Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản: Số 4/2016 trình bày hiện trạng nuôi trồng thủy sản và một số giải pháp phát triển bền vững trên đầm ô loan huyện Tuy An, Phú Yên; hàm lượng urê trong hải sản ở Khánh Hòa; sinh kế cộng đồng và tình trạng khai thác – nuôi trồng thủy sản vùng hồ thủy điện Đồng Nai 3, huyện Đăk G’long, tỉnh Đăk Nông...
Trang 1THÔNG BÁO KHOA HỌC
HIỆN TRẠNG NUƠI TRỒNG THỦY SẢN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRÊN ĐẦM Ơ LOAN HUYỆN TUY AN, PHÚ YÊN
AQUACULTURE STATUS AND SUSTAINABLE DEVELOPMENT SOLUTIONS FOR O LOAN LAGOON -TUY AN DISTRICT, PHU YEN PROVINCE
Phạm Thị Anh 1 , Nguyễn Thanh Sơn 2
Ngày nhận bài: 16/12/2015; Ngày phản biện thơng qua: 29/4/2016; Ngày duyệt đăng: 15/12/2016
TĨM TẮT
Kết quả điều tra tình hình nuơi trồng thủy sản (NTTS) trên đầm Ơ Loan huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên dựa trên việc phỏng vấn trực tiếp 100 hộ gia đình ở 5 xã: An Hải, An Cư, An Hiệp, An Ninh Đơng và An Hịa Nguồn lao động chính xung quanh hồ chủ yếu là nam giới (89,11%), tỷ lệ lao động trong nhĩm tuổi từ 40 - 55 cao nhất chiếm 67,33%; hầu hết những người tham gia vào NTTS đều cĩ nhiều năm kinh nghiệm trong nghề với 93% cĩ kinh nghiệm từ 5 năm trở lên, trình độ văn hĩa của người tham gia NTTS trình độ 9/12 cao nhất chiếm 61,39% Năm 2014, tổng sản lượng và diện tích nuơi trồng thủy sản trên đầm Ơ Loan lần lượt là 1548,7 tấn và 541,5 trong đĩ chủ yếu là diện tích nuơi tơm chiếm 96,21% tổng diện tích nuơi, sản lượng nuơi chiếm 98,41% tổng sản lượng nuơi trồng xung quanh đầm Tất cả số hộ NTTS nuơi tơm đều sử dụng thuốc kháng sinh và hĩa chất để phịng trị bệnh cho tơm và xử lý mơi trường ao nuơi.
Từ khĩa: đầm Ơ Loan, nuơi trồng thủy sản, hiện trạng, đầm
ABSTRACT
A survey was conducted to evaluate the aquaculture status on O Loan lagoon A total of 100 households were interviewed belong to the communes An Hai, An Cu, An Hiep, An Ninh Dong and An Hoa in O Loan lagoon The results showed that the labors in the lagoon were mainly male (89.11%), the percentage of workers
in the age from 40 to 55 years are highest, accounted for 67.33% Most people who involved in aquaculture have at least 5 years of experience or higher (93%) They have low level of education with the highest percentage at 9/12 (61.39%) In 2014, the total area and production of aquaculture activities of O Loan lagoon were 541.5 hectares and 1548.7 tons, respectively Especially, shrimp farming was dominant with the area and production accounted for 96.21 % and 98.41 % of the total, respectively All shrimp farms used antibiotic and chemical products for disease preventing and water treatment.
Keywords: O loan lagoon, aquaculture, penaeus vannamei, status, lagoon
1 Viện Nuơi trồng thủy sản - Trường Đại học Nha Trang
2 Viện Cơng nghệ Sinh học - Mơi trường - Trường Đại học Nha Trang
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu vực Nam Trung Bộ từ lâu đã nổi tiếng
với những đầm phá nổi như đầm Nại (Bình
Thuận), đầm Ơ Loan (Phú Yên), đầm Thị Nại
(Bình Định), đầm Nha Phu (Khánh Hịa), đầm
Mơn (Khánh Hịa), đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
(Thừa Thiên Huế), đầm Cù Mơng (Phú Yên), vịnh Xuân Đài (Phú Yên)… Các đầm đều cĩ hình dạng và cấu tạo rất đa dạng, chủ yếu
là các thủy vực nơng sát biển, nhận nước từ một hoặc vài con sơng và thải nước ra biển qua cửa riêng của mình, rộng hẹp tùy đầm
Trang 2Những sông trong vùng thường nhỏ, tổng
lượng nước ít và chỉ chảy rất tập trung trong
một vài tháng Trong mùa khô kéo dài, sông lại
rất cạn kiệt, nhiều nơi lòng sông trơ ra để lại
hai bên bờ những dải cát, hay có những đầm bị
khống chế hoàn toàn bởi nước biển, ở những
đầm này độ muối thường cao, có trường hợp
trở nên quá mặn, đạt giá trị 39 - 40‰ và khá
ổn định [6] Các hoạt động nuôi trồng thủy sản
trên các đầm phá ngày càng phát triển với quy
mô rộng với nhiều đối tượng nước lợ, nước
mặn mang lại nhiều lợi ích kinh tế cao như:
tôm sú, tôm chân trắng, tôm hùm, cua ghẹ, cá
biển và một số loài nhuyễn thể, rong biển Hiện
nay hầu hết các đầm phá đều được sử dụng
để phát triển nuôi trồng thủy sản, các hoạt
động nuôi trồng thủy sản đang diễn biến hết
sức phức tạp trên quy mô lớn, đặc biệt các
ngành nghề nuôi tôm thâm canh, chuyên canh
đã và đang mang lại những tác dụng tiêu cực
cho môi trường các đầm phá ven biển [2,7]
Phú Yên là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ,
với lợi thế bờ biển dài gần 190 km cùng với
nhiều eo, vịnh, đầm phá là nơi nuôi dưỡng,
sinh trưởng của rất nhiều loài thủy hải sản
khác nhau, có nhiều tiềm năng và lợi thế
trong việc phát triển toàn diện ngành kinh tế
thủy sản cũng như một số ngành kinh tế quan
trọng khác [1] Từ lâu đầm Ô Loan từ lâu đã
nổi tiếng với nguồn lợi thủy sản đa dạng với
rất nhiều các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao
như sò huyết, ghẹ xanh, cua và hàu…, trong
đó sò huyết đầm Ô Loan được coi là đặc sản
của vùng [1] Nghề nuôi trồng thủy sản xung
quanh đầm Ô Loan đã góp phần nâng cao
năng suất và sản lượng thủy sản, thúc đẩy
nền kinh tế cho huyện Tuy An và tỉnh Phú Yên
Có thể khẳng định rằng đời sống của dân cư
5 xã vùng đầm phụ thuộc vào nguồn lợi thuỷ
sản của đầm Ô Loan Đầm Ô Loan vẫn đóng
một vai trò quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế thuỷ sản của tỉnh Phú Yên cũng
như phát triển kinh tế huyện Tuy An, nguồn lợi
thủy sản từ đầm giúp nâng cao đời sống của cộng đồng dân cư sinh sống xung quanh đầm Năm 2013, diện tích nuôi trồng thủy sản trong đầm là 360,75 ha, trong số này diện tích nuôi cao triều là 20,5 ha (trong đó nuôi trên cát là 3,5 ha), diện tích hồ hở (hồ chất đá) là 125 ha [4] Hoạt động nuôi trồng thủy sản của huyện Tuy
An tập trung chủ yếu ở vùng đầm Ô Loan do người dân của 5 xã An Ninh Đông, An Hải, An
Cư, An Hòa và An Hiệp tham gia nuôi trồng thủy sản, tổng diện tích nuôi xung quanh đầm
là 420 ha, chiếm hơn 80% diện tích nuôi toàn huyện [8] Tuy nhiên, do hoạt động nuôi trồng thuỷ sản quá mức, thiếu quy hoạch đã dẫn đến môi trường đầm suy thoái, tình hình dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản diễn biến phức tạp: Năm 2008 dịch bệnh trên tôm bùng phát
ở đầm Ô Loan, 50/180 ha tôm sú bị mất trắng
do bệnh, chủ yếu là bệnh đỏ thân và bệnh đốm trắng Đầu năm 2009, có gần 70 ha tôm bị chết chủ yếu do bệnh taura và các bệnh có liên quan đến môi trường [3] Theo báo cáo của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tuy An, những tháng đầu năm 2009, biên độ triều trong đầm Ô Loan thấp hơn trung bình từ 0,2-0,3m, độ mặn giảm so với trung bình nhiều năm từ 0,5 - 0,6 % Đáng chú ý là kết quả tại điểm thu mẫu An Hải về chỉ tiêu ô nhiễm vi sinh đã vượt ngưỡng cho phép Đầu năm 2010, 85 ha tôm chân trắng bị nhiễm bệnh chủ yếu tập trung ở 2 huyện Tuy An và Đông Hòa Năm 2011 riêng khu vực đầm Ô Loan có gần 100 ha nuôi tôm bị dịch bệnh, tập trung chủ yếu ở các xã An Ninh Đông, An Ninh Tây
và An Cư, ngoài ra đại đa số hồ ở đây chủ yếu
là hồ hở nên việc lây lan dịch bệnh rất nhanh chóng [3]
Do đó việc đánh giá lại hiện trạng nuôi trồng thủy sản xung quanh đầm Ô Loan hiện nay là cần thiết để có những giải pháp kịp thời nhằm phát triển các hoạt động nuôi trồng thủy sản xung quanh đầm một cách bền vững và ít nguy hại nhất đến môi trường đầm
Trang 32 Phương pháp nghiên cứu
- Số liệu thứ cấp được thu thập tại Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Phú Yên, Phòng
Nông nghiệp huyện Tuy An và các sách báo,
tài liệu có liên quan
- Số liệu sơ cấp được tổng hợp dựa trên
quá trình phỏng vấn trực tiếp các ngư dân nuôi
trồng thủy sản xung quanh vùng đầm Ô Loan
thuộc 5 xã ven đầm (xã An Hòa, An Hiệp, An
Ninh Đông, An Hải và An Cư) và cán bộ quản
lý khu vực nghiên cứu qua bộ câu hỏi điều tra
với 101 phiếu
- Thông tin thu thập được xử lý theo từng
nội dung riêng dựa trên bộ câu hỏi phỏng vấn
và dữ liệu được xử lý trên phần mềm Excel
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Nguồn lao động nuôi trồng thủy sản trên
đầm Ô Loan
- Tỷ lệ giới tính: Trong 101 phiếu được khảo
sát về tình hình NTTS xung quanh đầm Ô Loan
cho thấy có số lượng nữ tham gia NTTS chiếm
tỷ lệ 10,89% (11/101 phiếu), còn lại đều là nam
giới chiếm tỷ lệ 89,11% (90/11 phiếu) Đây là một
trong những thực tế hiện nay do tính chất của
các công việc trong nuôi trồng thủy sản đòi hỏi
nhiều sức lực cũng như thời gian làm việc nên nam giới tham gia có tỷ lệ chiếm rất cao
- Cơ cấu độ tuổi của những người tham gia NTTS: Những người tham gia NTTS có thể chia thành 3 nhóm độ tuổi khác nhau là dưới
40 tuổi, từ 40 đến 55 tuổi, trên 55 tuổi Trong
đó, tỷ lệ lao động trong nhóm tuổi từ 40 - 55 cao nhất chiếm 67,33% (68/101 phiếu), đây là nguồn lao động có sức khỏe tốt và nắm bắt các kĩ thuật nuôi, kinh nghiệm nuôi tốt hơn so với những nhóm tuổi khác Nhóm tuổi trên 55 chiếm 13,86 % (14/101 phiếu), nhóm tuổi dưới
40 chiếm 18,81% (19/101 phiếu)
- Số năm kinh nghiệm trong NTTS: Nguồn lao động có số năm kinh nghiệm tham gia vào NTTS khá cao, số chủ hộ có thâm niên NTTS
từ 10 đến 15 năm chiếm tỷ lệ cao nhất đạt 40,59%, từ 5 đến 10 năm chiếm 32,67%, từ 15
- 20 năm chiếm 14,85%, các chủ hộ nuôi trên
20 năm chiếm 4,95%
- Trình độ văn hóa thấp: Kết quả điều tra cho thấy, đa số các chủ hộ có trình độ văn hóa (9/12) chiếm tỷ lệ 61,39%, tiếp theo đến trình
độ 12/12 chiếm 20,79%, trình độ 8/12 chiếm 6,93%, trình độ tiểu học chiếm 4,95% và tỷ lệ người không biết chữ chiếm 5,94% Khảo sát này cũng chỉ ra rằng trong tất cả các hộ được
II ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu tiến hành từ tháng 02/2014 đến hết tháng 12/2014 xung quanh đầm Ô Loan - Phú Yên Đối tượng phỏng vấn là các hộ nuôi trồng thủy sản trên đầm ở 5 xã: xã An Hòa, An Hiệp,
An Ninh Đông, An Hải và An Cư
Hình 1 Đầm Ô Loan và cửa đầm Tân Quy [12]
Trang 4phỏng vấn không có chủ hộ nào đã qua lớp
đào tạo chuyên môn có trình độ đại học, tất
cả kinh nghiệm trong NTTS chủ yếu được học
tập theo kiểu truyền miệng và kinh nghiệm của
bản thân
- Thu nhập bình quân đầu người/năm: Năm
2010, thu nhập bình quân đầu người/năm đạt
mức 12,1 triệu/năm, con số này ngày càng gia
tăng và đến năm 2013 là 20,1 triệu/người/năm
và năm 2014 là 22,6 triệu/người/năm, tăng gấp
có diện tích NTTS chiếm chủ lực xung quanh đầm Ô Loan Tổng diện tích NTTS trong đầm
Ô Loan năm 2014 là 541,5 ha, trong đó diện tích nuôi tôm công nghiệp là 521 ha (chiếm 96,21%) Tổng sản lượng NTTS năm 2014 đạt 1548,7 tấn, trong đó sản lượng tôm nuôi đạt 1524,1 chiếm 98,41% [8]
Hình 2 Diện tích và sản lượng NTTS của các xã trên đầm Ô Loan năm 2014 [7]
Nhìn vào biểu đồ hình 2 cho thấy xã An
Cư năm 2014 có diện tích nuôi đứng thứ 3 chỉ
sau xã An Ninh Đông và An Hòa, tuy nhiên sản
lượng nuôi lại thấp nhất so với các xã khác, chỉ
đạt 137 tấn, điều này là do vấn đề dịch bệnh
Sáu tháng đầu năm 2014 toàn huyện Tuy An
có 169,5 ha tôm bị bệnh, trong đó diện tích mất
trắng là 67 ha (tôm chân trắng 61 ha, tôm sú 6
ha) Tôm bị dịch bệnh rải rác khắp các xã: An
Ninh Đông 44 ha, An Cư 39 ha, An Hòa 45 ha,
An Hiệp 15 ha và An Hải 0,5 ha Tôm chủ yếu
bị bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy cấp tính,
dịch bệnh xảy ra ở tôm nuôi 10 đến 20 ngày
tuổi [3] Theo Trung tâm Giống và kỹ thuật thủy
sản (Sở NN-PTNT 3/2014), qua lấy mẫu phân
tích cho thấy, nước tại vùng nuôi cách xa cửa
biển như An Cư, ngoài ra còn bị ảnh hưởng
của nước ngọt từ sông Cái và sông Hà Yến đổ xuống nên độ mặn và độ kiềm tương đối thấp,
độ mặn dưới 10‰, độ kiềm thấp từ 30 đến
40 ppm Cũng theo Trung tâm này, ô nhiễm dinh dưỡng cũng được phát hiện ở vùng nuôi này: hàm lượng NH3-N hoặc NO2-N cao vượt ngưỡng cho phép, lần lượt dao động từ 0,5 đến 1ppm và 0,1 đến 0,3ppm An Hải là xã có diện tích nuôi thấp nhất với 40ha, đây là xã nằm gần cửa biển nên mực nước ở khu vực này sâu, chế độ thủy lực không ổn định, nước mặn hơn phía trong đầm do thường xuyên trao đổi với nước biển, nên phù hợp với việc nuôi các loài ưa độ mặn cao như cá mú, cá hồng, hàu, Diện tích nuôi cá biển của xã An Hải cũng chiếm nhiều nhất trong vùng với 12/23 ha (chiếm 52,17%)[1]
Trang 5Đối tượng nuôi chính trên đầm Ô Loan
chủ yếu là tôm he chân trắng (Penaeus
vanamei) và tôm sú (Penaeus monodon), số
lượng các hộ nuôi hai đối tượng này chiếm hầu
hết diện tích nuôi trong đầm Ô Loan Theo số
liệu phỏng vấn người dân xung quanh các xã
thì xã An Hòa có 100% số hộ nuôi tôm he chân
trắng, tiếp đến là An Ninh Đông là 92,16%, An
Hải 71,43% và An Cư là 33,33% Các hộ nuôi
cá (cá mú Epinephelus fuscoguttatus, cá hồng
Lutjanus campechanus) và nhuyễn thể (hầu,
sò huyết) rất ít chủ yếu nằm ở hai xã An Hải
và An Cư
Kết quả điều tra khảo sát cho thấy diện tích
xung quanh vùng đầm Ô Loan chủ yếu là nuôi
tôm thẻ chân trắng và tôm sú, các đối tượng
nuôi truyền thống và nổi tiếng của vùng ít được
quan tâm chú trọng như ghẹ xanh, sò huyết,
cua, hàu, tôm đất v.v Tuy nhiên các đối tượng
này lại được khai thác một cách triệt để để
phục vụ khách du lịch, đây cũng là một trong
những vấn đề đáng quan tâm của địa phương
trong quá trình phát triển nuôi trồng thủy sản một cách bền vững Sò huyết đầm Ô Loan từ lâu đã nổi tiếng trên cả nước và đây cũng là một trong những lý do để đầm nước lợ Ô Loan được công nhận là danh lam thắng cảnh quốc gia, tuy nhiên hiện nay nguồn lợi này đang bị giảm sút nghiêm trọng
đã có thông báo cấm mở rộng diện tích nuôi trên đầm, tuy nhiên một số hộ nuôi vẫn tiến hành đào thêm các ao nuôi mới, điều này đang
là mối đe dọa lớn đối với hệ sinh thái cũng như địa chất của đầm [10,12,13]
2.2 Đối tượng nuôi xung quanh đầm Ô Loan
Bảng 1 Một số đối tượng nuôi ở các xã xung quanh vùng đầm Ô Loan năm 2014
Đơn vị tính: % STT Hình thức nuôi An Ninh Đông An Hải An Cư An Hiệp An Hòa
Bảng 2 Hình thức nuôi tôm và kiểu hồ nuôi tôm tại các xã xung quanh đầm Ô Loan
STT Hình thức nuôi An Ninh Đông An Hải An Cư An Hiệp An Hòa
Hình thức nuôi tôm chủ yếu là nuôi thâm
canh trên vùng cao triều (bằng các ao đất
lót bạt) với mật độ nuôi cao, hình thức nuôi
này chiếm đến 100% ở xã An Hòa, 84,31% ở
An Ninh Đông Có hai loại hồ nuôi tôm thâm
canh chính ở các xã xung quanh đầm là hồ
kín và hồ hở Hồ kín là hồ được đắp bằng đất
có lót bạt bờ và bạt đáy, hồ kín cao hơn mực nước trong đầm và nằm ở vùng cao triều, hồ kín có thể tự điều tiết nước bằng hệ thống bơm (chiếm 100% ở An Ninh Đông và An Hòa, An Hải và An Hiệp lần lượt là 76,19% và 66,67%)
Hồ hở là hồ được chất bằng đá, san hô hoặc bao lưới vây tạo thành hồ nên mực nước
Trang 6trong hồ phụ thuộc vào mực nước của đầm,
