thu NSNN đạt tới trên 800 nghìn tỷđồng, hơn 8,1% so với dự toán, cao hơn 24.400 tỷ đồng so với năm trước Tốc độtăng GDP cả năm vượt mức kế hoạch, chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức thấp, lạm phátđược kiểm soát và hàng loạt các chỉ tiêu kinh tế - xã hội được cải thiện tốt… tất cảđang làm cho tình hình thu NSNN tiếp tục duy trì thành tích đạt vượt dự toán
Theo đó tỷ trọng thu từ thuế xuất khẩu tăng và thuế nhập khẩu giảm do ViệtNam đang trong lộ trình thực hiện cam kết WTO,tỷ trọng thu từ dầu thô chiếm mộtphần lớn trong thu NSNN (mặc dù trong bối cảnh giá dầu thế giới liên tục giảm, tổng
số thu dầu thô năm 2014 không những không bị giảm mà vẫn đạt 107 nghìn tỷ đồng,vượt so với dự toán)
Tuy nhiên do cơ cấu thu NSNN chưa hợp lý khi nguồn thu NSNN vẫn dựa rấtlớn vào thu từ khai thác tài nguyên và hoạt động xuất - nhập khẩu, những lĩnh vựcphụ thuộc rất nhiều vào biến động trên thị trường quốc tế, đồng thời làm cạn kiệt tàinguyên thiên nhiên lẫn tài nguyên sức lao động và nguồn lực tài chính nên thu NSNNvẫn chưa có tính bền vững; bên cạnh đó NSNN vẫn bội chi nên vẫn diễn ra tình trạngthâm hụt NSNN
- Đề xuất các biện pháp tăng thu:
Có chính sách khuyến khích phát triển nền kinh tế để nền kinh tế duy trì đượctốc độ tăng trưởng (Nhà nước đầu tư nâng cao cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông, đặcbiệt là những vùng kết nối giữa nông thôn và thành thị, miền núi vùng sâu vùng xa vàđồng bằng; cải cách thủ tục hành chính cũng như các chính sách về thuế, áp dụngthuế suất ưu đãi để khuyến khích sản xuất kinh doanh trong nước,…)
Cải cách bộ máy thu nộp theo hướng tinh giản nhằm khiến cho hiệu quả hoạtđộng của bộ máy tăng lên, tăng cường công tác quản lý rà soát kiểm tra hoạt độngthu, chống thất thu ngân sách,…
Câu 3: Khái niệm, đặc điểm, nội dung kinh tế của chi Ngân sách, các nhân
tố ảnh hưởng đến chi Ngân sách Đánh giá thực trạng chi NSNN Việt Nam và đề xuất giải pháp hạn chế thất thoát chi NSNN ở Việt Nam hiện nay.
A, Khái niệm:
Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải các chiphí cho bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng của Nhà nước về mọi mặt
24
Trang 25Chi NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và quá trình sử dụng quỹNSNN Quá trình phân phối là quá trình cấp phát tiền từ NSNN để hình thành cácloại quỹ gắn liền với các mục đích cụ thể trước khi đưa vào sử dụng Quá trình sửdụng là quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ NSNN không trải qua việchình thành các quỹ trước khi đưa vào sử dụng.
