1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản: Số 3/2018

88 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 10,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản: Số 3/2018 trình bày ảnh hưởng của chất đáy lên tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của ấu trùng trai tai tượng vảy giai đoạn sống đáy; thành phần loài và hoạt chất sinh học của hải miên ở vùng biển Nam Trung Bộ, Việt Nam; ảnh hưởng của HCG và LHRH-A lên đặc điểm sinh lý sinh sản cá dìa (Siganus Guttatus)...

Trang 1

MUÏC LUÏC THÔNG BÁO KHOA HỌC

Ảnh hưởng của chất đáy lên tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của ấu trùng trai tai tượng vảy giai đoạn sống đáy

Phùng Bảy, Tôn Nữ Mỹ Nga, Nguyễn Thị Thùy Trang

Ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian chần tiền sấy đến hàm lượng, hoạt tính sinh học của dịch

chiết từ rong mơ Sargassum polycystum Ninh Thuận

Vũ Ngọc Bội, Nguyễn Thị Mỹ Trang, Đặng Xuân Cường, Võ Long Hải

Thành phần loài và hoạt chất sinh học của hải miên ở vùng biển Nam Trung Bộ, Việt Nam

Đặng Xuân Cường, Vũ Ngọc Bội, Trần Khắc Trí Nhân,

Nguyễn Thị Phương Hiền, Thái Minh Quang

Thành phần và mức độ nhiễm ký sinh trùng ở cá tầm nga (Acipencer guldenstaidtii Brandt and Ratzeburg, 1833) và cá tầm Xiberi (Acipencer baerii Brandt, 1869) nuôi ao và nuôi lồng

tại Lâm Đồng

Võ Thế Dũng, Võ Thị Dung

Nghiên cứu khả năng sử dụng vật liệu kết cầu sandwich inox-foam-inox trong ngành đóng tàu

Nguyễn Văn Hân

Ảnh hưởng của HCG và LHRH-A lên đặc điểm sinh lý sinh sản cá dìa (Siganus Guttatus)

Phạm Quốc Hùng, Phạm Huy Trường, Nguyễn Văn An

Hiện trạng quản lý khu bảo tồn biển vịnh nha trang sau hơn 15 năm thành lập và đề xuất một

số giải pháp quản lý

Tôn Nữ Mỹ Nga , Nguyễn Thị Thảo

Thu nhận và xác định tính chất của hydroxyapatit kích thước nano từ xương cá: (1) phương pháp xử lý nhiệt

Nguyễn Lê Bá Quảng, Phạm Anh Đạt, Nguyễn Văn Hòa

Kết quả khảo sát trang bị nguồn sáng và tính toán hệ thống đèn led trên tàu chụp mực 4 tăng gông

Nguyễn Như Sơn, Võ Văn Long và Tô Văn Phương

Chất lượng cảm quan, hoạt chất và hoạt tính sinh học của một số loại trà túi lọc rong mơ

Sargassum crassifolium

Nguyễn Thị Mỹ Trang, Vũ Ngọc Bội, Đặng Xuân Cường

Depolymer chitin thu nhận phân đoạn oligochitin bằng axit clohydric, chiếu xạ gamma và chitinase

Trần Văn Vương, Nguyễn Anh Tuấn, Vũ Ngọc Bội

Sự phát triển noãn bào của cá khoang cổ lưng yên ngựa Amphiprion Polymnus (Linnaeus, 1978)

Nguyễn Thị Hải Thanh, Ngô Anh Tuấn, Huỳnh Minh Sang,

Nguyễn Văn Quang, Võ Thị Hà

2917

26323844

5361687582

Trang 2

THÔNG BÁO KHOA HỌC

KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ĐÁY LÊN TỈ LỆ SỐNG VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA ẤU TRÙNG TRAI TAI TƯỢNG VẢY

GIAI ĐOẠN SỐNG ĐÁY

INITIAL RESULTS OF A RESEARCH ON EFFECTS OF SUBSTRATES ON SURVIVAL RATES AND GROWTH RATES OF SCALY GIANT CLAMS’ LARVAE AT SPAT STAGE

Phùng Bảy¹, Tơn Nữ Mỹ Nga², Nguyễn Thị Thùy Trang²

Ngày nhận bài:12 /8/2018; Ngày phản biện thơng qua:25/9/2018; Ngày duyệt đăng:28/9/2018

TĨM TẮT

Một thí nghiệm 26 ngày đã được thực hiện nhằm tìm ra loại chất đáy phù hợp nhất cho ấu trùng trai tai tượng vảy Tridacna squamosa từ giai đoạn ấu trùng bị lê đến con giống cấp 1 Thí nghiệm được lặp lại 3 lần

với 4 nghiệm thức chất đáy khác nhau (lưới 200 µm, đá san hơ chết, cát, đáy bể composit) trong các bể 1m³ ở

độ mặn 30‰ Mật độ ấu trùng là 5 con/ml Thức ăn là tảo đơn bào Isochrysis galbana, Chaetoceros sp, tảo cộng sinh Mật độ cho ăn từ 6.000 đến 9.000 tế bào/ml Kết quả cho thấy trong 4 loại chất đáy trên thì chất đáy đá san hơ chết cho sinh trưởng về chiều cao, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối về chiều cao, tỷ lệ hạ đáy và tỷ lệ sống của ấu trùng trai tai tượng vảy cao nhất Chiều cao ấu trùng trai sau 26 ngày nuơi là 1020,8 µm, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối theo chiều cao đạt 34,63 µm/ngày, tỷ lệ hạ đáy là 55,2%, tỷ lệ sống là 42,8%.

Từ khĩa: chất đáy, giai đoạn sống đáy, trai tai tượng vảy, Tridacna squamosa

ABSTRACT

A 26- day experiment has been conducted to fi nd out the most suitable substrate for scaly giant clams Tridacna squamosa‘s larvae from pediveliger stage to spat stage The experiment was replicated three times with

four different substrate treatments (200 μm mesh, dead coral, sand and composite) in 1-m³ tanks, at salinity of

30‰ Larval density was 5 individuals/ml Feeds were single-celled algae such as Isochrysis galbana, Chaetoceros

sp and symbionts at the densities from 6,000 to 9,000 cells/ml The results showed that in 4 types of the above substrates, the dead coral gave the highest growth in height, absolute growth rate in heith, settement rate and survival rate The larvae’s average height after 26 days cultured was 1,020.8 µm, the growth rate in the height were 34.63 μm / day, the settlement rate was 55.2% and the survival rate was 42.8%.

Key words: substrate, settement stage, scaly giant clams, Tridacna squamosa

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trai tai tượng vảy (Tridacna squamosa

Lamack, 1819) là một trong những lồi nhuyễn

thể cĩ giá trị kinh tế cao ở Việt Nam và cĩ nhu

cầu xuất khẩu lớn Khơng những thịt của chúng

cĩ giá trị dinh dưỡng cao mà vỏ cịn được sử

dụng để làm hàng thủ cơng Chúng dinh dưỡng

cộng sinh với một số lồi tảo nên vỏ cĩ màu

sắc đa dạng và sặc sở, được người tiêu dùng ưa

chuộng Trong những năm gần đây, nguồn lợi

¹ Viện Nghiên cứu Nuơi trồng Thủy sản 3

² Viện Nuơi trồng Thủy sản, trường Đại học Nha Trang

trai tai tượng đang bị khai thác quá mức nên

đã bị giảm sút nhanh chĩng, cĩ nguy cơ cạn kiệt Một số lồi đã được liệt kê vào danh mục Sách Đỏ Việt Nam (Viện Khoa học và Cơng

nghệ Việt Nam, 2000) như lồi T.gigas Thế

giới đã cĩ nhiều cơng trình nghiên cứu liên

quan đến nguồn lợi trai tai tượng vảy (T mosa), phân bố nguồn lợi, bước đầu nghiên

squa-cứu sản xuất giống và đã triển khai một số hoạt động liên quan đến phục hồi, tái tạo nguồn lợi

tự nhiên ở nhiều nơi Việt Nam đã cĩ một số cơng trình “nghiên cứu liên quan đến nguồn

Trang 3

lợi của công tác phục hồi, phát triển nguồn

lợi trai tai tượng (họ Tridacnidae) ở biển Việt

Nam” của viện nghiên cứu Hải Sản (Nguyễn

Quang Hùng, 2011) Tuy nhiên, hầu như các

công trình nghiên cứu chưa được thực hiện đầy

đủ và đồng bộ Các nghiên cứu liên quan đến

trai tai tượng vảy như đặc điểm sinh học, sinh

thái, phân bố, sản xuất giống nhân tạo còn rất

ít, đặc biệt, việc sản xuất giống gặp không ít

khó khăn với tỷ lệ sống thấp trong giai đoạn ấu

trùng và ở giai đoạn xuống đáy, chất lượng con

giống không ổn định Trong giai đoạn xuống

đáy, ấu trùng rất dễ nhạy cảm với môi trường

Bất kỳ một sự biến động về môi trường nào đều

dẫn đến ấu trùng không thể xuống đáy và chết

hàng loạt Chính vì vậy, chúng tôi đã thực hiện

đề tài “nghiên cứu ảnh hưởng của chất đáy

đến tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của ấu

trùng trai tai tượng vảy (Tridacna squamosa

Lamack, 1819) giai đoạn sống đáy”.

