1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề án môn học kế toán tài chính_Đề tài bàn về kế toán tiền lương_ĐH KTQD

29 758 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 420,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Chức năng thước đo hao phí lao động xã hội: Khi tiền lương được trả cho người lao động ngang với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra trong quá trìnhthực hiện công việc thì xã hội có thể x

Trang 1

Danh mục các chữ viết tắt

Trang 2

Danh mục bảng biểu, sơ đồ

Trang 3

Lời mở đầu

Trang 4

Trong thời đại ngày nay, lao động luôn là yếu tố quyết định đến sự tồn tại

và phát triển của quá trình sản xuất Lao động giữ vai trò quan trọng trong việctái tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hồi Một doanh nghiệp, một xã hộiđược coi là phát triển khi lao động có năng xuất, có chất lượng và đạt hiệu quảcao Không thể phủ định, trong nền kinh tế thị trường, lao động có kiến thức, có

kỹ thuật cao sẽ trở thành nhân tố hàng đầu trong việc tạo ra những sản phẩm cóchất lượng cao cho doanh nghiệp Để có được điều đó, doanh nghiệp cần bỏ ramột phần lợi ích thu được để trả cho người lao động, nhằm bù đắp sức lao động

bị mất đi của họ, đấy là một khoản thù lao, hay tiền công, tiền lương mà ngườilao động được nhận

Tiền lương là biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao độngtương ứng với thời gian, chất lượng và kết quả lao động mà họ đã cống hiến Chiphí tiền lương đối với doanh nghiệp là một bộ phận chi phí cấu thành nên giáthành sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra Tổ chức sử dụng lao độnghợp lý, hạch toán tốt lao động và tính đúng thù lao của người lao động, thanhtoán tiền lương và các khoản phải trả kịp thời sẽ kích thích người lao động làmviệc, từ đó nâng cao năng suất lao động

Dù ở bất cứ doanh nghiệp nào vai trò của kế toán tiền lương cũng vô cùng

quan trọng Vì vậy, em chọn đề tài “Bàn về kế toán tiền lương” làm đề án môn

học kế toán

Trang 5

Chương 1 Những vấn đề cơ bản về kế toán tiền lương

1.1. Khái niệm chung về lao động và tiền lương

Lao động, trong kinh tế học, được hiểu là một trong các yếu tố cơ bảntrong sản xuất, do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa Người

có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất Còn người cung cấp hàng hóanày là người lao động Cũng như mọi hàng hóa và dịch vụ khác, lao động đượctrao đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động Người sản xuất hay người sửdụng lao động muốn đảm bảo tiến hành liên tục quá trình sản xuất và tái sảnxuất thì trước hết phải đảm bảo sức lao động, nghĩa là sức lao động mà ngườilao động bỏ ra phải được bồi hoàn Điều nay được thực hiện phổ biến nhất dướidạng trả thù lao

Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động mà người lao

động đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh và được thanh toán theo kếquả lao động cuối cùng

Mối quan hệ của lao động và tiền lương: Tiền lương gắn liền với lao động

và nền sản xuất hàng hoá Các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, người thuê laođộng trả công cho người lao động theo số lượng và chất lượng lao động họ đãđóng góp Mức tiền lương sẽ khác nhau giữa các ngành nghề khác nhau, dongười lao động cung cấp giá trị lao động khác nhau Mức tiền lương cũng phụthuộc vào nơi thuê lao động và nhu cầu Nếu nhu cầu về lao động cao thì tiềnlương sẽ có xu hướng tăng và ngược lại Tiền lương của người lao động tại một

số quốc gia cũng chêch lệch nếu giới tính, chủng tộc của họ khác nhau Tiềnlương chính là đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần hăng hái lao động,kích thích và tạo mối quan tâm của người lao động đến kết quả công việc của

họ Nói cách khác, tiền lương chính là một trong những nhân tố thúc đẩy năngsuất lao động đối với doanh nghiệp

1.2. Chức năng và nhiệm vụ của tiền lương

Trang 6

- Chức năng:

Chức năng tái sản xuất sức lao động: Cùng với quá trình tái sản xuất của

cải vât chất, sức lao động cũng cần phải được tái tạo Trong các hình tháikinh tế xã hội khác nhau việc tái sản xuất sức lao động có sự khác nhau