đại đa số hồ hở tập trung ở xã An Cư chiếm
66,67% Hình thức nuôi hồ hở chịu nhiều rủi ro
cao do không điều tiết được mực nước trong
hồ, khi môi trường đầm có biến động đột ngột
tôm dễ bị sốc hoặc bị nhiễm dịch bệnh Thông
thường khi bắt đầu có dịch bệnh xảy ra thì
những hồ hở sẽ bị nhiễm bệnh đầu tiên [9]
2.4 Thức ăn, thuốc kháng sinh và hóa chất sử
dụng trong các ao nuôi tôm
- Thức ăn
Theo số liệu điều tra trong quá trình khảo
sát 101 phiếu về NTTS xung quanh đầm
thì 100% các hộ đều sử dụng thức ăn công
nghiệp Mặc dù nguồn thức ăn công nghiệp ít
gây ô nhiễm môi trường như thức ăn tươi sống
và thức ăn chế biến, tuy nhiên số lượng các
hộ nuôi nhiều, hình thức nuôi chủ yếu là nuôi
thâm canh nên lượng chất thải rất lớn, lượng
chất thải này xả trực tiếp ra đầm không qua xử
lý (100% các hộ không qua xử lý trước khi thay
nước) Lượng thức ăn thừa và các chất thải
liên tục được đưa vào trong đầm trong nhiều
năm liên tiếp làm cho lượng bùn đáy của đầm
ngày càng nhiều, lượng chất độc tích lũy trong
nền đáy như H2S, CH4, NH3 gia tăng Bên cạnh
đó, cửa đầm Tân Quy rất nhỏ cho nên khả
năng trao đổi nước rất thấp, điều này có thể là
nguyên nhân gây chết cho tôm cá trong đầm
trong vài năm trở lại đây
- Sử dụng thuốc kháng sinh và hóa chất
trên các đối tượng NTTS
Kết quả điều tra cho thấy 100% các hộ
nuôi đều quan tâm tới việc quản lý môi trường
ao nuôi Trong đó, 86,13% (87/101 phiếu) các
hộ định kỳ sử dụng men vi sinh 2 tuần/lần
sau 3 tháng nuôi; 100% các hộ sử dụng vôi
để ổn định pH và độ trong ao nuôi Trong
suốt thời gian nuôi hầu hết các hộ không thay
nước mà chủ yếu cấp bù nước do quá trình
siphong chất thải trong ao ra đầm Ở hình
thức nuôi bán thâm canh, ao nuôi tôm được
định kỳ vệ sinh, khử trùng 15 ngày/lần bằng
các loại hóa chất như vôi bột, BKC, formol,
Iodine hay Zeolite Ngoài việc sử dụng hóa chất,
các loại chế phẩm sinh học thì cũng theo kết quả điều tra cho thấy có 83/101 hộ phỏng vấn sử dụng một số loại kháng sinh để bổ sung vào thức ăn cho tôm như Enrofl oxacim, Colistin sunfate, Norfl oxacin, Cephalexin… trong đó kháng sinh Enrofl oxacin luôn là vấn
đề liên tục mang lại khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam do người nuôi vẫn sử dụng trong nuôi trồng, khiến cho nhiều
lô hàng bị thị trường nhập khẩu cảnh báo và trả về Ngày 16/1/2012, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành Thông tư
số 03/2012/TT – BNNPTNT bổ sung các chất Cypermethrin, Deltamethrin và Enrofl oxacin vào danh mục hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thủy sản Tuy nhiên hiện nay kháng sinh Enrofl oxacin vẫn được người dân sử dụng trong quá trình nuôi tôm, chính vì vậy cần có những chế tài cần thiết để quản lý việc sử dụng các loại kháng sinh bị cấm này
3 Một số giải pháp phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững trên đầm Ô Loan
Để duy trì và phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững trên đầm Ô Loan cần có giải pháp đồng bộ, hợp lý và hữu hiệu
- Triển khai, quản lý thực hiện có hiệu quả quy hoạch chi tiết các vùng nuôi, chú trọng phát triển các đối tượng truyền thống của vùng như sò huyết, ghẹ xanh, tôm đất… Đa dạng hóa đối tượng nuôi trên đầm, có thể nuôi luân canh các đối tượng thủy sản khác như cá rô phi đơn tính, cá măng, hải sâm, rong câu, cua xanh… để cải tạo môi trường ao nuôi Đối với các vùng nuôi có đáy bùn, khuyến khích nuôi ghép tôm nước lợ với một số đối tượng như cá
rô phi, rong biển, vẹm xanh, hàu
- Khuyến khích các hộ nuôi tôm công nghiệp trong các hồ hở chuyển sang hồ kín để
dễ kiểm soát chất lượng nước, sức khỏe vật nuôi cũng như tình hình dịch bệnh
- Có biện pháp ngăn chặn việc gia tăng diện tích nuôi một cách ồ ạt không theo quy hoạch làm phá vỡ cân bằng hệ sinh thái cũng như
Trang 7làm gia tăng ô nhiễm môi trường, bùng phát
dịch bệnh…
- Cần có những quy định về xả thải cho
người dân hoặc những biện pháp xử lý chất
thải trước khi đưa vào môi trường tự nhiên ở
những vùng nuôi thâm canh công nghiệp, đồng
thời có những chế tài xử phạt đi kèm để hạn
chế việc gây ô nhiễm môi trường như hiện nay
- Yêu cầu những người tham gia NTTS
tuân thủ những quy định về danh mục các
loại hóa chất, thuốc kháng sinh được phép
sử dụng trong nuôi trồng thủy sản Có chế tài
và các biện pháp xử lý nghiêm chỉnh đối với
các hộ nuôi khi vẫn tiếp tục sử dụng các sản
phẩm này
IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
- Người lao động tham gia NTTS xung
quanh đầm Ô Loan chủ yếu là nam giới, chiếm
89,11%, cơ cấu độ tuổi người lao động trong
nhóm tuổi 40 - 55 có giá trị cáo nhất chiếm
67,33%, ngoài ra hầu hết những người tham
gia NTTS xung quanh đầm đều có nhiều năm
kinh nghiệm, số người có trên 5 năm kinh
nghiệm chiếm 93%, trình độ văn hóa 9/12
chiếm tỷ lệ cao nhất đạt 61,39%
- Tổng diện tích nuôi của các xã xung quanh
đầm Ô Loan năm 2014 là 541,5 ha với sản lượng
thu hoạch của cả năm là 1548,7 tấn Xã An
Hòa và An Ninh Đông có diện tích nuôi lớn nhất
(152 và 133 ha) và sản lượng nuôi cũng với giá trị cao nhất (528 và 393 tấn)
- Đối tượng nuôi chính của vùng là tôm he chân trắng với diện tích 100% ở các xã An Hòa, 84,31% ở An Ninh Đông, các xã còn lại như An Hải, An Cư và An Hiệp đều chiếm 66,67%
- Có hai hình thức nuôi trồng thủy sản là nuôi thâm canh và nuôi bán thâm canh xung quanh đầm Ô Loan, không có hình thức nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến Số hộ nuôi theo kiểu hồ kín chiếm 100% ở An Ninh Đông và AN Hòa, An Hải và An Hiệp lần lượt là 76,19% và 66,67% Số hộ nuôi theo kiểu hồ hở tập trung chủ yếu ở xã An Cư (66,67%)
- 100% các hộ nuôi tôm có sử dụng thuốc
và hóa chất trong quá trình nuôi để phòng trị bệnh và xử lý môi trường, trong đó có 83/101 hộ sử dụng các loại kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản, trong đó có kháng sinh Enrofl oxacim thuộc danh mục thuốc cấm sử dụng trong NTTS
2 Kiến nghị
Cần quy hoạch vùng nuôi một cách cụ thể tránh hiện tượng nuôi tự phát của người dân dẫn đến ô nhiễm môi trường và dịch bệnh nghiêm trọng trên các đối tượng nuôi
Cần có những chế tài nghiêm ngặt để nghiêm cấm sử dụng thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là những loại kháng sinh trong danh mục thuốc kháng sinh cấm sử dụng trong nuôi trồng thủy sản
TÀI LIỆU THAM KHẢO
4 Báo cáo thực trạng nuôi trồng thủy sản đầm Ô Loan Phương hướng tổ chức lại nghề nuôi trong đầm thành các
Tổ đồng quản lý (2013) Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Tuy An
5 Cục thống kê tỉnh Phú Yên Niên giám thống kê tỉnh Phú Yên năm 2010; 2011; 2012; 2013; 2014
Trang 86 Lương Văn Thanh, 2008 Báo cáo chuyên đề “Hiện trạng nuôi tôm vùng duyên hải miền Trung Nam bộ và một
số định hướng phát triển” Hội thảo đề tài khoa học “Ứng dụng các biện pháp công trình và phi công trình để cải tạp các vùng đất bị bỏ hóa ở Duyên hải Nam Trung Bộ do đào ao nuôi trồng thủy sản không đúng kỹ thuật thành các vùng canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản bền vững” Đà Nẵng tháng 6 năm 2008
7 Trần Văn Phước, Ngô Văn Hiệp, 2011 Hiện trạng khai thác nguồn lợi hải sản và giải pháp bảo vệ, phát triển bền vững tại xã Ninh Ích, đầm Nha Phu, tỉnh Khánh Hòa
8 UBND huyện Tuy An, Phú Yên Niên giám thống kê năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 huyện Tuy An
Tiếng Anh
9 Ram C Bhuiel, 2008 Statistics for Aquaculture, Asian Institute of Technology (AIT) Wiley Blackwell
10 http://nonghoc.com/show-article/25113/phu-yen-nuoi-tom-o-dam-o-loan-huong-den-giai-phap-ben-vung.aspx (Lê Hảo)
11 http://www.baophuyen.com.vn/82/135306/no-luc cuu so-huyet-o-loan.html (Anh Ngọc)
12 http://www.vietnamplus.vn/thang-canh-quoc-gia-dam-o-loan-dang-bi-xam-hai/111351.vnp (Thế Lập)
13 http://xaydung.phuyen.info.vn/DetailKinhte.aspx?Kt_Id=698&type=1 Theo PYO, (Ngọc Như)
Trang 9HÀM LƯỢNG URÊ TRONG HẢI SẢN Ở KHÁNH HỊA
UREA CONTENTS IN SEAFOOD AT KHANH HOA PROVINCE
Nguyễn Thuần Anh 1 , Đỗ Thị Thanh Thủy 1
Ngày nhận bài: 03/8/2015; Ngày phản biện thơng qua: 8/12/2015; Ngày duyệt đăng:15/12/2016
TĨM TẮT
Mục đích của nghiên cứu này nhằm cung cấp những thơng tin về hàm lượng urê trong các lồi hải sản (cá ngừ bị, cá nục, mực, cá đổng và cá cờ) đại diện cho 5 loại hình nghề khai thác cĩ sản lượng lớn và tiêu thụ nhiều ở Khánh Hịa Hàm lượng urê được phân tích bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao với đầu
dị huỳnh quang (HPLC-FLD: High-performance liquid chromatography with fl uorescence detection) trên các mẫu được lấy tại các cảng cá, cơ sở thu mua hải sản và các chợ ở Khánh Hịa Kết quả phân tích cho thấy cĩ
271 trong số 390 mẫu cĩ urê với các hàm lượng khác nhau, cao nhất là 5,01 g/kg Tỷ lệ mẫu phát hiện cĩ urê
ở các lồi hải sản khai thác như sau: cá nục (15,9%), cá ngừ bị (13,8%), cá cờ (13,8%), cá đổng (13,8%) và mực (12,1%) Tại các chợ cá, tỷ lệ mẫu phát hiện cĩ urê (32,6%) cao hơn so với cơ sở thu mua hải sản (24,6%)
và cảng (12,3%) Hàm lượng urê trung bình trong cá ngừ bị (1,69 g/kg), mực (1,81 g/kg), cá đổng (1,62 g/kg) cao hơn trong cá cờ (1,27 g/kg) và cá nục (0,99 g/kg) Nghiên cứu đã cung cấp những thơng tin cĩ giá trị để tiếp tục thực hiện việc đánh giá nguy cơ phơi nhiễm urê đối với người tiêu dùng do ăn hải sản và từ đĩ cĩ các giải pháp quản lý an tồn thực phẩm hải sản hiệu quả
Từ khĩa: thủy sản, urê, cảng cá, cơ sở thu mua hải sản, chợ cá, Khánh Hịa
ABSTRACT
This paper aims to provide data of urea contents in the seafood consumed in a great amount which are representative of the 5 popular fi sheries exploitation types having great yields at Khanh Hoa province The urea contents of the samples from the fi sh ports, seafood purchace agencies and fi sh markets at Khanh Hoa province are determined by HPLC-FLD (High Performance Liquid Chromatography with fl uorescence detection) The results showed that there were 271 in 390 samples contaminated by urea in different contents, the maximum is 5.01 g/kg The rate of the seafood sample contaminated by urea decreased in the following order: tune (15.9%), round scad (13.8%), squid (13.8%), horsehead fi sh (13.8%) and paradise fi sh (12.1%)
In the markets, the rate of the seafood sample contaminated by urea (37.7%) is higher than those in the seafood purchase agencies (31.8%) and in the fi sh ports (16.9%) The average urea contents in the tune (1.69 g/kg), the squid (1.81 g/kg), the horsehead fi sh (1.62 g/kg) are higher than those in the paradise fi sh (1.27 g/kg) and the round scad (0.99 g/kg) This study provided valuable information for continuing to assess urea risk to consumers due to seafood consumption, hence giving the solutions for the effi cient seafood safety management Keywords: seafood, urea, fi sh port, seafood purchase agency, fi sh market, Khanh Hoa
1 Khoa Cơng nghệ thực phẩm - Trường Đại học Nha Trang
THÔNG BÁO KHOA HỌC
Trang 10I ĐẶT VẤN ĐỀ
Urê là một loại phân bón hóa học được
dùng trong nông nghiệp để tăng lượng đạm
cho cây trồng và không phải là hóa chất bảo
quản thực phẩm Ở Việt Nam trong mấy năm
gần đây đã có nhiều người kinh doanh thực
phẩm, thủy sản tươi sống sử dụng urê trộn với
đá để bảo quản thực phẩm vì khi urê hòa tan
trong nước, nước sẽ trở nên lạnh do phản ứng
thu nhiệt, nhờ vậy mà thịt cá được tươi lâu
Việc lạm dụng urê trong bảo quản là do các
chuyến đi biển kéo dài, thời gian bảo quản cá
sau thu hoạch dài, nước đá bảo quản không
đủ, trang bị thiết bị bảo quản chưa đầy đủ,
chưa phù hợp cho việc bảo quản hải sản dài
ngày Bên cạnh đó, urê lại rất dễ mua, dễ sử
dụng, giá rẻ; cộng với sự thiếu hiểu biết, ý thức,
thái độ không tốt của người tham gia cung ứng
hải sản về vấn đề an toàn thực phẩm Ngoài
ra, công tác quản lý còn chưa tốt, chế tài xử
phạt chưa đủ sức răn đe, công tác phối hợp
giữa các đơn vị chưa hợp lý; tổ chức chưa
hoàn thiện, thiếu kinh phí hoạt động, hình thức
truyền thông về các mối nguy gây mất an toàn
thực phẩm chưa thật sự phong phú Các lý do
trên đã tạo nên nguy cơ về mối nguy urê trong
hải sản
Urê không nằm trong danh mục các chất
phụ gia được phép sử dụng trong thực phẩm
được ban hành kèm theo Thông tư số 27/2012/
TT-BYT - Thông tư quản lý phụ gia thực phẩm
của Bộ Y tế [4] cũng không có trong danh mục
phụ gia thực phẩm do Ủy ban Tiêu chuẩn Thực
phẩm (CODEX) ban hành
Thường xuyên ăn phải những thức ăn có
ướp urê mặc dù hàm lượng thấp sẽ bị ngộ
độc mãn tính với các dấu hiệu mất ngủ kéo
dài, đau đầu, nhức mỏi cơ thể, giảm trí nhớ,
thường bị chuột rút, chán ăn dẫn đến suy dinh
dưỡng, viêm loét ruột, mất cân bằng canxi và
phospho gây loãng xương… Khi ăn phải thực
phẩm chứa dư lượng urê cao thì người ăn có
thể bị ngộ độc cấp tính với các triệu chứng đau
bụng, buồn nôn, tiêu chảy, khó thở, suy tim,
xơ cứng động mạnh có thể dẫn tới tử vong
Ngoài ra, còn có các tổn thương khác như: tiểu đường, suy giảm chức năng tuyến giáp, suy giảm tình dục, rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ Trên động vật thí nghiệm, cho tiếp xúc với liều lượng lớn, kéo dài bằng các đường khác nhau (da, hô hấp, tiêu hóa, tĩnh mạch), có thể làm rối loạn chuyển hóa, rối loạn sinh sản… Ngoài ảnh hưởng đối với sức khỏe người tiêu dùng của chính urê, thì chúng còn có thể gây hại cho sức khỏe do các kim loại nặng như chì, thủy ngân, cadimi… có thể còn lẫn nhiều trong urê sử dụng trong nông nghiệp có độ tinh khiết không cao [12]
Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm Thủy sản Bình Thuận (2010) đã báo cáo có 33,3% số mẫu thủy sản lấy tại Bình Thuận trong 8 tháng đầu năm 2010 có chứa urê [6] Chi cục VSATTP TP Hồ Chí Minh đã phát hiện 40/67 mẫu ở chợ Bình Điền có urê [14]
Ở tỉnh Khánh Hòa, nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Huệ (2005) cho thấy 42,39% số mẫu hải sản có urê, trong đó mực 23,33% và cá 61,76% [10] Lê Tấn Phùng và cộng sự (2010)
đã xác định được 24/30 (80%) mẫu cá ở Khánh Hòa có chứa urê, hàm lượng urê cao nhất là 2,66 g/kg, thấp nhất là 0,28 g/kg; số mẫu có hàm lượng urê trên 1g/kg là 11 mẫu, chiếm tỷ lệ 45,8% [9] Trong năm 2012, Chi cục ATVSTP đã tiến hành kiểm tra 234 mẫu và có
28 mẫu không đạt các chỉ tiêu an toàn thực phẩm, trong đó phát hiện có mẫu mực tươi sử dụng phân urê bảo quản [5]
Báo cáo của Cục ATTP (2012) cho thấy 54/60 mẫu cá biển tại tàu cá, cảng cá, bến
cá và các chợ bán buôn, bán lẻ thủy sản có urê nhưng ở mức thấp (nằm trong khoảng 10-125 ppm) [8]
Mặc dù việc sử dụng urê trong hải sản khá phổ biến nhưng những nghiên cứu, những phân tích kiểm nghiệm liên quan lại không nhiều và cũng chưa thực hiện trên toàn bộ chuỗi cung ứng để có được những nhận định
cụ thể về nguyên nhân nhiễm mối nguy urê Tỉnh Khánh Hòa, một tỉnh có sản lượng đánh bắt và tiêu thụ hải sản lớn, là đầu mối cung cấp
Trang 11hải sản quan trọng cho cả nước thì việc đánh
giá hàm lượng urê trong hải sản khai thác là
vấn đề mang tính chất thời sự và cấp thiết cao
II ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: là 5 loại hải sản đại
diện cho 5 loại hình nghề khai thác ở Khánh
Hòa (Sản phẩm nghề chụp: mực, sản phẩm
nghề lưới kéo: cá đổng, sản phẩm nghề lưới
rê: cá ngừ bò, sản phẩm nghề lưới vây: cá nục,
sản phẩm nghề câu: cá cờ) Đây là các loại hải
sản được khai thác với sản lượng lớn và tiêu
thụ nhiều tại Khánh Hòa
Mẫu để phân tích urê được lấy tại:
- 5 cảng cá (cảng cá Hòn Rớ, cảng cá Vĩnh
Trường, cảng cá Vĩnh Lương, cảng cá Đá Bạc
và cảng cá Đại Lãnh)
- 11 chợ loại 1 và loại 2 ở Khánh Hòa gồm
5 chợ loại 1 và 2 ở Nha Trang (chợ Đầm, chợ
Xóm Mới, chợ Vĩnh Hải, chợ Phước Thái, chợ
Phương Sơn), 1 chợ loại 2 ở Cam Ranh (chợ
Ba Ngòi), 2 chợ loại 2 ở Ninh Hòa (chợ Dinh,
chợ Dục Mỹ), 2 chợ loại 2 ở Vạn Ninh (chợ
Đại Lãnh, chợ Tu Bông) và chợ cá Nam Trung
Bộ Lý do chỉ chọn các chợ loại 1, loại 2 (trong
tổng cộng 140 chợ thương mại ở Khánh Hòa)
và chợ cá Nam Trung Bộ làm đối tượng nghiên
cứu là do các chợ trên có tổng số người buôn
bán hải sản nhiều, có quy mô lớn, có khu vực
riêng để bán hải sản và cũng là các đầu mối
phân phối hải sản đến các khu vực buôn bán
hải sản khác trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
- 101 cơ sở mua bán hải sản (47 cơ sở
mua bán ở thành phố Nha Trang, 22 cơ sở
mua bán hải sản ở Cam Ranh, 14 cơ sở mua
bán hải sản ở huyện Ninh Hòa, 18 cơ sở mua
bán hải sản ở huyện Vạn Ninh [7]): lập danh
sách 101 cơ sở mua bán hải sản theo địa
phương và theo thứ tự alphabet của tên cơ
sở, số cơ sở thu mua cần được chọn lựa để
cơ sở được chọn lựa để lấy mẫu theo phương
pháp lấy mẫu ngẫu nhiên hệ thống Khoảng
cách chọn lựa các cơ sở là 10 (101/10), tức là
cứ cách 10 cơ sở thì 1 cơ sở mua bán lại được chọn trong danh sách Cụ thể số cơ sở mua bán được chọn là: 4 cơ sở mua bán tại Nha Trang, 2 cơ sở mua bán tại Cam Ranh, 2 cơ
sở mua bán tại Ninh Hòa và 2 cơ sở mua bán tại Vạn Ninh Tại 10 cơ sở được chọn lựa, tiến hành lấy mẫu Nếu cơ sở nào không có loại hải sản cần lấy mẫu thì tiến hành lấy mẫu hải sản
đó tại các cơ sở mua bán hải sản kế tiếp trong danh sách
Số lượng mẫu của 5 loại hải sản được lấy tại 5 cảng, 11 chợ và 10 cơ sở mua bán hải sản
ở 3 đợt trải đều trong năm 2014 là 390 mẫu (5 loại*(5 cảng + 11 chợ +10 cơ sở mua bán)* 3 đợt = 390 mẫu) Lấy mẫu được thực hiện theo quy định của Bộ Y tế tại Thông tư số 14/2011/TT-BYT ngày 01/4/2011 với khối lượng mẫu lấy tại 1 điểm trong 1 lần thu mẫu là 1,5 kg (nếu khối lượng của cá thể lớn hơn 1,5 kg thì lấy toàn bộ cá thể ấy) [3] Mẫu được lấy phải đảm bảo tính đại diện, khách quan và ngẫu nhiên Mẫu sau khi lấy được bao gói và ghi ký mã hiệu nhận diện Các mẫu nhanh chóng được mang đi phân tích tại phòng thí nghiệm thuộc Trung tâm Thí nghiệm Thực hành - Trường Đại học Nha Trang Điều kiện bảo quản mẫu
ở nhiệt độ -800C
Hàm lượng urê được xác định bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao với đầu dò huỳnh quang (TCVN 8025:2009) [15] với giới hạn phát hiện LOD = 10 mg/kg Kết quả được xử lý bằng phần mềm SPSS 16
Sự khác biệt về hàm lượng urê trung bình giữa các loại hải sản khai thác tại Khánh Hòa
đã được kiểm tra bằng phép phân tích phương sai một yếu tố kèm theo phép so sánh luân phiên từng cặp để thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê của các giá trị hàm lượng urê
Sự khác biệt hàm lượng urê trung bình được coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Tỷ lệ mẫu phát hiện có urê
Tỷ lệ (%) mẫu các loại hải sản được phát hiện có urê được thể hiện trong Hình 1
Trang 12Hình 1 Tỷ lệ (%) mẫu phát hiện có urê trong các loại
hải sản khác nhau
Tỷ lệ (%) mẫu hải sản tại các địa điểm lấy
mẫu khác nhau (cảng, cơ sở thu mua hải sản,
chợ cá) được phát hiện có urê được trình bày
ở Hình 2
Hình 2 Tỷ lệ mẫu phát hiện có urê tại cảng, chợ
và cơ sở thu mua ở Khánh Hòa
Kết quả trình bày ở Hình 1 và 2 cho thấy
có 69,5% số mẫu (271 mẫu trong số 390 mẫu
hải sản phân tích) phát hiện có urê Trong đó
tỷ lệ mẫu phát hiện có urê ở các loài hải sản
khai thác như sau: cá nục (15,9%), cá ngừ bò
(13,8%), cá cờ (13,8%), cá đổng (13,8%) và
mực (12,1%) Các mẫu phát hiện có urê nhiều
nhất là ở chợ cá (32,6%) sau đó là cơ sở thu
mua (24,6%) và ít nhất là ở cảng cá (12,3%)
Urê nếu có trong hải sản có thể do nội sinh
hoặc ngoại sinh (thêm từ ngoài vào):
- Urê nội sinh do quá trình phân giải các
thành phần có đạm trong cơ thịt động vật thủy
sản như: protein, axit amin, axit creatinin
Hàm lượng urê trong loài cá xương sụn
như cá nhám khoảng 1.000 - 2.000 mg%
Với cá xương cứng và những động vật thủy
sản không xương sống khác chỉ có khoảng
1-10 mg% [11]
- Urê ngoại sinh là urê do người tham gia cung ứng hải sản (ngư dân và người buôn bán) đưa vào để bảo quản hải sản tươi vì khi hòa tan urê trong nước sẽ làm lạnh môi trường nước Tuy nhiên, urê khi sử dụng trong bảo quản hải sản sau thu hoạch có thể làm hải sản nhiễm mối nguy urê (urê ngoại sinh) Tại các chợ cá, tỷ lệ mẫu phát hiện có urê (32,6%) cao hơn so với cơ sở thu mua hải sản (24,6%) và cảng (12,3%) Nguyên nhân có thể do: tại các chợ thương mại, khi thời gian lưu giữ hải sản kéo dài hơn 12 tiếng, đặc biệt
có trường hợp hải sản không bán hết trong ngày nhưng không được bảo quản đúng cách
đã làm hải sản giảm chất lượng và nhanh hư hỏng, quá trình phân hủy protein tạo urê cũng diễn ra nhanh hơn, do đó mà urê nội sinh sinh
ra nhiều Nguyên nhân khác có thể do người cung ứng hải sản tại chợ muốn hải sản nhìn tươi hơn và bảo quản lâu hơn nên đã sử dụng urê để bảo quản hải sản
Tại các cơ sở thu mua hải sản, tỷ lệ mẫu phát hiện có urê ở mức thấp hơn so với chợ có thể là do cơ sở thu mua có điều kiện bảo quản tốt hơn ở chợ nên hàm lượng urê nội sinh sinh
ra trong quá trình bảo quản thấp hơn ở chợ Mặt khác, tại cơ sở thu mua khi bán cho các công ty chế biến hải sản thì cơ sở thu mua phải cam kết đảm bảo chất lượng ATTP hải sản nên
họ ít sử dụng urê để bảo quản hải sản hơn so với chợ
Tại các cảng cá, tỷ lệ mẫu hải sản phát hiện có urê ở mức thấp nhất có thể là do đây
là mắt xích đầu tiên trong chuỗi cung ứng hải sản khai thác nên thời gian bảo quản hải sản
kể từ khi đánh bắt ngắn hơn so với tại các mắt xích tiếp theo nên lượng urê nội sinh hay ngoại sinh nếu có cũng không nhiều bằng ở các mắt xích tiếp theo
2 Hàm lượng urê trung bình trong hải sản khai thác tại Khánh Hòa
Hàm lượng urê trong 5 loại hải sản (Cá nục, cá cờ, cá ngừ bò, mực và cá đổng) được trình bày trong Bảng 1
Trang 13Việc kiểm tra bằng phép phân tích phương
sai một yếu tố kèm theo phép so sánh luân
phiên từng cặp cho thấy không có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) hàm lượng
urê trung bình giữa cá ngừ bò, mực, cá đổng;
và giữa cá cờ với cá nục Kết quả trình bày
ở Bảng 1 cho thấy hàm lượng urê trung bình
Bảng 1 Hàm lượng urê (g/kg) trong 5 loại hải sản (cá nục, cá cờ, cá ngừ bò, mực và cá đổng)
Loại hải sản Hàm lượng urê (g/kg)
Bảng 2 Hàm lượng urê (g/kg) trong 5 loài hải sản (Cá nục, cá cờ, cá ngừ bò, mực và cá đổng)
được thu mẫu tại cảng, chợ và cơ sở thu mua
Loại hải sản
Hàm lượng urê (g/kg) Trung bình Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình Nhỏ nhất Lớn nhất
Tuy nhiên, thông tư 29/TT-BNNPTNT của
Bộ NN&PTNT và Quyết định 46/2007/QĐ-BYT
của Bộ Y tế chưa quy định mức giới hạn urê
trong thực phẩm thủy sản [2] Từ 01/7/2011,
theo Luật An toàn thực phẩm [13], việc đưa ra
quy định về chỉ tiêu phân tích, mức giới hạn
cho phép đối với từng loại sản phẩm sẽ thuộc
trách nhiệm của Bộ Y tế và thường dựa trên
việc tham khảo các quy định hiện hành của
Codex, hoặc các tổ chức quốc tế khác về vệ
sinh an toàn thực phẩm trong khi hiện nay các
tổ chức này đều chưa qui định mức giới hạn
cho phép của urê trong thực phẩm Tuy vậy,
kết quả ở Bảng 2 cho thấy hàm lượng ure phát
hiện trong các loại hải sản thu mua ở Khánh
Hòa gấp 10 - 20 lần hàm lượng ure nội sinh
trong các loài cá xương cứng và những động vật thủy sản không xương sống khác (khoảng 1-10 mg%) [11] Như vậy, các số liệu này là đáng suy ngẫm và sẽ là cơ sở để thực hiện các nghiên cứu cần thiết tiếp theo nhằm cung cấp số liệu cho việc xây dựng các qui định liên quan đến giới hạn tối đa cho phép của urê trong hải sản, từ đó thực sự đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng
IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
Tại các chợ cá, tỷ lệ mẫu phát hiện có urê (32,6%) cao hơn so với cơ sở thu mua hải sản (24,6%) và cảng (12,3%) Tỷ lệ mẫu phát hiện
có urê ở các loài hải sản khai thác như sau:
Trang 14cá nục (15,9%), cá ngừ bò (13,8%), cá cờ
(13,8%), cá đổng (13,8%) và mực (12,1%)
Hàm lượng urê trung bình trong cá ngừ bò
(1,69 g/kg), mực (1,81 g/kg), cá đổng (1,62 g/kg)
cao hơn trong cá cờ (1,27 g/kg) và cá nục
(0,99 g/kg) Các số liệu của nghiên cứu này
cho thấy thực trạng về mối nguy urê trong hải
sản khai thác ở khánh Hòa Đây là các dữ liệu
có giá trị cho các nghiên cứu tiếp theo về đánh
giá nguy cơ của mối nguy này đối với sức khỏe
để làm cơ sở xây dựng các qui định liên quan
và từ đó có được các giải pháp thích hợp trong
việc quản lý an toàn thực phẩm nói chung và
an toàn thực phẩm hải sản nói riêng
2 Kiến nghị
Để có thể đưa ra các giải pháp hiệu quả
trong quản lý an toàn thực phẩm hải sản có
liên quan đến urê trong hải sản thì cần tiến hành những công việc cụ thể sau:
- Đánh giá nguy cơ của người tiêu dùng đối với mối nguy urê do ăn hải sản
- Nghiên cứu để đánh giá sự biến đổi urê nội sinh trong quá trình bảo quản hải sản
- Nghiên cứu để dưa ra quy định về giới hạn ure cho phép trong hải sản
- Kiểm soát chặt chẽ việc kinh doanh, mua bán và sử dụng urê trong bảo quản hải sản
- Chỉ đạo chặt chẽ việc quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cảng cá, cơ sở thu mua hải sản và các chợ đầu mối
- Tuyên truyền, giáo dục cho các đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng hải sản về an toàn thực phẩm nói chung và về tác hại của urê nói riêng Đồng thời tẩy chay những hải sản có ngâm urê
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 (Đặng Văn Hợp), Đỗ Minh Phụng, Nguyễn Thuần Anh, Vũ Ngọc Bội, 2007 Phân tích kiểm nghiệm thực phẩm thủy sản NXB Khoa học và Kỹ thuật, 261
2 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), 2010 Thông tư 29/TT-BNNPTNT của Bộ NN&PTNT Ban hành “Danh mục chỉ tiêu, mức giới hạn cho phép về an toàn vệ sinh thực phẩm đối với một số sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc động vật nhập khẩu, sản xuất lưu thông trong nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn”
3 Bộ Y tế, 2011 Thông tư số 14/2011/TT-BYT ngày 01/4/2011 Về việc ban hành “Hướng dẫn chung về mẫu thực phẩm phục vụ thanh tra, kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm”, Hà Nội
4 Bộ Y Tế, 2012 Thông tư số 27/2012/TT-BYT- Thông tư hướng dẫn việc quản lý phụ gia thực phẩm của Bộ Y Tế
5 Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm Khánh Hòa, 2012 Báo cáo công tác vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2012
6 Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm Thủy sản Bình Thuận, 2010 Báo cáo công tác đảm bảo an toàn thực phẩm năm 2010
7 Chi cục Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm Thủy sản Khánh Hòa, 2013 Danh mục các cơ sở thu mua hải sản tại Khánh Hòa
8 Cục An toàn thực phẩm, 2012 Báo cáo công tác đảm bảo an toàn thực phẩm năm 2012 và nhiệm vụ trọng tâm 2013
9 Lê Tấn Phùng và cộng sự, 2010 Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại Khánh Hòa Đề tài nghiên cứu khoa học tỉnh Khánh Hòa
10 Nguyễn Thị Ngọc Huệ, 2005 Tìm hiểu tình trạng sử dụng hàn the, urê trong thịt, hải sản tươi tại Khánh Hòa và mức độ nhiễm khuẩn của chúng Luận văn Thạc sĩ sinh học, Trường Đại học Đà Lạt
11 Nguyễn Trọng Cẩn và cộng sự, 2006 Nguyên liệu chế biến thủy sản Công nghệ chế biến thực phẩm thủy sản NXB Nông nghiệp: 42-151
12 Nguyễn Thuần Anh, 2013 Cảnh giác với thực phẩm có chứa urê Tạp chí Thuốc & sức khỏe 468/2013 19-20
13 Quốc hội, 2010 Quốc hội số: 55/2010/QH12 ngày 17 tháng 06 năm 2010 Quốc hội ban hành Luật an toàn thực phẩm
14 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tp HCM, 2007 Báo cáo công tác vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2007
15 TCVN 8025:2009 Xác định hàm lượng Urê - Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) dùng detector huỳnh quang sau khi tạo dẫn xuất với xanthydrol
Trang 15SINH KẾ CỘNG ĐỒNG VÀ TÌNH TRẠNG KHAI THÁC –
NUƠI TRỒNG THỦY SẢN VÙNG HỒ THỦY ĐIỆN ĐỒNG NAI 3,
HUYỆN ĐĂK G’LONG, TỈNH ĐĂK NƠNG
COMMUNITY LIVELIHOODS AND SITUATION OF FISHING - AQUACULTURE
AT HYDROPOWER RESERVOIR OF DONG NAI 3, DAK G’LONG DISTRICT,
DAK NONG PROVINCE
Nguyễn Văn Quỳnh Bơi 1 , Trần Văn Phước 1
Ngày nhận bài: 05/01/2016; Ngày phản biện thơng qua: 08/7/2016; Ngày duyệt đăng:15/12/2016
TĨM TẮT
Áp dụng phương pháp đánh giá nhanh nơng thơn (RRA – Rapid Rural Appraisal) và phương pháp điều tra xã hội sử dụng bộ câu hỏi bán cấu trúc, nghiên cứu đã cho thấy cộng đồng dân cư vùng hồ Đồng Nai 3 là một cộng đồng “thủy diện” chỉ được hình thành gần đây với cư dân từ nhiều vùng khác nhau Do nguồn lực hạn chế và cơ cấu dân số trẻ (chỉ 7,1% dân số trên tuổi lao động), hầu hết cư dân của cộng đồng tham gia vào các hoạt động tạo thu nhập, chủ yếu là nuơi cá lồng (45,8%) và khai thác thủy sản (41,7% tổng số hộ) Đời sống của các hộ, do vậy, dễ bị tổn thương với 4,2% số hộ ở tình trạng nghèo đĩi (thu nhập bình quân đầu người dưới 400.000 VND/tháng) Theo đĩ, nguồn lợi thủy sản cĩ chiều hướng suy thối do áp lực khai thác.
Từ khĩa: cộng đồng và nguồn lợi thủy sản, điều tra xã hội, nguồn lực, sinh kế
ABSTRACT
Applying methods of Rapid Rural Appraisal and social survey using semi-structured questionnaire, the study showed that residential community at Dong Nai 3 reservoir was a “water-based living” just formed recently by people from many different areas Due to limited livelihood resources and young population structure (only 7.1% population was over working age), almost people of the community involved in income generating activities, mainly fi sh cage-culture (45.8%) and fi shing (41.7% total households) Therefore, households living was easily vulnerable with 4.2% total households in poverty (income per capita was less than 400,000 VND per month) Accordingly, fi sheries resources were likely decreased due to fi shing pressure.