B, Đặc điểm:
- Chi NSNN gắn với bộ máy Nhà nước và các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội
mà Nhà nước phải đảm đương trong từng thời kỳ Nhà nước với bộ máy càng lớn,đảm đương nhiều nhiệm vụ thì mức độ và phạm vi chi Ngân sách càng lớn Tuy nhiênnguồn thu NSNN trong từng thời kỳ là có hạn nên Nhà nước không thể bao cấp trànlan mà phải tập trung nguồn tài chính vào những phạm vi nhất định và thực hiệnnhững nhiệm vụ cụ thể của Nhà nước trong từng thời kỳ
- Chi NSNN găn liền với quyền lực Nhà nước Theo đó Quốc hội là cơ quan
quyền lực cao nhất của Nhà nước và là chủ thể duy nhất quyết định nội dung, cơ cấu
và mức độ các khoản chi NSNN; Chính phủ là cơ quan hành pháp, có nhiệm vụ tổchức, quản lý, điều hành các khoản thu chi NSNN đã được Quốc hội phê chuẩn
- Hiệu quả chi NSNN được xem xét trên tầm vĩ mô Hiệu quả các khoản chi
NSNN phải được xem xét một cách toàn diện dựa trên cơ sở của việc hoàn thành cácmục tiêu kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng,…
- Các khoản chi NSNN mang tính chất không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu Các
ngành các cấp, các tổ chức, cá nhân nhận được vốn, kinh phí, từ Ngân sách thìkhông phải ghi nợ và không phải hoàn trả lại một cách trực tiếp cho Ngân sách Tuyvậy, Nhà nước cũng có các khoản chi mang tính chất hoàn trả như việc cho vay ưuđãi có hoàn trả gốc và lãi để giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo…
- Các khoản chi của Ngân sách Nhà nước là một bộ phận cấu thành luồng vận
động tiền tệ trong nền kinh tế nên nó thường có những tác động đến sự vận động củacác phạm trù giá trị khác như giá cả, tiền lương, lãi suất, tỷ giá hối đoái,…
C, Nội dung kinh tế của chi NSNN:
- Chi đầu tư phát triển kinh tế:
Đây là khoản chi quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi của NSNN;được thực hiện dưới hình thức NSNN cấp vốn cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, dự
án Nhà nước, chi cho các chương trình phát triển kinh tế mục tiêu, chi đầu tư vốn chocác doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong các lĩnh vực then chốt,… Khoản chi này
có tác dụng tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, tác động trực tiếp đến tăngtrưởng kinh tế, làm tăng tổng sản phẩm quốc nội và tạo tiền đề để tái tạo và tăngnguồn thu NSNN
Trang 26- Chi phát triển sự nghiệp:
Đây là khoản chi của NSNN nhằm phát triển các lĩnh vực sự nghiệp trong xãhội, thuộc lĩnh vực phi sản xuất vật chất, đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triểntoàn diện của nền kinh tế - xã hội Các khoản chi NSNN cho phát triển sự nghiệp baogồm chi cho sự nghiệp kinh tế; chi cho y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng; chi chogiáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học; chi phát triển văn hóa, thể dục thể thao; đượcthực hiện dưới hình thức NSNN cấp kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản, trang bị cở sởvật chất kỹ thuật và cấp phát kinh phí hoạt động hàng năm cho các tổ chức sự nghiệpcông lập
- Chi cho quản lý Nhà nước:
Đây là khoản chi nhằm đảm bảo duy trì và cải tiến hoạt động của bộ máy Nhànước Khoản chi này được thực hiện dưới hình thức NSNN cấp kinh phí đầu tư cơ sởvật chất (xây dựng trụ sở, văn phòng làm việc, ), trang bị phương tiện kỹ thuật (máymóc thiết bị, phương tiện vận tải, phần mềm máy tính, ) và cấp kinh phí hoạt độnghàng năm (chi lương cho cán bộ, chi hàng hóa thường xuyên của cơ quan quản lýNhà nước, ) cho các cơ quan quản lý Nhà nước ở tất cả các cấp, các ngành, các khuvực Nhìn chung, khi xã hội càng phát triển, quy mô bộ máy Nhà nước càng gọn nhẹthì tỷ trọng khoản chi này trong cơ cấu chi NSNN sẽ càng giảm
- Chi cho an ninh quốc phòng:
Là khoản chi cho xây dựng, duy trì và cải tiến sự hoạt động của các lực lượng anninh, quốc phòng nhằm đảm bảo sức mạnh chuyên chính của Nhà nước, bảo vệ tổquốc và duy trì trật tự trị an cho xã hội Khoản chi này được thực hiện dưới hình thứcNSNN cấp phát kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, trang bị phương tiện kỹ thuật, và kinhphí hoạt động hàng năm cho các đơn vị lực lượng, cảnh sát, quân đội, trật tự an toàn
xã hội
- Chi bảo đảm và phúc lợi xã hội.