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: 13/02/2018- 20/05/2018

Địa điểm nghiên cứu: Phòng Sinh học thực nghiệm động vật thân mềm-Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III

2 Vật liệu nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Trai tai tượng vảy

Tridacna squamosa Lamack, 1819 giai đoạn

chuẩn bị xuống đáy (Pediveliger)

Hình 1 Tridacna squamosa Lamack, 1819

3 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí trong các bể nhựa có

thể tích 1 m³ Sử dụng nước biển lọc sạch với

* Nghiệm thức 4: đáy bể composit

Thí nghiệm được lặp lại 3 lần, tổng số bể thí

nghiệm là 12 Thí nghiệm được tiến hành từ khi

ấu trùng xuất hiện chân bò chuẩn bị hạ đáy đến khi hình thành con giống cấp 1 (1-3 mm) Mật độ

ấu trùng trong mỗi bể thí nghiệm là 5 ấu trùng/ml Các bể được sục khí liên tục 24/24 Cách chăm sóc quản lý như nhau, thay nước bể ương 2 ngày/lần Ấu trùng được cho ăn 2 lần/ngày vào lúc 7 giờ sáng và 14 giờ chiều Thức ăn là các loài tảo

đơn bào như Isochrysis galbana, Chaetoceros

sp, tảo cộng sinh Mật độ cho ăn tăng dần từ

6.000 đến 9.000 tế bào/ml khi hình thành con

Trang 4

giống 2 mm Theo dõi tốc độ tăng trưởng và

tỷ lệ sống của ấu trùng trong suốt thời gian thí

nghiệm Định kỳ tiến hành đo, đếm ấu trùng 5

ngày/lần

4 Phương pháp thu thập số liệu

4.1 Các thông số môi trường

Các thông số môi trường như nhiệt độ,

pH, độ mặn, hàm lượng oxy hòa tan được đo

2 lần/ngày, lúc 8 giờ và 14 giờ

• Nhiệt độ: đo bằng nhiệt kế thuỷ ngân, độ

4.2 Mật độ ấu trùng trong bể thí nghiệm

Mật độ ấu trùng được kiểm tra 2 ngày 1 lần bằng buồng đếm động vật phù du Mỗi bể được lấy 3 mẫu (1 mL/mẫu)

4.3 Kích thước ấu trùng

Kích thước ấu trùng được xác định bằng trắc vi thị kính 5 ngày 1 lần với số lượng ấu trùng mỗi lần đo là 15

Ấu trùng được đo qua vật kính 10 Thước

đo trên trắc vi thị kính có 100 vạch, mỗi vạch tương ứng là 11,4 µm Chiều cao được đo từ mép vỏ phía mặt bụng đến đỉnh vỏ phía sau mặt lưng Chiều dài được đo từ mép vỏ của mặt sau đến mép vỏ của mặt trước

Hình 2 Đo ấu trùng trên trắc vi thị kính

B là số lượng cá thể tại thời điểm ban đầu

* Phương pháp tính tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân ngày: (µm/ngày)

Trong đó: DGR là tốc độ tăng trưởng bình quân ngày theo kích thước vỏ

L1: kích thước vỏ tại thời điểm t1 (µm)

L2: kích thước vỏ tại thời điểm t2 (µm)

5 Phương pháp xử lý số liệu

- Số liệu được lưu trữ , tính toán bằng cel 2013 và được kiểm định thống kê bằng SPSS 16.0 áp dụng phép phân tích phương sai một yếu tố (One Way ANOVA) Các số liệu được trình bày bởi giá trị trung bình

Trang 5

Ex-± sai số chuẩn (SE)

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO

LUẬN

Bảng 2 Chiều cao trung bình của ấu trùng trai tai tượng vảy ở

các nghiệm thức chất đáy khác nhau

Ghi chú: các chữ cái a, b, c, d khác nhau trong cùng 1 hàng chỉ sự khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê (p < 0,05)

Bảng 1 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm

1 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm;

* Nhiệt độ: Theo Isamu (2008), tất cả

các loài trai tai tượng nói chung và loài

trai tai tượng vảy (T squamosa) nói riêng

đều thich nghi với biên độ nhiệt độ trong

khoảng 23-31ºC Nhiệt độ trong thí nghiệm

của chúng tôi dao động trong khoảng 26-29ºC

nên nằm trong khoảng thích hợp cho ấu trùng

sinh trưởng, phát triển

* Độ mặn: trai tai tượng được tìm thấy trong

nước biển với độ mặn khoảng 35‰ Độ mặn

tối thiểu mà trai tai tượng có thể sinh sống chưa

được biết đến nhưng chúng được ghi nhận có thể thích nghi khi độ mặn trong môi trường giảm đi tới 20‰, tức là khoảng 15‰ (Isamu, 2008) Vì vậy, trong thí nghiệm của chúng tôi,

độ mặn dao động từ 30-33‰ vẫn đảm bảo cho

ấu trùng sinh trưởng và phát triển tốt

* pH: Nước nuôi được thay thường xuyên nên các giá trị pH không bị biến động nhiều

và nằm trong khoảng 7,9-8,1 Theo Ngô Anh Tuấn, (2009), pH trong khoảng 7,5-8,5 thích hợp cho sự sinh trưởng của ấu trùng

Vậy, các yếu tố môi trường nhiệt độ, độ mặn, pH đều nằm trong giới hạn thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của ấu trùng nên không ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm

2 Ảnh hưởng chất đáy đến tăng trưởng của

ấu trùng

2.1 Ảnh hưởng của chất đáy đến tăng trưởng của ấu trùng từ khi hạ đáy tới khi hình thành con giống

Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của chất đáy khác nhau lên chiều cao và tốc độ sinh

Hình 3 Tăng trưởng chiều cao của ấu trùng pediveliger tới con giống spat với các chất đáy khác nhau

Trang 6

trưởng về chiều cao của ấu trùng trai tai tượng

vảy được trình bày ở bảng 2, hình 3 và bảng 3

Bảng 2, hình 3 và bảng 3 cho thấy có sự khác

nhau về chiều cao và tốc độ sinh trưởng về chiều

cao giữa các nghiệm thức chất đáy khác nhau

Qua 26 ngày thí nghiệm, nghiệm thức chất đáy

san hô chết có chiều cao trung bình lớn nhất

(1020,8 µm), sự khác biệt với các nghiệm thức

còn lại có ý nghĩa thống kê (p<0,05); tốc độ sinh

trưởng tuyệt đối bình quân ngày cũng cao nhất,

31,48 µm/ngày Tiếp theo là ấu trùng ở nghiệm

thức chất đáy bể composit, với chiều cao

890,64 µm (p<0,05), tốc độ sinh trưởng tuyệt

đối bình quân ngày 26,29 µm/ngày Ấu trùng ở

2 nghiệm thức chất đáy còn lại là đáy lưới 200

µm và đáy cát có chiều cao trung bình (722,22

µm và 685,89 µm) và tốc độ sinh trưởng về chiều cao (19,55 µm/ngày và 18,09 µm/ngày) thấp nhất (p<0,05)

Vậy, chất đáy san hô chết cho sự tăng trưởng

và tốc độ sinh trưởng theo chiều cao của ấu trùng trai tai tượng cao nhất

2.2 Ảnh hưởng của chất đáy đến tỷ lệ hạ đáy và tỉ lệ sống của ấu trùng trai tai tượng vảy

Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của chất đáy khác nhau lên tỷ lệ hạ đáy và tỉ lệ sống

Bảng 3 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân ngày (DGR) theo chiều cao của ấu trùng

ở các nghiệm thức chất đáy khác nhau

Bảng 4 Ảnh hưởng của chất đáy đến tỷ lệ hạ đáy và tỉ lệ sống của ấu trùng trai tai tượng vảy

Ghi chú: các chữ cái a, b, c khác nhau trong cùng 1 hàng chỉ sự khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê (p < 0,05)

Hình 4 Tỷ lệ hạ đáy và tỷ lệ sống của ấu trùng từ pediveliger tới con giống spat

Trang 7

của ấu trùng trai tai tượng vảy được trình bày ở

Bảng 4 và Hình 4

Kết quả cho thấy chất đáy ảnh hưởng lớn

đến tỷ lệ hạ đáy và tỷ lệ sống của con giống

trai trai tượng vảy Trong 4 loại chất đáy thì

đáy san hô chết cho kết quả cao nhất về tỉ lệ hạ

đáy (55,2%) cũng như tỷ lệ sống (42,8%) của

ấu trùng Sự khác biệt này so với các nghiệm

thức còn lại có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Ấu

trùng (được nuôi trong bể có) đáy bể composit

cho tỷ lệ hạ đáy (40%) và tỷ lệ sống 38,6 %

cao thứ hai (p<0,05) Hai nghiệm thức chất

đáy còn lại là đáy lưới 200 µm và đáy cát

có tỷ lệ hạ đáy và tỷ lệ sống của ấu trùng

thấp nhất; sự khác biệt của 2 nghiệm thức

này với các nghiệm thức khác có ý nghĩa

thống kê (p<0,05) nhưng giữa 2 nghiệm

thức này không có sự khác biệt về mặt thống

kê (p>0,05)

Đáy san hô chết cho sự tăng trưởng về chiều

cao của ấu trùng, tốc độ tăng trưởng theo chiều

cao của ấu trùng, tỉ lệ hạ đáy và tỷ lệ sống là cao

nhất Điều này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm

sinh thái học ngoài tự nhiên của chúng Theo

Nguyễn Quang Đông (2013), trai tai tượng vảy

là động vật thân mềm hai mảnh vỏ sống bám cố

định trên nền đáy bằng các tơ chân, chúng phân

bố trên các vùng rạn đá và rạn san hô Ngoài

vùng rạn san hô, các vùng khác như nền đáy đá

gốc hay nền đáy mềm (cát, bùn cát) đều không

phát hiện thấy loài trai tai tượng nào phân bố

Hoàng Đình Chiều (2009) cũng đồng nhất với

quan điểm này Ramah & cộng sự (2017)

cho rằng phần đáy vỏ của trai tai tượng vảy

T Squamosa sếp như vảy cá Có thể đây

là một trong những đặc điểm sinh thái ảnh

hưởng đến sự lựa chọn chất đáy của chúng

hạ đáy và tỷ lệ sống của ấu trùng trai tai tượng cao nhất

IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 Kết luận

Trong 4 loại chất đáy (lưới 200 µm, đá san

hô chết, cát, đáy bể composit) thì chất đáy đá san hô chết cho sinh trưởng về chiều cao, tốc

độ sinh trưởng tuyệt đối về chiều cao, tỷ lệ hạ đáy và tỷ lệ sống của ấu trùng trai tai tượng vảy cao nhất Chiều cao ấu trùng trai đạt sau

26 ngày nuôi là 1020,8 µm, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối theo chiều cao đạt 34,63 µm/ngày, tỷ

- Cần nghiên cứu thêm các khía cạnh khác

để hoàn thiện quy trình sản xuất giống, phục vụ cho nuôi xuất khẩu, tiêu dùng trong nước và tái tạo nguồn lợi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Hoàng Đình Chiều (2009), “Tình hình khai thác, nuôi và xuất khẩu Trai Tai Tượng (Tridacnidae) tại Nha Trang (http://www.rimf.org.vn/baibaocn/chitiet/tinid-2180)

2 Nguyễn Quang Đông (2013), Một số đặc điểm sinh học trai tai tượng vảy (Tridacna Squamosa Lamarck,

1819) tại 04 đảo khảo sát ở biển Việt Nam Tạp chí khoa học công nghệ số 1/2015

Trang 8

3 Nguyễn Quang Hùng (2011), Nghiên cứu phục hồi và phát triển nguồn lợi trai tai tượng (Họ Tridacnidae) ở vùng biển Việt Nam, báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp Bộ, Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng.

4 Nguyễn Quang Ninh (2017), Nghiên cứu ánh hưởng của mật độ và chất đáy đến sinh trưởng và tỉ lệ sống của

ngao giá Tapes dosatus (Lamarck, 1818) ương từ giai đoạn 2-5 mm đến giai đoạn 20-25 mm tại Quảng Ninh,

Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Nha Trang, 2017

5 Nguyễn Đức Thắng, Trần Đình Huệ, Nguyễn Văn Vững, Nguyễn Phùng Hùng, Nguyễn Duy Thành, Ngô thị

Lan, Ngô Xuân Quảng (2016), Nghiên cứu khảo sát di dời Trai tai tượng vảy (Tridacna squamosa Lamarck,

1819) phục vụ công tác bảo tồn tại Côn Đảo, Tạp chí khoa học, trang 181 http://www.vjol.info/index.php/sphcm/index

6 Ngô Anh Tuấn (2009), Bài giảng kỹ thuật sản xuất giống và nuôi động vật thân mềm, Trường Đại học Nha Trang

7 Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2000), Sách Đỏ Việt Nam, Phần động vật, Nhà xuất bản khoa học

tự nhiên và công nghệ, Hà Nội, tr 379-382

Tiếng Anh

8 Carpenter K.E, and Niem V.H (1998), FAO species identifi cation guide for fi shery purpose, The living marine resourees of the wester Central Pacifi c Volum 1 Seaweeds, corals, bivalves and gastropos, Rome, FAO, 1998, pp 1-686

9 Isamu T (2008), Palau case study-Tridacnidae Bureau of Marine Resources & Marine Resources Scientifi c

Authority of Palau

10 Ramah S., Taleb-Hossenkhan N., Bhagooli R (2017), Differential substrate affi nity between two giant

clam species, Tridacna maxima and Tridacna squamosa around Mauritius, Western Indian Ocean Journal of

Marine Science, https://www.ajol.info/index.php/ajol/pages/view/resources-for-researchers

Trang 9

Vũ Ngọc Bội¹, Nguyễn Thị Mỹ Trang¹, Đặng Xuân Cường², Võ Long Hải³

Ngày nhận bài: 8/8/2018; Ngày phản biện thơng qua: 20/9/2018; Ngày duyệt đăng: 28/9/2018

TĨM TẮT

Bài báo này tập trung vào việc nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian chần tới hàm lượng fucoidan, laminarin, alginate, chlorophyll và hoạt tính sinh học của dịch chiết từ rong mơ Sargassum polycys- tum Lồi rong này được thu mẫu vào tháng 12/2016 và 4/2017 ở vùng biển Ninh Thuận Các hoạt tính sinh học được đánh giá là hoạt tính chống oxy hĩa tổng, hoạt tính khử sắt, hoạt tính bắt gốc tự do DPPH và hoạt tính ức chế enzyme lipoxygenase Nhiệt độ chần được nghiên cứu trong dải từ 80ºC - 100ºC với bước nhảy là

10ºC, thời gian chần từ 5 giây - 20 giây với bước nhảy 5 giây Kết quả cho thấy, nhiệt độ và thời gian chần

ảnh hưởng mạnh lên hàm lượng các chất sinh học và hoạt tính của dịch chiết thu nhận từ rong mơ Sargassum

polycystum Khi chần ở 100ºC trong 15 giây, hàm lượng các chất sinh học và hoạt tính thu được cao nhất Hàm lượng chlorophyll thu được cao nhất ở nhiệt độ chần 100ºC và thời gian chần 10 giây Hàm lượng các chất sinh

học và hoạt tính biến đổi theo mơ hình tuyến tính bậc một với xu hướng tăng theo thời gian và nhiệt độ chần.

Từ khĩa: hoạt tính sinh học, chlorophyll, fucoidan, Sargassum polycystum, chần

ABSTRACT

This paper presented the effect of blanching temperature and time on the content of fuocoidan, alginate, chlorophyll and bioactivities of extract from brown algae Sargassum polycystum The species were collected on 12/2016 and 4/2017 in the sea area of Ninh Thuan province These bioactivities were evaluated in the study, for example the activity of total antioxidant, reducing power, scavenging free

radicals DPPH and anti-lipoxygenase The blanching temperature was surveyed from 80ºC to 100ºC, and δ 10ºC, blanching time run from 5 seconds to 15 seconds, and δ 5 seconds The results showed that blanching

temperature and time effected on active substances content and bioactivities of extract from brown algae Sargassum polycystum The content of active substances and bioactivities got the highest value when the

blanching condition was in 100ºC for 15 seconds Chlorophyll content was the highest when the blanching condition was in 100ºC for 10 seconds Active substances content and bioactivities were changed according

to linear model, and they tended to increase over time.

Keywords: bioactivity, blanching, chlorophyll, fucoidan, laminarin, alginate, Sargassum polycystum

I Lời mở đầu

Rong mơ Sargassum là loại rong giàu các

chất cĩ hoạt tính sinh học, như fucoidan,

algi-nate, laminarin, Các hoạt chất này cĩ nhiều

hoạt tính như chống oxy hĩa, kháng khuẩn, kháng nấm, kháng ung thư,… Do vậy, các nhà nghiên cứu đang tập trung nghiên cứu ứng dụng các hoạt chất từ rong mơ trong hỗ trợ điều trị bệnh ở con người Chẳng hạn, fucoidan dùng trong hỗ trợ điều trị ung thư dạ dày, laminarin chống oxy hĩa, chlorophyll đào thải chất độc

ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ THỜI GIAN CHẦN TIỀN SẤY ĐẾN HÀM LƯỢNG, HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA DỊCH CHIẾT TỪ

RONG MƠ Sargassum polycystum NINH THUẬNEFFECT OF BLANCHING TEMPERATURE AND TIME ON THE CONTENT AND BIOACTIVITY OF EXTRACT FROM BROWN ALGAE Sargassum polycystum IN

NINH THUAN SEA

¹ Khoa Cơng nghệ Thực phẩm, Trường Đại học Nha Trang

² Viện Nghiên cứu và Ứng dụng cơng nghệ Nha Trang

³ Trường Đại học Cơng nghiệp Tp Hồ Chí Minh

THÔNG BÁO KHOA HỌC

Trang 10

và gia tăng hồng cầu trong máu, phlorotannin

chống oxy hóa, … [1], [2], [5], [12] Rong mơ

được coi là nguồn lợi dược liệu quý, có khả

năng đáp ứng một phần nhu cầu về thực phẩm

và thuốc chữa bệnh cho con người Rong mơ

Sargassum là chi rong phổ biến ở Việt Nam

với sản lượng ước tính vào khoảng 10.000 tấn

khô/ năm [1] Kết quả điều tra năm 2016 và

2017 của chúng tôi cho thấy sản lượng rong

mơ Sargassum ở vùng biển Ninh Thuận ước

tính vào khoảng 3.000 tấn khô/ năm Do vậy,

chúng tôi thực hiện việc nghiên cứu chế biến

rong mơ từ nguồn rong mơ Ninh Thuận

Rong mơ Sargassum sinh trưởng theo mùa

ở vùng biển có sóng, độ muối cao Mặt khác

nguyên liệu rong mơ tươi nói riêng và rong nói

chung thường chứa tỷ lệ nước khá cao nên rất

nhanh bị hư hỏng nếu không được làm khô Do

vậy, người dân và các nhà khoa học thường tiến

hành phơi khô rong bằng phương pháp phơi

nắng ngay tại bãi biển Quá trình phơi khô tự

nhiên thường dẫn tới hiện tượng rong khô còn

chứa muối bám trắng trên bề mặt, làm cho rong

khô dễ bị hút ẩm gây ra sự suy giảm chất lượng

và hoạt chất trong quá trình bảo quản Chính vì

thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu xử lý muối

và sấy khô rong bằng kỹ thuật sấy lạnh kết hợp

bức xạ hồng ngoại Rong tươi có chứa sẵn các

enzyme polyphenol oxydase - chính sự hoạt

động của enzyme này gây ra sự sẫm mầu cũng

như làm giảm hoạt tính sinh học của các chất

sinh học có ở rong trong quá trình sấy khô Để

làm giảm hàm lượng muối và bất hoạt enzyme

oxy hóa khử có trong rong mơ, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu xử lý muối và nghiên cứu chần

rong nhằm làm bất hoạt enzyme oxy hóa khử

Trong bài báo này, chúng tôi chỉ tập trung trình

bày kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ

và thời gian chần rong tiền sấy tới biến đổi hàm

lượng fucoidan, alginate, laminarin, chlorophyll

và hoạt tính chống oxy hóa (tổng, khử sắt, bắt

gốc tự do và lipid) nhằm xác định điều kiện chần

phù hợp cho quá trình sấy khô nguyên liệu rong

mơ Sargassum polycystum.

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Nguyên vật liệu

Rong mơ Sargassum polycystum sinh

trưởng ở vùng biển Ninh Thuận giáp ranh Khánh Hòa được thu mẫu vào tháng 12/2016

và tháng 4/2017 Sau khi thu mẫu, rong được rửa sạch bằng nước biển, đưa vào thùng xốp và vận chuyển về phòng thí nghiệm để phân loại

và xử lý muối Sau khi xử lý muối, rong được bảo quản lạnh ở nhiệt độ từ 0 ÷ 4ºC để sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình nghiên cứu chần

và sấy khô rong mơ

2 Phương pháp nghiên cứu 2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Nhiệt độ chần rong được nghiên cứu ở 80ºC, 90ºC và 100ºC, thời gian chần rong từ 5, 10 đến 15 giây và bố trí thí nghiệm theo phương pháp cổ điển: thay đổi một yếu tố và các yếu

tố khác cố định Sau khi chần, rong được sấy khô bằng kỹ thuật sấy lạnh kết hợp với bức xạ hồng ngoại ở nhiệt độ 50ºC, tốc độ gió 2m/s và sấy rong đến độ ẩm 14% thì dừng quá trình sấy.Rong mơ khô được sử dụng làm nguyên liệu để chiết rút các chất sinh học bằng phương pháp khuếch tán làm giàu Quá trình chiết các chất có khuấy đảo ở điều kiện nhiệt độ phòng (30ºC), thời gian chiết 24 giờ và tỷ lệ dung môi/ nguyên liệu (DM/NL) 30/1 (v/w) Quá trình chiết fucoidan, alginate, laminarin được thực hiện bằng dung môi có pH tương ứng 2, 10 và

7 và chiết chlorophyll thực hiện bằng dung môi ethanol 96% Sau khi chiết rút ly tâm lạnh với tốc độ 6.000 vòng/phút trong 15 phút để thu dịch chiết Hoạt tính chống oxy hóa tổng, hoạt tính khử sắt được đánh giá trên dịch chiết pH

7 Hoạt tính bắt gốc tự do (DPPH) và hoạt tính chống oxy hóa lipid được đánh giá trên dịch chiết ethanol

2.3 Phương pháp phân tích + Định lượng fucoidan: hàm lượng fucoidan

được xác định theo phương pháp của Usov và cộng sự (2001) Phương pháp này tính toán hàm lượng fucoidan bằng 2 lần hàm lượng fucose trong mẫu Hàm lượng fucose được tính theo phương pháp của Dische và Shettles (1948): 200 µL acid sulfuric (18M) bổ sung vào 50 µL mẫu (nồng độ khoảng 0,3 mg fucose/mL) và gia nhiệt trong

30 phút ở 80°C, sau đó làm lạnh đến nhiệt độ phòng Sau đó, bổ sung 8 µL L-cysteine

Trang 11

hydrochloride 3% (w/v) vào hỗn hợp và giữ

hỗn hợp trong 1 giờ ở 4°C L-fucose được sử

+ Định lượng alginate: hàm lượng alginate

được định lượng theo phương pháp Richardson

và cộng sự (2004): 1 mL sodium hydroxide

0,8M bổ sung vào dung dịch alginate trong 5

phút, tiếp theo trung hòa dung dịch bằng 120

ml acid citric 2,25M Sau đó bổ sung 40 mL

DMMB vào hỗn hợp và giữ hỗn hợp ở nhiệt

độ phòng trong 45 phút Đo độ hấp thụ của hỗn

hợp ở bước sóng 520 và 650 nm, tính toán tỷ lệ

độ hấp thụ tại bước sóng 520 và 650 nm để ráp

vào phương trình đường chuẩn sodium alginate

tìm ra hàm lượng alginate [14]

+ Định lượng laminarin: Định lượng

laminarin trong dịch chiết bằng cách định

lượng hàm lượng glucose được giải phóng

từ laminarin thông qua con đường thủy phân

laminarin bằng enzyme [6] Lấy 100 μL dịch

có bổ sung 100 μL enzyme β-glucosidase và

giữ ở 40°C trong 15 phút Sau đó, bổ sung

3 mL GOPOD (glucose oxidase/peroxidase)

vào hỗn hợp Hỗn hợp giữ tiếp ở 40ºC trong

20 phút Hỗn hợp được đo độ hấp thụ ở 510

nm Laminarin chiết từ loài rong Laminaria

digitata được sử dụng làm chất chuẩn

+ Định lượng chlorophyll: hàm lượng

chlorophyll được định lượng theo phương

pháp Jeffrey và Humphrey (1975) [11]

+ Phương pháp đánh giá hoạt tính

- Hoạt tính chống oxy hóa tổng: được xác

định theo phương pháp của Prieto và cộng sự,

(1999): lấy 100 µl mẫu bổ sung 900µl nước

cất và thêm 3 ml dung dịch A (H2SO4 0,6 M,

sodium phosphate 28 mM and ammonium

Molybdate 4 mM) Hỗn hợp được giữ 90 phút

ở 95ºC và đo độ hấp phụ quang ở bước sóng

695 nm với chất chuẩn là acid ascorbic [13]

- Hoạt tính khử sắt: lấy 500 µl dịch mẫu

bổ sung 0,5 ml đệm phosphate pH 7,2 và 0,2 ml

K3[Fe(CN)6] 1% Giữ hỗn hợp 20 phút ở 50ºC

Sau đó thêm vào 500 µl CCl3COOH 10% với

sự bổ sung 300 µl nước cất, 80 µl FeCl3 0,1%

và đo độ hấp thụ quang ở bước sóng 655 nm

với chất chuẩn là FeSO4 [15]

- Hoạt tính bắt gốc tự do (DPPH): hoạt tính DPPH được xác định theo phương pháp của Blois và cộng sự, (1958): lấy lần lượt 200 µl,

400 µl, 600 µl, 800 µl và 1000 µl dịch chiết cho vào 5 ống nghiệm và bổ sung 3 ml DPPH (25mg/l) vào từng ống nghiệm làm dung dịch mẫu (mẫu) Ở dung dịch trắng (mẫu trắng) làm tương tự như trên nhưng thay DPPH bằng 3

ml cồn tuyệt đối vào từng ống Mẫu kiểm soát chuẩn bị bằng cách làm giống như mẫu trắng nhưng thay dịch chiết bằng DPPH Giữ các hỗn hợp trong tối ở nhiệt độ phòng Sau 30 phút, tiến

so mầu ở bước sóng 550 nm [4] Công thức tính toán hoạt tính bắt gốc tự do (DPPH) như sau:

- Hoạt tính ức chế enzyme lipoxygenase:

hoạt tính ức chế enzyme lipoxygenase được xác định như sau: chuẩn bị hỗn hợp phản ứng chứa 0,2M dung dịch đệm citrate-phosphat pH 9,0, 0,25% Tween 20, axit linoleic 0,125mM, một lượng dung dịch enzyme lipoxygenase (57µg protein) và 10 µL dịch chiết từ tảo cho đạt thể tích cuối cùng là 1ml Ống đối chứng sử dụng

10 µL dung dịch nước hoặc ethanol để thay cho dịch từ tảo Hỗn hợp sau phản ứng được đo ở bước sóng 234nm Acid linoleic được sử dụng

để xây dựng đường chuẩn [3]

Máy UV-Vis Spectrophotometer JenWay 6400/ 6405 được sử dụng để đo các mẫu

2.4 Phân tích dữ liệu

Kết quả thí nghiệm được biểu diễn dưới dạng giá trị trung bình cộng trừ độ lệch chuẩn (TB±SD) Loại bỏ giá trị bất thường bằng phương pháp Duncan Phân tích thống kê, ANOVA bằng phần mềm MS Excel 2013

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1 Ảnh hưởng của nhiệt độ chần đến hàm lượng fucoidan và laminarin của dịch chiết

từ rong mơ

Kết quả nghiên cứu trình bày ở Hình 1 cho thấy nhiệt độ chần có ảnh hưởng mạnh tới hàm dụng là chất chuẩn Độ hấp thụ của fucose trong mẫu được tính theo công thức:

Trang 12

lượng fucoidan và laminarin của rong mơ khô

(p<0,05) Cụ thể, khi chần ở nhiệt độ 80ºC,

hàm lượng fucoidan và laminarin của rong khô

thấp nhất Khi tăng nhiệt độ chần rong, hàm

lượng fucoidan và laminarin có trong rong khô

cũng tăng và hàm lượng fucoidan và

laminar-in thu có trong rong khô cao nhất, tương ứng

11,09 mg fucose/g DW và 7,75 mg laminarin/g

DW (Hình 1) khi chần rong ở nhiệt độ 100ºC

Kết quả này có thể được lý giải: quá trình chần

rong ở nhiệt độ cao sẽ làm vô hoạt các enzyme

giúp hạn chế quá trình biến đổi và suy giảm

hoạt tính sinh học của các chất có trong rong khi sấy và bảo quản Mặt khác, chần rong còn giúp làm biến đổi cấu trúc, đặc biệt là làm thay đổi các thành phần araban,… có trên thành tế bào rong, làm giảm lực liên kết giữa fucoidan

và laminarin với các thành phần khác trong cấu trúc tế bào rong dẫn đến khi chiết rút fucoidan

và laminarin dễ khuếch tán ra dung môi nên hàm lượng fucoidan và laminarin thu được từ rong khô cao khi chiết rút từ rong được chần

ở nhiệt độ phù hợp sẽ cao hơn Từ phân tích ở trên cho thấy nhiệt độ chần ở 100ºC là phù hợp

Hình 1 Ảnh hưởng của nhiệt độ chần lên hàm lượng fucoidan và laminarin

2 Ảnh hưởng của nhiệt độ chần lên hàm

lượng alginate và chlorophyll của dịch chiết

từ rong mơ

Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng

alginate và chlorophyll thu nhận từ rong mơ

khô tạo thành từ rong tươi được chần ở nhiệt

độ khác nhau cũng bị ảnh hưởng mạnh bởi

nhiệt độ chần (p<0,05) Nhiệt độ chần càng

tăng, hàm lượng alginate và chlorophyll thu

được cũng tăng và tuân theo mô hình phi tuyến

bậc 1 Hàm lượng alginate và chlorophyll chiết

rút từ rong mơ khô tạo thành từ rong tươi được

chần ở nhiệt độ 100ºC cao nhất, đạt tương ứng

153,72 ± 4,17 mg sodium alginate/g DW và

275,58 ± 6,23 µg chlorophyll/g DW (Hình 2)

Kết quả này được lý giải là: khi chần ở 100ºC

các enzyme phân hủy chlorophyll và alginate bị bất hoạt nên hàm lượng chlorophyll và alginate thu nhận từ rong sấy từ rong được chần ở 100ºC

sẽ cao hơn Do vậy, bột chế phẩm các chất thu

từ rong mơ khô được xử lý tiền sấy bằng cách chần rong mơ tươi ở 100ºC sẽ có mầu sắc xanh trong khi bột chế phẩm các chất thu từ rong mơ sấy không được chần sẽ có mầu nâu Theo Ife

và cộng sự (2003) cho thấy thành phần rophyll của hạt đậu sấy khô từ đậu tươi được chần ở 100ºC sẽ cao hơn hạt đậu được sấy khô

chlo-từ hạt đậu chần ở nhiệt độ thấp hơn 100ºC - sở

dĩ như vậy là do enzyme phân hủy chlorophyll

có trong hạt đậu bị vô hoạt hoàn toàn ở nhiệt

độ 100ºC [9]

Hình 2 Ảnh hưởng của nhiệt độ chần lên hàm lượng alginate và chlorophyll

Trang 13

Hình 3 Ảnh hưởng của nhiệt độ chần lên hoạt tính chống oxy hóa

3 Ảnh hưởng của nhiệt độ chần đến hoạt

tính sinh học của dịch chiết từ rong mơ

Kết quả đánh giá hoạt tính sinh học (hoạt

tính chống oxy hóa, hoạt tính khử sắt, hoạt

tính bắt gốc tự do - DPPH và hoạt tính ức chế

enzyme lipoxygenase) của dịch chiết từ rong

mơ cho thấy nhiệt độ chần rong tiến sấy có

ảnh hưởng đến hoạt tính sinh học của dịch

chiết (p<0,05) và hoạt tính sinh học của dịch

chiết cao nhất khi rong mơ được chần tiền sấy

ở 100ºC và thấp nhất khi rong mơ được chần

tiền sấy ở 80ºC Cụ thể, hoạt tính chống oxy

hóa tổng, hoạt tính khử sắt, hoạt tính bắt gốc tự

do DPPH và hoạt tính ức chế enzyme

lipoxy-genase đạt được giá trị cao nhất tương ứng 7,83

± 0,25 mg acid ascorbic/g DW, 10,49 ± 0,45 mg

FeSO4/g DW, (70,39 ± 0,61)%, 63,45 ± 0,96

µg acid linoleic/100µl dịch chiết khi rong mơ được chần tiền sấy ở 100ºC Hoạt tính chống oxy hóa tổng, hoạt tính khử sắt, hoạt tính bắt gốc tự do DPPH và hoạt tính ức chế enzyme lipoxygenase của dịch chiết từ rong mơ dao động trong khoảng tương ứng 6,01 ÷ 8,01 mg acid ascorbic/g DW, 7,82 ÷ 10,91 mg FeSO4/g

DW, 66,63% ÷ 71,08%, 50,96 ÷ 64,25 µg acid linoleic/100µl dịch chiết (Hình 3) So sánh với công bố của Indu, H và Seenivasan, R cho

thấy, dịch chiết từ loài rong Sargassum cystum thu mẫu tại Ninh Thuận có hoạt tính ức

poly-chế enzyme lipoxygenase cao hơn so với dịch

chiết từ loài Chaetomorpha linum (Muller) Kützing, Grateloupia lithophila Boergesen, Sargassum wightii Greville sinh trưởng ở khu

vực biển phía Nam Ấn Độ [2]

Từ kết quả phân tích ở trên cho thấy chần

rong mơ tiền sấy ở nhiệt độ 100ºC sẽ đảm bảo

rong khô có hàm lượng các chất sinh học cũng

như hoạt chất sinh học cao nhất sau khi sấy

khô Do vậy, nhiệt độ 100ºC được lựa chọn để

chần rong tiền sấy

4 Ảnh hưởng của thời gian chần đến hàm

lượng fucoidan và laminarin của dịch chiết

từ rong mơ

Kết quả chần rong tiền sấy ở nhiệt độ

100ºC trong các khoảng thời gian khác nhau

cho thấy chần rong trong thời gian 15 giây thì

dịch chiết rong mơ khô thu được sẽ có hàm

lượng fucoidan và laminarin cao nhất, tương

ứng 11,14 ± 0,38 mg fucose/g DW và 8,00 ±

0,21 mg laminarin/g DW (Hình 4) Khi tăng

thời gian chần rong tiền sấy lên 20 giây, hàm lượng fucoidan và laminarin thu được không

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với hàm lượng fucoidan và laminarin thu được

từ rong sấy được chần tiền sấy trong 15 giây (p>005) Khi chần rong với thời gian nhỏ hơn

15 giây thì hàm lượng fucoidan và laminarin của dịch chiết rong mơ thu được có hàm lượng thấp hơn hàm lượng fucoidan và laminarin của dịch chiết thu nhận từ rong tươi chần tiền sấy ở 100ºC trong 15 giây Kết quả này có thể được lý giải: công đoạn chần có mục đích vô hoạt các enzyme oxy hóa khử như polyphe-noloxydase,… và chần còn làm làm thay đổi cấu trúc tế bào rong mơ theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chiết rút các chất

Trang 14

sau này Khi thời gian chần nhỏ hơn 15 giây

chưa làm vô hoạt hoàn toàn các enzyme có

trong rong dẫn đến chúng bị biến đổi trong

quá trình sấy Mặt khác, thành tế bào rong mơ

cũng chưa bị tác động đủ để thay đổi cấu trúc,

phá vỡ một số liên kết tự nhiên giữa fucoidan

và laminarin với các chất có trong rong dẫn

tới khó tách fucoidan và laminarin nên hàm lượng fucoidan và laminarin của dịch chiết rong thu được thấp hơn Khi chần rong ở nhiệt

độ 100ºC trong thời gian dài hơn 15 giây sẽ dẫn tới rong bị biến đổi mạnh mẽ làm hàm lượng fucoidan và laminarin của dịch chiết rong thu được bị giảm

Hình 4 Ảnh hưởng của thời gian chần lên hàm lượng fucoidan và laminarin

Từ các phân tích ở trên cho thấy nếu dựa

trên hàm lượng fucoidan và laminarin thì thời

gian chần rong tiền sấy phù hợp là 15 giây

5 Ảnh hưởng của thời gian chần lên hàm

lượng alginate và chlorophyll

Tương tự như hàm lượng fucoidan và

lami-narin, thời gian chần cũng ảnh hưởng mạnh tới

hàm lượng alginate và chlorophyll thu được từ

rong mơ Sargassum polycystum (p<0,05) Khi

chần rong trong thời gian từ 5 ÷15 giây, hàm

lượng alginate và chlorophyll của dịch chiết

rong mơ thu được tăng theo chiều tăng thời gian

chần và đạt giá trị cao nhất tương ứng 154,28

± 1,76 mg sodium alginate/g DW khi thời gian

chần tiền sấy là 15 giây và 276,57 ± 7,17 µg

chlorophyll/g DW khi thời gian chần rong tiền sấy là 10 giây Biên độ dao động của hàm lượng alginate và chlorophyll của dịch chiết rong thu nhận được từ rong tươi được chần tiền sấy trong khoảng tương ứng 149,15 ÷ 154,28

mg sodium alginate/g DW và 252,58 ÷ 276,57

µg chlorophyll/g DW (Hình 5) Kết quả phân tích còn cho thấy hàm lượng alginate thu được

từ dịch chiết rong mơ được chần tiền sấy trong

20 giây không có sự khác biệt về mặt thống

kê so với hàm lượng alginate thu được từ rong

mơ chần tiền sấy trong 15 giây (p>0,05) và khi chần rong ở 100ºC với thời gian 15 giây trở lên, hàm lượng chlorophyll thu được giảm thấp hơn so với hàm lượng chlorophyll thu được từ

Hình 5 Ảnh hưởng của thời gian chần lên hàm lượng alginate và chlorophyll

Trang 15

rong mơ chỉ chần tiền sấy trong 10 giây Sở dĩ

có hiện tượng này là do khi chần rong trong

thời gian ngắn enzyme chưa bị vô hoạt hoàn

toàn và cấu trúc rong chưa bị biến đổi phù hợp

nên hàm lượng các chất thu được thấp Ngược

lại khi chần rong trong thời gian quá dài có

thể làm biến đổi sắc tố chlorophyll dẫn đến

hàm lượng chlorophyl thu được thấp Vì vậy,

khi xét trên khía cạnh hàm lượng alginate

và hàm lượng chlorophyll thì thời gian chần

rong tiền sấy phù hợp trong khoảng 10-15

giây ở 100ºC

6 Ảnh hưởng của thời gian chần đến hoạt

tính sinh học của dịch chiết rong mơ

Kết quả phân tích ở Hình 6 cho thấy hoạt

tính sinh học của dịch chiết từ rong mơ cũng

bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi thời gian chần rong

tiền sấy (p<0,05) và hoạt tính sinh học có mối

liên hệ mật thiết với hàm lượng fucoidan, narin, alginate và chlorophyll (R²>0,9), mối liên hệ được đặc trưng bằng mô hình tuyến tính dương bậc 1 Hoạt tính sinh học của dịch chiết rong mơ cao nhất khi rong mơ được xử lý tiền sấy ở 100ºC trong thời gian 15 giây (Hình 6) Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy ngoài các hoạt tính chống oxy hóa tổng, hoạt tính khử sắt và bắt gốc tự do DPPH, dịch chiết từ rong

lami-mơ Sargassum polycystum Ninh Thuận còn có

hoạt tính ức chế enzyme lipoxygenase - hoạt tính này trước đây chưa có công trình nào công

bố trên các đối tượng rong mơ sinh trưởng ở vùng biển Nam Trung Bộ Kết quả này mở ra hướng nghiên cứu sử dụng chất chiết từ rong

mơ trong hỗ trợ điều trị bệnh rối loạn lipid máu của con người

Hình 6 Ảnh hưởng của thời gian chần lên hoạt tính chống oxy hóa

IV KẾT LUẬN

Từ các kết quả nghiên cứu ở trên cho phép

rút ra một số kết luận sau:

- Điều kiện chần rong tiền sấy có ảnh

hưởng mạnh mẽ tới hàm lượng fucoidan,

al-ginate, laminarin, chlorophyll và hoạt tính

sinh học của dịch chiết thu nhận từ rong

mơ Sargassum polycystum sinh trưởng ở

vùng biển Ninh Thuận

- Điều kiện thích hợp cho quá trình chần

rong mơ Sargassum polycystum Ninh Thuận

để thu được rong sấy có hàm lượng fucoidan,

alginate, laminarin với hoạt tính sinh học cao

là chần ở 100ºC trong thời gian 15 giây và

điều kiện thích hợp cho quá trình chần rong

mơ Sargassum polycystum Ninh Thuận để rong sấy có hàm lượng chlorophyll cao là chần ở 100ºC trong thời gian 10 giây Rong

mơ khô thu nhận từ rong mơ tiền sấy ở điều kiện này hoàn toàn có thể ứng dụng làm thực phẩm hoặc dùng làm nguyên liệu chiết tách fucoidan, alginate, laminarin với hoạt tính sinh học cao

Trang 16

Tài liệu tham khảo

Tiếng Việt

Tiếng Anh

1 Bùi Minh Lý, Lê Như Hậu (2010), Đánh giá hiện trạng và nghiên cứu giải pháp bảo vệ nguồn lợi rong mơ

(Sargassum) tại Khánh Hòa, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh Khánh Hòa, Khánh Hòa.

2 Archana, P., Mohit, C K., Ajay, K., 2014 Bioactive Compounds and Properties of Seaweeds - A Review Open Access Library Journal, 1, e752

3 BenAziz, A., Grossman, S., Ascarelli, I., Budowski, P., 1970 Linoleate oxidation induced by lipoxygenase and hemeproteins: A direct spectrophotometric assay Analyt Biochem, 34, 88-100

4 Blois, M S 1958 Antioxidant determinations by the use of a stable free radical Nature, 26, 1199-1200

5 Dang, X C., Vu, N B., Tran, T T V., Le, N H., 2016 Effect of storage time on phlorotannin content and antioxidant activity of six Sargassum species from Nhatrang Bay, Vietnam Journal of Applied Phycology, 28(1), 567–572

6 Devillé, C.; Gharbi, M.; Dandrifosse, G.; Peulen, O., 2007 Study on the effects of laminarin, a ride from seaweed, on gut characteristics J Sci Food Agric., 87, 1717-1725

polysaccha-7 Ela, E., Steven, M.S., Colin, L.R., 2015 Chapter 2 Application of various immobilization techniques for algal bioprocesses N.R Moheimani et al (eds.), Biomass and Biofuels from Microalgae, Biofuel and Biore-

fi nery Technologies Springer International Publishing Switzerland

8 Eko, S., A, S F., Tri, W A., Septian, R., Ayunda, D W., 2017 Effects of Different Heat Processing on coxanthin, Antioxidant Activity and Colour of Indonesian Brown Seaweeds 2nd International Conference on Tropical and Coastal Region Eco Development, 55, 012063

Fu-9 Faller, A L K., Fialho, E., 200Fu-9 The antioxidant capacity and polyphenol content of organic and tional retail vegetables after domestic cooking Food Research International, 42, 210-215

conven-10 Ife, F.J., Bas K., 2003 Preservation of fruit and vegetables Agromisa Foundation, Wageningen, 86pp

11 Jeffrey, S W., Humphrey, G F., 1975 New spectrophotometric equations for determining chlorophylls a,

b, c1 and c2 in higher plants, algae and natural phytoplankton Biochemie und Physiologie der Pfl anzen, 167, 191-194

12 Owen, E C., 1954 The carotene, carotenoid and chlorophyll contents of some Scottish seaweeds Journal

of Science of Food and Agriculture, 5(9), 449-453

13 Prieto, P., Pineda, M., Aguilar, M 1999 Spectrophotometric quantitation of antioxidant capacity through the formation of a phosphomolybdenum complex: Specifi c application to the determination of vitamin E Ana-lytical Biochemistry, 269, 337-341

14 Richardson, J C., Dettmar, P W., Hampson, F C., Melia, C D., 2004 A simple, high throughput method for the quantification of sodium alginates on oesophageal mucosa European Journal of Pharmaceutics and Biopharmaceutics, 57, 299-305

15 Zhu, Q Y., Hackman, R M., Ensunsa, J L., Holt, R R., Keen, C L., 2002 Antioxidative activities of oolong tea Journal of Agricultural and Food Chemistry, 50, 6929-6934

Trang 17

THÔNG BÁO KHOA HỌC

THÀNH PHẦN LỒI VÀ HOẠT CHẤT SINH HỌC CỦA HẢI MIÊN Ở VÙNG

BIỂN NAM TRUNG BỘ, VIỆT NAM

SPECIES COMPOSITION AND BIOACTIVE SUBSTANCES OF SPONGE IN CENTRAL

SOUTHERN AREA, VIETNAM

Đặng Xuân Cường¹, Vũ Ngọc Bội², Trần Khắc Trí Nhân³,

Nguyễn Thị Phương Hiền4, Thái Minh Quang5

Ngày nhận bài: 9/7/2018; Ngày phản biện thơng qua: 11/9/2018; Ngày duyệt đăng: 28/9/2018

TĨM TẮT

Hải miên thuộc nhĩm động vật thân lỗ cịn ít được nghiên cứu ở Việt Nam Trong bài báo này, chúng tơi cơng bố kết quả nghiên cứu về thành phần lồi và một số hoạt chất sinh học cĩ trong những lồi hải miên đã được thu mẫu ở vùng biển Nam Trung Bộ - Việt Nam nhằm định hướng nghiên cứu và ứng dụng Trong các năm

2016 và 2017, chúng tơi thực hiện 6 chuyến khảo sát và thu được 21 mẫu hải miên Kế t quả phân loạ i đượ c 13 chi, trong đĩ riêng vù ng Vị nh Nha Trang – Khá nh Hị a phân loạ i đượ c 11 lồ i Đồ ng thờ i, kết quả cho thấy sự hiện diện của các chất sinh học như polyphenol, alkaloid, terpenoid và steroid Dịch chiết từ 21 mẫu hải miên

cĩ hoạt tính chống oxy hĩa và ức chế enzyme β-glucosidase Từ đĩ thấy rằng hải miên khá đa dạng về thành phần lồi và hoạt chất sinh học

Từ khĩa: hải miên, hoạt chất sinh học, Nam Trung Bộ, polyphenol, alkaloid, terpenoid và steroid.

ABSTRACT

Sponge belongs to group of basalmost clade animal, and the study on them was less in Vietnam Thus, the paper presents the results of species components and some bioactive substances of sponges collected in Central Southern area of Vietnam In the years 2016 and 2017, we conducted six surveys and collected 21 sponge samples The results showed total 13 genera were classifi ed, in which 11 species were found only in Nha Trang Bay, Khanh Hoa Also, the results of our analysis showed the presence of biological substances such as polyphenols, alkaloids, terpenoids and steroids The extract from 21 samples expressed antioxydant and β glucosidase inhibition activity These results showed that the sponge is quite diverse in terms of species composition and biological activity.

Keywords: sponge, biosubstance, Central southern area of Vietnam, polyphenol, application

I LỜI MỞ ĐẦU

Hải miên (bọt biển) là động vật thân lỗ xuất

hiện nhiều ở các rạn san hơ chết Nhiều nghiên

cứu cho thấy trong hải miên cĩ rất nhiều chất

chuyển hĩa thứ cấp, cĩ hoạt tính sinh học cao

[1] Hải miên được cho là lồi sinh vật biển cĩ

chứa tới 4.851 hợp chất tự nhiên trong tổng số

hơn 15.000 hợp chất tự nhiên đã được phát hiện

từ sinh vật biển Các chất tự nhiên cĩ trong hải

miên cĩ nhiều hoạt tính sinh học cĩ giá trị như

hoạt tính chống oxy hĩa, kháng viêm, kháng u, tăngtí nh miễn dịch, kháng virus, chống sốt rét, bảo vệ thần kinh, trừ giun sán, chống lại các

tế bào ung thư,…[2] Một số chất cĩ hoạt tính sinh học cĩ trong hải miên đã được nghiên cứu

về cấu trúc, hoạt tính sinh học và sản xuất phục

vụ điều trị bệnh cho con người như: di-isobutyl phthalate, di-n-butyl phthalate, acid linoleic, β-sitosterol, cholesterol, bis-[2-ethyl]-hexyl-phthylester, acid triglyceride béo ester,…[2] Mặt khác, người ta cũng phát hiện trong hải miên cĩ các loại polyphenol cĩ hoạt tính chống oxy hĩa cao như: spongouridine, spongothymi-dine, spongosine, crotonoside,…[2]

¹ Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Cơng nghệ Nha Trang, VAST

² Khoa Cơng nghệ Thực phẩm, Trường Đại học Nha Trang

³ Trường Cao đẳng nghề Phú Yên

4 Cơng ty Cổ phẩn Nước giải khát Yến Sào Khánh Hịa

5 Viện Hải dương học, VAST

Trang 18

Biển Việt Nam và đặc biệt là vùng biển

Nam Trung Bộ được coi là nơi có nguồn tài

nguyên hải miên khá đa dạng về thành phần

loài và sản lượng Tuy vậy, việc nghiên cứu về

hải miên tại Việt Nam còn ít được quan tâm

Do vậy chúng tôi tiến hành thu mẫu và xác

định thành phần loài, đánh giá hoạt tinh sinh

học của dịch chiết hài miên làm cơ sở cho

việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu về hải miên

tại vùng biển Nam Trung Bộ Trong bài báo

này, chúng tôi chỉ công bố một số kết quả

nghiên cứu ban đầu về thành phần loài và

sơ bộ đánh giá một số hoạt chất sinh học có

trong các mẫu hải miên thu mẫu tại vùng

biển Nam Trung Bộ

II NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁ P

NGHIÊN CỨU

1 Nguyên liệu

Tiến hành thu mẫu hải miên tại vùng biển

thuộc hòn Mun, hòn Một - Nha Trang - Khánh

Hòa và thu mẫu tại vùng ven biển Ninh Thuận

Sau khi thu mẫu, hải miên được rửa sạch bằng

nước biển, bao gói riêng từng mẫu bằng bao

nilon, cột kín miệng túi, bảo quản bằng nước

đá và vận chuyển vào đất liền

Các mẫu hải miên sử dụng để làm tiêu bản

khung xương và gai xương dùng cho phân

loại sẽ được rửa 2 lần bằng ethanol 50% và

lưu giữ trong ethanol 70-80% Mẫu làm tiêu

bản khung xương được cắt vuông góc với bề

mặt Tiêu bản gai xương được phá hữu cơ

bằng NaClO Toàn bộ các tiêu bản được cố

định trên lam kính bằng Canada balsan Quá

trình quan sát, phân loại theo đặc điểm sinh

học được thực hiện dưới kính hiển vi quang

học Olympic BX41, hình ảnh khung xương và

gai xương được chụp bằng máy ảnh kĩ thuật

số qua vật kính 4x, 10x,và 40x phân loại hải

miên do Thái Minh Quang - Viện Hải Dương

học Nha Trang thực hiện

Mẫu hải miên dùng cho nghiên cứu sẽ

được rửa sạch bằng nước biển ngay sau khi

thu mẫu và bảo quản lạnh ở nhiệt độ <4ºC và

vận chuyển về phòng thí nghiệm Tại phòng thí

nghiệm, mẫu được lưu giữ ở nhiệt độ -20ºC,

sau đó được phá vỡ cấu trúc bằng nitơ lỏng,

đồng hóa và bảo quản bột hải miên trong tủ

đông Bột hải miên được sử dụng làm nguyên liệu trong toàn bộ quá trình nghiên cứu Chất

có hoạt tính sinh học từ hải miên được chiết bằng dung môi methanol 99,8% [3]

2 Phương pháp nghiên cứu 2.1 Phương pháp định lượng polyphenol

Định lượng polyphenol tổng (TPC) theo phương pháp so mà u bằ ng cá ch sử dụng Folin-Ciocalteu với phloroglucinol là chất chuẩn 300

μl dịch mẫu bổ sung 01 ml Folin-Ciocalteu 10%, giữ 5 phút Sau đó, thêm vào hỗn hợp 2 ml

Na2CO3 10%, trộn đều, giữ 90 phút trong bóng tối và đo độ hấp thụ quang ở bước sóng 750 nm,

đo trên máy UV-Vis Spectrophotometer JenWay 6400/ 6405 [4]

2.2 Phương pháp định tính các chất

Định tính chất béo theo TCVN 4331-86: nhỏ dịch chiết lên giấy lọc và làm khô dung môi Nếu trên giấy lọc tồn tại vết mờ thì dịch chiết có chất béo

Tinh dầu: Định tính tinh dầubằng cách cho bốc hơi dịch chiết tới khi thu được cặn có mùi thơm [5]

Terpenoid: Định tính terpenoid bằng cách dùng thuốc thử Liebermann-Burchard cho vào dịch chiết, màu hỗn hợp chuyển từ đỏ nâu - tím chuyển sang màu xanh lục chứng tỏ dịch chiết

có terpenoid [3]

Flavonoid: Định tính Flavonoid bằng phản ứng đặc trưng với Mg/HCl đậm đặc: Dung dịch

có màu hồng (đỏ) [3]

Alkaloid: định tính Alkaloid bằng phản ứng đặc trưng với thuốc thử Mayer cho kết tủa trắng [3]

2.3 Xác định một số hoạt tính sinh học của dịch chiết hải miên

Xác định hoạt tính chống oxy hóa tổng: Lấy 900µl nước cất và 3 ml dung dịch A (H2SO4 0,6 M, sodium phosphate 28 mM and ammonium Molybdate 4 mM) bổ sung

vào 100 µl mẫu Hỗn hợp được giữ ở 95ºC

trong 90 phút Sau đó,tiến hành đo độ hấp thụ quang của hỗn hợp ở bước sóng 695 nm với chất chuẩn là acid ascorbic [6]

Hoạt tính khử Fe: hoạt tính khử sắt được xác định theo cách: lấy 500 µl dịch chiết hải miên, bổ sung 0,5 ml đệm phosphate pH 7,2 và

Trang 19

0,2 ml K3[Fe(CN)6] 1% Sau đó, hỗn hợp được

giữ ở 50ºC trong 20 phút Sau đó, tiếp tục bổ

sung vào hỗn hợp 500 µl CCl3COOH 10%, 300

µl nước cất, 80 µl FeCl3 0,1% và đo độ hấp thụ

quang của của hỗn hợp ở bước sóng 655 nm

với chất chuẩn là FeSO4 [7]

Hoạt tính ức chế enzyme β glucosidase:

hoạt tính ức chế enzyme β glucosidase được

đánh giá theo phương pháp của Hengameh và

cộng sự (2016) [8]: lấy 0,5 mL dung dịch

p-nitro phenyl-β-D- glucopyranoside 02

mM và 0,3 mL đệm potassium phosphate

50 mM (pH 5) cho vào 200 mL dịch chiết

và giữ hỗn hợp ở 37° trong 10 phút Sau

đó, bổ sung 20 mU enzyme β-glucosidase

(hoạt độ 3.500U/mg) vào hỗn hợp và giữ tiếp ở

37° trong 30 phút Kết thúc phản ứng tiếp tục

bổ sung vào hỗn hợp 2,6 mL đệm potassium

phosphate (pH 10) Thuốc Acarbose được sử

dụng làm mẫu đối chứng Nếu mẫu đối chứng

bị âm, tiến hành bổ sung thêm đệm phosphate

(pH 10) để khóa phản ứng enzyme Độ hấp thụ

quang của hỗn hợp được đo ở bước sóng 410

nm Phần trăm ức chế enzyme được tính theo

công thức: % ức chế enzyme β glucosidase =

[A410 kiểm soát - A 410 dịch chiết/A 410 kiểm soát] x100%

Trong nghiên cứu này, p-nitro

phenyl-β-D-glucopyranoside (PNGP) được sử dụng làm cơ

chất thủy phân

3 Phương pháp xử lý số liệu

Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần (n =

3) Kết quả là giá trị trung bình của 3 lần thí

nghiệm lặp lại Phân tích thống kê đượ c thự c

hiệ n bằng thuậ t toá n tính giá trị trung bình và

độ lệch chuẩn trên phần mềm MS Excel 2010

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO

LUẬN

1 Thành phần loài hải miên ở khu vực Nam

Trung Bộ

Kết quả phân loại 21 mẫu hải miên thu mẫu

ở vùng biển thuộc Hòn Mun, Hòn Một - Nha

Trang - Khánh Hòa và thu mẫu tại vùng ven

biển Ninh Thuận trong 2 năm 2016 và 2017 đã

xác định các mẫu trên thuộc 13 chi như sau:

Aaptos, Xestospongia, Dasychalina, Gelliodes,

Haliclona, Stylissa, Lipastrotethya, Suberites,

Hippospongia, Clathria, Paratetilla, Biemna,

Spheciospongia Trong đó, có 17 mẫu đã được

phân loại đến loài Mặt khác kết quả phân loại cũng cho thấy vùng biển Ninh Thuận và Nha Trang có thành phần loài khá giống nhau Riêng vùng Vịnh Nha Trang - Khánh Hòa đã phát hiện và phân loại được 11 loài hải miên

như sau: Aaptos suberitoides (Brøndsted, 1934), Xestospongia sp., Haliclona sp., Dasychalina sp., Gelliodes fi bulata, Haliclona (Gellius) amboinensis (Lévi, 1961), Lipastrotethya sp., Paratetilla bacca (Selenka, 1867), Stylissa sp., Biemna fortis (Topsent, 1897) và Spheciospongia

sp (Hình 1) Trong đó, tại Hòn Mun có 05 loài, Hòn Một có 02 loài, Hòn Rùa có 03 loài Chúng phân bố ở các độ sâu khác nhau từ 0,500 ÷ 15m (so với mực nước biển) và đặc điểm chung về môi trường sinh sống là ở các vùng nước trong,

ít sóng, có san hô chết Như vậy, hải miên thu mẫu ở vùng biển Ninh Thuận và Nha Trang khá đa dạng về hình dáng, màu sắc và cấu trúc thân Tuy nhiên, tần suất bắt gặp các loài hải miên rất khác nhau, phụ thuộc vào mùa vụ thu mẫu Kết quả quan sát hình thái cho thấy, tất cả các loài hải miên sinh trưởng ở vùng biển Nha Trang và Ninh Thuận đều có cấu trúc xương hình trụ (Hình 2)

Vùng biển Đông có 388 loài hải miên thuộc

24 bộ, 78 họ và 158 chi hải miên, trong đó gapore có 130 loài, biển phía Đông Malaysia có

Sin-25 loài, vùng – Vị nh Thá i Lan có 90 loài, biển Việt Nam có 141 loài, biển Nam Trung Hoa có

138 loài và biển Đài Loan có 64 loài Trong 388 loài, chỉ có 16 loài phân bố rộng chiếm 4%, bao

gồm Aaptos suberitoides, Acanthella

caverno-sa, Biemna fortis, Cinachyrella australiensis, Clathria (Thalysias) reinwardti, Coelocart- eria singaporensis, Echinodictyum asperum, Hyrtios erectus, Haliclona (Gellius) cymae- formis, Iotrochota baculifera, I purpurea, Mycale (Zygomycale) parishii, Neopetrosia exigua, Oceanapia sagittaria, Spheciospongia vagabunda, Xestospongia testudinaria Only

X testudinaria, M (Zygomycale) parishii và

C australiensis [9] Vùng biển Việt Nam có

299 loài thuộc 124 chi, 65 họ, 18 bộ và 4 lớp, trong đó 201 loài đã xác định được tên [10]

Trang 20

Hình 1 Hình ảnh, phân loại và một số đặc tính phân bố của các loài Hải Miên thu mẫu tại

Vịnh Nha Trang - Khánh Hòa

Trang 21

2 Thành phần các chất sinh học có trong hải

miên Nam Trung Bộ

Một số chất có hoạt tính sinh học như

poly-phenol, terpenoid, fl avonoid và alkaloid đã

được phát hiện có trong tất cả các loài hải miên

thu mẫu tại vùng biển Nam Trung Bộ (Bảng

1) Trong đó, thành phần alkaloid ở trong hải

miên là ít hơn so với các thành phần khá như

polyphenol, terpenoid và fl avonoid Kết quả

phân tích cũng cho thấy, hải miên Aaptos

su-beritoides có hàm lượng polyphenol cao nhất,

tiếp theo là Lipastrotethya sp., Stylissa sp Hàm

lượng polyphenol thấp nhất được xác định ở

loài Haliclona (Gellius) cymaeformis (Esper,

giữ 2 mẫu của loài Aaptos suberitoides là sự

khác biệt mang ý nghĩa thống kê Kết quả này chứng tỏ hàm lượng polyphenol ở trong hải miên có thể phụ thuộc vào độ tuổi sinh học thể hiện qua kích thước của hải miên Các nghiên cứu sâu về vấn đề này sẽ được chúng tôi tiếp tục công bố ở các bài báo tiếp theo Kết quả nghiên

Hình 2 Hình ảnh về khung xương của một số loài hải miên thu mẫu ở vùng biển Nam Trung Bộ

Trang 22

cứu cũng cho thấy sự khác biệt về hàm lượng

các chất có hoạt tính sinh học như polyphenol,

terpenoid, fl avonoid và alkaloid trong các loài

hải miên ở khu vực Nam Trung Bộ, Việt Nam

Nhiều kết quả trên thế giới cũng cho thấy hải

miên chứa rất nhiều chất sinh học khác nhau Các

chất alkaloid, triterpenoid, phenolic, fl avanoid

được phát hiện ở 2 loài hải miên: Spongia offi

-cinalis var ceylonensis và Sigmadocia carnosa

[11] Thành phần các chất sinh học ở hải miên

phụ thuộc vào loài, loài Aurora globostellata có

alkaloid và fl avanol, không có tannin, nhưng loài

Spirastrella inconstans varmoeandrina Dendy

có tannin, fl avonol và alkaloid [12] Thành phần

các chất trong dich chiết hải miên phụ thuộc vào

dung môi chiết và loài hải miên, cụ thể dịch chiết

trong methanol từ loài Dysidea herbacea chứa

cả tannin, fl avonoid, alkaloid và phenol, dịch

chiết methanol từ loài Sigmadocia pumila có

fl avonoid, phenol, alkaloid và thêm cả quinone, nhưng không có tannin, đối với dịch chiết metha-

nol từ loài Acanthella elongate lại chỉ tìm thấy

alkaloid, phenol và tannin; đối với dịch chiết dich

loromethane từ các loài Dysidea herbacea, Sigmadocia pumila và Acanthella elongate thì

phenol chỉ tìm thấy trong dịch chiết dich

lo-romethane từ loài Dysidea herbacea, quinone

lại tìm thấy ở dịch chiết dich loromethane từ

các loài Sigmadocia pumila và Acanthella elongate [13] Từ các phân tích ở trên cho thấy

sự đa dạng về thành phần các chất sinh học có trong hải miên ở những vùng khác nhau, loài khác nhau Mặt khác, kết quả phân tích cũng cho thấy hải miên ở khu vực Nam Trung Bộ hoàn toàn có thể là nguồn nguyên liệu phục vụ nghiên cứu thu nhận các chất có hoạt tính sinh học dùng trong các lĩnh vực thực phẩm chức năng, dược phẩm