Keywords: community and fi sheries resources, social survey, assets, livelihoods
1 Viện Nuơi trồng thủy sản - Trường Đại học Nha Trang
THÔNG BÁO KHOA HỌC
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, trong bối cảnh suy thối mơi
trường và nguồn tài nguyên sinh vật nĩi chung,
thủy sinh vật nĩi riêng, vai trị của nguồn lợi
thủy sinh vật đối với đời sống cộng đồng ngày
càng được chú trọng Bên cạnh giá trị đối với hệ
sinh thái và cảnh quan - mơi trường, nguồn lợi
thủy sản cịn gĩp phần tạo cơng việc cho cư dân địa phương, tăng thu nhập cho các hộ
và cộng đồng Do đĩ, phát triển kinh tế địa phương đi đơi với bảo vệ mơi trường, bảo tồn
và phát triển nguồn lợi thủy sản là những vấn
đề luơn được các quốc gia đang phát triển quan tâm Đối với Việt Nam, do tầm quan trọng
Trang 16của nguồn lợi thủy sản, ngày 13/02/2012, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
188/QĐ-TTg phê duyệt chương trình bảo vệ và
phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2020
Mục tiêu tổng thể của Chương trình là bảo tồn
và tái tạo nguồn lợi thủy sản
Đến nay vẫn tìm thấy không nhiều các
nghiên cứu tập trung cụ thể vào vấn đề liên
quan giữa nuôi trồng và nguồn lợi thủy sản
với sinh kế những cộng đồng dân cư khu vực
quanh các hồ chứa thủy điện, đặc biệt ở Việt
Nam và nhất là ở Tây Nguyên Trong phạm
vi khu vực, công bố của Phounsavath năm
1998 về một nghiên cứu điển hình đối với hai
cộng đồng nghề cá tại hồ chứa Nam Ngum,
Lao P.D.R nhấn mạnh đến vai trò quản lý dựa
trên cộng đồng đối với nghề cá hồ chứa nhằm
phát triển nuôi trồng và quản lý nguồn lợi thủy
sản Chuyên khảo của Mạng lưới trung tâm
nuôi trồng thủy sản châu Á - Thái Bình dương
(Network of Aquaculture Centres in Asia-Pacifi c
- NACA) về tình trạng nghề cá hồ chứa tại 5
quốc gia châu Á bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ,
Nepal, Sri Lanka và Thái Lan [11] cũng phần
nào cho thấy ý nghĩa của vấn đề kinh tế - xã
hội (bao gồm thu nhập và sinh kế) trong việc
quản lý và khai thác các nguồn lợi của hồ chứa
Tập trung vào các hoạt động sinh kế của cộng
đồng dân cư trong vùng, có công bố của Hồ
Mạnh Tuấn và cộng sự năm 2008 về một
ng-hiên cứu điển hình ở hai hồ chứa nhỏ thuộc
tỉnh Bình Phước Gần đây, một công bố của Lê
Ngọc Châu và cộng sự (2011), về hiện trạng
khai thác cá ở một số hồ chứa nhỏ (<1.000 ha)
thuộc tỉnh Đồng Nai và Bình Phước đề cập đến
công cụ và năng suất khai thác giữa hai nhóm
hồ có và không có tổ chức quản lý khai thác
Ở khu vực Tây Nguyên, một nghiên cứu của
Phan Đình Phúc và cộng sự tại 2 hồ Easoup và
Lak (tỉnh Daklak trước đây) được công bố năm
2009 nhấn mạnh vai trò đồng quản lý đối với hồ
chứa nhỏ Ngoài các công bố trên, rất ít công
trình nghiên cứu đề cập đến cơ sở sinh kế của
những cộng đồng sống trong khu vực lân cận
các hồ chứa, đặc biệt là các hồ chứa thủy điện
Bài báo này trình này nguồn lực và hoạt động sinh kế, bao gồm cả khai thác và nuôi trồng thủy sản của cộng đồng cư dân khu vực
hồ thủy điện Đồng Nai 3, huyện Đăk G’Long, tỉnh Đăk Nông
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Hồ Đồng Nai 3 nằm ở khu vực tiếp giáp hai tỉnh Lâm Đồng và Đăk Nông Là hồ chứa thủy điện, hồ Đồng Nai 3 bắt đầu xây dựng cuối năm 2004 và hoàn thành năm 2011 với diện tích khoảng 56 km2, tổng dung tích chứa nước là 1 tỷ 400 triệu m3
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2014 tại khu vực hồ chứa thủy điện Đồng Nai 3, thuộc địa bàn huyện Đăk G’Long, tỉnh Đăk Nông theo phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA - Rapid - Rural Appraisal) và phương pháp điều tra xã hội sử dụng bộ câu hỏi bán cấu trúc Thông tin và dữ liệu được khảo sát bao gồm 5 nội dung là thông tin chung về hộ (họ và tên, địa chỉ, số điện thoại) và cơ cấu sinh kế (số thành viên của hộ, tuổi, giới tính, học vấn, nghề nghiệp,…), thông tin về kinh tế - đời sống (thông tin về nhà - đất, tiện nghi đời sống, thu nhập và tích lũy,…), các hoạt động sinh kế chính (khai thác thủy sản, chăn nuôi, trồng trọt,…), thuận lợi và khó khăn trong hoạt động sinh kế, và hỗ trợ của chính quyền/ban ngành địa phương
Do số hộ cư trú vùng lòng hồ thuộc phạm
vi nghiên cứu không lớn (60 hộ theo số liệu điều tra trước đây của Công An địa phương) nên nghiên cứu đã khảo sát tất cả các hộ bắt gặp trong các chuyến khảo sát thuộc khu vực nghiên cứu
Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ niên giám thống kê địa phương
Nguồn số liệu sơ cấp được tổng hợp dựa trên quá trình phỏng vấn các hộ dân sống trong khu vực hồ thông qua bộ câu hỏi điều tra Ngoài ra, để hiểu rõ hơn hiện trạng kinh tế -
xã hội, tình hình quản lý và sử dụng nguồn lợi thủy sản ở địa phương, các cán bộ quản lý cấp huyện và xã được phỏng vấn với tính chất là người am hiểu thông tin (key informant)
Trang 17Số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp được tổng
hợp và thống kê bằng phần mềm Microsoft
Excel (Version 2007) Thông tin được xử lý
theo từng nội dung dựa trên phiếu điều tra
Sinh kế của các cộng đồng nghiên cứu
được phân tích dựa theo khung sinh kế bền vững đề xuất bởi Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (United Kingdom Department for International Development - DFID) [3]
Hình 1 Hình ảnh hồ thủy điện Đồng Nai 3
(Nguồn hình trái: https://www.google.com/maps/@12.437142,107.608326,10z; truy cập ngày 23/10/2014)
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Khái quát về hồ thủy điện Đồng Nai 3
Trước đây, hồ Đồng Nai 3 thuộc sự quản lý
của Ban Quản lý Công trình thủy điện 6 Hiện
nay, Công ty Thủy điện Đồng Nai 3 - Tập đoàn
Điện lực Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý đập,
vận hành nhà máy và phát điện Riêng về khía
cạnh thủy sản, theo Phòng Nông nghiệp huyện
Đăk G’Long - tỉnh Đăk Nông, cho đến nay vẫn
chưa có bất kỳ văn bản nào đề cập đến việc
kết hợp giữa hai tỉnh Lâm Đồng và Đăk Nông
trong vấn đề bảo tồn và phát triển nguồn lợi hồ
Đồng Nai 3 Thuộc phạm vi hành chính tỉnh Đăk
Nông, Ủy ban Nhân dân các xã Quảng Khê,
Đăk Som, và Đăk Plao - huyện Đăk G’Long chịu
trách nhiệm phối hợp trong việc quản lý và bảo
vệ hồ theo Nghị định số 112/2008/NĐ - CP về
quản lý, bảo vệ, khai thác tổng hợp tài nguyên
và môi trường các hồ chứa thủy điện, thủy lợi
Có thể do lý do này mà những vấn đề liên quan
đến bảo tồn nguồn lợi thủy sản cũng như phát
triển nuôi trồng thủy sản hồ Đồng Nai chưa
được chú ý đúng mức [7]
2 Nguồn lực sinh kế của cộng đồng cư dân
vùng hồ thủy điện Đồng Nai 3
Cộng đồng cư dân vùng hồ Đồng Nai 3 chỉ
được hình thành trong những năm gần đây
sau khi hồ được ngập nước bao gồm cư dân
từ nhiều vùng khác nhau kể cả Việt kiều từ Cambodia trở về Phần lớn cư dân của cộng đồng không có đất tại địa phương nên gần như tất cả các hộ đều cư trú trên những nhà-bè trôi nổi trên mặt hồ Trong thực tế, số hộ vùng lòng hồ thay đổi hàng năm phụ thuộc vào sinh
kế, chủ yếu dựa trên nguồn lợi thủy sản khai thác được Do vậy, có thể xem cộng đồng dân
cư vùng lòng hồ Đồng Nai 3 là một cộng đồng mang tính chất tạm thời
2.1 Nguồn lực tự nhiên
Mặc dù gần rừng nhưng tài nguyên rừng không được xem là nguồn lực tự nhiên đối với sinh kế cộng đồng dân cư vùng lòng hồ
do việc khai thác rừng bị cấm và tập quán đời sống “thủy diện” Có thể nói nguồn lực tự nhiên của cộng đồng dân cư vùng lòng hồ thủy điện Đồng Nai 3 là nguồn lợi thủy sản vùng hồ và mặt nước để thực hiện nuôi trồng thủy sản đối với một số hộ
2.2 Nguồn nhân lực
Tuổi trung bình của cư dân thuộc cộng đồng là 27, thay đổi từ 1 đến 66 Trong số
161 nhân khẩu thuộc 48 hộ được khảo sát,
51 nhân khẩu dưới tuổi lao động (31,7%),
98 nhân khẩu trong tuổi lao động (60,9%)
và 12 nhân khẩu trên tuổi lao động (7,5%)
Trang 18Số nhân khẩu từ 45 và 50 tuổi trở xuống lần
lượt là 130 và 139 người, tương ứng tỷ lệ
86,1% và 92,1% Những kết quả này cho thấy
cấu trúc dân số cộng đồng vùng lòng hồ Đồng
Nai 3 rất trẻ (Hình 2) Kết quả điều tra còn cho
thấy số nhân khẩu trong hộ thay đổi từ 1 đến 7,
phổ biến từ 3 – 4 nhân khẩu/hộ với tỷ lệ nam/nữ
là 93/68 Trình độ học vấn của cộng đồng rất
thấp Khảo sát cho thấy chỉ có 1 em thuộc hộ
có nhà trên đất liền, chiếm gần 2% nhóm dưới
tuổi lao động và 0,6% tổng dân số, còn đi học (lớp 6) Tất cả các trường hợp còn lại đều đã nghỉ học Kết quả khảo sát chỉ ra rằng cộng đồng cư dân vùng lòng hồ không có bất kỳ lao động nào có trình độ chuyên môn Nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động đạt đến lớp 5 và lớp
6 lần lượt chiếm 2 tỷ lệ cao nhất là 10,2% và 14,3% Bên cạnh đó, tỷ lệ lao động mù chữ chiếm 15,5% tổng dân số và lên đến 25,5% số nhân lực trong độ tuổi lao động
Hình 2 Một số đặc trưng về nhân khẩu và lao động của cộng đồng vùng lòng hồ thủy điện Đồng Nai 3
2.3 Nguồn lực tài chính
Chỉ có 12 hộ (25%) cung cấp dữ liệu về đất
và rẫy tại địa phương đăng ký hộ khẩu với diện
tích đất thay đổi trong khoảng 120 - 30.000 m2,
trung bình là 6.500 m2 Có 30 hộ (62,5%) không
cung cấp dữ liệu này, 1 hộ (2,1%) xác nhận
đang ở nhờ, 5 trường hợp (độc thân hoặc mới
lập gia đình) không có đất (10,4%) Theo lý
thuyết, có thể xem đây là một bộ phận tạo nên
nguồn lực sinh kế đối với các hộ Tuy nhiên, rất
khó đánh giá khía tài chính của nguồn lực này
đối với cộng đồng dân cư vùng hồ Đồng Nai 3
Bên cạnh đó, xem xét toàn bộ cộng đồng cư
dân khu vực lòng hồ Đồng Nai 3,chỉ có 1 hộ
(2,1%) có nhà gỗ xây dựng năm 2009 với giá
trị hiện nay khoảng 500 triệu và 3 hộ (gần
6,3%) có nhà tạm xây dựng trên đất được quy
hoạch cho nhà máy thủy điện Tất cả các hộ
còn lại (91,6%) đều cư trú trên bè có diện tích
trung bình 28 m2, phổ biến từ 15 đến 24 m2
Được làm từ năm 2008 trở lại đây, giá trị của
bè ước tính thấp nhất 1 triệu và cao nhất là 60
triệu, trung bình 15,5 triệu Tuy nhiên, hầu hết
số hộ có phương tiện đi lại và thực hiện hoạt
động sinh kế là ghe xuồng Kết quả khảo sát cho thấy khoảng 4,2% số hộ (2 hộ) không có ghe xuồng, 8,3% (4 hộ) chỉ có xuồng chèo tay với giá trị không lớn Tất cả các hộ còn lại đều
có ghe máy có công suất từ 5 HP đến 24 HP với giá trị từ 5 triệu đến 60 triệu
Bên cạnh đó, tiện nghi đời sống và phương tiện hoạt động rất hạn chế do điều kiện vùng
hồ Chỉ có 2 hộ (4,2%) có xe cơ giới (xe “công nông”) phục vụ hoạt động sinh kế, khoảng 20
hộ (41,7%) có xe máy (gởi nhờ các nhà trên đất liền) và 9 hộ (18,8%) có tivi Thậm chí, 2
hộ (4,2%) khẳng định không có bất cứ tiện nghi đời sống nào Những dữ liệu này cho thấy rằng, nhìn chung, nguồn lực tài chính của cộng đồng khu vực lòng hồ Đồng Nai 3 không đáng kể
Xem xét về mặt hỗ trợ, trong số 48 hộ được khảo sát, chỉ có 1 trường hợp (2,1%) được
“Quỹ Bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng” (thuộc
Dự án Bảo tồn thiên nhiên khu vực Tà Đùng, tỉnh Đăk Nông) hỗ trợ không hoàn lại 14 triệu cho các hoạt động sinh kế và 1 trường hợp (2,1%) được vay vốn hỗ trợ dành cho các hộ
Trang 19cận nghèo từ Ngân hàng chính sách huyện
Bên cạnh đó chỉ có 11 trường hợp (22,9%)
được hỗ trợ từ người thân hoặc bạn bè, 1
trường hợp (2,1%) được đầu tư từ chủ bè lân
cận và 6 trường hợp (12,5%) phải vay ngoài
Đối với cộng đồng cư dân vùng hồ thủy điện
Đồng Nai 3, không có trường hợp nào vay
vốn từ các ngân hàng Khảo sát cho thấy 32
hộ (gần 66,7%) xác nhận có nhu cầu vay vốn
nhưng không vay được do không có hộ khẩu
và nơi cư trú ổn định, 1 hộ (2,1%) khẳng định
không dám vay, chỉ có 7 hộ (14,6%) không có
nhu cầu vay vốn Kết quả ngày một lần nữa
xác nhận nguồn lực tài chính của cộng đồng
khá hạn chế
2.4 Nguồn lực vật lý
Khảo sát cho thấy cộng đồng cư gần như
không có nguồn lực vật lý Do không có hệ
thống cung cấp nước nên 1 hộ (2,1% tổng số
hộ) sử dụng nước mưa và 5 hộ (10,5%) mua
nước bình để uống; ngoài 1 hộ (2,1%) sử dụng
nước suối, tất cả các hộ còn lại (85,4%) sử
dụng nước hồ phục vụ mục đích sinh hoạt Tùy
theo khu vực đặt bè, khoảng cách đến trường
cấp I & II lên đến 15 km Để đến được các trạm
hoặc trung tâm y tế, nhiều hộ phải vượt quãng
đường 20 km (đến trạm xá xã Đăk Som và trạm
xá xã Quảng Khê, huyện Đăk G’Long, tỉnh Đăk
Nông hoặc bệnh viện huyện Di Linh, tỉnh Lâm
Đồng) Do thiếu cơ sở hạ tầng và phương tiện,
đối với nhiều hộ (18,8%), việc tiếp cận thông
tin thường chậm và không đầy đủ, chỉ qua
radio và thông tin từ những bè kế cận Việc
phát triển sinh kế, theo đó, rất khó khăn
2.5 Nguồn lực xã hội
Kết quả khảo sát chỉ ra rằng mặc dù được
quan tâm nhiều từ chính quyền huyện và xã
nhưng do điều kiện khách quan, cộng đồng
gần như không có bất kỳ tổ chức xã hội nào
Việc xây dựng và triển khai hoạt động hỗ trợ
do vậy cũng rất hạn chế Kết quả khảo sát cho
thấy chỉ có 2 hộ (4,2% tổng số hộ) xác nhận
chính quyền địa phương có hỗ trợ phao cứu
sinh, màn và gạo (100 kg) đối với 4 hộ đặc
biệt khó khăn Bên cạnh đó, chính quyền địa
phương còn tổ chức tập bơi cho trẻ em Tuy nhiên, có đến 31 hộ (64,6%) cho rằng không
có bất kỳ hỗ trợ nào từ chính quyền hoặc các
cơ quan ban ngành địa phương Số còn lại (15
hộ - 31,3%) xác nhận không biết rõ Kết quả này chỉ ra rằng chính quyền các cấp nên chu trọng đến việc xây dựng các tổ chức xã hội cho cộng đồng cư dân vùng lòng hồ Bên cạnh việc hỗ trợ để ổn định đời sống cho cộng đồng, điều này cũng góp phần bảo đảm trật tự-trị an
và quản lý hành chính vùng lòng hồ
So sánh với kết quả nghiên cứu của Trấn Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh năm 2012 về nguồn lực sinh kế của các cộng đồng dân cư nông thôn Việt Nam nói chung, những kết quả trình bày trên đây cho thấy nguồn lực sinh kế
của cộng đồng dân cư vùng hồ Đồng Nai 3 kém hơn hẳn Điều này chỉ ra rằng cộng đồng vùng hồ Đồng Nai 3 rất dễ bị tổn thương về sinh kế và đời sống [2]
3 Hoạt động sinh kế
Do đa số cư dân vùng lòng hồ phải thực hiện nhiều hoạt động sinh kế nên nguồn thu nhập của một lao động trong nghiên cứu này được phân chia thành 3 nhóm bao gồm thu nhập chính (hoạt động sinh kế thường xuyên
và tạo ra nguồn thu nhập lớn nhất), nguồn thu nhập phụ thứ nhất (hoạt động sinh kế phụ tạo nên nguồn thu thứ hai cho lao động nếu có)
và nguồn thu nhập phụ thứ hai (các hoạt động sinh kế bổ sung tạo nên nguồn thu thứ ba nếu có) Nhìn chung, sinh kế của cộng đồng cư dân vùng lòng hồ thủy điện Đồng Nai 3 rất hạn chế, cơ hội công việc thấp, đặc biệt đối với phụ
nữ (Bảng 1) Do đời sống thủy diện1, gần như mọi nhân khẩu có khả năng đều tham gia các hoạt động sinh kế Tuy nhiên, kết quả khảo sát cũng cho thấy rất khó đánh giá tỷ lệ số nhân khẩu tham gia vào một loại hình hoạt động tạo thu nhập cụ thể Trong thực tế, hai hoạt động
1 Đời sống “thủy diện” trong bài viết này đề cập đến tập quán cư trú và sinh hoạt trôi nổi trên mặt nước, khai thác nguồn lợi thủy sản và/hoặc diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản nhằm tạo thu nhập.
Trang 20tạo thu nhập phổ biến tại vùng hồ thủy điện Đồng
Nai 3 là nuôi cá lồng bè (chủ yếu là cá lóc đen)
với sự tham gia của 22/48 hộ (45,8% tổng số
hộ) và khai thác thủy sản với 20/48 hộ (41,7%)
Hai hoạt động sinh kế này có mối liên hệ qua
lại rất chặt chẽ với 86,4% số hộ nuôi cá bè
(19 hộ) có sinh kế phụ là khai thác thủy sản và 35% số hộ khai thác thủy sản (7 hộ) có sinh kế phụ là nuôi cá bè dựa vào nguồn cá tạp khai thác được bằng vó đèn Số hộ có hoạt đông sinh kế chính khác chiếm tỷ lệ rất thấp
Bảng 1 Các hoạt động tạo thu nhập và số nhân lực tham gia (% tổng dân số)
ở cộng đồng cư dân vùng hồ Đồng Nai 3
Hoạt động thập chính Nguồn thu Nguồn thu thập phụ thứ nhất Nguồn thu thập phụ thứ hai Ghi chú
hoặc theo ngày
chính thức và đã nghỉ học (39 nữ và 2 nam, thấp nhất nam 13 tuổi
và cao nhất nữ 58 tuổi)
* Phụ việc nhà trong các hoạt động sinh kế được xem là hoạt động tạo thu nhập
Trong khảo sát này, có 5 hộ (10,4%) không
cung cấp thông tin về tài chính, 26 hộ (54,2%)
xác nhận có tích lũy hàng năm nhưng không
cung cấp thông tin chi tiết và 1 hộ (2,1%)
không xác định được vấn đề tích lũy tài chính
Với 40 hộ (83,3%) cung cấp thông tin, kết quả
khảo sát khía cạnh tài chính cho thấy mức thu
nhập phổ biến và chi phí thường xuyên hàng
tháng của hộ lần lượt dao động từ 2,5 triệu
cho đến 8 triệu và 1,5 đến 6 triệu với tỷ lệ sai
khác không lớn (Bảng 2) Điều đáng lưu ý là là
phạm vi biến động của những dữ liệu này rất
lớn, theo đó là độ lệch so với giá trị trung bình,
cho thấy sự phân hóa thu nhập rất cao giữa các hộ trong cộng đồng Tuy nhiên, do điều kiện sống vùng lòng hồ nên chi phí bất thường không đáng kể, tối đa chỉ từ 1 đến 2 triệu trong một năm Có đến 13 hộ (27,1%) xác nhận không có tích lũy, thậm chí có 2 hộ (4,2%) cho biết thu nhập không đáp ứng đủ các chi phí Dựa trên các kết quả điều tra, có thể ước tính trung bình thu nhập theo đầu người ở cộng đồng vùng hồ Đồng Nai 3 khoảng 2 triệu/tháng, thay đổi từ 0,3 đến 8 triệu/người/tháng Kết quả này chỉ ra rằng, nhiều hộ của cộng đồng dân cư vùng hồ Đồng Nai 3 có đời sống rất khó khăn
Trang 21Mặc dù không hoàn toàn chính xác do
nhiều hộ đã không cung cấp thông tin, phạm
vi thay đổi khá rộng của thu nhập bình quân/
người/tháng đã phản ảnh thực tế khác biệt về
nguồn lực sinh kế của các hộ trong cộng đồng
Đối với cộng động dân cư vùng hồ Đồng Nai 3,
79,2% tổng số hộ (38 hộ) đạt mức sống trung
bình so với Thông tư này 22/2014 của Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội về Hướng dẫn
quy trình xác định hộ làm nông nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức
sống trung bình giai đoạn 2014 - 2015 và 4,2%
tổng số hộ khảo sát (2 hộ chiếm 4,9% số hộ
cung cấp thông tin) thuộc diện nghèo (có thu
nhập trên đầu người dưới 400.000 đồng tháng
theo chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2014 - 2015)
Theo khía cạnh tổn thương, các kết quả
khảo sát về chiến lược sinh kế (tỷ lệ hộ không
có nguồn thu ổn định, tỷ lệ hộ không có khả
năng tích lũy, tỷ lệ hộ làm thuê, ), sức khỏe
(khả năng tiếp cận các trung tâm y tế), mạng
lưới xã hội (tỷ lệ số hộ có nhu cầu được hỗ trợ
ở bất kì hình thức nào, tỷ lệ hộ không tiếp cận
nguồn thông tin), nguồn nước (phần trăm số
hộ sử dụng nguồn nước tự nhiên, phần trăm số
hộ không có nguồn cung ứng nước phù hợp)
[13]… chỉ ra rằng cộng đồng dân cư vùng hồ
Đồng Nai 3 có khả năng chịu tổn thương về
sinh kế rất cao
4 Nguồn lợi thủy sản và tình hình khai thác
- nuôi trồng thủy sản khu vực hồ Đồng Nai 3
Theo ý kiến của cộng đồng địa phương,
hồ Đồng Nai 3 có nhiều loài thủy sản có giá trị
kinh tế đã được khai thác như cá lăng, lóc, trê,
trắm, mè, chép, thác lác, rô-phi, bống tượng,
ba ba, Theo thông tin từ những người am hiểu, nguồn lợi thủy sản hồ Đồng Nai 3 có nguồn gốc từ sông Đồng Nai Thêm vào đó, huyện Đăk G’Long đã cho thả 1 tạ cá giống (bao gồm các loài cá lăng, lóc, trôi, trắm, mè,…) vào năm
2013 để phát triển nguồn lợi cá kinh tế cho hồ Nhờ đó, nhiều hoạt động khai thác đã được tiến hành với tính chất là một trong hai hoạt động sinh kế chính của cộng đồng cư dân vùng hồ Kết quả khảo sát cho thấy 85,4% tổng số hộ của cộng đồng (41 hộ) tham gia khai thác thủy sản Trong số đó, 48,8% số hộ khai thác (20 hộ) hoạt động với tính chất là sinh kế chính và 51,2% (21 hộ) với tính chất là sinh kế phụ Tùy theo điều kiện riêng về vốn đầu tư, nhân lực, kinh nghiệm hoạt động, một hộ có thể thực hiện nhiều phương thức khai thác khác nhau như vó đèn (kích thước mắt lưới 2a < 1 cm), thả lờ (bao gồm cả lờ dây với kích thước mắt lưới 2a < 1 cm), đánh lưới, câu giăng, câu cắm, Trong thực tế, hai hình thức khai thác bắt gặp nhiều nhất là vó đèn và đánh lưới, lần lượt chiếm tỷ lệ 26/41 và 24/41 số hộ đang hoạt động khai thác Kết quả khảo sát cũng chỉ ra rằng khu vực hồ thủy điện Đồng Nai 3 hiện có trên 176 vó đèn (hộ ít nhất là 4 và cao nhất là 20 vó với diện tích trung bình 10 m2/vó)
và hơn 645 lờ dây (hộ sử dụng ít nhất là 25 và cao nhất là 200 lờ với chiều dài từ 8 đến 12 m) Xem xét về tính ổn định, khảo sát cho thấy sản lượng khai thác rất biến động theo mỗi trường hợp, cao nhất có thể lên đến 30 kg/ngày đêm Đối với vó đèn khai thác cá sơn (được sử dụng làm thức ăn nuôi cá lóc), kết quả khảo sát cho thấy sản lượng trung bình khoảng 4 – 5 kg/vó/đêm Theo đó, 25 trường hợp (xấp xỉ 61%
Bảng 2 Tình hình tài chính gia đình của cộng đồng vùng hồ thủy diện Đồng Nai 3
STT Tham số (± độ lệch chuẩn) Trung bình Khoảng dao động
1 Tổng thu nhập hộ (triệu/tháng) (no =40) 6,0 (± 3,2) 1,5 – 18
2 Chi phí thường xuyên của hộ (triệu/tháng) (no =41) 4,1 (± 1,7) 1,5 – 9
3 Chi phí bất thường của hộ (triệu/năm) (no =48) Không đáng kể 1 – 2
4 Tích lũy tài chính của hộ (triệu/năm) (no=26) 19,6 (± 25) 0 – 120
n o – số hộ phản hồi khảo sát
Số liệu trung bình được trình bày dưới dạng giá trị trung bình (± độ lệch chuẩn)
Trang 22tổng số hộ tham gia khai thác) đánh giá rằng
hoạt động khai thác thủy sản vùng hồ không ổn
định do nguồn lợi đã giảm sút đáng kể, từ 50%
đến 80% tùy theo nhận xét của mỗi hộ Tuy
nhiên, cũng có 12 hộ (29,3%) cho rằng hoạt
động này mang tính ổn định, 1 ý kiến (2,4%)
nhận định thu nhập từ hoạt động này ổn định
hơn so với khi sống trên đất liền và 1 trường
hợp khác (2,4%) đánh giá tạm ổn định Các
trường hợp khác không có ý kiến Theo khía
cạnh tài chính, rất khó đánh giá chính xác hiệu
quả của từng loại hình hoạt động khai thác Do
điều kiện vùng hồ, thông thường chi phí đầu tư
thuyền bè và chi phí đi lại khá cao nên mỗi hộ
có thể kết hợp nhiều phương thức khai thác
và cả hoạt động sinh kế khác trong đời sống
thường nhật Nhìn chung, tùy theo điều kiện
riêng của mỗi hộ, hoạt động khai thác thường
được thực hiện quanh năm (lên đến 300 ngày/
năm, thậm chí cao hơn) với thu nhập thay đổi
từ 100.000 - 400.000 đồng/ngày đêm sau khi
trừ chi phí
Một hoạt động sinh kế quan trọng khác của
các hộ vùng lòng hồ Đồng Nai 3 là nuôi cá bè
để tận dụng mặt nước và nguồn cá tạp (chủ
yếu là cá sơn) khai thác được Theo kết quả
điều tra, có 34 trường hợp (70,1% tổng số hộ
khảo sát) cung cấp thông tin về nuôi cá bè,
trong đó 22 hộ (45,8% số hộ) xác nhận nuôi
cá bè là sinh kế chính và 7 hộ (14,6%) là sinh
kế phụ Bên cạnh đó, 2 hộ (4,2% tổng số hộ)
đã tạm ngưng hoạt động và 3 hộ (6,3%) đang
thử nghiệm Các đối tượng nuôi phổ biến nhất
là cá lóc đen, ngoài ra còn có cá lóc bông và
cá bống tượng Hiện có 1 hộ (2,1%) đang thử
nghiệm nuôi cá diêu hồng, chép và mè vinh
Cho đến nay, hoạt động nuôi bè của cộng đồng
địa phương chỉ mang tính tự phát dựa vào kinh
nghiệm Xem xét về khía cạnh kinh tế của hoạt
động nuôi cá bè, chi phí hoạt động chủ yếu là
tiền cá giống và tiền thuốc phòng trị bệnh Tuy
nhiên, do điều kiện khai thác thức ăn tự nhiên
gần đây trở nên khó khăn, nhiều hộ phải tăng
thêm chi phí đối với thức ăn công nghiệp Do
vậy, tương tự trường hợp quy cách lồng bè,
chi phí hoạt động thay đổi rất lớn theo mỗi trường hợp riêng Kết quả điều tra cho thấy chi phí trung bình cho 1 bè cá lóc đen 18 m2
có thể bao gồm 5 triệu tiền cá giống, 2 - 4 triệu tiền thuốc phòng trừ dịch bệnh và 60 triệu tiền thức ăn cho vụ nuôi 8 tháng Theo đó, lợi nhuận thu được thay đổi từ 40 đến 240 triệu/
vụ nuôi (6 đến 10 tháng) tùy theo mức độ đầu
tư Vào thời điểm khảo sát, tại vùng hồ, bệnh đối với cá nuôi đã xuất hiện tương đối phổ biến với 19/34 trường hợp cung cấp thông tin xác định thường gặp các loại bệnh ký sinh trùng gây tuột nhớt, lỏ loét, trắng thân, Theo đó,
15 hộ (51,8% tổng số hộ nuôi) đánh giá hoạt động nuôi không ổn định do nguồn thức ăn tự nhiên khai thác được giảm sút nghiêm trọng (60 – 80%) và thị trường đầu ra không ổn định Bên cạnh đó một số hộ còn nhận định rằng môi trường nuôi bắt đầu bị ô nhiễm Chỉ có một trường hợp đánh giá rằng hoạt động nuôi trong khu vực mang tính ổn định Từ những kết quả khảo sát, tập huấn kỹ thuật và xây dựng các mô hình nuôi thủy sản cho cộng đông cư dân địa phương là việc làm cần thiết Điều này không chỉ góp phần ổn định đời sống mà còn giảm áp lực đối với hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sản
Như đã trình bày trên đây, cho đến nay vẫn chưa có bất kỳ văn bản nào đề cập đến việc kết hợp giữa hai tỉnh Lâm Đồng và Đăk Nông trong vấn đề bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản hồ Đồng Nai 3 Do đó, vấn đề này nên được đặt ra Riêng đối với huyện Đăk G’Long, chỉ có thể tập trung cho vấn đề quản lý các hộ sống trong vùng lòng hồ thuộc phạm vi quản
lý hành chính Do vậy, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đăk G’Long không thể đánh giá vấn đề khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên của hồ Đồng Nai 3 Riêng về nuôi trồng thủy sản, hồ Đồng Nai 3 được đánh giá
có tiềm năng phát triển nuôi lồng bè, thậm chí đối với các đối tượng cá nước lạnh Tuy hiện tại chưa có mô hình nuôi nào được triển khai nhưng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện đang lập kế hoạch kết hợp với
Trang 23Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh
Đăk Nông thí điểm các mô hình nhằm phát triển
sinh kế cho cộng đồng vùng hồ Đồng Nai 3
Các vấn đề được trình bày trên đây cho
thấy tình hình khai thác thủy sản tại hồ Đồng
Nai 3 tương tự tình hình khai thác tại một số
hồ chứa không nuôi cá và không được quản lý
thuộc tỉnh Bình Phước trong những năm trước
đây với nhiều loại ngư cụ thô sơ bao gồm cả
các ngư cụ mang tính hủy diệt nguồn lợi [1]
Đối với hồ Đồng Nai 3, các ngư cụ khai thác
mang tính hủy diệt nguồn lợi là vó đèn và lờ
dây (kích thước mắt lưới 2a thấp hơn nhiều
so với quy định là 1,8 - 2 cm tùy theo loại ngư
cụ) Bên cạnh đó, thời gian khai thác gần như
quanh năm càng thúc đẩy sự suy giảm nguồn
lợi Khảo sát thường xuyên bắt gặp cá con và
cá mang trứng trong sản phẩm khai thác đã lý
giải phần nào hiện trạng nêu trên Kết quả này
cho thấy vấn đề bảo vệ nguồn lợi theo Công
văn số 291/SNN-TS của Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn tỉnh Đăk Nông tại vùng hồ
không được thực hiện triệt để Khảo sát chỉ ra
rằng người tham gia khai thác không nắm rõ về
các ngư cụ, thời gian khai thác và kích thước tối
thiểu đối với các đối tượng được cho phép đánh
bắt theo phụ lục kèm theo Công văn nêu trên
Để ngăn chặn tình trạng suy thoái nguồn lợi, có
thể kết hợp việc thả giống bổ sung hàng năm
với bảo vệ và khai thác hợp lý các loài cá có khả
năng tự sinh sản trong môi trường hồ chứa [4]
Theo đó, chính quyền địa phương và các cơ
quan chức năng cần chú ý đến công tác quản
lý, tăng cường tuyên truyền kết hợp với việc
thả giống hàng năm nhằm bảo tồn và phát triển
nguồn lợi thủy sản hồ thủy điện Đồng Nai 3
IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
- Cộng đồng dân cư vùng hồ Đồng Nai 3
là cộng đồng dân cư “thủy diện”, được
hình thành gần đây với cấu dân số trẻ với
86,1% dân số dưới 45 tuổi và tỷ lệ nam cao hơn nữ
- Cộng đồng dân cư vùng hồ có nguồn lực hạn chế và sinh kế kém đa dạng với 2 hoạt động chính là khai thác và nuôi trồng thủy sản lần lượt chiếm tỷ lệ 48,8% và 45,8% tổng số hộ
- Cộng đồng nghiên cứu có khả năng chịu tổn thương về mặt sinh kế cao
- Hoạt động nuôi cá lồng tại vùng hồ chỉ mang tính tự phát dựa trên kinh nghiệm của mỗi hộ
- Nguồn lợi thủy sản đang giảm sút đáng
kế do thiếu cơ chế quản lý chặt chẽ Hoạt động khai thác bằng các công cụ bị cấm và khai thác vào mùa vụ sinh sản thường xuyên xảy ra ở
hồ Đồng Nai 3
2 Kiến nghị
- Thiết lập cơ chế quản lý dựa vào cộng đồng và tuyên truyền cho người dân địa phương về việc bảo vệ môi trường và khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản kết hợp thả giống bổ sung hàng năm để ngăn chặn suy giảm nguồn lợi thủy sản vùng hồ
- Đặt vấn đề ký kết văn bản hợp tác giữa hai tỉnh Lâm Đồng và Đăk Nông về bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản hồ Đồng Nai 3
- Tập huấn và phát triển các mô hình nuôi thủy sản để tận dụng mặt nước và giảm áp lực đối với hoạt động khai thác nguồn lợi
- Tăng cường quản lý hành chính, lập kế hoạch phát triển dài hạn chú trọng đến vấn đề cải thiện nguồn lực xã hội cho cộng đồng dân
cư vùng hồ Đồng Nai 3 nhằm ổn định sinh kế
LỜI CẢM ƠN
Các tác giả xin chân thành cảm ơn đề tài
“Nghiên cứu đánh giá và đề xuất các giải pháp quản lý, phát triển nguồn lợi thủy sản hồ chứa tỉnh Đắk Nông” đã cung cấp tài chính để tiến hành khảo sát Xin cảm ơn Kỹ sư Nguyễn Đình Trung và Kỹ sư Võ Văn Quí đã hỗ trợ thực hiện điều tra
Trang 24TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1 Lê Ngọc Châu, Nguyễn Phú Hòa, Lê Thanh Hùng, Vũ Cẩm Lương, 2011 Hiện trạng khai thác cá ở một số hồ chứa nhỏ thuộc tỉnh Đồng Nai và Bình Phước Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh (http://fof.hcmuaf.edu.vn/data/fi le/40; truy cập ngày 27/04/2013)
2 Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh, 2012 Quan hệ giữa sinh kế và tình trạng nghèo ở nông thôn Việt Nam
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường (Mã số: CS-2012-02) Khoa Kinh tế Phát triển - Trường Đại học Kinh tế
Tp Hồ Chí Minh
3 Mạng lưới các trung tâm nuôi trồng thủy sản châu Á (NACA), 2006 Cẩm nang phương pháp đánh giá nông thôn và phân tích sinh kế bền vững (bản dịch của Dự án Quản lý tổng hợp các hoạt động đầm phá - IMOLA), FAO - Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế
4 Phan Đình Phúc, John Sollows, Nguyễn Quốc Ân, Đỗ Tịnh Lợi, Nguyễn Ngọc Vĩnh, Trương Hà Phương, Võ Thế Dũng, Nguyễn Quốc Nghị, Nguyễn Lương Nho, Phan Thương Huy, Thái Ngọc Chiến, 2004 Hiện trạng nghề cá hồ Eakao tỉnh Daklak Tuyển tập các công trình nghiên cứu công nghệ (1984 - 2004) Bộ Thủy sản - Trung tâm nghiên cứu thủy sản III NXB Nông nghiệp Tp Hồ Chí Minh
5 Phan Đinh Phúc, Lý Ngọc Tuyên, Lê Văn Diệu, và Dương Tuấn Phương, 2009 Đánh giá mô hình đồng quản
lý nghề cá hồ chứa Easoup và hồ Lăk - Daklak Hội nghị đồng quản lý nghề cá quy mô nhỏ tại Việt Nam - Hội nghề cá tỉnh Khánh Hòa
6 Nghị định số 112/2008/NĐ – CP về quản lý, bảo vệ, khai thác tổng hợp tài nguyên và môi trường các hồ chứa thuỷ điện, thuỷ lợi
7 Niên giám thống kê năm 2013 (05-2014) Chi cục thống kê huyện Đăk G’Long
8 Quyết định số 9/2011/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ: Về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015
9 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đăk Nông, 2013 Phụ lục 2, 3, 4 và 5 (Công văn số 291/SNN-TS), 27/03/2013
10 Thông tư số 22/2014 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về Hướng dẫn quy trình xác định hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình giai đoạn 2014 – 2015
13 Micah B Hahn, Anne M Riederer, Stanley O Foster The Livelihood Vulnerability Index: A pragmatic approach to assessing risks from climate variability and change-A case study in Mozambique Global Environ Change, 2009 (in press - doi:10.1016/j.gloenvcha.2008.11.002)
14 Sommano Phounsavath Community-based fi sheries management as an approach to participatory management
of reservoir fi sheries – A case study of two fi shing villages at the Nam Ngum reservoir, Lao P.D.R
A thesis submitted in partial fulfi llment of the requirements for the degree of Master of Science Asian Institute of Technology, 1998
Trang 25ẢNH HƯỞNG CỦA CHITOSAN, OLIGOCHITOSAN VÀ OLIGOCHITIN
ĐẾN CHẤT LƯỢNG TƠM BẠC (Metapenaeus brevicornis)
THEO THỜI GIAN BẢO QUẢN
EFFECT OF CHITOSAN, CHITOSAN OLIGOSACCHARIDE AND CHITIN
OLIGOSACCHARIDE ON THE QUALITY OF SHRIMP (Metapenaeus brevicornis)
ACCORDING TO THE STORAGE TIME
Từ khĩa: chitin, chitosan, chitosan oligosaccharid, Metapenaeus brevicornis, tơm bạc
ABSTRACT
The effect of chitosan, oligochitosan and oligochitin on the change of sensory quality, the content of TVB-N, TMA-N, NH3, lipid peroxidation and bacteria of the raw shrimp (Metapenaeus brevicornis H Milne Edwards, 1837) according to the storage time was studied The results showed that raw yellow shrimp treated with oligochitosan 1,25% had the quality of sensory, the content of TVB-N, TMA-N, NH3, the ratio of lipid peroxidation, and the amuont of bacteria which adapted to the VN codex standards after 5 preservation days
at the temperature of 80C All object functions were evaluated to be effected by chitosan, oligochitosan and oligochitin However, the effect of oligochitosan on all target functions was stronger than that of chitosan and oligochitin on all target functions The results also showed that the antibacterial and antioxidant activity of oligochitosan was better than that of chitosan and oligochitin.
Keywords: chitin, chitosan, oligochitosan, oligochitin, Metapenaeus brevicornis, shrimp
1 Khoa Cơng nghệ Thực phẩm – Trường Đại học Nha Trang
2 Viện Cơng nghệ Sinh học Thực phẩm - Trường Đại học Cơng nghiệp Tp Hồ Chí Minh
THÔNG BÁO KHOA HỌC
Trang 26I ĐẶT VẤN ĐỀ
Tôm là một trong những mặt hàng chủ lực
của ngành thủy sản Việt Nam Xuất khẩu tôm
chiếm 70 - 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của
ngành Tuy vậy nguyên liệu tôm rất dễ bị hư
hỏng trong quá trình bảo quản và sự chênh
lệch giá trị giữa tôm tươi - tôm bị ươn hỏng
rất lớn Do vậy, người dân thường lạm dụng
các loại hóa chất trong bảo quản tôm nguyên
liệu nhất là các loại tôm khai thác từ biển như
tôm bạc Vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu
bảo quản tôm biển bằng một số chất có nguồn
gốc tự nhiên, không độc hại và có khả năng
kháng khuẩn, chống oxy hóa như chitosan,
oligochitosan và oligochitin
Thực tế cho thấy chưa có công bố nào
đánh giá, so sánh mức độ tác động của
oligochitin (chitin oligosaccharid - CHOS),
oligochitosan (chitosan oligosaccharid - COS)
và chitosan (CS) tới chất lượng tôm bạc khai
thác ở vùng biển Việt Nam Do vậy, từ kinh
phí của đề tài cấp Nhà nước KC 07.02/11-15
“Nghiên cứu công nghệ sản xuất và ứng
dụng chế phẩm oligosaccharid (oligochitin và
oligochitosan) để bảo quản sau thu hoạch
nguyên liệu thủy sản đánh bắt xa bờ”, chúng
tôi đã tiến hành nghiên cứu này Bài báo này
chỉ trình bày một phần nghiên cứu của chúng
tôi về ảnh hưởng của CHOS, COS và CS lên
chất lượng tôm bạc theo thời gian bảo quản
làm cơ sở cho việc ứng dụng oligochitin,
oligochitosan và chitosan trong bảo quản
nguyên liệu thủy sản trên tàu cá đánh bắt xa bờ
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Tôm bạc (METAPENAEUS BREVICORNIS)
tươi đạt TCVN 3726 - 89 Tôm có kích cỡ trung
bình 30 ÷ 40 con/kg
2 Chuẩn bị mẫu
Tôm bạc nghệ nguyên liệu được mua thu
mua tại cầu cảng cá Vĩnh Lương - Nha Trang
Sau khi thu mua, tôm được rửa sạch và để ráo,
sau đó tiến hành ngâm vào các dung dịch CHOS, COS, CS với nồng độ 1,25% trong thời gian 2 phút Sau đó, tôm được bảo quản bằng nước đá với nhiệt độ bảo quản 8 ± 10C CHOS
và COS là sản phẩm của đề tài KC07.02/11-15 được sản xuất theo phương pháp sử dụng bức
xạ Co 60 để phân cắt chitin và chitosan
3 Phương pháp phân tích
- Đánh giá cảm quan theo TCVN 3215 - 79 [2]
- Đánh giá tổng số vi khuẩn hiếu khí theo TCVN [1]
- Chỉ số peroxid được xác định theo phương pháp của Santha và Decker (1994) [12]
- Xác định tổng nitơ bay hơi (TVB-N) và hàm lượng trimethylamine (TMA-N) bằng cách
sử dụng TCA để chiết mẫu và tiến hành xác định đạm theo phương pháp Kjeldhal [11]
- Xác định hàm lượng NH3 bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước [1]
4 Phương pháp xử lý số liệu
Thí nghiệm được lặp lại 3 lần Loại bỏ giá trị bất thường bằng phương pháp Duncan Phân tích ANOVA và hồi quy trên phần mềm
MS Excel 2010
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Ảnh hưởng của CHOS, COS và CS đến các chất lượng cảm quan của tôm bạc
Kết quả phân tích cho thấy theo thời gian bảo quản chất lượng cảm quan thể hiện qua giá trị tổng điểm trung bình cảm quan (TBCQ)
bị giảm theo thời gian bảo quản (Hình 1) và CHOS, COS, CS có tác động khác nhau tới chất lượng cảm quan của tôm bạc thể hiện qua giá trị TBCQ (p<0,05) Tác động tốt hơn của COS trong hạn chế suy giảm chất lượng của tôm bạc thông qua mức độ giảm chậm của giá trị TBCQ của tôm bạc so với các mẫu bảo quản bằng CHOS, CS thể hiện qua hệ số tương quan tương ứng lần lượt CHOS, COS và CS (R2 = 0,99; R2 = 0,97; R2 = 0,99) Sau 6 ngày bảo quản, mẫu tôm bạc xử lý dung dịch COS 1,25% có TBCQ cao nhất, tương ứng 14,25 điểm và TBCQ thấp nhất ở mẫu ĐC TBCQ
Trang 27Kết quả này có thể lý giải là do mẫu tôm đối
chứng không được xử lý bằng các chế phẩm
sinh học kháng khuẩn và chống oxy hóa nên
VSV trên tôm phát triển cùng với các biến đổi
sinh hóa dẫn đến suy giảm chất lượng cảm
quan Đối với các mẫu xử lý CHOS, COS và
CS, chất lượng cảm quan của tổm giảm chậm
theo thời gian bảo quản so với mẫu đối chứng
Kết quả này có thể lý giải là do dưới tác động
của CHOS, COS và CS - đây là những chất
có hoạt tính kháng khuẩn nên hoạt động VSV
bị ức chế Mặt khác, các chất này cò có khả
năng ức chế các phản ứng oxy hóa [2], [3], [5],
[6], [10] nên góp phần hạn chế các chuyển hóa
sinh học Vì vậy, quá trình biến đổi của tôm
bạc thể hiện qua sự giảm TBCQ bị chậm lại Vì
thế, các mẫu tôm đã qua xử lý chế phẩm sinh
học có chất lượng tôm bảo quản tốt hơn Mẫu
tôm bạc xử lý COS có TBCQ tốt hơn các mẫu
tôm bạc xử lý bằng CHOS và CS là do COS
có khả năng kháng khuẩn cao hơn CHOS và
CS Phân tích hồi quy cho thấy, TBCQ biến
đổi theo hướng giao thao với trục hoành - điều
này hoàn toàn phù hợp giữa lý thuyết và thực
nghiệm Như vậy khi xử lý COS 1,25% kết hợp
với bảo quản lạnh đã làm cho TBCQ của tôm
bạc tốt hơn Do vậy, tôm bạc nên được xử lý
với COS 1,25% trước khi bảo quản
2 Ảnh hưởng của CHOS, COS và CS đến
đến hàm lượng NH 3 của tôm bạc theo thời
gian bảo quản
NH3 là đạm thối và là thành phần dùng
để đánh giá mức độ hư hỏng của nguyên liệu
thủy sản trong quá trình bảo quản Kết quả nghiên cứu ở hình 2 cho thấy sau 6 ngày bảo quản, hàm lượng NH3 trong mẫu đối chứng cao nhất, 0,183%; trái lại mẫu đã xử lý COS 1,25% có hàm lượng NH3 thấp nhất, chỉ là 0,995% Hàm lượng NH3 ở các mẫu tôm bạc
đã thí nghiệm được sắp xếp theo trình tự tăng dần như sau: mẫu ĐC, mẫu xử lý CS, CHOS
và COS Kết quả này chứng tỏ COS đã có tác động tốt trong việc hạn chế các phản ứng sinh hóa dẫn tới tạo thành NH3 ở cơ thịt tôm bạc nên hàm lượng NH3 hình thành ở tôm bạc được xử
lý CS, CHOS, COS theo thời gian bảo quản ít hơn [14] Hàm lượng NH3 ở các mẫu tôm bảo quản bị tác động bởi CHOS, COS, CS và thời gian bảo quản (p < 0,04), trong đó hàm lượng
NH3 bị tác động mạnh nhất bởi COS Sự biến đổi hàm lượng NH3 ở mẫu tôm bạc theo thời gian bảo quản có sự tương quan mạnh mẽ với
sự có mặt của CHOS, COS và CS (R2 > 0,97) hơn là thời gian bảo quản (R2 = 0,91) (Hình 2) Kết quả này này cho thấy mức độ tác động của CHOS, COS, CS và thời gian bảo quản lên hàm lượng NH3 tương tự như tác động của các yếu tố này ở chất lượng cảm quan Tuy nhiên, hàm lượng NH3 có xu hướng tăng theo thời gian bảo quản và ngược so với ở chất lượng cảm quan Kết quả này cũng phù hợp với đặc tính của CHOS, COS, CS và phù hợp với các nghiên cứu đã công bố trước đây [7], [9], [10], [14]
của các mẫu bảo quản giảm theo thứ tự như sau COS, CHOS, CS và ĐC Thực nghiệm cũng cho thấy, sau 6 ngày bảo quản, mẫu tôm đã xử lý COS đạt chất lượng khá về cảm quan, bị giãn đốt nhẹ
Hình 1 Sự thay đổi TBCQ của các mẫu tôm bạc dưới tác động của CHOS, COS, CS và thời gian bảo quản
Trang 28COS có khả năng ức khuẩn tốt nhất trong
nhóm CHOS, COS và CS, nên lượng vi sinh
vật có trên bề mặt tôm bạc bị ức chế đáng kể
Mặt khác, COS còn có hoạt tính chống oxy
hóa mạnh hơn nên làm giảm tốc độ biến đổi
tự nhiên của tôm [6], [7], [8], [9] Như vậy, dùng
dung dịch COS 1,25% để xử lý tôm bạc sẽ góp
phần làm hàm lượng NH3 ở tôm bạc tăng chậm
hơn nên tôm chậm bị hư hỏng
3 Tác động của CHOS, COS, CS lên pH của tôm bạc theo thời gian bảo quản
Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị pH ở các mẫu tôm xử lý CHOS, COS, CS và ĐC khác biệt không nhiều trong 5 ngày bảo quản đầu tiên (p>0,05) Tuy vậy, từ ngày bảo quản thứ 6, sự tác động của CHOS, COS và CS lên
pH mới thật sự rõ rệt so với mẫu ĐC (p<0,05) Tuy nhiên sự khác biệt về pH giữa các mẫu tôm bạc được xử lý CHOS, COS và CS theo thời gian bảo quản không đáng kể ngày cả sau
6 ngày bảo quản
Hình 2 Biến đổi hàm lượng NH 3 ở tôm bạc dưới tác động của CHOS, COS, CS và thời gian bảo quản
Hình 3 Biến đổi pH ở tôm bạc dưới tác động của CHOS, COS, CS và thời gian bảo quản
4 Tác động của CHOS, COS, CS lên hàm
lượng TVB-N của tôm bạc theo thời gian
bảo quản
Kết quả cho thấy CHOS, COS, CS và
thời gian bảo quản có sự tương quan mạnh
(R2>0,9) đối với hàm lượng tổng các chất nitơ
bay hơi (TVB-N) của tôm bạc Xu hướng tăng
trưởng dương của sự biến đổi hàm lượng
TVB-N giống và có sự tương quan với hàm
lượng NH3 Sau 6 ngày bảo quản, hàm lượng
TVB-N ở mẫu tôm tăng theo thứ tự các mẫu bảo quản như sau: mẫu COS, CHOS, CS và cuối cùng là mẫu ĐC Sau 6 ngày bảo quản, mẫu tôm bạc xử lý bằng COS 1,25% có giá trị TVB-N thấp nhất và đạt 101,24 ± 0,15mg N/ 100 g DW; các mẫu ĐC, CHOS và CS có hàm lượng TVB-N tương ứng: 178,26 ± 0,17
mg N/ 100 g DW; 113,2 ± 0,11 mg N/ 100 g
DW và 127,8 ± 0,15mg N/ 100 g DW (Hình 4) Như vậy, xử lý tôm bạc bằng COS có hiệu quả
Trang 29tốt hơn xử lý bằng CHOS, CS trong việc giảm
thiểu sự gia tăng của TVB-N ở tôm bạc Kết
quả thực nghiệm này phù hợp với hoạt tính
chống oxy hóa và kháng khuẩn cũng như khả
năng tạo màng trên bề mặt thực phẩm của CS
và COS đã được Trần Thị Luyến khẳng định khi
bảo quản xúc xích gà surimi [2] Kết quả này
cũng phù hợp với nghiên cứu của Theofania Tsironi và công sự năm 2009 công bố nghiên cứu về biến đổi tôm đông lạnh cho thấy hàm lượng TVB-N ở tôm bảo quản đông (-50C) tăng liên tục trong quá trình bảo quản và ở thời điểm sau 1 ngày bảo quản hàm lượng TVB-N
là 18mg N/100 g DW [14]
Hình 4 Tác động của CHOS, COS, CS và thời gian bảo quản lên hàm lượng TVB-N ở tôm bạc
Như vậy, CHOS, COS, CS và thời gian
bảo quản đều tác động tới sự biến đổi hàm
lượng TVB-N và COS phù hợp nhất trong
nhóm CHOS, COS và CS để xử lý tôm bạc
nguyên liệu
5 Tác động của CHOS, COS và CS lên hàm
lượng TMA-N theo thời gian bảo quản
Hàm lượng TMA-N của các mẫu tôm bạc
bảo quản cũng bị tác động bởi CHOS, COS,
CS và thời gian bảo quản (p<0,05) Sau 6 ngày bảo quản, hàm lượng TMA-N của tất cả các mẫu tôm bạc đều tăng nhưng mẫu tôm bạc xử
lý bằng COS 1,25% tăng chậm nhất (Hình 5) Sau 6 ngày bảo quản các mẫu tôm đã xử lý CHOS, COS và CS đều có hàm lượng TMA-N đạt tiêu chuẩn chất lượng [14]
Hình 5 Tác động của CHOS, COS, CS và thời gian bảo quản lên hàm lượng TMA-N ở tôm bạc nghệ
Phân tích hồi quy cho thấy, biến đổi của
hàm lượng TMA-N tuân theo xu thế tăng trưởng
dương với trục hoành Kết quả phân tích này phù
hợp giữa lý thuyết và thực nghiệm, vì CHOS,
COS và CS đóng vai trò như chất kháng khuẩn,
ức chế một số phản ứng sinh hóa và có tác dụng
bảo quản [9], [13] Kết quả này cũng đã được
công bố bởi Muhammad Yousuf Ali và cộng sự
(2013) [10] Như vậy, nồng độ COS 1,25% là nồng độ phù hợp để giảm thiểu sự gia tăng hàm lượng TMA-N ở tôm bạc bảo quản lạnh
6 Tác động của CHOS, COS và CS lên chỉ
số peroxid ở tôm theo thời gian bảo quản
Chỉ số peroxyd được sử dụng như là thước
đo đánh giá sự oxi hóa lipid trong thủy sản ở các điều kiện bảo quản khác nhau [14]
Trang 30Kết quả phân tích cho thấy chỉ số peroxid
của tất cả các mẫu tôm bạc bảo quản đều tăng
sau 6 ngày bảo quản (Hình 6) Tuy vậy, các
mẫu tôm đã xử lý bằng CHOS, COS và CS
đều có chỉ số peroxid tăng chậm hơn so với
mẫu đối chứng Kết quả này chứng tỏ CHOS,
COS và CS đã ngăn cản quá trình oxy hóa lipid
ở tôm nên chỉ số peroxid ở tôm bảo quản lạnh
tăng chậm theo thời gian bảo quản (p<0,05)
Trong đó mẫu bảo quản tôm bạc được xử lý
COS 1,25% có chỉ số peroxid tăng chậm hơn
các mẫu bảo quản tôm bạc bằng CHOS và CS
Kết quả phân tích cũng cho thấy chỉ số peroxid
theo thời gian bảo quản tôm bạc có xu hướng
tăng tương tự như hàm lượng TMA-N, NH3,
TVB-N đã phân tích ở trên Kết quả này cũng
phù hợp với các nghiên cứu về tính chất của CS
và COS cũng như quá trình biến đổi của tôm
trong quá trình bảo quản đã được Theofania
Tsironi và cộng sự công bố năm 2009 [8],
[9], [13], [144] Kết quả này có thể lý giải là
do CHOS, COS và CS có hoạt tính chống oxy
hóa, trong đó COS có hoạt tính chống oxy hóa
Kết quả phân tích tổng số vi sinh vật (VSV) hiếu khí trên tôm bạc sau 6 ngày bảo quản bằng CHOS, COS và CS cho thấy mẫu đối chứng có tổng số vi sinh vật cao nhất và đạt mức 3,8x102 Kl/ 100g Trong khi đó các mẫu bảo quản tôm bằng CHOS, COS và CS đều có tổng số vi sinh vật thấp hơn mẫu đối chứng và mẫu tôm bạc xử lý bằng COS 1,25% có tổng
số vi sinh vật thấp nhất 2,3x102 Kl/ 100g Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của tác giả Theofania và cộng sự (2009) về sự phát triển của vi sinh vật trong quá trình bảo quản tôm cho thấy theo thời gian bảo quản số lượng
vi sinh vật hiên diện trên tôm tăng [14] Sở dĩ các mẫu tôm xử lý bằng CHOS, COS và CS đều có tổng số vi sinh vật thấp hơn mẫu đối chứng là do các chất đã thử nghiệm có khả năng kháng khuẩn và COS có khả năng kháng khuẩn tốt nhất
Hình 6 Tác động của CHOS, COS, CS và thời gian bảo quản lên chỉ số peroxit ở tôm bạc
Hình 7 Tác động của CHOS, COS, CS và thời gian bảo quản lên tổng VSV hiếu khí ở tôm bạc
Trang 31IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Từ các nghiên cứu ở trên có thể rút ra một
số kết luận như sau:
- CHOS, COS, CS ở nồng độ 1,25% đều
có khả hạn chế sự phát triển của vi sinh vật và
hạn chế sự biến đổi chất lượng cảm quan cũng
như hạn chế sự gia tăng hàm lượng TVB-N,
TMA-N, NH3, pH, chỉ số peroxyd ở tôm bạc bảo
quản lạnh
- Ở cùng nồng độ sử dụng 1,25%, COS
có khả ức chế sự phát triển của vi sinh vật,
hạn chế sự suy giảm chất lượng cảm quan
và làm chậm sự gia tăng hàm lượng TVB-N, TMA-N, NH3, pH, chỉ số peroxyd ở tôm bạc bảo quản lạnh tốt hơn COS, CS ở cùngnồng độ
Từ kết qủa nghiên cứu này cho phép đề xuất mở rộng đối tượng thử nghiệm sử dụng COS làm cơ sở cho việc triển khải sử dụng COS trong bảo quản nguyên liệu thủy sản trên tầu cá đắnh bắt xa bờ thay thế các chất độc hại
mà người dân đang sử dụng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1 B ộ Thủy sản, 1996 Các tiêu chuẩn về chất lượng và an toàn vệ sinh thủy sản NXB Nông nghiệp, Hà Nội
2 Trần Thị Luyến, Nguyễn Thị Hiên, 2006 Nghiên cứu sử dụng oligoglucosamin từ chitosan vỏ tôm, vỏ ghẹ để thay thế NaNO3 trong bảo quản xúc xích gà surimi Tạp chí Khoa học Công nghệ thủy sản, Trường Đại học Thủy sản, Nha Trang, Số 1, 3-8
3 T rang Sĩ Trung, Trần Thị Luyến, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thị Hằng Phượng, 2010 Chitin - chitosan từ phế liệu thủy sản và ứng dụng NXB Nông nghiệp, TP HCM
6 Bingöl E B., Uran H., Bostan K., Varlik C., Sivri N., Alakavuk D U., 2013 Effects of treatment with chitosan
on sensory and chemical quality parameters of frozen shrimp, Kafkas Üniversitesi Veteriner Fakültesi Dergisi, 19(3) 399-405
7 F ereidoon Shahidi, Janak Kamil Vidana Arachchi and You-Jin Jeon, 1999 Food applications of chitin and chitosans, Trends in Food Science & Technology 10 37 - 51
8 Huang J, Chen Q, Qiu M, Li S., 2012 Chitosan-based edible coatings for quality preservation of postharvest whiteleg shrimp (Litopenaeus vannamei) J Food Sci., 77(4) C491-6
9 J Dutta, S Tripathi, P.K Dutta, 2012 Progress in antimicrobial activities of chitin, chitosan and its oligosaccharides: a systematic study needs for food applications, Food Science & Technology, Food Sci Technol Int., 18(1):3-34
10 M uhammad Yousuf Ali, Zakaria Mahmud, Md Abdur Rashed, Momotaz Khanom and Md Golam Sarower,
2013 Post-harvest quality loss of shrimp (Penaeus monodon) in the value chain of southwestern region (satkhira) in bangladesh, International Journal of Scientifi c Knowledge, 3(2) 36 – 44
11 Pivarnik L., Ellis P., Wang X & Reilly T., 2001 Standardization of the Ammonia electrode method for evaluating seafood quality by correlation to sensory analysis Journal of Food Science, 66(7) 945-952
12 S antha N C & Decker E A., 1994 Rapid, sensitive, iron-based spectrophotometric methods for determination
of peroxide values of food lipids, Association of Offi cial Analytical Chemists International, 77 421-424
13 S e-Kwon Kim and Mahinda Senevirathne, 2011 Review - Membrane Bioreactor Technology for the Development of Functional Materials from Sea-Food Processing Wastes and Their Potential Health Benefi ts, Membranes, 1 327-344
14 T heofania Tsironi, Efi mia Dermesonlouoglou, Maria Giannakourou, Petros Taoukis, 2009 Shelf life modelling
of frozen shrimp at variable temperature conditions, LWT - Food Science and Technology, 42 664-671
Trang 32TUYỂN CHỌN MỘT SỐ CHỦNG VI KHUẨN CHỊU MUỐI MẬT,
CHỊU AXIT VÀ ĐỐI KHÁNG VỚI VIBRIO PARAHAEMOLYTICUS
GÂY BỆNH CHẾT SỚM Ở TƠM THẺ CHÂN TRẮ NG (LITOPENAEUS VANNAMEI) SELECTION OF SOME BACTERIAL STRAINS WITH BILE SALT AND ACID TOLERANCE
AS WELL AS ANTIMICROBIAL ACTIVITY AGAINST EMS - CAUSING
Vibrio parahaemolyticus IN WHITELEG SHRIMP (Litopenaeus vannamei)
Nguyễn Thị Chính 1 , Phạm Thu Thủy 1 , Nguyễn Văn Duy 1*
Ngày nhận bài: 25/11/2015; Ngày phản biện thơng qua: 29/6/2016; Ngày duyệt đăng: 15/12/2016
TĨM TẮT
Bệnh chết sớm (EMS) hay cịn gọi là bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) xảy ra trên tơm nuơi nước
lợ đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho nghề nuơi tơm ở Việt Nam và một số nước châu Á khác như Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia Tác nhân chính gây bệnh được cho là do Vibrio parahaemolyticus Hiện nay chưa cĩ biện pháp trị bệnh EMS hiệu quả, vì vậy, việc tuyển chọn các chủng probiotic trong phịng trị bệnh EMS là hướng đi cĩ nhiều triển vọng nhằm phát triển bền vững nghề nuơi tơm Mục tiêu của nghiên cứu này
là tiếp tục tuyển chọn khả năng chịu muối mật, chịu axit và hoạt tính đối kháng với tác nhân gây bệnh EMS của 27 chủng vi khuẩn đã được tuyển chọn trước đĩ cĩ phổ kháng khuẩn rộng với các vi khuẩn Gram âm và Gram dương Kết quả cho thấy trong số này cĩ 17 chủng chịu được muối mật 0,1%; 2 chủng (Lactobacillus plantarum T8 và T13) chịu được pH 2 trong 1 h và pH 3 - 4 trong 2 h; và 2 chủng này cũng cĩ hoạt tính đối kháng với Vibrio parahaemolyticus XN9 gây bệnh EMS phân lập tại Ninh Thuận Các kết quả này mở ra triển vọng sử dụng các chủng T8 và T13 trong điều chế chế phẩm probiotic nhằm quản lý bệnh EMS trên tơm thẻ chân trắng ở Việt Nam.
Từ khĩa: EMS; Litopenaeus vannamei, probiotic, Vibrio parahaemolyticus
ABSTRACT
Early Mortality Syndrome (EMS), also named Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease (AHPND), which recently occurs in penaeid shrimp, is now causing signifi cant losses to the shrimp farming industry in Vietnam, China, Thailand and Malaysia Vibrio parahaemolyticus is considered as a major pathogen No effective treatment has currently been reported; hence screening of probiotics against EMS is a promising approach for the sustainable development of shrimp culture The aim of the study is to further screen probiotic activities including bile salt tolerance, acid tolerance and antimicrobial activity against EMS/AHPND-causing Vibrio parahaemolyticus of 27 bacterial strains which have expressed antimicrobial activity against a wide range of Gram-positiv and -negative bacteria in previous studies The results showed that there were 17 strains resistant to the bile salt at the concentration of 0,1%; 2 strains (Lactobacillus plantarum T8 and T13) resistant to pH 2 for 2 h and pH 3
- 4 for 2 h; and these two strains also indicated antibacterial activity against EMS/AHPND-causing Vibrio parahaemolyticus XN9 isolated in Ninh Thuan province These results open the prospect of using the T8 and T13 strains for the development of probiotic products in order to manage EMS in Litopenaeus vannamei in Vietnam.
Keywords: EMS, Litopenaeus vannamei, probiotics, Vibrio parahaemolyticus
1 Viện Cơng nghệ sinh học và Mơi trường, Trường Đại học Nha Trang
* Email: duynv@ntu.edu.vn
THÔNG BÁO KHOA HỌC
Trang 33I ĐẶT VẤN ĐỀ
Tôm thẻ chân trắng được đưa vào Việt
Nam năm 2001 Từ năm 2008, diện tích và sản
lượng tôm thẻ chân trắng không ngừng được
tăng lên Cùng với tăng nhanh về diện tích và
sản lượng thì môi trường ngày càng bị ô nhiễm
dẫn đến tình hình dịch bệnh xảy ra nhiều hơn
Đặc biệt vấn đề dịch bệnh do vi sinh vật gây
ra ảnh hưởng rất lớn đến tính ổn định và năng
suất nuôi tôm Một trong những bệnh gây ảnh
hưởng nghiêm trọng tới nghề nuôi tôm hiện
nay là bệnh chết sớm Bệnh chết sớm (Early
Mortality Syndrome, EMS) hay còn gọi là bệnh
hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) xảy ra trên
tôm sú (Penaeus monodon) và tôm thẻ chân
trắng (Litopenaeus vannamei), đã được báo
cáo lần đầu tiên tại Trung Quốc vào năm 2009
và sau đó lan rộng ra các nước Việt Nam, Thái
Lan và Malaysia (FAO, 2013)
Tác nhân chính của bệnh EMS được cho
là Vibrio parahaemolyticus gây ra (Tran et al.,
2013) Vi khuẩn này phát triển trong đường
tiêu hóa của tôm, tạo ra độc tố làm mất chức
năng và phá hủy mô của các cơ quan tiêu hóa
của tôm như gan tụy Bệnh lây truyền qua
đường miệng nhưng không ảnh hưởng đến
con người Hơn nữa, hiện nay các nghiên
cứu tập trung mô tả nguyên nhân của bệnh
EMS Các chiến lược để điều trị bệnh này rất
cần thiết và cấp bách nhưng còn ít thấy được
công bố
Hiện nay các phương pháp chẩn đoán
tác nhân gây bệnh EMS đang được tập trung
nghiên cứu trong khi đó chưa có biện pháp trị
bệnh EMS hiệu quả được đưa ra (Sirikharin et
al., 2015) Chiến lược chủ yếu tập trung vào
việc kiểm soát sự có mặt hoặc hoạt động của
vi khuẩn Vibrio nhằm giảm nguy cơ bùng phát
của EMS FAO (2013) khuyến cáo tẩy uế toàn
bộ nền đáy ao nuôi và nguồn nước để tiêu diệt
mầm bệnh EMS Các chiến lược quản lí hệ vi
sinh vật có thể là chìa khóa để giảm thiểu nguy
cơ của sự bùng phát EMS Chẳng hạn, FAO
khuyến nghị nuôi tôm postlarvae trong các hệ
thống với hệ vi sinh vật điều chỉnh (như các
hệ thống nước sạch giàu vi tảo và các hệ thống nước được điều chỉnh vi sinh vật), đó
là những môi trường sơ cấp làm giảm sự phát sinh của EMS Sử dụng công nghệ greenwater (“nước xanh”) cũng liên quan đến việc giảm EMS trong thực tế Các hệ thống greenwater (khác với các hệ thống nước sạch) được đặc trưng bở i một lượng vi tảo trưở ng thành và quần xã vi khuẩn và có tác dụng làm giảm
Vibrio và giảm tỷ lệ chết ở động vật (Lio et al., 2005; Tendencia et al., 2010)
Ngoài các giải pháp trên, gần đây người
ta quan tâm đến việc áp dụng các chế phẩm probiotic Nhữ ng cơ chế liên quan bao gồm: sản xuất các hợp chất ức chế, cạnh tranh chất dinh dưỡng, cạnh tranh vị trí bám dính trong ruột, tăng cường đáp ứng miễn dịch và sản xuất các chất dinh dưỡng thiết yếu như
vitamin và acid béo (Verschuere et al., 2000)
Do đó, việc nghiên cứu tuyển chọn một số chủng probiotic tiềm năng có hoạt tính đối
kháng với Vibrio parahaemolyticus gây bệnh
EMS ở tôm thẻ chân trắng là rất cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Các vi sinh vật được lựa chọn làm probiotic phải đáp ứng bốn tiêu chuẩn: (i) tiêu chuẩn sức sống và chiếm lĩnh ruột, (ii) tiêu chuẩn tác động
có lợi đến sức khỏe vật chủ, (iii) tiêu chuẩn sản xuất và (iv) tiêu chuẩn an toàn (Nguyễn Văn
Duy et al., 2015) Để sống và chiếm lĩnh ruột,
các vi khuẩn probiotic phải vượt qua được những phần khác nhau của hệ tiêu hóa, trong
đó quan trọng nhất là môi trường acid của dạ dày và sự có mặt của acid mật trong dịch tụy
Vì vậy, khi tuyển chọn các chủng probiotic tiềm năng, người ta thường tiến hành thử nghiệm khả năng chịu muối mật và chịu pH thấp của
các chủng vi sinh vật quan tâm (Buntin et al., 2008; Talpur et al., 2012)
Do đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi đã tuyển chọn 27 chủng probiotic tiềm năng từ các nghiên cứu trước đây đã thể hiện hoạt tính kháng khuẩn rộng với nhiều chủng vi khuẩn
đích (Nguyen và et al., 2014ab; Pham et al.,
2014) Các chủng được tuyển chọn thông qua
Trang 34các hoạt tính kháng muối mật, kháng pH thấp
và kháng khuẩn nhằm tìm kiếm các ứng cử
viên phù hợp để sử dụng trong quản lý dịch
bệnh EMS trên tôm thẻ Điều này giúp cung
cấp dữ liệu khoa học về các hoạt tính sinh
học của vi khuẩn probiotic dùng cho động vật
thủy sản, mở ra tiềm năng sử dụng công nghệ
probiotic trong quản lý bệnh EMS ở tôm, góp
et al., 2014ab; Pham et al., 2014) Các chủng
T8 và T13 được nuôi trong môi trường MRS (de Man – Rogosa – Sharpe, Difco, Mỹ) trong khi các chủng còn lại được nuôi cấy trên môi trường MB (Marine Broth, Difco, Mỹ)
Bảng 1 Danh sách các chủng vi khuẩn nghiên cứu với khả năng chịu muối mật
STT Chủng Nguồn phân lập Loài Tài liệu Nồng độ muối mật
0,1% 0,2% 0,3%
1 T8 Nước dưa muối Lactobacillus plantarum Nguyen et
-3 B-3.10.2B Ruột tôm sú Bacillus pumilus
Nguyen et al., 2014a
-22 D16 Ruột cá chim vây vàng Alcaligenes faecalis + + +
23 D18 Ruột cá chim vây vàng Alcaligenes faecalis + + +
24 H77 Cơ thịt tu hài Enterobacter cloacae
Pham et al., 2014
(+: có khuẩn lạc, -: không có khuẩn lạc)
Trang 352 Chủng vi khuẩn chỉ thị
Tổng số 12 chủng vi khuẩn chỉ thị gây
bệnh EMS được phân lập từ mẫu tôm bị bệnh
EMS nuôi ở Ninh Thuận năm 2015, do Nhóm
nghiên cứu Bệnh học thủy sản, Viện Nuôi
trồng thủy sản, Trường Đại học Nha Trang
cung cấp Các chủng được ký hiệu như sau:
NH0906C3, HH4/1, PT250964P, HH07044/6,
XN9, H2509E1B, PT2509E1W, C2, XN8,
PT2509E1V, NH0906C4 và TH1006C1 Tất
cả các chủng này được nuôi trên môi trường
TCBS (Thiosulfate Citrate Bile Salts Sucrose,
Difco, Mỹ) Các chủng này đã được Nhóm
nghiên cứu Bệnh học thủy sản thử nghiệm
cảm nhiễm chứng minh là tác nhân gây bệnh
EMS và sơ bộ định danh thuộc chi Vibrio (kết quả chưa công bố) Trong số này, chủng XN9
đã được xác định có độc lực mạnh nhất và đã
sơ bộ định danh là V parahaemolyticus nhờ
sử dụng kỹ thuật PCR với các cặp mồi đặc
hiệu AP3, AP4 (kết quả chưa công bố) Kết quả
định danh chủng XN9 bằng kit API 20E của chúng tôi cho thấy có 18/20 thử nghiệm sinh
hóa giống với V parahaemolyticus, ngoại trừ
các thử nghiệm TDA và IND (Bảng 2) Kết quả này một lần nữa xác nhận kết quả do Nhóm nghiên cứu Bệnh học thủy sản cung cấp
Bảng 2 Kết quả định danh chủng XN9 theo kit API 20E
Tên thử nghiệm XN9 V.parahaemolyticus (theo API) Tên thử nghiệm XN9 V parahaemolyticus (theo API)
3 Xác định khả năng sinh trưởng
Khả năng sinh trưởng của vi khuẩn được
xác định bằng phương pháp đo mật độ quang
ở bước sóng 600 nm (OD600)
4 Xác định khả năng chịu muối mật
Các chủng được nuôi cấy trong môi trường
tương ứng và không có muối mật ở 30°C trong
24 h Cấy trang 1 ml canh trường nuôi cấy (ở
mật độ 108 CFU/ml) của chủng T8 hoặc T13
vào đĩa thạch MRS agar, những chủng còn
lại được nuôi cấy trên môi trường MA (Marine
Agar, Difco, Mỹ) Các đĩa MRS agar/MA có
chứa nồng độ muối mật 0,1%, 0,2% và 0,3%
(Buntin et al., 2008; Talpur et al., 2012) Khả
năng chịu muối mật được xác định bằng khả
năng mọc khuẩn lạc trong điều kiện trên ở
30°C trong 48 h Mỗi thí nghiệm lặp lại 3 lần
5 Xác định khả năng chịu axit
Sau khi hoạt hóa qua đêm ở 32°C trong môi trường MRS/MB mật độ vi khuẩn đạt 108
CFU/ml, chuyển 100 µl dịch vi khuẩn sang các bình tam giác chứa 10 ml môi trường MRS/MB
có pH = 1, 2, 3, 4 và 6,5 (điều chỉnh bằng HCl 1M) Tất cả các bình tam giác trên được nuôi lắc 180 rpm ở 32°C trong 1 – 2 h Khả năng chịu axit được xác định bằng mật độ vi khuẩn sống theo phương pháp đếm khuẩn lạc Mỗi thí nghiệm lặp lại 3 lần
6 Xác định hoạt tính kháng khuẩn
Các chủng nghiên cứu được nuôi cấy trên môi trường thích hợp nhằm thu dịch nổi Dịch nổi sẽ được lọc vô trùng bằng màng lọc 0,45
µm nhằm loại bỏ tế bào vi khuẩn (Nguyen
et al., 2014b) Các đĩ a thạch MA 1,5% agar
Trang 36sẽ được đổ thêm một lớp ở trên bằng thạch
mềm MB 0,75% agar có chứa 105 CFU/ml vi
khuẩn chỉ thị Các lỗ thạch được tạo ra bằng
đầu tip vô trùng và nhỏ vào 100 µl dịch nổi
được xử lí ở trên Hoạt tính kháng khuẩn được
xác định bằng cách đo đường kính vòng kháng
khuẩn sau khi ủ ở 30°C sau 24 h theo phương
pháp khuếch tán trên thạch đĩ a Mỗi thí nghiệm
lặp lại 3 lần
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Khả năng chịu muối mật của các chủng
vi khuẩn nghiên cứu
Sống và chiếm lĩ nh trong hệ đường ruột
của động vật chủ là tiêu chuẩn đầu tiên trong
tuyển chọn các chủng probiotic (Nguyễn Văn
Duy et al., 2015) Havenaar et al (1992) đã chỉ
ra rằng probiotic chỉ phát huy tác dụng có lợi
lên vật chủ khi chúng định cư và tồn tại trong
ruột non (Zhou et al., 2007) Điều quan trọng
nhất ở đây là các vi sinh vật probiotic phải trải
qua điều kiện pH thấp từ 1,5 – 3 của dạ dày,
cũng như sự có mặt của axit mật ở nồng độ
0,1 - 0,3% trong ruột (Gilliland et al., 1984;
Talpur et al., 2012; Ilavenil et al., 2015) Vì vậy,
nồng độ muối mật 0,1 - 0,3% và pH 1 - 4 được
chúng tôi lựa chọn để kiểm tra khả năng chịu
muối mật và pH thấp của các chủng vi khuẩn
nghiên cứu
Kết quả từ Bảng 1 cho thấy, trong tổng số
27 chủng vi khuẩn ban đầu đã xác định được
14 chủng chịu muối mật đến nồng độ 0,3%;
15 chủng chịu được nồng độ muối mật ít nhất đến 0,2%; 17 chủng chịu được muối mật ít nhất đến 0,1% Cho đến nay, nhiều chủng vi khuẩn phân lập từ các nguồn khác nhau đã được chứng minh có hoạt tính chịu muối mật
này (Begley et al., 2006; Ilavenil et al., 2015)
Ngoài ra, có 10 chủng vi khuẩn khác trong nghiên cứu này không chịu được muối mật
0,1% Mặc dù đây chỉ là kết quả định tính nhưng
có ý nghĩa để tuyển chọn được 17 chủng chịu muối mật 0,1% cho các thử nghiệm tiếp theo
2 Khả năng chịu axit của các chủng vi khuẩn nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành phân tích định lượng mật độ tế bào vi khuẩn sống trong môi trường
có pH 1 – 4 của 17 chủng vi sinh vật chịu muối mật ít nhất 0,1% Kết quả từ Bảng 3 cho thấy không có chủng nào sống được trong môi trường có pH 1 Chỉ có 2 chủng (T8 và T13) chịu được khi nuôi ở pH 2 – 4 sau 1 h với mật
độ tế bào đạt từ 1,17 – 1,61 × 107 CFU/ml Tiếp tục thí nghiệm khả năng chịu axit của 2 chủng này với thời gian nuôi 2 h, cho thấy cả 2 chủng T13 và T8 đều có khả năng sống trong điều kiện pH 3 và 4 nhưng không chịu được trong điều kiện pH 2 Trong khi đó, ở mẫu đối chứng được thử nghiệm trong môi trường MRS ở pH 6,5 đã thể hiện khả năng sinh trưởng tốt, sau
2 h nuôi mật độ tăng lên đạt 5,19 – 5,63 × 107
CFU/ml
Bảng 3 Khả năng chịu axit của Lactobacillus plantarum T8 và T13
Chủng vi khuẩn Thời gian Mật độ tế bào sống (× 10
7 CFU/ml) Đối chứng (pH 6,5) pH 1 pH 2 pH 3 pH 4
Kết quả nghiên cứu này phù hợp với
những kết quả nghiên cứu trước đây Chẳng
hạn, Tapur và cộng sự (2011) khi khảo sát
khả năng chịu axit của 5 chủng vi khuẩn lactic
gồm L plantarum, L salivarius, L rhamnosus,
Weisella confusa, Weisella cibaria phân lập từ
ruột của loài ghẹ xanh cũng cho thấy tất cả đều không sống được ở pH 1 sau thời gian
1 h, trong khi đó ở pH 2; 2,5 và 3 chúng đều sinh trưởng Mật độ vi khuẩn tăng dần theo giá trị pH
Trang 37nói trên Ngoài ra, nghiên cứu của Pundir và
cộng sự (2013) khi tiến hành khảo sát khả
năng chịu axit của 8 chủng vi khuẩn lactic phân
lập từ rau quả và đồ ăn sẵn cũng không thể
sinh trưởng ở pH 3,0; 2,0; và 1,0 nhưng có thể
phát triển ở pH 3,7; 4,0; 5,0; 6,0 và 7,0 Ahmed
và cộng sự (2013) khi tiến hành thử nghiệm
khả năng chịu axit của 4 chủng Lactobacillus
phân lập từ sữa chua bằng cách nuôi cấy các
chủng này trong môi trường MRS có pH 7, 4
và 2 trong 2 h cũng thấy rằng có 3/4 chủng
phát triển ở pH 4 với mật độ vi khuẩn tăng so
với ban đầu, tuy nhiên ở pH 2 mật độ tế bào vi
khuẩn giảm
Zhou và cs (2007) cho rằng giá trị pH 2 và
pH 3 được xem là giới hạn quyết định trong
sàng lọc các chủng vi sinh vật có tiềm năng sử
dụng làm probiotic Các chủng vi khuẩn sống
trong điều kiện in vitro có muối mật và pH thấp
là một dấu hiệu thể hiện khả năng vượt qua
dạ dày để lưu trú và chiếm lĩnh trong đường
ruột Như vậy, có thể thấy rằng các chủng T8
và T13 trong nghiên cứu này có khả năng sống
vượt qua môi trường axit của dạ dày và sống
trong ruột, nên tiếp tục được sử dụng cho các
nghiên cứu tiếp theo
3 Hoạt tính kháng khuẩn của các chủng vi
khuẩn nghiên cứu
Kết quả thí nghiệm tiến hành với 2 chủng
vi khuẩn T8 và T13 chịu được muối mật đến
0,1% và chịu được pH 2 – 4 sau 1 h cho thấy
cả 2 chủng này đều có hoạt tính đối kháng
với 12 chủng vi khuẩn chỉ thị gây bệnh EMS
phân lập tại Ninh Thuận (Hình 1 - 3) Đặc biệt
kết quả từ Hình 1 cho thấy cả 2 chủng T8 và
T13 đều thể hiện hoạt tính kháng với chủng
vi khuẩn gây bệnh XN9, là chủng có độc lực
mạnh nhất trong số 12 chủng vi khuẩn chỉ thị
Trong đó, chủng T13 thể hiện hoạt tính kháng
mạnh hơn so với chủng T8 (Hình 2)
Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của
Tapur và cộng sự (2012) khi tiến hành xác
định hoạt tính kháng khuẩn của các chủng vi khuẩn lactic phân lập từ ruột loài ghẹ xanh
Portunus pelagicus Trong nghiên cứu đó, tất
cả 5 chủng vi khuẩn lactic đều có khả năng
ức chế sinh trưở ng của các chủng chỉ thị bao
gồm Vibrio harveyi, V parahaemolyticus và
Pfi esteria piscicida Ngoài ra, nghiên cứu của
Sivakuma và cộng sự (2012) khi tiến hành xác định hoạt tính kháng khuẩn của chủng
L acidophilus 04 phân lập từ sữa chua cũng thể hiện hoạt tính kháng với 4 chủng Vibrio bao gồm V parahaemolyticus, V harveyi, V cholera, V alginolyticus với đường kính vòng
kháng từ 8 – 15 mm
Hoạt tính kháng khuẩn của một chủng vi khuẩn có thể do sinh ra kháng sinh, axit hữu
cơ, bacteriocin và H2O2 hoặc kết hợp các
hoạt tính trên (Gillor et al., 2008) Đối với các
chủng T8 và T13 sử dụng trong nghiên cứu này, trước đây chúng đã được chứng minh
có hoạt tính kháng phổ rộng đối với các vi
khuẩn Gram âm (bao gồm một số chủng Vibrio
spp.) và Gram dương bằng cách sinh axit và
bacteriocin (Nguyen et al., 2014b) Kết quả
tương tự cũng được Aroutcheva và cộng sự
(2001) tìm thấy ở các chủng Lactobacillus spp
228, 345, 431 với khả năng sinh axit lactic và bacteriocin Mặc dù chúng cũng sinh H2O2nhưng không có bất kì tác dụng ức chế nào lên
(châu Âu) (Nguyễn Văn Duy et al., 2015) Điều
này mở ra triển vọng sử dụng 2 chủng vi khuẩn này trong thực tế nuôi tôm
Trang 38IV KẾT LUẬN
Kết quả tuyển chọn in vitro từ 27 chủng vi
khuẩn nghiên cứu cho thấy có 17 chủng chịu
được muối mật 0,1%; 2 chủng (Lactobacillus
plantarum T8 và T13) chịu được pH 2 trong 1 h
và pH 3 - 4 trong 2 h; và 2 chủng này cũng có
hoạt tính đối kháng với các chủng Vibrio gây
bệnh EMS phân lập tại Việt Nam
Hình 1 Hình ảnh vòng kháng khuẩn của các chủng
T8 và T13 với V parahaemolyticus XN9 L plantarum T8 và T13 với V parahaemolyticus XN9Hình 2 Đường kính vòng kháng khuẩn của
Hình 3 Hình ảnh vòng kháng khuẩn của các chủng T8 và T13 với một số chủng vi khuẩn chỉ thị khác
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1 Nguyễn Văn Duy (chủ biên), Lê Đình Đức, Nguyễn Thị Kim Cúc, Phạm Thu Thủy, Lê Phương Chung, 2015 Công nghệ probiotic NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 229 trang
Tiếng Anh
2 Ahmed, Z., Wang, Y., Anjum, N., Ahmad, A., Khan, S.T., 2013 Characterization of exopolysaccharide produced
by Lactobacillus kefi ranofaciens ZW3 isolated from Tibet kefi r – Part II Food Hydrocoll 30, 343–350.
3 Begley, M., Hill, C., Gahan, C.G., 2006 Bile salt hydrolase activity in probiotics Applied Environmental Microbiology 72(3): 1729-38
4 Buntin, N., Chanthachum, S and Hongpattarakere, T., 2008 Screening of lactic acid bacteria from gastrointestinal tracts of marine fi sh for their potential use as probiotics Songklanakarin Journal of Science and Technology
30, 141-148
Trang 395 FAO, 2013 Report of the FAO/MARD Technical Workshop on Early Mortality Syndrome (EMS) or Acute Hepatopancreatic Necrosis Syndrome (AHPND) of Cultured Shrimp (under TCP/VIE/3304) Hanoi, Viet Nam, FAO Fisheries and Aquaculture Report No 1053 Rome 54 pp.
6 Gilliland S.E., Staley T.E., Bush L.J., 1984 Importance in bile tolerance of Lactobacillus acidophilus used as a
dietery adjunct J Dairy Sci, 67(12), 3045-3051
7 Gillor, O., Etzion, A., Riley, M.A., 2008 The dual role of bacteriocins as anti- and probiotics Applied Microbiology and Biotechnology 81(4):591-606
8 Ilavenil, S., Park, H.S., Vijayakumar, M., Arasu, M.V., Kim da, H., Ravikumar, S., Choi, K.C., 2015 Probiotic
Potential of Lactobacillus Strains with Antifungal Activity Isolated from Animal Manure Scientifi c World
Journal.2015:802570
9 Lio, P.O.G.D., Leano, E.M.D., Penaranda, M.A.M., Villa, F.A.U., Sombito, C.D., Guanzon, J.R.N.G., 2005
Anti-luminous Vibrio factors associated with the ‘green water” grow-out culture of the tiger shrimp Penaeus
monodon Aquaculture 250(1) 1-7.
10 Nguyen, V.D., Pham, T.T., Nguyen, T.H.T., Nguyen, T.T.X., Hoj, L., 2014a Screening of marine bacteria with
bacteriocin-like activities and probiotic potential for ornate spiny lobster (Panulirus ornatus) juvenile Fish and
Shellfi sh Immunology 40(1): 49-60
11 Nguyen, V.D., Pham, T.T., Pham, N.M.Q., 2014b Two novel strains of bacteriocin-producing Lactobacillus
plantarum and their application as biopreservative in chill-stored fresh cobia meat Journal of Pure and Applied Microbiology 8(2): 1547-1557
12 Pham, T.T., Ho, T.H.N., Nguyen, V.D., 2014 Screening for bacteriocin-like antimicrobial activity against shrimp
pathogenic vibrios and molecular identifi cation of marine bacteria from otter clam Lutraria philippinarum Thai
Journal of Veterinary Medicine 44(3): 345-353
13 Pundir, R.K., Rana, S., Kashyap, N., Kaur, A., 2013 Probiotic potential of lactic acid bacteria isolated from food
samples: an in vitro study Journal of Applied Pharmaceutical Science 3 (03):085-093
14 Sirikharin, R., Taengchaiyaphum, S., Sanguanrut, P., Chi, T.D., Mavichak, R., Proespraiwong, P., Nuangsaeng, B., Thitamadee, S., Flegel, T.W., Sritunyalucksana, K., 2015 Characterization and PCR detection of binary,
Pir-Like toxins from Vibrio parahaemolyticus isolates that Cause Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease
(AHPND) in Shrimp PLoS One 10(5):e0126987
15 Sivakumar, N., Sundararaman, M., Selvakumar, G., 2012 Probiotic effect of Lactobacillus acidophilus against vibriosis in juvenile shrimp (Penaeus monodon) African Journal of Biotechnology 11(91):15811-15818.
16 Talpur, A D., Memon, A J., Khan, M I., Ikhwanuddin, M., Danish Daniel, M M and AbolMunafi , A B., 2011
Isolation and Screening of Lactic Acid Bacteria from the Gut of Blue Swimming Brab, P pelagicus, an in vitro
Inhibition Assay and Small Scale in vivo Model for Validation of Isolates as Probiotics Journal of Fisheries and Aquatic Science 7: 1-28
17 Tendencia, E.A., Pena, M., 2003 Investigation of some components of the green water system which makes it
effective in the initial control of luminous bacteria Aquaculture 218(1):115–119.
18 Tran, L., Nunan, L., Redman, R M., Mohney, L.L., Pantoja, C R., et al 2013 Determination of the infectious nature of the agent of acute hepatopancreatic necrosis syndrome affecting penaeid shrimp Diseases of Aquatic Organisms 105: 45–55
19 Verschuere, L., 2000 Probiotic bacteria as biocontrol agents in aquaculture microbiol Mol Biol Rev 64:655–671
20 Zhou, X., Pan, Y., Wang, Y., Li, W., 2007 In vitro assessment of gastrointestinal viability of two photosynthetic bacteria, Rhodopseudomonas palustris and Rhodobacter sphaeroides J Zhejiang Univ Sci B, 8(9), 686-692.
Trang 40ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ ĐỘ MẶN LÊN QUÁ TRÌNH
HÌNH THÀNH BÀO TỬ NGHỈ CỦA KÝ SINH TRÙNG PERKINSUS SP.
TRÊN NGHÊU BẾN TRE (Meretrix lyrata) EFFECTS OF TEMPERATURE AND SALINITY ON THE IN VITRO HYPNOSPORE FORMATION OF PERKINISUS SP IN BEN TRE HARD CLAMS (Meretrix lyrata)
Hứa Thị Ngọc Dung 1 , Phạm Quốc Hùng 1
Ngày nhận bài: 09/11/2015; Ngày phản biện thơng qua: 09/3/2016; Ngày duyệt đăng: 15/12/2016
TĨM TẮT
Để đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn lên sự hình thành bảo tử nghỉ của ký sinh trùng Perkinsus
sp trên nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata) thương phẩm trong điều kiện thí nghiệm, nghiên cứu này đã thu 1.800 mẫu nghêu từ Bến Tre để thí nghiệm với các mức nhiệt độ 20, 25, 30, 40 0 C và độ mặn 0, 3, 5, 10, 15, 20, 25, 30‰ được nuơi ủ trong điều kiện yếm khí và tối Các ống nghiệm ở mỗi mức thí nghiệm sẽ được kiểm tra sự
cĩ mặt của bào tử nghỉ theo phương pháp của Ray (1952) và được điều chỉnh bởi Choi và ctv (1989) sau 1, 2,
4, 7 và 14 ngày ủ trong mơi trường Ray fl uid thioglycollate medium (RFTM) Kết quả nghiên cứu cho thấy ký sinh trùng Perkinsus spp cĩ thể biến thái từ giai đoạn thể dinh dưỡng sang bào tử nghỉ trong khoảng nhiệt độ nước từ 20-35 0 C Trong đĩ, nhiệt độ 30-35 0 C được xem là khoảng nhiệt độ tối ưu cho quá trình biến thái từ thể dinh dưỡng sang bào tử nghỉ vì thời gian biến thái xảy ra nhanh nhất (sau một ngày ủ) Cịn ở 20 0 C, quá trình biến thái diễn ra chậm hơn (sau 7 ngày ủ) Qua thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn lên sự hình thành bào
tử nghỉ từ thể dinh dưỡng của ký sinh trùng Perkinsus cho thấy đây là một lồi rộng muối vì bào tử nghỉ được phát hiện ở tất cả các nghiệm thức độ mặn khác nhau, kể cả ở mức 0‰ Tuy nhiên, quá trình hình thành bào
tử nghỉ diễn ra nhanh hơn ở mức độ mặn >15‰ (xuất hiện bào tử nghỉ trong 1, 2 ngày đầu ủ) Trong khi đĩ từ
độ mặn <10‰ quá trình biến thái diễn ra chậm hơn (sau 4-7 ngày ủ).
Từ khĩa: Perkinsus, nghêu Bến Tre, Meretrix lyrata, bào tử nghỉ, ký sinh trùng đơn bào
ABSTRACT
We evaluated the effects of temperature and salinity on the in vitro hypnospore formation of Perkinsus
sp in commercial Ben Tre hard clams (Meretrix lyrata) A full factorial experiment with 4 temperatures: 20,
25, 30, 40 0 C and 8 salinities: 0, 3, 5, 10, 15, 20, 25, 30‰ were conducted in dark and anaerobic condition The presence of hypnospore of Perkinsus sp 1,800 hard clams were checked after 1, 2, 4, 7, and 14 incubating days by Ray (1952) method and adjusted by Choi et al, 1989 in Ray fl uid thioglycollate medium (RFTM) The results showed that hypnospore of Perkinsus sp could be formed from trophozoite in temperature range from
20 to 35 0 C with optimum temperature at 30-35 0 C as indicated by the fastest hypnospore formation after 1 day
of incubation At 20 0 C, hypnospore were created more slowly (after 7 days incubation) In salinity experiment, hypnospore of Perkinsus sp could be formed in all treatments, even at 0‰ However, hypnospore were created faster in salinity >15‰ (after 1-2 incubation days) In salinity level ≤10‰ hypnospore of Perkinsus sp were formed slower (after 4-7 incubation days).
Keywords: Perkinsus, Ben Tre hard clams (Meretrix lyrata), hypnospore, Protozoa parasite
1 Viện Nuơi trồng thủy sản - Trường Đại học Nha Trang
THÔNG BÁO KHOA HỌC