Là khoản chi nhằm đảm bảo nâng cao đời sống về vật chất và tinh thần cho dân
cư, đặc biệt là tầng lớp người nghèo trong xã hội; được thực hiện dưới hình thứcNSNN chi cho BHXH, chi bảo đảm xã hội (trợ cấp NSNN cho các đối tượng chínhsách xã hội như người già yếu, tàn tật, trẻ em mồ côi, thương bệnh binh,…) và chicho cứu tế xã hội (trợ cấp NSNN cho người dân bị thiệt hại do hỏa hoạn, bão lụt,động đất,…)
- Chi khác: các khoản viện trợ quốc tế, trả nợ quốc tế,… của Chính phủ
D, Các nhân tố ảnh hưởng đến chi NSNN:
26
Trang 27Để đánh giá sự tích cực, tiến bộ Ngân sách của một quốc gia, người ta thườngxem xét cơ cấu và nội dung thu chi của nó Nội dung, cơ cấu chi Ngân sách Nhà nướctrong từng thời kỳ chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm:
- Bản chất chế độ xã hội:
Chế độ xã hội quyết định đến bản chất , định hướng phát triển kinh tế - xã hộicũng như những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước, cho nên lẽ đươngnhiên nội dung, cơ cấu chi NSNN chịu sự ràng buộc của chế độ xã hội Các quốc gia
có chế độ xã hội khác nhau thì nội dung, cơ cấu chi NSNN cũng khác nhau ở cácnước phát triển, xã hội văn minh thì tỷ trọng chi Ngân sách cho các mục tiêu phúc lợi
xã hội như giáo dục, đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe công đồng, phúc lợi xã hội caohơn các nước khác
- Sự phát triển của lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất phát triển sẽ kéo theo đó là nhu cầu vốn để phát triển kinh tếtăng lên, khi đó, Nhà nước với vai trò là cơ quan quản lý vĩ mô nên kinh tế phải cótrách nhiệm đáp ứng nhu cầu này, từ đó ảnh hưởng đến nội dung, cơ cấu chi NSNN
- Khả năng tích lũy của nền kinh tế:
Khi khả năng tích lũy trong nền kinh tế càng lớn thì khả năng chi đầu tư pháttriển kinh tế càng cao Tuy nhiên, tỷ trọng đầu tư cho phát triển kinh tế của NSNNcòn tùy thuộc ở khả năng tập trung nguồn tích lũy vào NSNN và chính sách chiNSNN trong từng thời kỳ nhất định
- Mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội
mà Nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ
Với mỗi mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước khác nhau thì nhu cầu chi tiêu nhằmduy trì quyền lực chính trị của bộ máy đó cũng khác nhau Nhìn chung, bộ máy quản
lý Nhà nước càng gọn nhẹ thì càng tiết kiệm được các khoản chi NSNN nhằm duy trì
bộ máy đó
Trong mỗi giai đoạn khác nhau, gắn với những nhiệm vụ cụ thể của Nhà nước
về kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước quyết định nội dung và cơ cấu chi cho phùhợp Nói cách khác, những nhiệm vụ cụ thể của Nhà nước trong mỗi thời kỳ sẽ quyếtđịnh đến nội dung chi và định hướng phân bổ chi tiêu NSNN
E, Liên hệ:
- Thực trạng:
Trong giai đoạn 2013, 2014 hoạt động chi NSNN Việt Nam vẫn không ngừngtăng lên, trong đó chủ yếu tăng ở các khoản sau: