Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản: Số 4/2017 trình bày dẫn liệu bước đầu về thành phần loài thuộc bộ cá Vược (Perciformes) ở sông Bà Rén, tỉnh Quảng Nam; đánh giá khả năng tổn thương sinh kế của cộng đồng khai thác thủy sản – trường hợp hai thôn Ngọc Diêm và Tân Đảo, xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; ảnh hưởng của thức ăn là trùn chỉ và thức ăn công nghiệp lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá xiêm đá (Betta splendens Regan, 1910)...
Trang 1THÔNG BÁO KHOA HỌC
Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài thuộc bộ cá Vược (Perciformes) ở sông Bà Rén,
tỉnh Quảng Nam
Vũ Thị Phương Anh, Vũ Thị Minh Huệ
2
Ảnh hưởng của hình thức nuôi, thức ăn đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá nhụ
Eleu-theronema rhadinum nuôi thuần dưỡng
Tạ Thị Bình, Nguyễn Đình Vinh, Trần Thị Kim Ngân
8
Đánh giá khả năng tổn thương sinh kế của cộng đồng khai thác thủy sản – trường hợp hai
thôn Ngọc Diêm và Tân Đảo, xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
Nguyễn Văn Quỳnh Bôi
14
Quá trình phát triển phôi tôm bác sĩ (Lysmata amboinensis DE MANN, 1888)
Lục Minh Diệp, Phùng Thế Trung, Đoàn Thị Ngọc Kiều
Ảnh hưởng của một số hóa chất bảo vệ thực vật tới ADN và sự phát triển của phôi hầu Thái
Bình Dương (Crassostrea gigas Thunberg, 1793)
Mai Hương, Cao Văn Hạnh , Chu Chi Thiết, Nguyễn Thi Huệ
39
Ảnh hưởng của thức ăn là trùn chỉ và thức ăn công nghiệp lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của
cá xiêm đá (Betta splendens Regan, 1910)
Trương Thị Bích Hồng, Nguyễn Đình Mão, Đinh Thế Nhân
48
Nghiên cứu sản lượng của các nghề khai thác thủy sản tại Đầm Nại, tỉnh Ninh Thuận
Nguyễ n Trọ ng Lương, Nguyễ n Đứ c Sĩ, Lê Xuân Tà i
Khả năng kháng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan tụy cấp tính của
tôm he Ấn Độ (Penaeus indicus)
Hoàng Tùng, Trịnh Thị Trúc Ly, Nguyễn Giảng Thu Lan, Nguyễn Hồng Phước
72
Hiện trạng nguồn giống thủy sản vùng rừng ngập mặn Cần Giờ - thành phố Hồ Chí Minh
Võ Văn Quang, Trương Sĩ Hải Trình, Huỳnh Minh Sang
Trang 2THÔNG BÁO KHOA HỌC
DẪN LIỆU BƯỚC ĐẦU VỀ THÀNH PHẦN LỒI THUỘC BỘ CÁ VƯỢC
(PERCIFORMES) Ở SƠNG BÀ RÉN, TỈNH QUẢNG NAM
THE PRELIMINARY DATA OF FISH SPECIES PERCIFORMES
IN BA REN RIVER, QUANG NAM PROVINCE
Vũ Thị Phương Anh 1 , Vũ Thị Minh Huệ 2
Ngày nhận bài: 15/10/2017; Ngày phản biện thơng qua: 20/12/2017; Ngày duyệt đăng: 29/12/2017
TĨM TẮT
Thành phần lồi thuộc bộ cá Vược (Perciformes) ở sơng Bà Rén, tỉnh Quảng Nam đa dạng, đã xác định
56 lồi thuộc 33 giống nằm trong 19 họ Về cấu trúc thành phần lồi cá thuộc bộ cá Vược thì ưu thế nhất là họ
cá bống trắng (Gobiidae) cĩ 5 giống (chiếm 15,15%), 7 lồi (chiếm 12,50 %) Tiếp đến là họ cá sặc (Belontidae ) cĩ 4 giống (chiếm 12,12%), 7 lồi chiếm 12,50% Tiếp đến là họ cá bống đen (Eleotridae) cĩ 4 giống chiếm 12,12%, 6 lồi chiếm 10,71% Họ cá đối (Mugilidae) và họ cá khế (Caragidae) cĩ 2 giống (chiếm 6,06%),
3 lồi (chiếm 5,36%) Họ cá liệt (Leiognathidae ) cĩ 2 giống (chiếm 6,06%), 2 lồi (chiếm 3,57 %) Các họ cịn lại mỗi họ chỉ cĩ 1 giống 3 lồi, 1 giống 2 lồi và 1 giống 1 lồi Trong 57 lồi cá thuộc bộ cá Vược đã xác định được 16 lồi cá cĩ giá trị kinh tế.
Từ khĩa: Thành phần lồi Bộ cá Vược, Sơng Bà Rén, Tỉnh Quảng Nam
ABSTRACT
The preliminary data of fi sh species Perciformes in Ba Ren river, Quang Nam Province is quite biodiversifi ed Our surveys have revealed that there are 56 species belonging to 33 genera of 19 families, among which, the Gobiidae is the most dominant with 5 genera (occupying 15.15%) reaching 7species (occupying 12.50 %) Belontidae with 4 genas (occupying 12.12%), reaching 7 species (occupying 12.50%) Eleotridae with 4 genas (12.12%), reaching 6 species (occupying 10.71%) Mugilidae and Caragidae with
2 genas (occupying 6.06%), reaching 3 species (occupying 5.36%) Leiognathidae has 2 genas (occupying 6.06%), reaching 2 species (occupying 3.57%) Among 57 species in Ba Ren, 16 fi sh species have been identifi ed as having economic value
Key words: Fish species Perciformes composition, Ba Ren river, Quang Nam province
1 Trường Đại học Quảng Nam
2 Trường PTTH chuyên Lê Quý Đơn, Đà Nẵng
tỉnh Quảng Nam Sơng khơng những cĩ vai trị rất quan trọng trong việc cung cấp nước ngọt cho vùng đây cũng chính là nơi cĩ tiềm năng
để phát triển nghề nuơi trồng và khai thác thủy sản cho nhân dân trong vùng Mơi trường sống
ở đây thuận lợi cho các quần xã thủy sinh vật, trong đĩ đặc biệt là cá Tuy nhiên, thời gian qua,
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Sơng Bà Rén cĩ chiều dài 32 km, điểm đầu
nối với sơng Trường Giang tại km 5 + 700 và
điểm cuối là ngã ba Vạn Lý (phân lưu của sơng
Thu Bồn) Chảy qua các xã Duy Trinh, Duy
Trung, Duy Thành, Duy Vinh của huyện Duy
Xuyên và xã Quế Xuân của huyện Quế Sơn,
Trang 3việc đánh bắt, khai thác thủy sản ngày càng
gia tăng cùng với điều kiện xã hội và tình hình
biến động môi trường hiện nay đã làm suy
giảm đáng kể nguồn lợi thủy sản trên sông,
làm mất cân bằng sinh thái và giảm đa dạng
sinh học Chính vì vậy, việc nghiên cứu thành
phần loài cá là rất cần thiết Bài báo này sẽ
cung cấp số liệu cơ bản về đa dạng sinh học
cá, từ đó góp phần vào việc quy hoạch và sử
dụng hợp lý nguồn lợi cá ở đây
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tiến hành nghiên cứu từ tháng 3/2017 –
10/2017 tại sông Bà Rén, tỉnh Quảng Nam
Mẫu cá được thu trực tiếp tại các điểm nghiên
cứu bằng cách theo ngư dân đánh bắt,
thu mẫu cá của người dân và các chợ quanh khu vực nghiên cứu
Phân loại cá bằng phương pháp so sánh hình thái, chủ yếu dựa vào các khóa định loại của Mai Đình Yên (1978, 1992), Nguyễn Văn Hảo (2001, 2005), Kottelat M (2001), Trình
tự các bộ, họ giống và loài được sắp xếp theo
hệ thống phân loại của Rainboth, W J, chuẩn tên loài theo FAO (1998), Eschmeyer W.T
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thành phần loài cá sông Bà Rén, tỉnh Quảng Nam
Thành phần loài cá thuộc bộ cá Vược ở sông Bà Rén, tỉnh Quảng Nam có 56 loài thuộc
33 giống nằm trong 19 họ
Bảng 1 Danh sá ch thành phần loài cá ở vùng sông Bà Rén, tỉnh Quảng Nam
Trang 4(9) Eleotridae Họ cá bống đen
17 Eleotris fuscus (Schneider & Forster, 1801) Cá bống mọi
25 Stenogobius genivittatus (Valenciennes, 1837) Cá bống mấu đai
26 Acentrogobius viridipunctatus (Valenciennes, 1837) Cá bống chấm thân
41 Carangoides malabaricus (Bloch & Schneider, 1801) Cá khế
Trang 546 S canaliculatus (Park, 1797) Cá dìa rãnh
Trang 6Về cấu trúc thành phần loài ưu thế nhất là
họ cá bống trắng (Gobiidae) có 5 giống chiếm
15,15%, 7 loài chiếm 12,50 % Tiếp đến là họ
cá sặc (Belontidae) có 4 giống chiếm 12,12%,
7 loài chiếm 12,50% Tiếp đến là họ cá bống
đen (Eleotridae) có 4 giống chiếm 12,12%, 6
loài chiếm 10,71% Họ cá đối (Mugilidae) và họ
cá khế (Caragidae) có 2 giống chiếm 6,06%,
3 loài chiếm 5,36% Họ cá liệt (Leiognathidae)
có 2 giống chiếm 6,06%, 2 loài (chiếm 3,57%)
Các họ còn lại mỗi họ chỉ có 1 giống 3 loài, 1 giống 2 loài và 1 giống 1 loài
3 Các loài cá kinh tế thuộc bộ cá Vược (Perciformes)
Trong tổng số 56 loài thuộc bộ cá Vược (Perciformes) ở sông Bà Rén, đã xác định được 15 loài cá có giá trị kinh tế, cá c loà i
nà y đượ c ngư dân số ng ven sông khai thá c quanh năm
Bảng 3 Các loài kinh tế thuộc bộ cá Vược (Perciformes) ở sông Bà Rén
1 Cá chẽm Lates calcarifer (Bloch, 1790)
2 Cá căng bố n sọ c Pelates quadrilineatus (Bloch, 1790)
3 Cá đố i lá Mugil kelaartii (Günther, 1861)
4 Cá đố i mụ c Mugil cephalus (Linnaeus, 1758)
5 Cá đụ c bạ c Sillago sihama (Försskăl, 1775)
6 Cá bố ng cá t Glossoglobius aureus (Akihito & Meguru, 1975)
7 Cá mú Epinephelus coioides (Hamilton, 1822)
8 Cá mú cam Epinephelus moara (Temminck & Schlegel,1824)
9 Cá dì a công Siganus guttatus (Bloch, 1787)
10 Cá dìa Cam Siganus oramin (Bloch & Schneider, 1801)
11 Cá dìa tro Siganus fuscescens (Houttuyn, 1782)
12 Cá liệ t lớ n Leiognathus equulus (Försskăl, 1775)
13 Cá hồ ng bạ c Lutjanus argentimaculatus (Försskăl, 1775)
14 Cá hồng ánh Vàng Lutjanus fulvifl amma (Försskăl, 1775)
15 Cá khế Carangoides malabaricus (Bloch & Schneider, 1801)
IV KẾT LUẬN
Thành phần loài cá thuộc bộ cá vược
(Perciformes) ở sông Bà Rén, tỉnh Quảng
Nam đa dạng, đã xác định được 56 loài, 33
giống, 19 họ Về cấu trúc thành phần loài ưu
thế nhất là họ cá bống trắng (Gobiidae) có
5 giống chiếm 15,15%, 7 loài chiếm 12,50%
Tiếp đến là họ cá sặc (Belontidae) có 4 giống
(chiếm 12,12%), 7 loài (chiếm 12,50%)
Tiếp đến là họ cá bống đen (Eleotridae) có 4 giống (chiếm 12,12%), 6 loài (chiếm 10,71%)
Họ cá đối (Mugilidae) và họ cá khế (Caragidae)
có 2 giống (chiếm 6,06%), 3 loài (chiếm 5,36%)
Họ cá liệt (Leiognathidae) có 2 giống (chiếm 6,06%), 2 loài (chiếm 3,57%) Các họ còn lại mỗi họ chỉ có 1 giống 3 loài, 1 giống 2 loài và 1 giống 1 loài Trong 57 loài cá thuộc bộ cá vược
đã xác định được 16 loài cá có giá trị kinh tế
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1 Bộ Khoa học và Công nghệ (2007) : Sách đỏ Việt Nam, phần I : Động vật NXB KHTN &CN, Hà Nội.
2 Mai Đình Yên (1978): Định loại cá nước ngọt các tỉnh miền Bắc Việt Nam, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
3 Mai Đình Yên (1992): Định loại cá nước ngọt Nam Bộ, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
4 Nguyễn Văn Hảo (2001) : Cá nước ngọt Việt Nam, Tập 1, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
5 Nguyễn Văn Hảo (2005) : Cá nước ngọt Việt Nam, Tập 2 và Tập 3, NXB Nông nghiệp, Hà Nội
Tiếng Anh
6 Eschmeyer W.T., 2005 : Catalogue of life, Pulished by California Academy of Sciences, San Francisco.
7 FAO (1998): California Academy of Sciences, Vol 1.
8 FAO (1998): California Academy of Sciences, Vol 2:59 - 1820.
9 Kottelat M., 2001: Freshwater fi shes of Northern Vietnam, The World Bank.
10 Rainboth, W J (1996): Fishes of The Cambodian Mekong, FAO.
Trang 8THÔNG BÁO KHOA HỌC
ẢNH HƯỞNG CỦA HÌNH THỨC NUƠI, THỨC ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG
VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ NHỤ Eleutheronema rhadinum
NUƠI THUẦN DƯỠNG EFFECT OF CULTURE TYPE AND DIET ON SURVIVAL RATE AND
GROWTH RATE OF Eleutheronema rhadinum CAPTIVE BREEDING
Tạ Thị Bình 1 , Nguyễn Đình Vinh 1 , Trần Thị Kim Ngân 2
Ngày nhận bài: 5/12/2017; Ngày phản biện thơng qua: 22/12/2017; Ngày duyệt đăng: 29/12/2017
TĨM TẮT
Cá nhụ - Eleutheronema rhadinum khối lượng trung bình 197,05 -200,03g, cĩ nguồn gốc đánh bắt ngồi
tự nhiên, được tiến hành các thí nghiệm nhằm xác định hình thức nuơi và thức ăn phù hợp trong điều kiện nuơi nhốt Các thí nghiệm được tiến hành tại khu Nuơi trồng thủy sản, Hợp tác xã Hải Minh - Hà Tĩnh Kết quả thí nghiệm cho thấy, nuơi cá trong lồng cá cĩ tốc độ tăng trưởng nhanh, đạt 3,92 ± 0,76 g/ngày; và tỷ lệ sống cao, đạt 79,67 ± 2,67%, cĩ ý nghĩa so với cá nuơi trong ao và nuơi trong bể (P<0,05) Trong khi đĩ, thức ăn là
cá tạp và cá tạp kết hợp với thức ăn cơng nghiệp cho tốc độ tăng trưởng nhanh, dao động từ 3,64 - 3,99g/ngày sai khác cĩ ý nghĩa so với cho ăn thức ăn cơng nghiệp (P<0,05) Nhưng khác nhau khơng cĩ ý nghĩa về tỷ lệ sống của cá giữa các nghiệm thức thức ăn (P>0,05) Như vậy, nuơi cá trong lồng và thức ăn là cá tạp và cá tạp kết hợp với TĂCN cĩ thể được sử dụng để nuơi cá nhụ trong điều kiện nuơi nhốt.