Sự khác nhau này thể hiện bởi quan hệ sản xuất thống trị Song nhìnchung quá trình tái sản xuất sức lao động diễn ra trong lịch sử thể hiện rõ

sự tiến bộ của xã hội Sự tiến bộ này gắn liền với sự tác động mạnh mẽ vàsâu sắc của những thành tựu khoa học - kỹ thuật mà nhân loại sáng tạo ra.Chính nó đã làm cho sức lao động được tái sản xuất ngày càng tăng cả về

số lượng và cả về chất lượng Quá trình tái sản xuất sức lao động đượcthực hiện bởi việc trả công cho người lao động thông qua tiền lương Sứclao động là sản phẩm chủ yếu của xã hội, nó luôn luôn được hoàn thiện vàphát triển nhờ thường xuyên được duy trì và khôi phục Như vậy bản chấtcủa tái sản xuất sức lao động nghĩa là đảm bảo cho người lao động có một

số lượng tiền lương sinh hoạt nhất định để họ có thể:

 Duy trì và phát triển sức lao động của chính mình

 Sản xuất ra sức lao động mới

 Tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ để hình thành kỹ năng laođộng, tăng cường chất lượng lao động

Chức năng điều tiết lao động: Trong quá trình thực hiện kế hoạch phát

triển cân đối giữa các ngành, nghề ở các vùng trên toàn quốc, nhà nướcthường thông qua hệt thống thang bảng lương, các chế độ phụ cấp chotừng ngành nghề, từng vùng để làm công cụ điều tiết lao động Nhờ đótiền lương đã góp phần tạo ra một cơ cấu hợp lý tạo điều kiện cho sự pháttriển của xã hội

Chức năng là đòn bẩy kinh tế: Thực tế cho thấy rằng khi được trả công

xứng đáng thì người lao động sẽ làm việc tích cực, sẽ không ngừng hoànthiện mình hơn nữa và ngược lại, nếu người lao động không được trả

Trang 7

lương xứng đáng với công sức của họ bỏ ra thì sẽ có những biểu hiện tiêucực không thuận lợi cho lợi ích của doanh nghiệp Thậm chí nó sẽ cónhững cuộc đình công xảy ra, bạo loạn gây nên xáo trộn về chính trị, mất

ổn định xã hội Ở một mức độ nhất định thì tiền lương là một bằng chứngthể hiện giá trị, địa vị và uy tín của người lao động trong gia đình, tạidoanh nghiệp cũng như ngoài xã hội Do đó cần thực hiện đánh giá đúngnăng lực và công lao động của người lao động đối với sự phát triển củadoanh nghiệp, để tính tiền lương trở thành công cụ quản lý khuyến khíchvật chất và là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển

Chức năng thước đo hao phí lao động xã hội: Khi tiền lương được trả cho

người lao động ngang với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra trong quá trìnhthực hiện công việc thì xã hội có thể xác định chính xác hao phí lao độngcủa toàn thể cộng đồng thông qua tổng quỹ lương cho toàn thể người laođộng Điều này có nghĩa trong công tác thống kê, giúp nhà nước hoạchđịnh các chính sách điều chỉnh mức lương tối thiểu để đảm bảo hợp lýthực tế luôn phù hợp với chính sách của nhà nước

Chức năng công cụ quản lý nhà nước: Trong quá trình hoạt động sản xuất

kinh doanh người sử dụng lao động đứng trước hai sức ép là chi phí sảnxuất và kết quả sản xuất Họ thường tìm mọi cách có thể để làm giảmthiểu chi phí trong đó có tiền lương trả cho người lao động Bộ luật laođộng ra đời, trong đó có chế độ tiền lương, bảo vệ quyền làm việc, lợi ích

và các quyền khác của người lao động đồng thời bảo vệ quyền lợi ngườilao động và lợi ích hợp pháp của người lao động, tạo điều kiện cho mốiquan hệ lao động được hài hoà và ổn định góp phần phát huy trí sáng tạo

và tài năng của người lao động nhằm đạt năng suất, chất lượng và tiến bộ

xã hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ, tăng hiệu quả sử dụng và quản lýlao động Với các chức năng trên ta có thể thấy tiền lương đóng một vaitrò quan trọng việc thúc đẩy sản xuất và phát triển phát huy tính chủ động,

Trang 8

sáng tạo của người lao động, tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả sảnxuất kinh doanh.

- Nhiệm vụ của tiền lương:

Lao động là hoạt động chân tay và trí óc của con người nhằm tác động,biến đổi sự vật thành những vật phẩm có ích cho con người Để đánh giá vàđánh đổi kết quả lao động thì tiền lương là một trong những cách phổ biến nhất.Tuy nhiên, trong những thời kỳ khác nhau thì tiền lương sẽ có nhiệm vụ, ý nghĩakhác nhau

Trong thời kỳ bao cấp, tiền lương không phải là yếu tố quan trọng chi phốiđến kết quả lao động bởi do đặc thù của thời kì này là bao cấp và phân phối.Tiền lương là một phần thu nhập quốc dân được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ,được Nhà nước phân phối một cách có kế hoạch cho nhân viên căn cứ vào sốlượng và chất lượng lao động mà mỗi người cống hiến Bước sang thời đại ngàynay với nền kinh tế theo cơ chế thị trường mở cửa thì tiền lương mới thể hiệnđược vị trí quan trọng của mình Đặc biệt là trong khu vực sản xuất kinh doanh.tiền lương là một số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người laođộng theo giá trị sức lao động, là hao phí trên cơ sở thỏa thuận theo hợp đồnglao động

 Tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền với lao động, tiền tệ và nềnkinh tế sản xuất hàng hóa

 Tiền lương là biểu hiện bằng tiền phần sản xuất xã hội mà doanh nghiệptrả cho người lao động căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động củahọ

 Tiền lương trong doanh nghiệp sản xuất một mặt là khoản chi phí sảnxuất hình thành nên giá thành sản phẩm, một mặt nhằm bù đắp lại hao phísức lao động của người lao động để tái tạo ra sức lao động mới nhằm tiếptục quá trình sản xuất

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới tiền lương

Trang 9

Thời gian lao động, năng suất lao động, cấp bậc hoặc chức danh, thanglương quy định, số lượng, chất lượng sản phẩm hoàn thành, độ tuổi sức khỏe,trang thiết bị kỹ thuật đều là những nhân tố ảnh hưởng đến mức tiền lương caohay thấp của công nhân sản xuất.

1.3.1 Thời gian lao động

Đối với hình thức trả lương theo thời gian thì đơn vị thời gian thườngđược dùng để tính lương là giờ công hoặc ngày công lao động Ngoài ra thìngười sử dụng lao động cũng có thể trả lương theo đơn vị thời gian là tuần,tháng, quý…

- Giờ công: là số giờ mà người lao động phải làm việc theo quy định

Ví dụ: Thông thường 1 ngày người lao động phải làm việc 8 giờ Nếu sốgiờ ít hơn hay nhiều hơn sẽ ảnh hưởng đến mức tiền lương Trường hợp ít hơnthì số tiền lương có thể giảm, ngược lại, nếu nhiều hơn thì người lao động sẽđược trả thêm phí tăng ca Theo quy định pháp luật hiện hành, người lao độnglàm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theocông việc đang làm: Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%, vào ngày nghỉ hằngtuần, ít nhất bằng 200%, vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhấtbằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương đối với ngườilao động hưởng lương ngày Người lao động làm việc vào ban đêm, thì được trảthêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lươngtheo công việc của ngày làm việc bình thường Người lao động làm thêm giờvào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định nêu trên, người lao động cònđược trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theocông việc làm vào ban ngày

- Ngày công: Tương tự như giờ công thì ngày công là nhân tố ảnh hưởng rấtlớn đến tiền lương của người lao động Nếu người lao động làm thay đổităng hoặc giảm số ngày công thì mức lương thực tế của họ cũng sẽ thay đổitheo Tuy nhiên sự thay đổi này sẽ được khống chế trong phạm vi cho phép

Trang 10

1.3.2 Cấp bậc, chức danh

Trên thực tế, thường thì cấp bậc, chức danh càng cao thì mức lương màngười lao động nhận được sẽ càng cao Điều này thể hiện việc với cấp bậc càngcao thì người lao động phải có trình độ càng cao hoặc yêu cầu về kinh nghiệmcàng nhiều Do vậy, mức lương mà họ nhận được phải tương xứng với sức laođộng mà họ bỏ ra

1.3.3 Số lượng, chất lượng sản phẩm

Nhiều doanh nghiệp trả lương cho người lao động dựa trên số lượng sảnphẩm hoàn thành Do đó, trong trường hợp này, tiền lương mà doanh nghiệp chitrả sẽ tỉ lệ thuận với số lượng sản phẩm hoàn thành Chất lượng sản phẩm cũng

là một thước đo để làm căn cứ trả lương, đặc biệt là đối với các sản phẩm cá biệtnhư hàng thủ công mỹ nghệ hay sản phẩm có tích lũy lao động cao

1.3.4 Độ tuổi và sức khỏe

Độ tuổi, sức khỏe là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của côngnhân Có những công việc yêu câu sức khỏe tốt thì lứa tuổi trẻ sẽ có nhiều lợithế hơn những người lớn tuổi Tuy nhiên, nếu công việc yêu cầu nhiều hơn vềkinh nghiệm thì những công nhân lớn tuổi lại có tuổi nghề nhiều hơn

1.3.5 Trang thiết bị, kỹ thuật, công nghệ…

Với một trang thiết bị kỹ thuật cũ kỹ, lạc hâu thì không thể đem lại nhữngsản phẩm có chất lượng cao và cũng không thể đem lại hiệu quả sản xuất nhưnhững trang thiết bị hiện đại, tiên tiến Điều này làm ảnh hưởng tới số lượng,chất lượng sản phẩm hoàn thành, từ đó ảnh hưởng tới tiền lương Bên cạnh đó,đối với các trang thiết bị càng hiện đại thì đòi hỏi công nhân trực tiếp càng phải

có trình độ cao hơn, điều này cũng làm ảnh hưởng tới tiền lương mà họ nhậnđược

1.4 Quy định của chế độ kế toán Việt Nam về kế toán tiền lương

1.4.1 Nhiệm vụ của kế toán tiền lương

Trang 11

- Theo dõi, ghi chép, phản ánh, tổng hợp chính xác, đầy đủ, kịp thời về sốlượng, chất lượng, thời gian và kết quả lao động Tính toán các khoản tiềnlương, tiền thưởng, các khoản trợ cấp phải trả cho người lao động và tìnhhình thanh thoán các khoản đó cho người lao động Kiểm tra việc sử dụnglao động, việc chấp hành chính sách chế độ về lao động, tiền lương trợ cấpBHXN, BHYT, BHTN và việc sử dụng các quỹ này.

- Tính toán các khoản chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương vàochi phí sản xuất, kinh doanh theo từng đối tượng Hướng dẫn và kiểm tra các

bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện đúng chế độ ghi chép về lao động,tiền lương và các khoản phải trích theo lương, mở sổ, thẻ kế toán và tiếnhành hạch toán

- Phân bổ chính xác, kịp thời đúng các khoản chi phí tiền lương và các khoảntính trích theo lương vào các đối tượng có liên quan

- Thanh toán kịp thời tiền lương và các khoản phải trả cho cán bộ người laođộng theo chế độ

- Lập các báo cáo kế toán và phân tích tình hình sử dụng thời gian lao động,tình hình sử dụng quỹ tiền lương, quỹ bảo hiểm xã hội, đề xuất các biệnpháp có hiệu quả để khai thác tiềm năng lao động, tăng năng suất lao động,ngăn ngừa những vi phạm kỷ luật lao động, vi phạm chính sách, chế độ vềlao động, tiền lương và các khoản phải trích theo lương đúng chế độ

- Căn cứ vào các chứng từ như bảng chấm công, phiếu xác nhận sản phẩmhoàn thành, hợp đồng giao khoán…, kế toán tiền lương tính thời gian, tiền

Trang 12

lương sản phẩm, tiền ăn ca cho người lao động Tiền lương được tính chotừng người và tổng hợp theo từng bộ phận sử dụng lao động, sau đó phảnánh vào bảng thanh toán tiền lương.

- Đối với các khoản tiền thưởng của công nhân viên, kế toán cần tính toán vàlập bảng thanh toán tiền thưởng để theo dõi và chi trả đúng quy định Căn cứvào bảng thanh toán tiền lương của từng bộ phận để chi trả, thanh toán tiềnlương cho công nhân viên, đồng thời tổng hợp tiền lương phải trả trong kỳtheo từng đối tượng sử dụng lao động, tính toán các khoản phải trích theolương theo quy định

1.4.3 Phân loại tiền lương

Đây là hình thức tiền lương mà thu nhập của một người phụ thuộc vào haiyếu tố: số thời gian lao động thực tế trong tháng và trình độ thành thạo nghềnghiệp của người lao động

Đơn vị tính lương theo thời gian là lương tháng, lương ngày hoặc lươnggiờ

Tiền lương trong

Trang 13

Chế độ trả lương theo thời gian có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán, nhưngnhược điểm là chỉ mới xem xét đến mặt số lượng, chưa quan tâm đến chấtlượng, nên vai trò kích thích sản xuất của tiền lương hạn chế Vì vậy hình thứctrả lương này thường được dùng cho lao động gián tiếp hơn là lao động trựctiếp Trong thực tế vẫn áp dụng hình thức trả lương này để trả cho đối tượngcông nhân chưa xây dựng được định mức lao động cho công việc của họ, hoặccho công việc xét thấy trả lương theo sản phẩm không có hiệu quả, ví dụ: sửachữa, kiểm tra chất lượng sản phẩm hoặc sản xuất những sản phẩm yêu cầu độchính xác cao.

Để khắc phục nhược điểm của phương pháp trả lương theo thời gian, người

ta áp dụng trả lương theo thời gian có thưởng Thực chất của cách tính này là sựkết hợp giữa việc trả lương theo thời gian ở trên và tiền thưởng khi công nhânvượt mức những chỉ tiêu số lượng và chất lượng đã quy định

Cách tính:

Mức lương = Lương tính theo thời gian + Tiền thưởng

Hình thức này có nhiều ưu điểm hơn hình thức trả lương theo thời gian đơngiản, vừa phản ánh trình độ thành thạo vừa khuyến khích được người lao động

có trách nhiệm với công việc Nhưng việc xác định tiền lương bao nhiêu là hợp

lý rất khó khăn Vì vậy nó chưa đảm bảo phân phối theo lao động

Trong những năm vừa qua, hình thức trả lương theo thời gian có xu hướngthu hẹp dần Nhưng xét về lâu dài, khi trình độ khoa học phát triển cao, trình độ

cơ giới hoá, tự động hoá cao thì hình thức lương theo thời gian lại được mở rộng

ở đại bộ phận các khâu sản xuất, vì lúc đó các công việc chủ yếu là do máy mócthực hiện

1.4.3.2 Hình thức trả lương theo sản phẩm

Lương trả theo sản phẩm là chế độ tiền lương mà thu nhập của mỗi ngườituỳ thuộc vào hai yếu tố: Số lượng sản phẩm làm ra trong tháng và đơn giá tiền

Trang 14

công cho một sản phẩm Hình thức này thường được áp dụng đối với lao độngtrực tiếp làm ra sản phẩm.

Có thể nói rằng hiệu quả của hình thức trả lương theo sản phẩm cao haythấp phụ thuộc rất nhiều vào công tác định mức lao động có chính xác haykhông Định mức vừa là cơ sở để trả lương sản phẩm, vừa là công cụ để quản lý.Trả lương theo sản phẩm có những tác dụng sau:

- Quán triệt đầy đủ hơn nguyên tắc trả lương theo số lượng, chất lượng laođộng gắn với thu nhập về tiền lương với kết quả sản xuất của mỗi côngnhân.do đó kích thích công nhân nâng cao năng suất lao động

- Khuyến khích công nhân ra sức học tập văn hoá kỹ thuật nghiệp vụ, ra sứcphát huy sáng tạo, cải tiến kỹ thuật cải tiến phương pháp lao động, sử dụngtốt máy móc thiết bị để nâng cao năng suất lao động, góp phần thúc đẩy cảitiến quản lý doanh nghiệp nhất là công tác lao động và thực hiện tốt công tác

kế hoạch cụ thể

- Khi một doanh nghiệp bố trí lao động chưa hợp lý, việc cung ứng vật tưkhông kịp thời sẽ tác động trực tiếp đến kết quả lao động như năng suất laođộng thấp kém dẫn đến thu nhập của người lao động giảm Do quyền lợithiết thực bị ảnh hưởng mà người công nhân sẽ kiến nghị, đề nghị bộ máyquản lý cải tiến lại những bất hợp lý hoặc tự họ tìm ra biện pháp để giảiquyết

Ngày đăng: 27/10/2014, 20:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w