Từ khĩa: Eleutheronema rhadinum, tăng trưởng, tỷ lệ sống, hình thức nuơi, thức ăn
ABSTRACT
Eleutheronema rhadinum with the initial size 197.05 -200.03 g, have the original source caught in the wild were studied to determine the best growth rate and survival rate of this fi sh up to fi ngerling stage The experiments were carried out at aquaculture area of Hai Minh cooperative, Ha Tinh Province The result of these experiments indicated that fi sh farming in cages had signifi cantly higher growth rate 3.92±0.76 g.day-1 and survival rate (79.67±2.67 %), compared to fi sh reared at the fi sh farming in ponds and fi sh farming in tanks (P<0.05) On the other hand, fi sh fed with trashfi sh and fi sh fed with trashfi sh mixed with commercial feed had highest growth oscillate 3.64 - 3.99 g.day-1 compared to fi sh fed commercial feed (P<0.05) However, there was no signifi cant diference in survival rate between the fi sh fed with treated diets (P>0.05) Therefore, fi sh farming in cages and fi sh fed with trashfi sh and fi sh fed with trashfi sh mixed with commercial feed can be used
to fi sh farming in the future
Keywords: Eleutheronema rhadinum , growth rate, survival rate, culture type, foods
1 Viện Nơng nghiệp và Tài Nguyên, Trường Đại học Vinh
2 Trường Cao đẳng Sư phạm Vinh
biết đến như là lồi cá bản địa và cĩ giá trị kinh
tế cao của vùng biển Bắc Trung Bộ Từ xa xưa,
cá nhụ đã được dân gian xếp vào nhĩm cá biển thượng hạng “chim, thu, nhụ, đé” Thịt cá Nhụ
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá nhụ (cá ngứa, cá chét, cá gốc) hay cịn
gọi là cá nhụ Đơng Á (Eleutheronema rhadinum)
thuộc họ cá vây tua (Polynemidae) được
Trang 9chứa các thành phần chất béo không no, rất
có lợi cho hoạt động màng tế bào của con
người, giúp làm giảm hàm lượng mỡ dư thừa
trong máu Cá nhụ là loài rộng muối, thường
phân bố ở vùng nước nông, độ sâu 5-8m Cá
phân bố tự nhiên ở vùng biển Tây Bắc Thái
Bình Dương, từ Nhật Bản, Trung Quốc, Đài
Loan, Việt Nam [3] Trong những năm gần đây,
sản lượng tự nhiên của cá nhụ bị suy giảm
nghiêm trọng do việc khai thác quá mức, đặc
biệt vào mùa sinh sản Hiện nay, ở Việt Nam
cá nhụ loài Eleutheronema tetradactylum, đã
được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I
sinh sản nhân tạo thành công, nhưng loài
Eleutheronema rhadinum chưa được nghiên
cứu Mặt khác, hiện nay, người dân thường sử
dụng cá tạp tươi khai thác ở vùng ven bờ, vùng
cửa sông rừng ngập mặn để nuôi cá nhụ [4]
Việc dùng cá tạp tươi không những không chủ
động được nguồn thức ăn mà còn làm ô nhiễm
môi trường ao nuôi vì thức ăn dư thừa [5, 6] Do
vậy, để phát triển nghề nuôi cá nhụ một cách
bền vững thì việc nghiên cứu sử dụng thức ăn
công nghiệp thay thế thức ăn cá tạp tươi là rất
cần thiết Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Ảnh hưởng của hình thức nuôi, thức ăn
đến tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của cá
Nhụ (Eleutheronema rhadinum) nuôi thuần
dưỡng” Kết quả của đề tài hy vọng sẽ đóng
góp cho việc lưu giữ loài cá này trong điều kiện
nuôi nhốt, làm cơ sở cho việc sản xuất giống
đối tượng có giá trị kinh tế này
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Cá nhụ - Eleutheronema rhadinum khối
lượng trung bình 197,05 -200,03 có nguồn
gốc đánh bắt ngoài tự nhiên, đảm bảo cá vẫn
khỏe mạnh để nuôi thuần dưỡng
2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ 02/2017 đến 6/2017
- Địa điểm nghiên cứu: Khu NTTS Hợp tác
xã Hải Minh - Hà Tĩnh
3 Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của hình thức
nuôi đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của
cá Nhụ nuôi thuần dưỡng.
Thí nghiệm được tiến hành với 3 hình thức khác nuôi khác nhau: Nuôi trong lồng có kích thước 6 x 5 x 2 m; nuôi trong ao có diện tích
150 m2 (ngăn làm 3 ô mỗi ô 50 m2); Nuôi trong
bể xi măng có kích thước 6 x 5 x 2 m Mỗi nghiệm thức được bố trí lặp lại 3 lần Mật độ cá thí nghiệm là 2 con/m2 Thí nghiệm được tiến hành trong 150 ngày
* Chăm sóc quản lýThức ăn cho cá chủ yếu là cá tạp (cá mối,
cá cơm, cá trích, cá liệt…) cá phải tươi, lựa
bỏ tạp chất, loại bỏ ký sinh trùng bằng cách ngâm trong nước ngọt trước khi cho ăn để tránh gây bệnh cho cá nuôi Thức ăn được rửa, cắt thành khúc phù hợp với miệng cá và cho ăn 2 lần/ngày vào lúc sáng sớm (7 -8 giờ)
và chiều mát ( 4 -5 giờ) Cho cá ăn từ từ đến khi cá ngừng ăn thì dừng lại tránh để thức ăn rơi xuống đáy lồng Lượng thức ăn cho ăn tuỳ thuộc vào trọng lượng cá, cá nhỏ thức ăn bằng 10% trọng lượng thân, cá lớn thức ăn từ 3 – 5% trọng lượng thân Tuy nhiên, khi thời tiết, môi trường có sự thay đổi hoặc cá bị nhiễm bệnh cá sẽ giảm ăn vì vậy căn cứ vào tình hình hiện tại để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp [1]
Thường xuyên lặn theo dõi lồng nuôi, đáy lồng đề phòng lồng bị hư hỏng Định kỳ phân
cỡ cá nuôi và điều chỉnh mật độ nuôi thích hợp, theo dõi phát hiện bệnh kịp thời để xử lý có hiệu quả
Định kỳ 10 ngày sử dụng vitamin C và khoáng trộn vào thức ăn cho ăn liên tục từ
5 – 7 ngày, để tăng khả năng bắt mồi và sức đề kháng cho cá nuôi Định kỳ đo các chỉ tiêu môi trường nước (oxy, pH, nhiệt độ, độ mặn) để có biện pháp xử lý kịp thời
Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của thức ăn
đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá Nhụ nuôi thuần dưỡng.
Trang 10Thí nghiệm được tiến hành với 03 loại
thức ăn (TA), gồm: TA1: sử dụng 100% cá tạp;
TA2: sử dụng 50% cá tạp + 50% thức ăn công
nghiệp(TĂCN) có hàm lượng 40% pr; TA3:
thức ăn công nghiệp(TĂCN) có hàm lượng
40% pr Cá thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên
trong 9 lồng có kích thước 5 x 3 x 2 m , mỗi
nghiệm thức được lặp lại 3 lần Mật độ cá thí
nghiệm là 2 con/m2
Thí nghiệm được tiến hành trong 90 ngày
* Chăm sóc quản lý : Tiến hành giống thí
nghiệm 1
4 Phương pháp thu thập số liệu
*) Đánh giá tốc độ tăng trưởng của cá:
được xác định định kỳ 30 ngày/lần, mỗi lần 30
cá thể được thu ngẫu nhiên, dựa theo chiều
dài tiêu chuẩn (SL) bằng thước kẹp chia vạch
có độ chính xác đến 0,1 mm và khối lượng (W)
toàn thân cá bằng cân điện tử TANITA có độ
chính xác đến 0,01 g
- Sinh trưởng theo khối lượng và chiều dài
bình quân theo ngày của cá thí nghiệm, xác
định bởi công thức: ADG (g/ngày hoặc cm/
ngày) = (Wt-W0)/Dt hoặc = (Lt-L0)/Dt Trong đó:
W0 và L0 là khối lượng và chiều dài của cá tại
thời điểm bắt đầu thí nghiệm; Wt và Lt là khối
lượng và chiều dài của cá tại thời điểm kết thúc
thí nghiệm; Dt là số ngày thí nghiệm
- Tốc độ tăng trưởng đặc biệt của cá, xác định bởi công thức: SGR (%/ngày) = 100 x [Ln(w2) – Ln(w1)]/Dt hoặc = 100 x [Ln(L2) – Ln(L1)]/Dt Trong đó: W1 và L1 là khối lượng và chiều dài
cá tại thời điểm bắt đầu thí nghiệm; W2 và L2
là khối lượng và chiều dài cá tại thời điểm kết thúc thí nghiệm; Dt là số ngày thí nghiệm
- Mức độ phân đàn của cá được xác định theo công thức: CV (%) = (SD)/X) x 100 Trong đó: SD là độ lệch chuẩn mẫu, X là kích cỡ cá trung bình
*) Đánh giá tỷ lệ sống của cá thí nghiệm được xác định theo công thức: SR (%) = 100 x
(số cá thu hoạch + số cá chết do thu mẫu)/số
cá thả ban đầu
5 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thí nghiệm được xử lý, phân tích theo phương pháp phương sai một yếu tố (One way ANOVA) và kiểm định để so sánh giá trị trung bình giữa các nghiệm thức với độ tin cậy 95% (P < 0,05) bằng phần mềm SPSS Version 16
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Ảnh hưởng của hình thức nuôi đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Nhụ thuần dưỡng
1.1 Ảnh hưởng của hình thức nuôi đến tốc độ sinh trưởng
Bảng 1 Sinh trưởng của cá nhụ theo hình thức nuôi Chỉ tiêu
khối lượng
Hình thức nuôi Nuôi trong lồng Nuôi trong ao Nuôi trong bể
Wfl (g) 787,51 ± 74 ,77c 656,41 ± 44,67b 565,10 ± 54,04aAGR(g/ngày) 3,92 ± 0,76c 3,04 ± 0,24b 2,43 ± 0,42a
SGR(%/ngày) 0,91 ± 0,09c 0,79 ± 0,08b 0,69 ± 0,09a
Ghi chú: Số liệu có chữ mũ trong cùng hàng khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa (P<0,05); W 0 (g) là khối lượng của cá tại thời điểm bắt đầu thí nghiệm; W fl (g) là khối lượng của cá tại thời điểm kết thúc thí nghiệm; AGR (g/ngày) là tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá theo ngày; SGR(%/ngày) là tăng trưởng đặt biệt của cá trong thời gian thí nghiệm.
Kết quả tại Bảng 1 cho thấy, cá được lựa
chọn cho thí nghiệm đồng đều, giao động từ
Trang 11Cá nhụ nuôi thuần dưỡng trong bể xi măng có
khối lượng thấp nhất (565,10 ± 54,04 g) có ý
nghĩa so với cá nhụ nuôi thuần dưỡng ở trong
ao và trong lồng (P < 0,05), Cá nuôi thuần
dưỡng trong lồng, đạt khối lượng lớn nhất
(787,51 ± 74,77 g), có ý nghĩa so với cá nuôi
thuần dưỡng trong ao (656,41 ± 44,67 g) và
nuôi trong bể (P < 0,05)
Tốc độ sinh trưởng của cá Nhụ nuôi thuần
dưỡng tương đối nhanh và có sự sai khác có
ý nghĩa giữa các hình thức nuôi thuần dưỡng
(p < 0,05) Tốc độ tăng trưởng của cá Nhụ nuôi thuần dưỡng đạt cao nhất khi nuôi trong lồng lần lượt là 3,92 ± 0,76 g/ngày và 0,91
± 0,09% ngày, tiếp đến là tốc độ tăng trưởng của cá nhụ nuôi thuần dưỡng trong ao 3,04
± 0,24 g/ngày và 0,79 ± 0,08% ngày Thấp nhất là tốc độ tăng trưởng của cá nhụ khi nuôi thuần dưỡng trong bể 2,43 ± 0,42 g/ngày và 0,69 ± 0,09% ngày
1.2 Ảnh hưởng của hình thức nuôi đến hệ số phân đàn
Hình 1 Hệ số phân đàn của cá khi nuôi thuần dưỡng ở các hình thức khác nhau
Ghi chú: CV (150, %) là hệ số phân đàn của cá sau 150 ngày thí nghiệm.
Xét về mức độ phân đàn của cá sau 150
ngày nuôi cho thấy, cá nuôi thuần dưỡng trong
bể có mức phân đàn cao hơn so với nuôi thuần
dưỡng trong ao và trong lồng Cá nuôi thuần
dưỡng trong lồng đạt thấp nhất 2,23 ± 0,19%
tiếp đến là nuôi trong ao đạt 2,95 ± 0,18%
và cao nhất là nuôi thuần dưỡng trong bể là 3,45 ± 0,38 (P < 0,05)
1.3 Ảnh hưởng của hình thức nuôi đến tỷ
lệ sống
Hình 2 Tỷ lệ sống của cá Nhụ khi nuôi thuần dưỡng ở các hình thức khác nhau
Kết quả Hình 2 cho thấy, tỷ lệ sống có sự
khác nhau khi nuôi ở các hình thức khác Tỷ lệ
sống của cá khi nuôi trong lồng đạt cao nhất
là 79,67 ± 2,67% tiếp đến là nuôi trong ao đạt
Trang 122 Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Nhụ nuôi thuần dưỡng
2.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ sinh trưởng
Bảng 2 Sinh trưởng của cá Nhụ theo thức ăn Chỉ tiêu
SGR(%/ngày) 1,15 ± 0,01b 1,15 ± 0,01b 0,08 ± 0,009a
Ghi chú:Số liệu có chữ mũ trong cùng hàng khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa (P<0,05); W 0 (g) là khối lượng của cá tại thời điểm bắt đầu thí nghiệm; W fl (g) là khối lượng của cá tại thời điểm kết thúc thí nghiệm; AGR (g/ngày) là tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của cá theo ngày; SGR(%/ngày) là tăng trưởng đặt biệt của cá trong thời gian thí nghiệm.
Kết quả Bảng 2 cho thấy, sau 90 ngày
thí nghiệm với 3 loại thức ăn, khối lượng cá
Nhụ giao động từ 436,10 g đến 556,70 g Khối
lượng cá thấp nhất (436,10 ± 30,38 g) ở các
lồng cho ăn thức ăn công nghiệp, có ý nghĩa so
với thức ăn là cá tạp và cá tạp kết hợp với thức
ăn công nghiệp (P < 0,05) Giữa các lồng nuôi
sử dụng thức ăn là cá tạp và cá tạp kết hợp với
thức ăn công nghiệp, cá có khối lượng lần lượt
là 552,55 ± 45,23 g và 556,70 ± 31,30 g, khác
nhau không có ý nghĩa (P > 0,05)
Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá
nhụ khá cao ở các nghiệm thức thí nghiệm
Tốc độ tăng trưởng của cá đạt thấp nhất khi
cho ăn TĂCN (0,08 ± 0,009 %/ngày; 2,65 ±
0,25 g/ngày), có ý nghĩa so với cá cho ăn cá
tạp và cá tạp kết hợp với thức ăn công nghiệp
(P < 0,05) Nhưng tốc độ tăng trưởng của
cá cho ăn cá tạp và cá tạp kết hợp với thức ăn công nghiệp khác nhau không có ý nghĩa, lần lượt là 11,15 ± 0,01 %/ngày; 3,64 ± 0,94g/ngày
và 1,15 ± 0,01 %/ngày; 3,99 ± 0,55 g/ngày (P > 0,05) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đương với kết quả nghiên cứu của Trần Thế Mưu (2013) trên cá nhụ 4 râu Kết quả của thí nghiệm này thấp hơn so với nghiên cứu của Abu Hena và cs (2011) thực hiện nuôi cá nhụ bốn râu trong ao nước lợ từ khối lượng 36,14
- 75,0 g/con trong thời gian hai tháng đạt 1,92 g/con/ngày Điều này có thể giải thích do mật
độ giống thả ban đầu trong nghiên cứu này
là 2 con/m3 cao hơn so với mật độ 0,5 con/m3của Abu Hena và cs (2011) và sự khác nhau
về khối lượng giống thả ban đầu trong hai nghiên cứu
2.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến hệ số phân đàn
Hình 3 Hệ số phân đàn của cá Nhụ theo thức ăn thí nghiệm
Ghi chú: CV (90, %) là hệ số phân đàn của cá sau 90 ngày thí nghiệm.
Trang 13Mức phân đàn của cá cũng ảnh hưởng
bởi thức ăn thí nghiệm Mức phân đàn của cá
cao nhất (2,65 ± 0,22%) khi cho ăn TĂCN, có
ý nghĩa so với cá cho ăn bằng cá tạp và cá tạp
kết hợp với TĂCN (P < 0,05) Mức phân đàn
của cá thấp khi cho ăn cá tạp và cá tạp kế hợp với TĂCN, lần lượt là 1,65 ± 0,16% và 1,69 ± 0,18%, nhưng giữa chúng khác nhau không có
ý nghĩa (P > 0,05)
2.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1 Trần Thế Mưu (2013), Nghiên cứu kỹ thuật nuôi cá Nhụ 4 râu (Eleutheronema tetradactylum Shaw, 1804) tại Hải
Phòng, Đề tài cấp Thành phố Hải Phòng thực hiện 24 tháng từ 2/2011-1/2013.
2 Trần Thế Mưu và Vũ Văn Sáng (2013), Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và phát triển của cá Nhụ 4 râu
(Eleutheronema tetradactylum) giai đoạn ban đầu nuôi thương phẩm, Tạp chí Khoa học và Phát triển, Trường Đại
học Nông nghiệp Hà Nội, số 4 năm 2013
Tiếng Anh
3 Abu Hena M.K et all., 2011 Growth and survival of Indian Salmon (Eleutheronema tetradaclum Shaw, 1804) in
brackish water pond.
4 Leis J.M and Trski T (2000) Polynemidae (Threadfi n) In J.M Leis & B.M Carson-Ewart, eds The larvae of
Indo-Pacifi c coastal fi shes An identifi cation guide to marine fi sh larvae Pp 435-440 Leiden Brill.
5 Qian P.Y., Wu M.C.S & Ni I.H (2001) Comparison of nutrients release among some maricultured animals
Aquaculture 200: 305-316
6 Wu R.S.S (1995) The environmental impact of marine fi sh culture: towards a sustainable future Marine Pollution
Bulletin 31: 159-166
Hình 4 Tỷ lệ sống của cá Nhụ theo thức ăn thí nghiệm
Kết quả tại Hình 4 cho thấy, không có sự khác
nhau về tỷ lệ sống của cá nhụ sau khi kết thúc thí
nghiệm ương bằng cá tạp, cá tạp kết hợp với
TĂCN và TĂCN lần lượt là 75,12 ± 5,56%, 70,56
± 3,76% và 66,43 ± 3,32% (P > 0,05) Thức ăn thí
nghiệm không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá
Nhụ trong quá trình nuôi thuần dưỡng
Như vậy, kết quả thí nghiệm cho thấy,
cá tạp hoặc cá tạp kết hợp với thức ăn công
nghiệp là loại thức ăn tốt cho cá nhụ, có thể
xem xét để bổ sung vào quy trình nuôi thương
phẩm cá nhụ, nhằm tăng tốc độ tăng trưởng
của cá, rút ngắn được thời gian nuôi
IV KẾT LUẬN
1. Cá nhụ nuôi thuần dưỡng trong lồng cho
tốc độ tăng trưởng nhanh nhất (3,92 ± 0,76 g/ngày ) và tỷ lệ sống (79,67 ± 2,67 %) cao nhất
Vì vậy, có thể được sử dụng nuôi cá nhụ ở hình thức này
2 Thức ăn là cá tạp và cá tạp kết hợp với TĂCN cho tốc độ tăng trưởng nhanh nhất 3,64-3,99 g/ngày) và tỷ lệ sống trên 70% Vì vậy, có thể được sử dụng cá tạp hoặc cá tạp kết hợp với TĂCN làm thức ăn để bổ sung vào quy trình nuôi thương phẩm cá nhụ
Trang 14THÔNG BÁO KHOA HỌC
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TỔN THƯƠNG SINH KẾ CỦA
CỘNG ĐỒNG KHAI THÁC THỦY SẢN - TRƯỜNG HỢP HAI THƠN NGỌC DIÊM VÀ TÂN ĐẢO, XÃ NINH ÍCH, THỊ XÃ NINH HỊA,
TỈNH KHÁNH HỊA
ASSESSING LIVELIHOOD VULNERABILITY OF TWO FISHING COMMUNITIES - CASE STUDY OF NGOC DIEM AND TAN DAO VIL- LAGES, NINH ICH COMMUNE, NINH HOA TOWN, KHANH HOA PROVINCE
Nguyễn Văn Quỳnh Bơi 1
Ngày nhận bài: 7/10/2017; Ngày phản biện thơng qua: 10/12/2017; Ngày duyệt đăng: 29/12/2017
TĨM TẮT
Mơ phỏng theo chỉ số tổn thương sinh kế (Livelihood Vulnerability Index – LVI) được đề xuất bởi Haln
và cộng sự (2009), nghiên cứu đánh giá mức độ tổn thương sinh kế của hai cộng đồng khai thác tại thơn Ngọc Diêm và Tân Đảo, xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hịa, tỉnh Khánh Hịa được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu cĩ sự tham gia (Participatory research) Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số LVI đối với hai cộng đồng phụ thuộc tăng dần theo thứ tự các yếu tố chính từ đặc điểm hộ, sức khỏe, vốn tài chính, chiến lược sinh kế, đến mạng lưới xã hội, và suy giảm nguồn lợi và những thay đổi bất lợi của vùng khai thác Riêng yếu tố xung đột/mâu thuẫn trong hoạt động khai thác thể hiện trái ngược nhau ở hai cộng đồng Chỉ số LVI của hai cộng đồng lần lượt bằng 0,406 và 0,316 cho thấy tính dễ tổn thương cao và giá trị các yếu tố chính thay đổi trong khoảng từ 0 (mức tổn thương thấp nhất) đến 1 (mức tổn thương cao nhất) với khoảng dao động là 0,2 Chỉ số LVI-Fishing của hai cộng đồng khai thác thủy sản tại thơn Ngọc Diêm và Tân Đảo lần lượt bằng 0,0529 và 0,0448 cho thấy khả năng tổn thương trước những ảnh hưởng đến hoạt động khai thác ở mức cao.
Từ khĩa: Chỉ số tổn thương sinh kế, Cộng đồng khai thác thủy sản, Nghiên cứu cĩ sự tham gia
ABSTRACT
Imitating Livelihood Vulnerability Index (LVI) raised by Haln et al (2009), a study of assessing livelihood vulnerability of two fi shing communities at Ngoc Diem and Tan Dao villages, Ninh Ich commune, Ninh Hoa town, Khanh Hoa province was conducted applying Participatory Research method Result of the study shows that LVI of two communities increasingly dependent on major components of socio-demographic profi le, health,
fi nancial asset, livelihood strategy, social networks and aquatic resource degradation and adverse changes of
fi shing ground Only component of confl icts in fi shing activities presents contrastingly for two communities The LVIs of two communities at Ngoc Diem and Tan Dao villages are respectively 0.406 and 0.316 showing high livdelihood vunerability and values of major component fl uctuate from 0 (lowest vulnerability) to 1 (highest vulnerability) with fl uctuating step of 0.2 The LVIs-Fishing of two fi shing communities at Ngoc Diem and Tan Dao villages are respectively 0.0529 and 0.0448 indicating high vulnerability under effects on fi shing activities
Key words: Livelihood vunerability index, Fishing community, Participatory research
1 Việ n Nuơi trồng Thủy sản, Trường Đạ i họ c Nha Trang
Trang 15I ĐẶT VẤN ĐỀ
Là một thủy vực giàu dinh dưỡng với đa
dạng hệ sinh thái, đầm Nha Phu được xem là
môi trường thuận lợi cho sự phân bố, sinh sản
và sinh trưởng của nhiều loài sinh vật biển
[3, 8] Nhờ vào sự giàu có và đa dạng nguồn
lợi thủy sản, đầm Nha Phu cung ứng nguồn
sống trực tiếp và gián tiếp cho hàng nghìn
cư dân của các thôn thuộc 6 xã/phường của
thị xã Ninh Hòa (các xã Ninh Ích, Ninh Lộc,
Ninh Giang, Ninh Phú, Ninh Vân và phường
Ninh Hà) Tuy nhiên, đầm Nha Phu đã và
đang hứng chịu những tác động gây suy thoái
môi trường và suy giảm nguồn lợi thủy sản
do việc khai thác bằng các công cụ, phương
tiện mang tính hủy diệt và nhiều họat động
kinh tế khác như phá rừng ngập mặn, chất
thải dân sinh, [6, 7, 8] Theo đó, tình hình
suy thoái nguồn lợi thủy sản chắc chắn sẽ gây
ảnh hưởng đến sinh kế của các cộng đồng
khai thác có đời sống phụ thuộc trực tiếp vào
nguồn lợi này
Các kết quả nghiên cứu của Võ Thiên
Lăng (2001), Lại Văn Hùng (2004), Nguyễn
Văn Quỳnh Bôi và cộng sự (2009) cho thấy
mặc dù đã có nhiều giải pháp được đề xuất
nhưng nhìn chung tình hình vẫn chưa được
cải thiện Nghiên cứu của những tác giả này
chỉ ra rằng cùng với ô nhiễm môi trường và
nhận thức của cộng đồng thấp, hoạt động
khai thác quá mức, thậm chí mang tính hủy
diệt đã làm cuộc sống cư dân địa phương
ngày càng khó khăn do cạn kiệt nguồn lợi
Do vậy, cần thiết phải nghiên cứu mức độ
ảnh hưởng của sự suy thoái nguồn lợi thủy
sản đối với sinh kế của những cộng đồng
khai thác vùng đầm nhằm định hướng chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội khu vực trong
thời gian đến
Sinh kế, theo định nghĩa của Chambers và Conway (1992) bao gồm các khả năng, nguồn lực và những hoạt động cần thiết cho việc kiếm sống Một sinh kế bền vững khi nó có thể thích ứng với những thay đổi đột ngột và phục hồi trở lại, và duy trì hoặc nâng cao các khả năng
và nguồn lực cả ở hiện tại và trong tương lai
mà không làm suy thoái cơ sở tài nguyên thiên nhiên [10]
Phương pháp tiếp cận sinh kế cho phép đánh giá ảnh hưởng của những yếu tố khác nhau đến sinh kế của con người, đặc biệt là những yếu tố gây khó khăn hay tạo ra cơ hội trong sinh kế (dự án IMOLA, 2006) Trên cơ
sở này, việc áp dụng phương pháp pháp pháp tiếp cận sinh kế sẽ giúp đánh giá được vai trò của nguồn lợi thủy sản đối với đời sống cộng đồng khai thác vùng đầm Nha Phu, tỉnh Khánh Hòa mà cụ thể ảnh hưởng của sự suy thoái nguồn lợi thủy sản đến sinh kế cộng đồng nhằm định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đối với cộng đồng trong tương lai Bài viết này trình bày các kết quả khảo sát khả năng tổn thương sinh kế tại hai thôn Tân Đảo và Ngọc Diêm thuộc xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hòa
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Cơ sở khoa học và khung phân tích
Cơ sở khoa học của nghiên cứu dựa những nguồn lực (còn gọi là tài sản sinh kế - assets)
có sẵn đối với cộng đồng (để mưu sinh) Theo
đó, việc phân tích khả năng tổn thương sinh kế được thực hiện dựa trên cơ sở “Khung sinh kế bền vững” (Sustainable Livelihood Framework
- SLF) đề xuất bởi Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (Department for International Development – DFID) năm 2001
Trang 162 Phương pháp nghiên cứu
Dựa theo cách tiếp cận của Haln và cộng sự
(2009); cho đến nay, đã có một số nghiên cứu
về khả năng tổn thương sinh kế được công bố
ở Việt Nam như các công bố của Nguyễn Văn
Quỳnh Bôi và Đoàn Thị Thanh Kiều (2012), Lê
Thị Diệu Hiền và cộng sự (2014), Nguyễn Quốc
Nghị (2016),… Nhìn chung, cách tính toán chỉ
số tổn thương sinh kế của các tác giả này đều
được mô phỏng theo công thức được đề xuất
của Haln và cộng sự (2009) với một vài thay
đổi về các yếu tố đóng góp để phù hợp với đối
tượng và tình hình thực tế của mỗi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ 02/2017
đến 8/2017 tại hai thôn Ngọc Diêm và Tân Đảo,
xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
áp dụng phương áp nghiên cứu có sự tham
gia (Participatory research) sử dụng kỹ thuật
phỏng vấn bán cấu trúc (semi-structured interview) đối với hộ gia đình và người cung cấp thông tin chủ chốt (key-informant) Cộng đồng khai thác trong nghiên cứu này bao gồm những hộ có thành viên tham gia hoạt động khai thác thủy sản với bất kỳ hình thức nào.Nguồn số liệu sơ cấp được tổng hợp dựa trên phỏng vấn trực tiếp các hộ hành nghề khai thác tại hai địa phương với số mẫu điều tra được tính theo theo công thức: n = N/(1 + N.e2) [12].Với :
- n: kích cỡ mẫu
- N: tổng số hộ tham gia khai thác
- e: xác suất có khả năng gặp sai số loại 2 (thông thường 10%)
Các hộ phỏng vấn được chọn ngẫu nhiên dựa trên danh sách các hộ tham gia hoạt động khai thác trong cộng đồng
Hình 1 Khung sinh kế bền vững (DFID, 2001; dẫn theo bản dịch của dự án IMOLA, 2006)
Các nhân tố đóng góp đến khả năng tổn thương của cộng đồng khai thác được tóm tắt qua bảng sau:
Bảng 1 Sự đóng góp của các nhân tố “khai thác thủy sản” đến các yếu tố tổn thương chính Các tác nhân đóng góp theo khai thác thủy sản đối với các yếu tố chính của khả năng tổn thương
Sự phô bày (sự thể hiện
của tác động) Sự suy giảm nguồn lợi và những thay đổi bất lợi của vùng khai thác thủy sản
Các xung đột nảy sinh trong hoạt động khai thác
Trang 17Tuy nhiên, đối với thôn Tân Đảo, do tổng
số hộ tham gia khai thác không lớn nên số hộ
điều tra được nâng lên đến 50 (thay vì 41 nếu tính theo công thức) nhằm làm giảm sai số
Hình 2 Bản đồ khu vực nghiên cứu
(Nguồn: google earth)
Bảng 2 Số hộ điều tra tại hai thôn Tân Đảo và Ngọc Diêm Thôn Tổng số hộ Số hộ tham gia khai thác Số phiếu điều tra
- Cách tính chỉ số tổn thương LVI: Mô
phỏng theo Haln và cộng sự (2009), có một vài
thay đổi nhỏ trong các yếu tố chính của LVI để
phù hợp với điều kiện nghiên cứu, ví dụ yếu tố
lương thực - thực phẩm được thay thế bằng
yếu tố vốn tài chính, yếu tố phụ khoảng cách
đến bệnh viện được thay thế bằng số ngày ở
bệnh viện kiểm tra/theo dõi sức khỏe Do mỗi
yếu tố phụ (sub-component) được đo lường
theo một hệ thống khác nhau nên cần thiết
phải chuẩn hóa để trở thành một chỉ số theo
phương trình dưới dây:
Trong đó: Sd là giá trị gốc yếu tố phụ (giá
trị thực) đối với địa phương (thôn) d, và Smin
và Smax lần lượt là các giá trị tối thiểu và tối
đa Sau khi được chuẩn hóa, các yếu tố phụ
được lấy trung bình để tính giá trị của mỗi
yếu tố chính (major component) bằng cách áp
dụng phương trình sau:
Với: Md là một trong bảy yếu tố chính đối
với địa phương (thôn) d, index sd i thể hiện các
yếu tố phụ được ghi chỉ số theo i, chúng tạo nên mỗi yếu tố chính, và n là số lượng yếu tố
phụ trong mỗi yếu tố chính Khi giá trị của các yếu tố chính được xác định, chỉ số tổn thương sinh kế cấp địa phương (thôn) được tính toán theo phương trình:
Với: LVI d là chỉ số tổn thương sinh kế địa phương (thôn) d, tương ứng với trung bình có
trọng số tất cả 7 yếu tố chính Trọng số của mỗi
yếu tố chính W Mi được xác định bằng số lượng các yếu tố phụ tạo nên các yếu tố chính Trong nghiên cứu này, giá trị chỉ số LVI dao động trong khoảng 0 (mức tổn thương thấp nhất) đến 1 (mức tổn thương cao nhất)
- Cách tính LVI-Fishing: Mô phỏng phương thức tập hợp các yếu tố theo cách tiếp cận của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
Trang 18(Intergovernmental Panel on Climate Change -
IPCC) để đánh giá tổn thương sinh kế do biến
đổi khí hậu, chỉ số tổn thương sinh kế đối với
hoạt động khai thác thủy sản (LVI-Fishing) của
các cộng đồng trong nghiên cứu này được tính
dựa theo sự suy giảm nguồn lợi và những thay
đổi bất lợi của vùng khai thác thủy sản, và các
xung đột nảy sinh trong hoạt động khai thác
Thay vì hợp nhất các yếu tố chính vào LVI
trong một bước, cách tiếp cận này kết hợp các
yếu tố chính theo Bảng 2 bằng cách sử dụng
công thức:
Trong đó CF d là một tác nhân “đóng góp”
theo hoạt động khai thác thủy sản (Exposure
– e: sự phô bày, Sensitivity – s: sự nhạy cảm/
tính dễ bị tổn thương, và Adaptive Capacity – a:
khả năng thích ứng), M di là yếu tố chính cho địa
phương (thôn) d được ghi chỉ số theo i, W Mi là trọng số của mỗi yếu tố chính và n là số yếu tố chính trong mỗi tác nhân đóng góp Sau đó 3 yếu
tố trên được tính toán qua phương trình sau:
LVI-Fishing = (e – a) * s
Trong nghiên cứu này, giá trị của Fishing dao động từ -1 (mức tổn thương thấp nhất) đến 1 (mức tổn thương cao nhất)
LVI-III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Dựa trên nguồn số liệu sơ cấp và thứ cấp, kết quả nghiên cứu được thể hiện qua Bảng
3 Bảng 3 cho thấy chỉ số của các yếu tố phụ được xem xét thuộc cộng đồng khai thác thủy sản tại thôn Ngọc Diêm khá lớn so với chỉ số của cùng yếu tố phụ thuộc cộng đồng khai thác thủy sản tại thôn Tân Đảo Kết quả này chỉ ra tính nhạy cảm đối với các tác động đến sinh kế của cộng đồng khai thác tại thôn Ngọc Diêm so với cộng đồng khai thác tại thôn Tân Đảo
Bảng 3: Giá trị các yếu tố phụ, giá trị lớn nhất và nhỏ nhất - của chỉ số LVI đối với
cộng đồng khai thác tại thôn Ngọc Diêm và thôn Tân Đảo Các yếu tố
chính Các yếu tố phụ Đơn vị tính Chỉ số lớn nhất Giá trị nhỏ nhất Giá trị
Đặc điểm hộ Tỷ lệ phụ thuộcTỷ lệ số hộ có chủ hộ thất học %% 32,12 - 35,788,96 - 4,00 100100 00
Tỷ lệ số hộ có trẻ em mồ côi % 2,99 - 0,00 100 0
Tỷ lệ số hộ có chủ hộ là nữ % 5,97 - 0,00 100 0Chiến lược
sinh kế
Tỷ lệ hộ không có nguồn thu ổn định % 74,63 - 44,00 100 0
Tỷ lệ hộ không có khả năng tích lũy % 22,39 - 0,00 100 0
Tỷ lệ hộ có lao động làm thuê % 37,31 - 50,00 100 0
Sức khỏe Số ngày ở cơ sở y tế để kiểm tra/theo dõi sức khỏe Ngày/năm 5 - 4 360 0
Tỷ lệ số hộ có thành viên mắc bệnh kinh niên % 14,9 - 14,00 100 0Mạng lưới
xã hội Tỷ lệ số hộ không được hỗ trợ (ở bất kỳ hình thức nào) Tỷ lệ số hộ có nhu cầu hỗ trợ (dưới bất kỳ hình thức nào) %% 8,96 - 32,00100 - 100 100100 00Vốn tài chính Tỷ lệ số hộ có vay vốn ngân hàng % 14,93 - 38,00 100 0Suy giảm nguồn
lợi và những thay
đổi bất lợi của
vùng khai thác
Mức độ bắt gặp các hình thức khai thác hủy diệt % 49,25 - 100 100 0
Tỷ lệ số hộ đánh giá sản lượng khai thác giảm so
Tỷ lệ số hộ đánh giá môi trường vùng khai thác bị ô nhiễm % 100 - 100 100 0Xung đột/mâu
Tỷ lệ số hộ đánh giá xung đột chưa được giải quyết triệt để % 53,73 - 0,00 100 0
Tỷ lệ số hộ đánh giá rằng xung đột chỉ thể hiện ngấm ngầm % 80,60 - 0,00 100 0
Ghi chú: Ở cột Chỉ số, giá trị đứng trước tương ứng thôn Ngọc Diêm, giá trị đứng sau tương ứng thôn Tân Đảo(Nguồn: Số liệu điều tra)
Trang 19Dựa theo các yếu tố phụ được trình
bày qua Bảng 3, có thể xác định các yếu tố
chính của chỉ số LVI đối với cộng đồng khai
thác thủy sản tại hai thôn Ngọc Diêm và Tân
Đảo thể hiện ở Bảng 4 Dựa vào Bảng 4, có
thể tính được chỉ số tổn thương sinh kế của
cộng đồng khai thác tại thôn Ngọc Diêm là LVIND= 0,406 và tại thôn Tân Đảo là LVITĐ
= 0,316 Kết quả này cho thấy cả hai cộng đồng nhạy cảm với các yếu tố chi phối sinh
kế, đáng lưu ý là cộng đồng khai thác ở thôn Ngọc Diêm
Bảng 4 Giá trị các yếu tố chính của chỉ số LVI đối với cộng đồng khai thác tại thôn Ngọc
Diêm và thôn Tân Đảo Các yếu tố phụ Chỉ số Các yếu tố chính Chỉ số
Tỷ lệ số hộ có chủ hộ thất học 0,09 – 0,04
Tỷ lệ số hộ có trẻ em mồ côi 0,03 – 0,00
Tỷ lệ số hộ có chủ hộ là nữ 0,06 – 0,00
Tỷ lệ hộ không có nguồn thu ổn định 0,75 – 0,44 Chiến lược sinh kế 0,398 – 0,278
Tỷ lệ hộ không có khả năng tích lũy 0,22 – 0,00
Tỷ lệ hộ có lao động làm thuê 0,37 – 0,50
Thời gian thất nghiệp 0,25 – 0,17
Số ngày ở cơ sở y tế để kiểm tra/theo
Tỷ lệ số hộ có thành viên mắc bệnh
Tỷ lệ số hộ không được hỗ trợ (ở bất
kỳ hình thức nào) 1,00 – 1,00 Mạng lưới xã hội 0,545 – 0,660
Tỷ lệ số hộ có nhu cầu hỗ trợ (dưới bất
Tỷ lệ số hộ đánh giá sản lượng khai
thác giảm so với trước đây 1,00 – 1,00
Tỷ lệ số hộ đánh giá môi trường vùng
Tỷ lệ số hộ đánh giá xung đột chưa
được giải quyết triệt để 0,54 – 0,00
Tỷ lệ số hộ đánh giá rằng xung đột chỉ
Ghi chú: Ở cột Chỉ số, giá trị đứng trước tương ứng thôn Ngọc Diêm, giá trị đứng sau tương ứng thôn Tân Đảo (Nguồn: Số liệu điều tra)
Trang 20Các kết quả được trình bày qua Bảng 4
cho thấy các yếu tố đáng quan tâm ở cả hai
thôn là sự suy giảm nguồn lợi và những thay
đổi bất lợi của vùng khai thác (do ô nhiễm môi
trường), và mạng lưới xã hội; lần lượt là 83%
và 100% Kết quả điều tra cho thấy, mức độ
bắt gặp các hình thức khai thác hủy diệt đều
cao ở cả hai thôn, đặc biệt ở thôn Tân Đảo,
lần lượt là 49% và 100% Cùng với điều đó,
100% các hộ khai thác được khảo sát ở cả hai
thôn đều cho rằng môi trường vùng khai thác
đã bị ô nhiễm Điều này thống nhất với các kết
quả khảo sát trước đây của Võ Thiên Lăng
(2001); Nguyễn Văn Quỳnh Bôi và cộng sự
(2009) và Trần Huy (2013) Những vấn đề này
đã dẫn đến sản lượng khai thác giảm dần so
theo thời gian, ngày càng tăng áp lực lên sinh
kế của mỗi cộng đồng và kéo theo là nguồn
lợi thủy sản vùng đầm tiếp tục suy giảm Về
yếu tố mạng lưới xã hội, 100% số hộ thuộc hai
cộng đồng khai thác không nhận được bất kỳ
hỗ trợ nào trong khi nhiều hộ, đặc biệt thuộc
cộng đồng khai thác thôn Tân Đảo (32%), có
nhu cầu được hỗ trợ để cải thiện sinh kế Điều
này dễ hiểu khi xem xét đến tỷ lệ hộ không có
nguồn thu ổn định và tỷ lệ lao động làm thuê ở
hai cộng đồng, lần lượt theo thứ tự Ngọc Diêm
– Tân Đảo là 75% – 44% và 37% – 50% Bên
cạnh đó, do điều kiện riêng, mỗi cộng đồng đặt
ra những tình huống cần xem xét về vấn đề
tổn thương sinh kế Đối với cộng đồng khai
thác của thôn Ngọc Diêm là chiến lược sinh
kế và xung đột – mâu thuẫn trong khai thác,
lần lượt có chỉ số 0,398 và 0,726; trong khi vấn
đề của cộng đồng khai thác ở thôn Tân Đảo
là vốn tài chính với chỉ số 0,38 Kết quả khảo
sát cho thấy rằng mặc dù cộng đồng khai thác
thủy sản ở thôn Ngọc Diêm có tỷ lệ số hộ có
lao động làm thuê thấp hơn so với thôn Tân Đảo nhưng chỉ số thời gian thất nghiệp lại cao hơn và tỷ lệ số hộ có nguồn thu không ổn định cao hơn nhiều kéo theo là tỷ lệ số hộ không có khả năng tích lũy cao lên đến 22% Ngược lại, chỉ số này của cộng đồng khai thác ở thôn Tân Đảo là 0% Điều này có thể lý giải là do cộng đồng khai thác ở thôn Tân Đảo không lớn, bên cạnh nguồn thu từ khai thác thủy sản, 54% số
hộ có nguồn thu nhập thứ hai từ các hoạt động khác bao gồm chủ yếu là làm công nhân Số lao động với công việc không ổn định thấp hơn nên thời gian thất nghiệp cũng ngắn hơn Theo
đó, tỷ lệ số hộ không có nguồn thu ổn định thấp hơn và không có hộ nào không có khả năng tích lũy Đối với nguồn lợi thủy sản, các
hộ chủ yếu áp dụng loại hình khai thác cố định với ngư cụ là nò (sáo) nên vấn đề xung đột cũng không xảy ra Những khía cạnh này đối với cộng đồng khai thác thủy sản tại thôn Ngọc Diêm có tính chất ngược lại với chỉ 37,3% số
hộ có nguồn thu nhập thứ hai chủ yếu là nuôi trồng thủy sản và buôn bán Bên cạnh cào sò, lặn bắt tôm hùm giống, đặt lờ,…hoạt động khai thác chủ yếu là đánh lưới cước với 100% số hộ thực hiên Do vậy, chi phí ngư cụ và phương tiện khá cao nhưng thu nhập không ổn định Đồng thời, mâu thuẫn và xung đột trong hoạt động khai thác cũng nảy sinh với chỉ số 0,76 Tuy nhiên, để có được kết quả sinh kế, tỷ lệ vay vốn của cộng đồng khai thác ở thôn Tân Đảo lên đến 38% so với 15% của cộng đồng khai thác tại thôn Ngọc Diêm Điều đó bắt buộc các hộ phải tích lũy để thanh toán các khoản vay làm tỷ lệ này đối với cộng đồng khai thác
ở thôn Tân Đảo tăng lên (tỷ lệ số hộ không có khả năng tích lũy là 0%) Những kết quả nêu trên được thể hiện qua Hình 3
Trang 21So sánh với một số công bố về tổn thương
sinh kế cộng đồng khác, kết quả nghiên cứu
đã chỉ ra hai cộng đồng khai thác thủy sản
ở thôn Ngọc Diêm và thôn Tân Đảo, xã Ninh
Ích, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa có khả
năng tổn thương sinh kế cao hơn so với các
cộng đồng xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh
Quảng Nam với LVI = 0,212 [5] và xã Đất Mũi,
huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau với LVI = 0,26 [2] cũng như cộng đồng dân cư ven biển tỉnh
Cà Mau nói chung với 0,254 [6] Tuy nhiên, điều này không thực sự ý nghĩa do trong công thức tính toán chỉ số có một số khác biệt về các yếu tố phụ cấu thành nên những yếu tố chính được xem xét theo đặc điểm riêng của mỗi địa phương
Hình 3 Đồ thị thể hiện chỉ số tổn thương sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản tại hai thôn nghiên cứu
(Nguồn: Kết quả nghiên cứu)
Bảng 5 Các nhân tố đưa đến tính dễ bị tổn thương theo khía cạnh khai thác của
Ghi chú: Giá trị đứng trước tương ứng thôn Ngọc Diêm, giá trị đứng sau tương ứng thôn Tân Đảo
(Nguồn: Kết quả nghiên cứu)
Kết quả trình bày qua Bảng 5 cho thấy chỉ
số tổn thương sinh kế cộng đồng khai thác
(LVI-Fishing) ở hai thôn Ngọc Diêm và Tân
Đảo ở mức cao lần lượt là 0,0529 và 0,0448
Sự tác động của 3 nhân tố (sự phô bày, khả năng thích nghi và sự nhạy cảm/tính dễ bị tổn thương) thể hiện qua tam giác tổn thương dưới đây (Hình 4)
Hình 4 Đồ thị thể hiện sự phân bố các yếu tố của chỉ số tổn thương đối với cộng đồng khai thác
tại hai thôn nghiên cứu
(Nguồn: Kết quả nghiên cứu)
Trang 22Từ Hình 4 có thể thấy sự phô bày đối với
sự suy giảm nguồn lợi và những thay đổi bất lợi
của vùng khai thác, và các xung đột nảy sinh
trong hoạt động khai thác đối với cộng đồng
khai thác ở cả hai thôn Ngọc Diêm và Tân Đảo
là rất cao lần lượt lên đến 0,778 và 0,500 Mặc
dù, tính nhạy cảm của hai cộng đồng bao gồm
sức khỏe và vốn tài chính rất thấp lần lượt là
0,105 và 0,177 Nhưng, khả năng thích ứng
của cả hai cộng đồng đều không cao với giá trị
lần lượt là 0,273 và 0,247 Kết quả này chỉ ra
rằng chính quyền các cấp cần có các giải pháp
để cải thiện đặc điểm hộ, chiến lược sinh kế
và mạng lưới xã hội của hai cộng đồng nhằm
giảm khả năng tổn thương đối với hoạt động
sinh kế là khai thác Rõ ràng vấn đề cấp bách
nhất là bảo tồn nguồn lợi thủy sản kết hợp bảo
vệ môi trường vùng đầm và giảm tình trạng
xung đột để làm giảm sự phô bày của cả hai
cộng đồng trước các tác động này
Những trình bày nêu trên cho thấy mặc dù
có thể so sánh sinh kế của các địa phương nói
chung hoặc những cộng đồng khai thác thủy
sản nói riêng, kết quả của nghiên cứu chỉ ra
rằng một vài yếu tố cần phải xem xét để có thể
phản ánh chính xác hơn khả năng tổn thương
sinh kế của cộng đồng Theo truyền thống của
người Việt Nam, nhiều trường hợp người cao
tuổi trong gia đình được xem là chủ hộ Điều
này có thể đã làm tăng chỉ số các yếu tố phụ
là tỷ lệ số hộ có chủ hộ thất học và tỷ lệ số hộ
có chủ hộ là nữ đối với yếu tố đặc điểm hộ,
đặc biệt ở các vùng nông thôn Bên cạnh đó,
số thành viên của hộ có bảo hiểm y tế được
xem là một yếu tố phụ quan trọng cần được bổ
sung cho yếu tố chính là sức khỏe để đánh giá
khả năng tổn thương sinh kế Tương tự như
vậy, tỷ lệ tiếp cận thông tin nên được xem là
một yếu tố phụ đối với yếu tố chính là mạng
lưới xã hội, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa
Ngoài ra, tùy theo tình hình thực tế nghiên cứu,
trong trường hợp có thể thu được số liệu chính
xác, tổng thu nhập, chi phí thường xuyên và
các chi phí bất thường (hoặc tổng tích lũy) của
hộ/gia đình đóng vai trò là một chỉ báo quan trọng về vốn tài chính
IV KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Dựa trên những kết quả và phân tích trên đây,
có thể đi đến các kết luận và khuyến nghị sau:
1 Kết luận
- Chỉ số LVI cho thấy đối với hai cộng đồng khai thác thủy sản tại thôn Ngọc Diêm và Tân Đảo, khả năng tổn thương tăng dần theo thứ
tự các yếu tố chính từ đặc điểm hộ, sức khỏe, vốn tài chính, chiến lược sinh kế, đến mạng lưới xã hội và suy giảm nguồn lợi, và những thay đổi bất lợi của vùng khai thác Riêng yếu
tố xung đột/mâu thuẫn trong hoạt động khai thác thể hiện trái ngược nhau ở hai cộng đồng
- Giá trị chỉ số tổn thương sinh kế của hai cộng đồng khai thác thủy sản tại thôn Ngọc Diêm và Tân Đảo lần lượt bằng 0,406 và 0,316 cho thấy tính dễ tổn thương cao và giá trị các yếu tố chính thay đổi trong khoảng từ 0 (mức tổn thương thấp nhất) đến 1 (mức tổn thương cao nhất) với khoảng dao động là 0,2
- Chỉ số LVI-Fishing của hai cộng đồng khai thác thủy sản tại thôn Ngọc Diêm và Tân Đảo lần lượt bằng 0,0529 và 0,0448 cho thấy khả năng tổn thương trước những ảnh hưởng đến hoạt động khai thác ở mức cao
2 Khuyến nghị
Để giảm thiểu khả năng tổn thương sinh kế đối với cộng đồng khai thác tại hai thôn nghiên cứu, chính quyền địa phương và các cơ quan ban ngành có liên quan cần:
- Chú trọng nâng cao dân trí, thường xuyên vận động ngư dân tham gia các lớp học bổ túc văn hóa
để ngư dân ý thức được vấn đề của mình, đồng thời kết hợp mở các lớp đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật nhằm tạo cơ hội đa dạng hóa hoạt động tạo thu nhập cho cộng đồng khai thác;
- Vận động các nguồn tài trợ để thiết lập nguồn quỹ vay vốn ưu đãi, đồng thời xây dựng phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế đối với cộng đồng khai thác;
Trang 23- Tăng cường công tác thông tin tuyên
truyền về lợi ích của việc bảo vệ nguồn lợi thủy
sản theo nhiều hình thức khác nhau, đồng thời
phải có biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với
những trường hợp vi phạm nhằm bảo vệ môi
trường – nguồn lợi và hạn chế xung đột
Để đánh giá chính xác hơn khả năng tổn
thương của sinh kế của cộng đồng, nên:
- Xem xét yếu tố chủ hộ thất học và chủ
hộ là nữ chỉ trong trường hợp chủ hộ ở độ tuổi
lao động hoặc là lao động tạo thu nhập chính
của hộ đối với yếu tố đặc điểm hộ,
- Bổ sung các yếu tố phụ bao gồm bảo hiểm
y tế đối với vấn đề sức khỏe, tỷ lệ tiếp cận thông tin đối với yếu tố mạng lưới xã hội (đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa),
- Cân nhắc xem xét các yếu tố phụ tổng thu nhập, chi phí thường xuyên và các chi phí bất thường hoặc tổng tích lũy của hộ/gia đình trong trường hợp có thể thu được số liệu chính xác để đánh giá vốn tài chính
Lời cảm ơn: Tác giả xin chân thành cảm
ơn các sinh viên lớp 55-QLNLTS bao gồm Nguyễn Hoàng Anh, Nguyễn Trọng Nghĩa, Bùi Văn Dương, Phạm Tấn Toàn, Ngô Tùng Lê, Nguyễn Thị Kim Chi, Nguyễn Phương Thảo và Phạm Thị Ngọc Thắm đã hỗ trợ điều tra
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1 Dự án IMOLA-Huế, 2006 (Bản dịch) Cẩm nang: Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn và phân tích sinh kế
bền vững UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế.
2 Lê Thị Diệu Hiền, Nguyễn Quốc Nghị, Trần Thị Diễm Cần và Nguyễn Xuân Trúc, 2014 Nghiên cứu tác động
của biến đổi khí hậu đến sinh kế của cộng đồng xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau Tạp chí Khoa học
trường Đại học Cần Thơ, số 32 (2014): 103 – 108
3 Lại Văn Hùng, 2004 Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường đầm Nha Phu - tỉnh Khánh Hòa và đề xuất các giải
pháp cải thiện và bảo vệ môi trường phục vụ nuôi trồng thủy sản Báo cáo đề tài, Đại học thủy sản.
4 Nguyễn Quốc Nghị, 2016 Đánh giá tổn thương sinh kế do biến đổi khí hậu tác động đến sinh kế của cộng đồng
cư dân ven biển tỉnh Cà Mau Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp, số 4 – 2016.
5 Nguyễn Văn Quỳnh Bôi và Đoàn Thị Thanh Kiều, 2012 Áp dụng chỉ số tổn thương trong nghiên cứu sinh kế -
Trường hợp xã đảo Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ,
số 24b (2012): 251 – 260
6 Nguyễn Văn Quỳnh Bôi, Trần Văn Phước, Vũ Thị Thùy Minh; 2009 Quyền tài sản đối với tài nguyên dùng
chung tại đầm Nha Phu, tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam (Property right over common pool resources at Nha Phu
lagoon, Khanh Hoa province, Viet Nam) Tạp chí Khoa học – Công nghệ thủy sản, Số đặc biệt, các trang 84 – 91,
2009 (Journal of Science – Technology of Fisheries, Special issue, pp 84 – 91; 2009)
7 Trần Huy, 2013 Giải pháp quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản đầm Nha Phu Luận văn thạc sĩ khoa
học chuyên ngành Khai thác thủy sản Trường Đại học Nha Trang
8 Võ Thiên Lăng, 2001 Một số vấn đề về quản lý nguồn lợi thủy sản trên cơ sở cộng đồng tại các thôn biển xã
Ninh Ích, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa - http://www.fi stenet.gov.vn/details.asp?Object=1292058&news_
ID=4471576; accessed 20/05/2009
Tiếng Anh
9 Chambers R., and Conway G.R., 1992 Sustainable Rural Livelihoods: Practical Concepts for the 21st Century
IDS (Institute of Development Studies) Discussion Paper 296 rural-livelihoods-practical-concepts-for-the-21st-century; accessed 25/7/2014)
(https://www.ids.ac.uk/publication/sustainable-10 Marie-Caroline Badjeck, Edward H Allison, Ashley S Halls and Nicholas K Dulvy; 2009 Impacts of climate
variability and change on fi shery-based livelihoods Marine Policy.
11 Micah B Hahn, Anne M Riederer, Stanley O Foster, 2009 The Livelihood Vulnerability Index: A pragmatic
approach to assessing risks from climate variability and change-A case study in Mozambique Global Environ
Change (in press - doi:10.1016/j.gloenvcha.2008.11.002)
12 Ram C.Bhuje, 2007 Statistics for aquaculture, Asian Institure of Technology (AIT) Wiley-Blackwell.
Trang 24THÔNG BÁO KHOA HỌC
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHƠI TƠM BÁC SĨ
(Lysmata amboinensis DE MANN, 1888)
EMBRYONIC DEVELOPMENT OF WHITE-STRIPED CLEANER SHRIMP
(Lysmata amboinensis DE MANN, 1888)
Lục Minh Diệp 1 , Phùng Thế Trung 1 , Đồn Thị Ngọc Kiều 2
Ngày nhận bài: 9/1/2017; Ngày phản biện thơng qua: 11/12/2017; Ngày duyệt đăng: 29/12/2017
TĨM TẮT
Quá trình phát triển phơi của tơm bác sĩ (Lysmata amboinensis De Mann, 1888) được xác định với nguồn tơm mẹ thu thập tại Vịnh Nha Trang Tơm mẹ sau khi đẻ ơm trứng được tách nuơi riêng để tiện theo dõi Trứng tơm được ấp ở nhiệt độ nước 28-31 o C, độ mặn 33-35 ppt và oxy hịa tan 3,54-3,98 ppm Trứng đang ấp được thu hàng ngày và đưa lên quan sát trên kính hiển vi nhằm xác định các giai đoạn phát triển phơi của tơm Dựa vào các dấu hiệu và hình ảnh thu được, quá trình phát triển phơi tơm bác sĩ cĩ thể được phân chia thành 8 giai đoạn gồm: (1) trứng mới đẻ, (2) trứng phân cắt, (3) đĩa phơi, (4) phơi nauplius, (5) đầu giai đoạn hậu nauplius, (6) giữa giai đoạn hậu nauplius, (7) cuối giai đoạn hậu nauplius, (8) phơi sắp nở Ở nhiệt độ nước 28-31 0 C, quá trình phát triển phơi của tơm bác sĩ hồn thành trong khoảng 11 ngày
Từ khĩa: Lysmata amboinensis, tơm bác sĩ, phát triển phơi.
ABSTRACT
Embryonic development of the cleaner shrimp (Lysmata amboinensis De Mann, 1888) was determined based on the broodstock collected from Nha Trang Bay After spawning, the incubating shrimps were separated for monitoring Eggs were incubated in a water temperature level of 28-31 0 C, salinity level of 33-35 ppt and dissolved oxygen level of 3.54-3.98 ppm The incubated eggs were collected and observed daily in order to determine specifi c embryonic stages and characteristics Based on the results, embryonic development of the shrimp could be devided into 8 stages: (1) spawning egg, (2) cleavage, (3) germinal disc, (4) embryonized nauplius, (5) initial post-nauplius, (6) mid post-nauplius, (7) fi nal post-nauplius, (8) pre-hatching embryo Besides, embryonic development of the shrimp lasted for around 11 days at 28-31 0 C.
Keywords: Lysmata amboinensis, cleaner shrimp, embryonic development.
1 Viện Nuơi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang
2 Học viên cao học Khĩa 2013, Viện Nuơi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang
phát triển [1, 4]
Tuy vậy, nguồn tơm bác sĩ cung cấp cho nhu cầu nuơi cảnh chủ yếu được thu gom từ tự nhiên vì chưa được sản xuất giống thành cơng [4, 5] Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng khơng những lên quần thể tơm bác sĩ mà cả
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, nhu cầu nuơi thủy sinh vật cảnh
tăng nhanh, ổn định bao gồm nhiều chủng loại
như cá, san hơ, sứa và giáp xác [2] Trong
nhĩm giáp xác, tơm bác sĩ là lồi tơm cảnh
tiềm năng, được nuơi nhiều và đang trên đà
Trang 25rạn san hô nơi loài này phân bố Nhằm giảm
áp lực khai thác phục vụ nhu cầu nuôi cảnh,
sản xuất giống tôm bác sĩ trở thành nhu cầu
cấp thiết
Để có thể sản xuất giống tôm bác sĩ hiệu quả,
trước tiên cần tìm hiểu các đặc điểm sinh học
sinh sản quan trọng và các yếu tố liên quan trong
quá trình nuôi tôm bố mẹ sinh sản Việc sản xuất
giống tôm bác sĩ còn gặp nhiều khó khăn, trong
đó nổi bật là hiểu biết về đặc điểm sinh sản và
quá trình phát triển phôi chưa nhiều Hiện chưa
có tài liệu nào công bố đặc điểm thời kỳ phát triển
phôi của tôm bác sĩ mà chỉ có những mô tả ở một
số loài tôm có tập tính đẻ rồi ôm, ấp trứng ở phần
bụng tương tự tôm bác sĩ Đó là các loài tôm
càng nước ngọt thuộc họ Palaemonidae như
Macrobrachium olfersi, M potiuna, Palaemon
pandaliformis và Palaemonetes argentines Ở
các loài tôm này, thời kỳ phôi bắt đầu từ khi trứng
thụ tinh đến khi trứng nở, thời gian phát triển phôi
tùy vào nhiệt độ nước, thường khoảng 13 ngày,
trải qua tám giai đoạn: trứng mới đẻ, trứng phân
chia tế bào, đĩa phôi, phôi nauplius, đầu hậu
nauplius, giữa hậunauplius, cuối hậu nauplius
và trứng trước khi nở [3, 6]
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm chỉ
rõ đặc điểm các giai đoạn phát triển phôi của
tôm bác sĩ Qua đó, người đọc có thể phân biệt
các giai đoạn tôm mẹ ôm ấp trứng khác nhau
cũng như dự đoán được thời gian chuyển giai
đoạn, tính toán được kích thước trứng và sức
sinh sản của tôm trong quá trình sản xuất giống
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành trên tôm bác
sĩ (Lysmata amboinensis De Mann, 1888) nuôi
trong bể tại Trại thực nghiệm Nuôi Hải sản
Cam Ranh, thuộc Viện Nuôi trồng Thủy sản -
Trường Đại học Nha Trang trong 2 năm 2014 -
2015 Đàn tôm dùng cho nghiên cứu được thu
gom từ ngư dân chuyên lặn bắt sinh vật cảnh
biển ởcác rạn san hô thuộc Vịnh Nha Trang
Tôm mẹ thu về được nuôi trong các bể
composite thể tích 250L với nước biển lọc
sạch và sục khí nhẹ Sau khi đẻ, tôm mẹ ôm trứng được đưa vào nuôi riêng trong các xô nhựa 5L Trứng tôm được ấp trong điều kiện nhiệt độ nước 28-310C, độ mặn 33-35 ppt và
DO (hàm lượng oxy hòa tan) 3,54-3,98 ppm.Phôi đang phát triển được theo dõi liên tục
và thu mẫu hàng ngày từ tôm mẹ ôm trứng
từ khi mới đẻ cho đến khi nở Phôi tôm được quan sát dưới kính soi nổi, đo kích thước bằng thước đo thị kính Số lượng phôi trong mỗi lần
đo kích thước là 10 phôi Số liệu được trình
bày dưới dạng Trung bình ± Độ lệch chuẩn.
Đặc điểm của từng giai đoạn phát triển phôi được ghi nhận chi tiết Hình chụp tất cả các giai đoạn phát triển phôi của tôm được thu thập Thời gian phát triển của từng giai đoạn cùng các đặc điểm môi trường nước cũng được ghi nhận trong từng đợt thí nghiệm Các giai đoạn phát triển phôi của tôm bác sĩ trong nghiên cứu này được phân chia dựa theo sự phân chia của Muller và ctv (2004) [3]
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Hiện chưa có tài liệu phân chia cụ thể các
giai đoạn phát triển phôi tôm bác sĩ (Lysmata amboinensis) Tuy nhiên, giống tôm Lysmata
thuộc loại đẻ và ấp trứng ở bụng với nhiều đặc điểm phân cắt giống với giống tôm càng nước
ngọt Macrobrachium, họ tôm Palaemonidae
với quá trình phát triển phôi được chia làm 8 giai đoạn chính [3]
Dựa trên sự phân chia các giai đoạn phát triển phôi của tác giả trên, thời kỳ phát triển phôi tôm bác sĩ cũng được nhận diện và phân chia thành 8 giai đoạn: Trứng mới đẻ, phân chia tế bào, đĩa phôi, phôi nauplius, đầu giai đoạn hậu nauplius, giữa giai đoạn hậu nauplius, cuối giai đoạn hậu nauplius, và trứng trước khi nở
Trứng mới đẻ
Trứng tôm bác sĩ mới đẻ chưa phân cắt nên chưa có cấu trúc phôi, có màu xanh ngọc, được tôm mẹ ôm dưới các khoang ấp trứng dưới bụng Khoang ấp trứng được tạo thành bởi các đôi chân bơi (Hình 1)
Trang 26Hình 1 Trứng tôm bác sĩ lúc mới đẻ
(A) dưới bụng tôm mẹ, (B) nhìn dưới kính hiển vi
Màu trứng lú c này nhạt hơn so với màu
xanh lam của buồng trứng giai đoạn 4 và khác
với trứng mới đẻ có màu vàng nhạt thường
thấy ở các các loài tôm càng nước ngọt
thuộc họ Palaemonidae như Macrobrachium
olfersi, M potiuna, Palaemon pandaliformis và
Palaemonetes argentines [3].
Phân chia tế bào
Trứng tôm bác sĩ ở giai đoạn phân chia có
màu vàng Các tế bào phân chia dễ dàng được
nhìn thấy Sự phân chia của nhân cũng có thể
được theo dõi dễ dàng dưới kính hiển vi (Hình 2)
Hình thành đĩa phôi
Trứng tôm bác sĩ giai đoạn này có màu vàng lục Kích thước trứng còn nhỏ với nhiều phôi bào có thể quan sát trên bề mặt của trứng, một vài phôi bào tập trung trên một khu vực được định trước của trứng, hình thành đĩa phôi Khi nhìn theo chiều dọc, đĩa phôi có dạng hình chữ V Trứng không được thụ tinh cũng phân cắt thành nhiều tế bào nhưng không theo quy luật nhất định và không hình thành đĩa phôi (Hình 3)
Hình 2 Trứng tôm bác sĩ giai đoạn phân chia tế bào
(A) trứng ở bụng tôm mẹ, (B) giai đoạn 2 tế bào,
(C) 8 tế bào, (D) 16 tế bào, (E) nhiều tế bào
Hình 3 Trứng tôm giai đoạn đĩa phôi và trứng không
th ụ tinh cùng thời gian
(A) trứng ở bụng tôm mẹ, (B) hình thành đĩa phôi, (C) phôi không thụ tinh không hình thành đĩa phôi
Phôi nauplius
Trứng ở giai đoạn phôi nauplius có màu xanh lục, kích thước lớn tập trung dày ở phần
Trang 27bụng tôm mẹ Lúc này, cấu trúc phôi được phân
chia rõ ràng, sự gia tăng kích thước và tổ chức
lại đĩa phôi dẫn đến sự hình thành phôi nauplius
Khu vực giữa ở mặt bên chia làm ba phần,
hình thành các phần phụ nauplius sau này, gồm ăng ten 1, ăng ten 2 và nhiều cơ quan phần phụ khác Phần giữa sẽ hình thành lỗ miệng của ống tiêu hóa, phần sau cuối là đuôi (Hình 4)
Hình 4 Trứng tôm bác sĩ giai đoạn phôi nauplius
(A) ở bụng tôm mẹ, (B) đầu giai đoạn, (C) cu ối giai đoạn
Đầu giai đoạn hậu nauplius
Giai đoạn này trứng có màu xanh đen đến
màu đen, kích thước lớn làm thể tích khoang
ấp trứng tăng Phôi phát triển theo trục dài
của trứng Thùy mắt xuất hiện ở vùng đầu của
phôi, các phần phụ nauplius cũng xuất hiện ở
mặt bụng đến phần đuôi Phôi giai đoạn này
sáng trong, uốn cong dạng hình chữ C Ngay dưới các phần phụ nauplius, có thể quan sát thấy các phần phụ hậu nauplius được bố trí theo chiều ngang Phần phụ nauplius trở thành phần phụ hai nhánh, được xác định rõ giới hạn bên ngoài Đuôi phát triển và có dạng uốn cong (Hình 5)
Hình 5 Phôi tôm bác sĩ đầu giai đoạn hậu nauplius
(A) ở bụng tôm mẹ, (B) dưới kính hiển vi
Giữa giai đoạn hậu nauplius
Trứng giai đoạn giữa hậu nauplius có màu
xám đen Thay đổi lớn nhất trong giai đoạn này
là sự xuất hiện của điểm mắt dài và mảnh Đồng
thời, hình dạng phôi biến đổi thành một đường
cong rõ rệt Trên các phần phụ nauplius xuất hiện nhiều lông cứng, và phát triển xuống phía dưới Phần phụ nauplius phát triển và nằm trên gai đuôi Kích thước khối noãn hoàng giảm nhường chỗ cho sự tăng lên của phôi (Hình 6)
Trang 28Cuối giai đoạn hậu nauplius
Trứng ở giai đoạn này có màu xám trắng,
phần màu đen thu nhỏ hơn Lúc này, điểm mắt to,
rõ hơn giai đoạn trước, và có dạng hình bầu dục Phần bụng chia thành các đốt rõ ràng Phần cuối
cơ thể thấy xuất hiện chạc đuôi (Hình 7)
Hình 6 Phôi tôm bác sĩ giữa giai đoạn hậu nauplius
(A) ở bụng tôm mẹ, (B) dưới kính hiển vi
Hình 7 Phôi tôm bác sĩ cuối giai đoạn hậ u nauplius
(A) ở bụng tôm mẹ, (B) dưới kính hiển vi
Phôi sắp nở
Trứng sắp nở có màu trắng xám với các
điểm màu đen nhỏ li ti Tuy vậy, giai đoạn
nay không có sự thay đổi rõ ràng về hình thái
bên ngoài của phôi Điểm mắt lúc này to và tròn hơn Phần giáp đầu ngực, ăng ten 1, ăng ten
2 và hàm dưới phát triển hơn Phần bụng chia thành 5 đốt, đốt cuối cùng kéo dài nhất (Hình 8)
Hình 8 Phôi tôm bác sĩ giai đoạn trước nở
(A) ở bụng tôm mẹ, (B) nhìn ngang, (C) nhìn từ mặt lưng, (D) nhìn từ mặt bụng
Trang 29Như vậy, có thể thấy sự phân chia các giai
đoạn phát triển phôi tôm bác sĩ khác hẳn so với
tôm he Ở tôm he, trứng sau khi trải qua giai đoạn
phôi nauplius sẽ nở thành ấu trùng nauplius Ở
tôm ôm trứng, trứng còn trải qua các giai đoạn
phôi hậu nauplius trước khi nở thành ấu trùng
Zoea mà không trải qua giai đoạn ấu trùng
na uplius như ở các loài tôm không ôm trứng
Thời gian phát triển phôi và kích thước trứng
Kết quả theo dõi thời gian phát triển phôi
và xác định kích thước trứng ở các giai đoạn khác nhau được thể hiện trong Bảng 1 Kết quả cho thấy, kích thước trứng có xu hướng tăng dần cả về trục dài lẫn trục ngắn qua từng giai đoạn
Bảng 1 Thời gian và kích thước các giai đoạn phát triển phôi của tôm bác sĩ
Giai đoạn Thời gian Trục dài (mm) Trục ngắn (mm)
Mới đẻ
Đầu hậu nauplius Ngày thứ 6 0,63 ± 0,02 0,47 ± 0,02Giữa hậu nauplius Ngày thứ 7 0,66 ± 0,03 0,48 ± 0,01Cuối hậu nauplius Ngày thứ 9 0,72 ± 0,02 0,49 ± 0,01
Trứng tôm được ấp trong điều kiện nhiệt độ nước 28-31 o C, độ mặn 32-34 ppt, DO 3,54-3,98 ppm, sục khí liên tục.
Như vậy, thời gian phát triển phôi tôm
bác sĩ chỉ diễn ra trong 11 ngày (Bảng 1)
So với thời gian phát triển phôi ở các loài
tôm càng nước ngọt Macrobrachium olfersi
(14 ngày), M potiuna (21 ngày), Palaemon
pandaliformis (12 ngày) và Palaemonetes
argentines (13 ngày) thì thời gian phát triển
giai đoạn phôi hậu nauplius của tôm bác sĩ
ngắn nhất [3] Kết quả này có thể chịu ảnh
hưởng lớn của nhiệt độ và độ mặn môi
trường khi tôm bác sĩ phân bố ở vùng biển
nhiệt đới khác với các loài tôm càng nước ngọt nêu trên
Bên cạnh đó, kích thước trứng của tôm bác sĩ cuối giai đoạn phôi hậu nauplius đạt 0,49 ± 0,01 mm cho trục ngắn và 0,72 ± 0,02
mm cho trục dài, chỉ lớn hơn Macrobrachium olfersi (tương ứng 0,46 ± 0,04 mm và 0,67 ±
0,05 mm) và nhỏ hơn cả 3 loài tôm càng nước
ngọt còn lại nêu trên Riêng ở M potiuna, kích
thước này lần lượt là 1,51± 0,09 mm và 1,95 ± 0,10 theo thứ tự
Hình 9 Kích thước trứng thu từ một tôm mẹ ở các
ngày ấp khác nhau Hình 10 Kích thước trứng tổng hợp từ nhiều tôm mẹ ở các ngày ấp khác nhau
Trang 30Số liệu trình bày trong Hình 9 và Hình 10
thể hiện khuynh hướng tăng dần về kích thước
trứng theo ngày ấp Bên cạnh đó, phôi ở các
giai đoạn thu trên cùng một tôm mẹ có kích
thước đồng đều trong khi phôi thu ở các tôm
mẹ khác nhau biến thiên lớn về cả chiều dài
trục dài và trục ngắn Điều này cho thấy, kích
thước trứng tôm bác sĩ phụ thuộc nhiều vào
tôm mẹ mang trứng
IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
Quá trình phát triển phôi tôm bác sĩ diễn ra
trong khoảng 11 ngày ở nhiệt độ nước 28-310C,
trải qua 8 giai đoạn chính như được phân chia
ở tôm càng nước ngọt Palaemonidae; gồm giai đoạn (1) trứng mới đẻ, (2) trứng phân cắt, (3) đĩa phôi, (4) phôi nauplius, (5) đầu giai đoạn hậu nauplius, (6) giữa giai đoạn hậu nauplius, (7) cuối giai đoạn hậu nauplius, (8) phôi sắp nở
2 Kiến nghị
Mối liên hệ giữa thời gian phát triển phôi
ấu trùng tôm bác sĩ với các yếu tố môi trường nước, đặc biệt là nhiệt độ, cần được làm rõ trong các nghiên cứu sâu hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Anh
1 Calado, R., et al., Effect of different diets on larval production, quality and fatty acid profi le of the marine
or-namental shrimp Lysmata amboinensis (de Man 1888) using wild larvae as a standard Aquaculture Nutrition,
2009 15: p 484-491
2 Curt Fiedle, G., Functional, Simultaneous Hermaphroditism in Female-Phase Lysmata amboinensis (Decapoda:
Caridea: Hippolytidae) Pacifi c Science, 1998 52(2): p 161-169.
3 Muller, Y., D Ammar, and E Nazari, Embryonic development of four species of palaemoid prawns (Crustacea,
Decapoda): pre-naupliar, naupliar and post-naupliar periods Revista Brasileira de Zoologia, 2004 21(1): p
27-32
4 Tziouveli, K., Studies on aspects of Reproductive biology - Broodstock conditioning and Larval rearing of the
ornamental cleaner shrimp Lysmata amboinensis AIMS@JCU NEWS, 2006 2(4): p 4-4.
5 Tziouveli, V., M Hall, and G Smith, The Effect of Maturation Diets on the Reproductive Output of the
White-striped Cleaner Shrimp Lysmata amboinensis Journal Of The World Aquaculture Society, 2011 42(1): p 56-65.
6 Tziouveli, V and G Smith, Sexual maturity and environmental sex determination in the white-striped cleaner
shrimp Lysmata amboinensis Invertebrate Reproduction and Development, 2009 53(3): p 155-163.
Trang 31THÔNG BÁO KHOA HỌC
TẬN DỤNG THỊT VỤN TỪ PHẦN ĐẦU VÀ XƯƠNG CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG VÂY VÀNG ĐỂ SẢN XUẤT SẢN PHẨM THỊT CHÀ BƠNG CÁ NGỪ
UTILIZATION OF YELLOWFIN TUNA HEAD AND FRAME MEAT TO PRODUCE
DRIED TUNA PRODUCT
Nguyễn Xuân Duy 1 , Nguyễn Anh Tuấn 1
Ngày nhận bài: 20/12/2017; Ngày phản biện thơng qua: 19/12/2017; Ngày duyệt đăng: 29/12/2017
TĨM TẮT
Phần nguyên liệu cịn lại từ các quá trình chế biến cá ngừ đ ại dương chiếm một tỉ lệ khá cao, đặc biệt
là phần đầu và xương Hiện tại, những phần này chưa được tận dụng một cách hiệu quả tại các nhà máy chế biến cá ngừ Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tận dụng thịt vụn từ phần đầu và xương cá ngừ đại dương vây vàng để sản xuất sản phẩm thịt chà bơng cá ngừ Các thơng số chính của quy trình cơng nghệ sẽ được tập trung nghiên cứu bao gồm: Chế độ khử mùi tanh, thời gian khử mùi tanh, cơng thức gia vị của sản phẩm Cuối cùng sản phẩm được nghiên cứu thị hiếu của người tiêu dùng Kết quả nghiên cứu cho thấy cĩ thể khử mùi tanh hiệu quả cho thịt cá ngừ bằng a xít acetic nồng độ 0,03% trong thời gian 15 phút Cơng thức tẩm gia vị gồm các thành phần: Muối 2%, nước mắm 2%, đường 2%, bột ngọt 1%, Knor 4%, bột hành 1%, bột tỏi 1%
Độ ẩm của sản phẩm khoảng 12,5% là thích hợp Người tiêu dùng đánh giá cao sản phẩm với mức điểm chấp nhận chung 7,1 Những kết quả đạt được từ nghiên cứu này cho thấy tiềm năng cĩ thể phát triển sản phẩm thịt chà bơng từ phần thịt vụn cá ngừ đại dương vây vàng ở qui mơ sản xuất
Từ khĩa: Cá ngừ đại dương vây vàng, chà bơng cá ngừ, thịt đầu, thịt xương
ABSTRACT
The rest of the raw materials from the tuna processing process is quite high, especially parts of the head and bone At present, these parts have not been utilized effectively at tuna processing plants This research was conducted to utilize the chopped tuna and yellowfi n tuna to produce dried tuna meat The main parameters of the technological process will be focused on the following: deodorization treament, time of deodorization, and
fl avoring recipe of the product Finally, the product is studied consumer tastes The results indicated that it can effectively deodorize tuna meat with 0.03% acetic acid for 15 minutes The fl avoring recipe included 2% salt, 2% sugar, 2% sugar, 1% cornstarch, 4% Knor, 1% onion powder, garlic powder 1% The moisture content of 12.5% towards the fi nal product is appropriate Consumers evaluated the product with a common acceptance point of 7.1 The results obtained from this study revealed that potential for the development of dried product from yellowfi n tuna head and frame parts on the production scale.
Keywords: Yellowfi n tuna, dried tuna meat, head meat, frame meat
1 Khoa Cơng nghệ Thực phẩm, Trường Đại học Nha Trang
cá ngừ đại dương đều cĩ thể ăn được Tuy nhiên, hiện nay người ta chỉ mới chú trọng đến phần thịt từ các loin phi lê, phần này thường chiếm
từ 50 – 60% khối lượng cá Phần nguyên liệu
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Thịt cá ngừ đại dương cĩ hàm lượng dinh
dưỡng cao và là thực phẩm rất bổ dưỡng đối
với sức khỏe con người Hầu hết các bộ phận từ
Trang 32còn lại chiếm từ 40 – 50% bao gồm: Đầu,
xương, da, thịt rẻo Những phần này hiện nay
đa số các công ty chế biến cá ngừ đại dương
xem như phần phế liệu, bán ra bên ngoài với
giá trị thấp Trong khi đó, theo kết quả khảo sát
của chúng tôi thì trong phần nguyên liệu còn
lại, lượng thịt cá ăn được có thể chiếm tới 2 –
3% Phần thịt cá này hoàn toàn có thể sử dụng
làm thực phẩm cho con người khá tốt
Công ty TNHH Hải Sản Bình Minh là công
ty chuyên về chế biến và xuất khẩu các sản
phẩm về cá ngừ đại dương Hàng năm Công ty
sản xuất và chế biến từ 250 – 300 tấn nguyên
liệu cá ngừ đại dương Hiện nay, phần thịt thu
nhận được từ phần đầu và xương của cá ngừ
đại dương vây vàng tại Công ty chưa được sử
dụng một cách có hiệu quả Công ty đang có
nhu cầu tận dụng phần thịt này để phát triển
thành các sản phẩm có giá trị gia tăng
Thịt chà bông là một trong những sản
phẩm quen thuộc và được ưa chuộng đối với
người tiêu dùng Trên thị trường hiện nay, sản
phẩm thịt chà bông chủ yếu được sản xuất từ
thịt heo và thịt gà Thịt chà bông có nguồn gốc
từ thủy sản còn rất hạn chế, đặc biệt là thịt
chà bông từ cá ngừ, một loại hải sản có giá trị
kinh tế cao Do đó, phát triển sản phẩm thịt chà
bông từ cá ngừ có ý nghĩa thiết thực
Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện
như một phần nổ lực nhằm gia tăng giá trị cho
phần thịt vụn thu nhận được từ phần đầu và
xương của cá ngừ đại dương vây vàng, góp
phần nâng cao hiệu quả tổng thể của quá trình
chế biến cho các nhà máy, đồng thời giảm các
tác động không mong muốn đối với môi trường
do phần nguyên liệu còn lại từ quá trình chế
biến cá ngừ gây ra
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Vật liệu
1.1 Thịt vụn cá ngừ đại dương vây vàng
Thịt vụn từ phần đầu và xương cá ngừ đại
dương vây vàng được thu nhận trực tiếp tại
nhà máy chế biến Hải Sản Bình Minh (Tuy An,
Phú Yên) Mẫu được bao gói trong túi PA (1kg/túi), bảo quản lạnh trong thùng đá và nhanh chóng vận chuyển về phòng thí nghiệm để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo
1.2 Gia vị và hóa chất
Gia vị sử dụng trong nghiên cứu đều đạt tiêu chuẩn thực phẩm Các hóa chất sử dụng trong nghiên cứu đều đạt hạng phân tích
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm thịt chà bông từ thịt cá ngừ
Được thể hiện trong Hình 1
Hình 1 Sơ đồ quy trình công nghệ nghiên cứu sản xuất sản phẩm thịt chà bông từ thịt cá ngừ
Trang 332.2 Bố trí thí nghiệm khử mùi tanh thịt cá
Tác nhân khử mùi tanh được sử dụng là a
2.3 Bố trí thí nghiệm xác định thời gian khử tanh
Thời gian xử lý bằng acetic được nghiên
cứu ở phạm vi từ 5 đến 30 phút Tỉ lệ dung dịch
acetic/thịt cá là 4/1 (v/w) được giữ cố định Sau khi rửa ứng với mỗi thời gian rửa thích hợp, thịt cá được đánh giá chất lượng cảm quan để chọn thời gian rửa thích hợp
2.4 Bố trí thí nghiệm xác định công thức tẩm gia vị
Sử dụng 7 công thức tẩm gia vị khác nhau Chi tiết thành phần gia vị được thể hiện trong Bảng 1 Công thức gia vị tốt nhất dựa vào đánh giá cảm quan sẽ được lựa chọn để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo
2.5 Xác định đường cong sấy
Đường cong sấy khô sản phẩm được thực
hiện dựa vào mố tương quan giữa độ ẩm sản
phẩm và thời gian sấy Theo đó, sản phẩm sẽ
được lấy ra đem đi xác định hàm ẩm trong quá
trình sấy Từ đó, xác định được đường còn
sấy Từ đường cong này sẽ xác định được
điều kiện sấy thích hợp cho sản phẩm
2.6 Các phương pháp phân tích
2.6.1 Phương pháp đánh giá cảm quan thị
hiếu người tiêu dùng
Sử dụng phương pháp đánh giá cảm quan
theo thang điểm 9 (hedonic 9 - point scale) như
được mô tả bởi Peryam and Pilgrim (1957)
Các mẫu thử được đánh số một cách ngẫu
nhiên tương ứng với mỗi công thức chế biến
gia vị khác nhau 7 chuyên gia có kinh nghiệm
trong lĩnh vực thực phẩm tiến hành đánh giá
và xếp hạng chất lượng của các mẫu thử 9 là
mức điểm cao nhất (cực kỳ thích) và 1 là mức
điểm thấp nhất (cực kỳ không thích) cho mỗi
chỉ tiêu được đánh giá Điểm cho mỗi chỉ tiêu
là trung bình cộng điểm của các thành viên 5 điểm là mức tối thiểu có thể chấp nhận được cho mỗi chỉ tiêu được đánh giá
Kết quả thu được từ các chuyên gia đánh giá cảm quan tại phòng thí nghiệm kết hợp với các phân tích hóa học sẽ là cơ sở để lựa chọn công thức gia vị tốt nhất Sau khi lựa chọn được công thức gia vị tốt nhất, sử dụng công thức gia vị này để sản xuất một lượng lớn mẫu đủ để thực hiện nghiên cứu đánh giá của người tiêu dùng đối với sản phẩm Nghiên cứu này được thực hiện tại cộng đồng địa phương
ở Tuy An, Phú Yên Những người tham gia vào nghiên cứu (n = 111 người) được cung cấp mẫu chà bông (10g/mẫu) được mã hóa ngẫu nhiên bởi 3 chữ số Họ cũng được yêu cầu trả lời hai câu hỏi về mức độ chấp nhận sản phẩm nói chung và mùi vị của sản phẩm theo thang điểm 9 Một sản phẩm tương tự có sẵn trên thị trường cũng được thực hiện tương tự
Trang 342.6.2 Xác định thành phần hóa học cơ bản
Hàm lượng ẩm xác định theo AOAC
952.08 (1990) và tro được xác định theo
phương pháp AOAC 938.08 (1990) Hàm
lượng đạm tổng số được xác định theo
TCVN 4321-1(2007) Hàm lượng chất béo
được xác định theo phương pháp của Bligh
and Dyer (1959) Hàm lượng carbohydrate
xác định theo phương pháp của Dubois và
cộng sự (1956)
2.6.3 Xác định các chỉ tiêu vi sinh vật
Tổng vi sinh vật hiếu khí (TPC) được
phân tích theo TCVN 4884:2005, Coliforms
theo TCVN 9975:2013, Escherichia coli theo
kê Statictica 10.0 (Satsoft, Tulsa, USA) Phân
tích ANOVA được thực hiện sử dụng kiểm
định Tukey’s HSD với mức ý nghĩa p < 0,05
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Ảnh hưởng của nồng độ axít acetic trong việc xử lý mùi tanh của thịt cá ngừ đại dương vây vàng
Mùi tanh của cơ thịt cá ngừ đại dương vây vàng được khử bằng dung dịch axít acetic Nồng độ axít acetic được khảo sát trong dãi
0 – 0,05% Ảnh hưởng của nồng độ axít acetic đến chất lượng cảm quan của thịt cá ngừ đại dương (dựa vào chỉ tiêu mùi tanh) được thể hiện trong Hình 2 Kết quả cho thấy xử lý thịt
cá ở nồng độ acetic 0,03% là thích hợp nhất Các chất góp phần tạo nên mùi tanh của thịt thủy sản nói chung và cơ thịt cá ngừ nói riêng thường có bản chất kiềm yếu như: NH3, TMA, TMAO, indol, skatol,…Vì vậy, có thể sử dụng các axít hữu cơ yếu để khử các hợp chất này, chuyển chúng về dạng muối Do đó, sẽ giảm được mùi đặc trưng của cơ thịt cá Axít acetic là một a xít hữu cơ được phép sử dụng trong lĩnh vực thực phẩm và rất hiệu quả trong việc khử mùi tanh của thủy sản
Dựa vào các phân tích ở trên, nồng độ axít acetic được chọn là 0,03% để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo
Hình 2 Ảnh hưởng của nồng độ axít acetic đến chất lượng cảm quan.
Các chữ cái trên cột khác nhau chỉ ra sự khác nhau có ý nghĩa (p < 0,05).
2 Ảnh hưởng của thời gian xử lý mùi tanh thịt
cá ngừ đại dương vây vàng bằng axít acetic
Ảnh hưởng của thời gian rửa đến khả năng
khử mùi tanh của thịt cá ngừ đại dương vây vàng
được trình bày trong Hình 3 Kết quả cho thấy thời gian rửa có ảnh hưởng đến khả năng khử mùi tanh của cơ thịt cá ngừ Theo đó, thời gian rửa để khử mùi tanh của cơ thịt cá ngừ là từ 15 đến 20 phút
Trang 35Sở dĩ thời gian rửa có ảnh hưởng đến
khả năng khử mùi tanh của cơ thịt cá ngừ
đại dương vây vàng có thể được lý giải là
do quá trình rửa làm tăng khả năng tiếp túc
với dịch dịch rửa để khử các hợp chấp mang
mùi Đồng thời, quá trình rửa còn giúp loại
bỏ các hợp chất mang mùi vào trong nước
rửa Tuy nhiên, việc chọn được thời gian rửa
thích hợp là rất quan trọng vì nếu kéo dài
thời gian rửa sẽ không mang lại hiệu quả khử mùi như mong muốn Thời gian rửa càng dài
có thể dẫn đến những biến đổi sâu sắc hơn đến protein của cơ thịt cá Điều này rõ ràng là không có lợi cho đặc tính chất lượng của sản phẩm sau này
Dựa vào các kết quả phân tích ở trên, thời gian rửa thích hợp được chọn là 15 phút để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo
Hình 3 Ảnh hưởng của thời gian xử lý axít acetic đến chất lượng cảm quan.
Các chữ cái trên cột khác nhau chỉ ra sự khác nhau có ý nghĩa (p < 0,05).
3 Lựa chọn công thức gia vị
Trong công nghệ sản xuất sản phẩm có
tẩm gia vị thì công thức làm gia vị đóng một
vai trò khá quan trọng đến chất lượng chung
của thành phẩm sau cùng Để chọn được
công thức gia vị thích hợp cho sản phẩm, 7
công thức gia vị được nghiên cứu Hình 4 trình
bày ảnh hưởng của công thức gia vị đến chất
lượng cảm quan thể hiện thông qua mức độ
chấp nhận chung của sản phẩm cuối cùng
Kết quả nghiên cứu cho thấy các công thức gia
vị khác nhau có ảnh hưởng hướng đến mức độ chấp nhận chung của sản phẩm Công thức 3 (CT3) và 7 (CT7) có mức độ chấp nhận chung bởi các chuyên gia đánh giá cao hơn đáng kể (p < 0,05) so với các công thức còn lại
Vì vậy, có thể chọn CT3 hoặc CT7 để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo Trong nghiên cứu này, CT3 được lựa chọn để tiến hành các nghiên cứu tiếp theo
Hình 4 Ảnh hưởng của công thức gia vị đến chất lượng cảm quan.
Các chữ cái trên cột khác nhau chỉ ra sự khác nhau có ý nghĩa (p < 0,05).
Trang 364 Đường cong sấy khô sản phẩm
Hình 5 trình bày đường cong sấy khô thịt cá
ngừ đại dương vây vàng trong quá trình làm khô
sản phẩm Kết quả cho thấy hàm lượng ẩm giảm
đáng kể trong giai đoạn 40 phút đầu, từ hàm
lượng ẩm ban đầu là 62,13% xuống 15,71%
Tuy nhiên, sau đó tốc độ tách ẩm giảm dần và
đạt được sự ổn định hơn và hàm ẩm của sản
phẩm đạt dao động trong khoảng 13,21 - 10,6%
khi kéo dài thời gian sấy đến 120 phút
Sau khi phân tích dữ liệu và đánh giá sự phù hợp của dữ liệu với mô hình của BET[9] Kết quả xác định được giá trị của hàm lượng lớp nước đơn phân của sản phẩm là 12,73% Như vậy, giá trị hàm ẩm của sản phẩm sau khi kết thúc quá trình sấy có thể lựa chọn dao động xung quanh giá trị của hàm lượng lớp nước đơn phân này
Hình 5 Đường cong sấy khô sản phẩm
5 Đề xuất quy trình công nghệ sản xuất chà
bông từ thịt vụn cá ngừ đại dương vây vàng
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu thu
được ở trên, quy trình công nghệ sản xuất sản
phẩm chà bông từ thịt vụn cá ngừ đại dương
vây vàng như sau:
Nguyên liệu → thu nhận thịt cá → khử
mùi tanh → nấu chín → làm nguội → làm
tơi → làm khô → làm nguội → tiệt trùng →
bao gói → bảo quản
Các thông số kỹ thuật chính của quy
trình gồm:
Khử mùi tanh cơ thịt cá bằng a xít acetic
nồng độ 0,03%, thời gian khử tanh 15 phút,
công thức tẩm ướp gia vị gồm: Muối 2%, nước
mắm 2%, Knor 4%, đường 4%, bột ngọt 2%,
bột hành 1%, bột tỏi 1% Sấy ở nhiệt độ 600C
trong thời gian 50 phút
6 Các chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm chà bông cá ngừ đại dương vây vàng
Sản phẩm thịt cá ngừ đại dương vây vàng chà bông được thể hiện trong Hình 6 Thành phần hóa học cơ bản của sản phẩm thịt chà bông cá ngừ đại dương vây vàng được thể hiện trong Bảng 2 Theo đó, sản phẩm chà bông cá ngừ đại dương vây vàng có hàm lượng protein khá cao khoảng 49,16% Hàm
ẩm đạt khoảng 12,46% Trong khi đó, các chỉ tiêu vi sinh vật đáp ứng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm theo qui định (Bảng 3) So sánh với các sản phẩm chà bông từ thủy sản trên thị trường như: Chà bông cá lóc, chà bông cá thu (thường dưới hàm lượng protein dưới 45%) thì thịt chà bông sản xuất từ cá ngừ đại dương vây vàng có hàm lượng protein cao hơn Điều
đó cho thấy khả năng phát triển sản phẩm ở qui mô sản xuất lớn hơn để đưa ra thịt trường
Trang 37Bảng 2 Thành phần hóa học cơ bản của
Coliforms Không phát hiện
Tổng men mốc 2,5 × 101
Hình 6 Sản phẩm thịt chà bong được sản xuất từ phần thịt đầu và xương của cá ngừ đại dương vây vàng.
7 Mức độ chấp nhận của người tiêu dùng
đối với sản phẩm
Hình 7 trình bày kết quả nghiên cứu mức
độ chấp nhận của người tiêu dùng đối với
sản phẩm chà bông cá ngừ với sản phẩm
tương tự trên thị trường trên thị trường Kết
quả chỉ ra rằng chỉ tiêu mùi vị và mức độ
chấp nhận chung sản phẩm chà bông cá
ngừ đại dương vây vàng cao hơn sản phẩm
sản phẩm tương tự trên thị trường (p <
0,05) Trong khi đó, đối với chỉ tiêu màu và
trạng thái thì không có sự khác biệt đáng kể giữa hai mẫu (p > 0,05)
Mức điểm chấp nhận chung của người tiêu dùng đối với sản phẩm chà bông từ thịt cá ngừ đại dương vây vàng là 7,1 Trong khi đó, giá trị này của sản phẩm tương tự trên thị trường là 6,7 Thông thường, khi điểm chấp nhận chung của một sản phẩm lớn hơn 5 thì sản phẩm có thể xem xét để phát triển ở qui mô hàng hóa
Vì vậy, có thể xem xét phát triển sản phẩm chà bông từ thịt cá ngừ ở qui mô lớn hơn
Trang 38IV KẾT LUẬN
Sản phẩm thịt chà bông được phát triển
thành công từ phần thịt vụn thu nhận được
từ phần đầu và xương cá ngừ đại dương
vây vàng Sản phẩm có hàm lượng protein
cao lên tới hơn 49%, độ ẩm đạt khoảng
12,5% Sản phẩm cũng đáp ứng các yêu
cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm Bên cạnh đó, mức chấp nhận của người tiêu dùng đối với sản phẩm đạt ở mức khá cao Điều này cho thấy khả năng có thể phát triển sản phẩm ở qui mô lớn hơn Những nghiên cứu tiếp theo nên được hiện nhằm thương mại hóa sản phẩm
Hình 7 Thị hiếu của người tiêu dùng đối với sản phẩm chà bông cá ngừ đại dương vây vàng
so với sản phẩm tương tự trên thị trường
Các chữ cái trên cột khác nhau chỉ ra sự khác nhau có ý nghĩa (p < 0,05) TM = mẫu thương mại, TN = mẫu thí nghiệm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4321-1(2007)
2 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4829 (2005)
3 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4884 (2005)
4 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5647 (2006)
5 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6846 (2007)
6 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 9975 (2013)
Tiếng Anh
7 AOAC., 1990, Offi cial Methods of Analysis of the Association of Offi cial Analytical Chemists, In: K Helrich, ed
15th edition, Arlington, VA:Association of Offi cial Analytical Chemists, Inc 1298 pp
8 Bligh, E G and Dyer, W J 1959, A rapid method of total lipid extraction and purifi cation Can J Biochem
Physiol., 37, 911–917
9 Brunauer S., Emmet P H., Teller E., Adsorption of gases in multimolecular layers, J Am Chem Soc 1938 Feb;
60 (2): 309-319
10 Dubois, M., Gilles, K A., Hamilton, J K., Rebers, P A., and Smith, F.,1956, Colorimetricmethod for the
deter-mination of sugars and related substances, Analytical Chemistry, 28, 350–358.
11 Peryam, D R and Pilgrim, F R., 1957, Hedinic Scale Method of Measuring Food Preference, The 19th Annual Meeting of the Institute of Food Technologist, Pittsburgh, Pa., May 16, 1957
Trang 39THÔNG BÁO KHOA HỌC
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ HĨA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT TỚI ADN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHƠI HẦU THÁI BÌNH DƯƠNG
(Crassostrea gigas Thunberg, 1793)
EMBRYOTOXICITY AND GENOTOXICITY EFFECTS OF PESTICIDES ON DNA AND EARLY LIFE STAGES OF PACIFIC OYSTER (Crassostrea gigas Thunberg, 1793)
Mai Hương 1 , Cao Văn Hạnh 2 , Chu Chi Thiết 2 , Nguyễn Thi Huệ 3
Ngày nhận bài: 1/12/2017; Ngày phản biện thơng qua: 20/12/2017; Ngày duyệt đăng: 29/12/2017
TĨM TẮT
Trong quá trình sản xuất nơng nghiệp, một lượng lớn hĩa chất bảo vệ thực vật đã được sử dụng và các hĩa chất này khơng chỉ tiêu diệt, gây độc cho các sinh vật gây hại mà cịn ảnh hưởng tới các sinh vật khác trong hệ sinh thái Nghiên cứu này bước đầu khảo sát ảnh hưởng của một số hĩa chất bảo vệ thực vật, bao gồm Atrazine, Alachlor, Diuron và Tributyltin (TBT) tới ADN và tới phát triển của phơi lồi hầu Thái Bình Dương Phơi hầu sau khi được ấp 24h trong mơi trường nước biển cĩ các hĩa chất bảo vệ thực vật ở nồng độ khác nhau được so sánh với phơi được ấp trong nước biển sạch khơng chứa hĩa chất bảo vệ thực vật (đối chứng) Kết quả cho thấy ở nước biển cĩ nồng độ 1,8 µg/L Atrazine, và 1 µg/L Alachlor hay TBT thì tỷ lệ phơi ở giai đoạn chữ D cĩ tỉ lệ dị thường nhiều hơn so với phơi được ấp trong nước biển sạch (p < 0,05) Trong khi đĩ Diuron thể hiện độc lực yếu hơn đến sự phát triển của phơi hầu, trong đĩ nước biển cĩ nồng độ Diuron là 4 µg/L đã làm tăng tỷ lệ phơi chữ D dị thường so với phơi ở đối chứng (p < 0,05) Thí nghiệm phơi nhiễm với nước biển
cĩ nồng độ Diuron là 0,04 µg/L và TBT là 0,01 µg/L cho thấy tỷ lệ cấu trúc DNA trong tế bào của phơi hầu bị phá vỡ cao hơn so với cơng thức đối chứng (p < 0,001) và tỉ lệ này tiếp tục tăng cao theo nồng độ của các hĩa chất trong mơi trường khi ấp nở Nhìn chung, các hĩa chất bảo vệ thực vật cĩ ảnh hưởng rõ rệt đến vật liệu di truyền ADN và sự phát triển của phơi hầu Thái Bình Dương dù ở hàm lượng rất thấp trong mơi trường nước.
Từ khĩa: Atrazine, Alachlor, Diuron, TBT, Crassostrea gigas.
ABSTRACT
Today, due to the increase of the production in agriculture, large amounts of pesticide residuals are released into the environment It is well known that pesticides not only affect target organisms but also have some side effects on non-target organisms Thus, the study aimed to evaluate the adverse effects of several common pesticides (Atrazine, Alachlor, Diuron and TBT) on a model bivalve species Crassostrea gigas, using the embryotoxicity test and the comet assay in early life stage The results showed that embryotoxicity was observed from the lowest concentration of 1.8 µg/L (p < 0.05) for Atrazine and 1.0 µg/L for Alachlor and/or TBT, while Diuron showed less toxic to oyster embryo, with concentration of 4 µg/L (p < 0.05) Genotoxicity by comet assay is used in the study to assess how pesticides, Diruon and TBT, affect to DNA strand breaks DNA strand breaks were detected
at very low concentration of TBT and Diuron, with 0.01 µg/L (p < 0.001) and 0.04 µg/L (p < 0.001), respectively The percentages of DNA strand breaks insreased with the increased concentrations of each pesticide Thus the detection of embryotoxicity and DNA strand breaks in this study demonstrated the toxic potential of those pesticides to bivalve species, even at low concentration in the environment.
Keywords: Atrazine, Alachlor, Diuron, TBT, Pacifi c oyster
1 Khoa Nước, Mơi trường và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học và Cơng nghệ Hà Nội
2 Viện Nghiên cứu Nuơi trồng Thủy sản I
3 Viện Cơng nghệ và Mơi trường, Viện Hàn lâm Khoa học và Cơng nghệ Việt Nam
Trang 40I ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong sản xuất nông nghiệp, một lượng
lớn hóa chất bảo vệ thực vật đã và đang gây
ô nhiễm môi trường Dư lượng các hóa chất
bảo vệ thực vật trong các thủy vực thường
xuyên được phát hiện và ghi nhận nhiều năm
qua Theo Bộ NN & PTNT (2010), có tới hàng
trăm loại hóa chất bảo vệ thực vật được phép
sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, trong đó
Atrazine, Alachlor và Diuron là thuốc diệt cỏ
cho nhiều loại cây trồng như mía, ngô, lúa,
đậu tương, lạc, bắp cải, Ngoài ra, hóa chất
Tributyltin (TBT) là thành phần chính trong sơn
chống bám bề mặt dùng trong công nghiệp
đóng tầu đã bị cấm sử dụng ở nhiều nước trên
thế giới từ năm 2003, nhưng dư lượng của nó
vẫn được phát hiện trong môi trường tại Việt
Nam Hiện nay, Diuron được dùng thay thế
TBT trong công nghiệp sản xuất sơn chống
bám vỏ tầu (Gatidou và Thomaidis, 2007)
Nhiều nghiên cứu chứng minh các loại hóa
chất bảo vệ thực vật này có tác động xấu đến
sinh trưởng và phát triển của các loài sinh vật
thủy sinh, các hệ sinh thái thủy vực cả nước
mặn và nước ngọt (Ruiz và cs, 1995; Scahill,
2008; Yi và cs, 2007; Russo và cs, 2004)
Hầu hết chúng có khả năng gây độc và làm
tổn thương tới vật liệu di truyền-ADN của các
loài sinh vật thủy sinh Chúng không chỉ gây
độc cho các sinh vật có hại mà còn ảnh hưởng
tới nhiều sinh vật có lợi khác trong tự nhiên
(David, 1994; Joy và cs, 2005) Do đó, một số
nghiên cứu đã sử dụng mốt số loài sinh vật
thủy sinh làm sinh vật chỉ thị để giám sát và
đánh giá ảnh hưởng dư lượng hóa chất bảo
vệ thực vật và chất tẩy rửa trong các thủy
vực (Manzo và cs, 2006; Morin và cs, 2011;
Quiniou và cs, 2005) Khả năng gây độc của
các hợp chất này đã được nghiên cứu trên
một số loài thủy sinh nước ngọt, nhưng trên
động vật nhuyễn thể nước mặn vẫn còn rất
hạn chế Do đó, nghiên cứu này bước đầu
đánh giá độc lực của các hợp chất bảo vệ thực vật, gồm Atrazine, Alachlor, Diuron và TBT tới vật liệu di truyền và sự phát triển phôi của
hầu Thái Bình Dương (Crassotrea gigas) trong
môi trường nhân tạo
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Hóa chất và nước biển
Các hợp chất bảo vệ thực vật Atrazine (2-chloro-4-ethylamin-6-isopropylamino-ssss-triazine), Alachlor (6′-diethyl-N-(methoxymethyl) acetanilide), Diuron (3-(3,4-dichlorophenyl)-1,1-dimethylurea) và TBT (tributyltin chloride) được mua từ công
ty hóa chất Sigma-Alodrich Chemical Các hóa chất khác dùng trong thí nghiệm bao gồm enzyme Dispace II, Triton X-100, LMP agarose, NMP agarose, MEM-alpha (Minimum Essential Medium) được mua từ công ty Gibco (Invitrogen, Cergy Pontoise)
Nước biển sử dụng trong các thí nghiệm là nước biển nhận tạo (oossIL) Nước biển này được dùng làm mẫu đối chứng (không chứa hóa chất bảo vệ thực vật) và sử dụng làm môi trường nền để pha chế hóa chất bảo vệ thực vật theo yêu cầu thí nghiệm (Bảng 1)
2 Mẫu vật hầu thái bình dương
Hầu bố mẹ (Crassostrea gigas) được mua
từ trại sản xuất giống nhuyễn thể Cửa Lò, Nghệ
An Các mẫu hầu được bảo quản ở 10°C trong quá trình vận chuyển và sau đó được thả vào nước biển để làm quen với môi trường trước khi tiến hành thí nghiệm Mẫu hầu bố mẹ được
sử dụng trong vòng 3 ngày sau khi nhập về phòng thí nghiệm
3 Chuẩn bị môi trường thí nghiệm
Dung dịch thuốc diệt cỏ được pha từ hóa chất diệt cỏ nguyên chất (> 98%) Dung dịch hóa chất gốc của Atrazine và Diuron (100 mg/L) được pha bằng DMSO (dimethyl suloxide), trong khi đó dung dịch hóa chất gốc