Bảng 1 Hàm lượng polyphenol và chất có hoạt tính sinh học khác trong hải miên

ở khu vực Nam Trung Bộ, Việt Nam

Trang 23

3 Hoạt tính sinh học của dịch chiết hải miên

3.1 Hoạt tính chống oxy hóa tổng và hoạt

tính khử sắt

Kết quả đánh giá hoạt tính chống oxy hóa

và hoạt tính khử sắt của dịch chiết trong

metha-nol từ các loài hải miên thu mẫu tại vùng biển

Nam Trung Bộ cho thấy, loài Lipastrotethya

sp có hoạt tính chống oxy hóa tổng cao nhất,

tương ứng 331,18 mg acid ascorbic/g DW và

loài Aaptos suberitoides có hoạt tính khử sắt

cao nhất, tương ứng 278,11 mg FeSO4/g DW

Loài Xestospongia sp có hoạt tính chống oxy

hóa tổng và hoát tính khử sắt thấp nhất, tương ứng 1,38 mg acid ascorbic/g DW và 0,94 mg FeSO4/g DW (Hình 3) Sự tương quan giữa hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa tổng (R² > 0,8) lớn hơn so với mối tương quan giữa hàm lượng polyphenol và hoạt tính khử sắt của dịch chiết (R² < 0,8) (Hình 3) Chứng tỏ hàm lượng polyphenol của hải miên ảnh hưởng không mạnh tới hoạt tính khử sắt

mà ảnh hưởng mạnh đến hoạt tính chống oxy hóa tổng

Điều này cho thấy, hải miên vùng biển

Hình 3 Hoạt tính chống oxy hóa của dịch chiết hải miên thu nhận ở vùng biển Nam Trung Bộ

Nam Trung Bộ là nguồn tài nguyên sử dụng

cho nghiên cứu thu nhận và sản xuất các

chất có hoạt tính chống oxy hóa dùng cho

sản phẩm thực phẩm chức năng, dược phẩm,

mỹ phẩm,… Hiện nay, một số chế phẩm có

nguồn gốc từ hải miên đã được nghiên cứu

ứng dụng trong thực tế như: Suberitine A-D

dùng trong điều chế thuốc chống lại các tế bào

khối u P388; polyphenol dùng sản xuất viên

uống chống lão hóa, hỗ trợ điều trị Alzheimer

và Parkinson; 3-Alkyl Pyridinium alkaloid từ

loài Haliclona viscosa được sử dụng để điều

chế chất kháng khuẩn, kháng nấm da và chế phẩm sinh học hỗ trợ trong quá trình điều trị

và chữa bệnh ung thư,… [14], [15] Như vậy, các loài hải miên ở khu vực Nam Trung Bộ là đối tượng tiềm năng trong nghiên cứu phục vụ

y học và thực phẩm chức năng

3.2 Hoạt tính ức chế enzyme β- glucosidase của dịch chiết hải miên

Hình 4 Hoạt tính ức chế enzyme β glucosidase của các mẫu hải miên thu nhận

ở vùng biển Nam Trung Bộ, Việt Nam

Trang 24

Hoạt tính ức chế enzyme β-glucosidase cao

nhất được tìm thấy ở loài A suberitoides, tương

ứng 68,34% và loài Stylissa sp có hoạt tính ức

chế enzyme β-glucosidase thấp nhất, tương ứng

21,17% Trong các mẫu hải miên được đánh giá,

hoạt tính ức chế enzyme β-glucosidase đạt giá

trị trung bình là 53,91% Mối tương quan mạnh

giữa hàm lượng polyphenol của dịch chiết hải

miên và hoạt tính ức chế enzyme β-glucosidase

cũng được tìm thấy (p < 0,02) Kết quả này

chứng tỏ polyphenol của hải miên có hoạt tính

ức chế enzyme β-glucosidase – đây là hoạt tính

quyết định khả năng sử dụng polyphenol từ hải

miên trong hỗ trợ điều trị đái tháo đường typ

2 Hoạt tính ức chế enzyme β-glucosidase đều

được tìm thấy ở các dịch chiết từ các loài hải

miên thu mẫu tại vùng biển Nam Trung Bộ

Do vậy, hải miên vùng biển Nam Trung Bộ là

nguồn tài nguyên có tiềm năng ứng dụng trong

sản xuất thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị

bệnh đái tháo đường tuýp 2

IV KẾT LUẬN

Từ các kết quả nghiên cứu ở trên có thể rút

ra một số kết luận như sau:

Hải miên thu mẫu ở vùng biển Nam Trung

Bộ thuộc 13 chi như sau: Aaptos, Xestospongia,

Dasychalina, Gelliodes, Haliclona, Stylissa, Lipastrotethya, Suberites, Hippospongia, Clathria, Paratetilla, Biemna, Sphecio- spongia Trong đó, đã phân loại được 11 loài hải miên như sau: Aaptos suberitoi- des (Brøndsted, 1934), Xestospongia sp., Haliclona sp., Dasychalina sp., Gelliodes fibulata, Haliclona (Gellius) amboinensis (Lévi, 1961), Lipastrotethya sp., Paratetilla bacca (Selenka, 1867), Stylissa sp., Biemna fortis (Topsent, 1897) và Spheciospongia sp

thu mẫu ở vùng Vịnh Nha Trang - Khánh Hòa

Dịch chiết methanol từ các mẫu hải miên thu mẫu ở vùng biển Nam Trung Bộ đều chứa các chất có hoạt tính sinh học như polyphenol, terpenoid, fl avonoid và alkaloid Hải miên sinh trưởng ở vùng biển Nam Trung Bộ đều có hoạt tính chống oxy hóa tổng và hoạt tính khử khử sắt

Dịch chiết methanol từ các mẫu hải miên thu mẫu ở vùng ở vùng biển Nam Trung Bộ đều có hoạt tính ức chế enzyme β glucosidase Do vậy, hải miên ở vùng ở vùng biển Nam Trung Bộ là nguồn tài nguyên quý cho việc nghiên cứu hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường tuýp 2

Tài liệu tham khảo

1 Müller W E., Wang X., Proksch P., Perry C C., Osinga R., Gardères J., Schröder H C., 2013 Principles of biofouling protection in marine sponges: a model for the design of novel biomimetic and bio-inspired coatings

in the marine environment Mar Biotechnol (NY), 15(4), 375-398

2 Mohamed S., Howaida I A A., Amal Z H., Hanan F A., Mohamed A G., 2012 Chemical characterization, antioxidant and inhibitory effects of some marine sponges against carbohydrate metabolizing enzymes Org Med Chem Lett., 2(1), 30

3 Nguyễn K P P., 2007 Phương pháp cô lập hợp chất hữu cơ, Nxb ĐH Quốc Gia TP HCM

4 Swanson A K., Druehl L D., 2002 Induction, exudation and the UV protective role of kelp phlorotannins Aquat Bot., 73, 241253

5 Trần D T., Vũ V Đ., Ngô K S., 2010 Bước đầu trồng thử nghiệm và tách chiết hoạt chất miraculin trong trái

cây thần kỳ (Synsepalum dulcifi cum Daniell) Science & Technology Development, 13, 54-61.

Trang 25

6 Prieto P., Pineda M., Aguilar M., 1999 Spectrophotometric quantitation of antioxidant capacity through the formation of a phosphomolybdenum complex: Specifi c application to the determination of vitamin E Anal Biochem., 269, 337–341.

7 Zhu Q Y., Hackman R M., Ensunsa J L., Holt R R., Keen C L., 2002 Antioxidative activities of oolong tea J Agric Food Chem, 50, 6929–6934

8 Hengameh P., Rajkumar H G., 2016, Evaluation of some lichen extracts for β-glucosidase inhibitory as a possible source of herbal anti-diabetic drugs American Journal of Biochemistry, 6(2), 46-50

9 Swee-Cheng L., Sumaitt P., Minh-Quang T., Dexiang W., Yusheng M H., 2016 Inventory of sponge fauna from the Singapore strait to Taiwan strait along the western coastline of the South China Sea Raffl es Bull Zool., Supplement No 34, 104–129

10 Thai M Q., 2013 A review of the diversity of sponges (porifera) in Vietnam The 2nd international shop on marine bioresources of Vietnam, Hanoi, 109-115

work-11 Athira K K A., Keerthi T R., 2016 Analyses of methanol extracts of two marine sponges, Spongia offi

ci-nalis var ceylonensis and Sigmadocia carnosa from southwest coast of india for their bioactivities Int J Curr

Microbiol App Sci., 5(2), 722-734

12 Chairman K., Ranjit S A J A., Ramesh M., 2012 Screening twelve species of sponges for biomedical activity in gulf of mannar tuticorin coast International Journal of Marine Science, 2(6), 43-50

13 Yuvarani T., Sudarsanam D., Habeeb S., Joe K.K., 2017 Screening of bioactive compounds from marine sponges collected from Kovalam, Chennai Asian J Pharm Clin Res., 10(5), 231-236

14 Hengameh P., Rajkumar H.G., 2016 Evaluation of some lichen extracts for β-glucosidase inhibitory as a possible source of herbal anti-diabetic drugs American Journal of Biochemistry, 6(2), 46-50

15 Caixia L., Xuli T., Pinglin L., Guoqiang L., 2012 Suberitine A-D, four new cytotoxic dimeric aaptamine

alkaloids from the marine sponge Aaptos suberitoides Org Lett., 14(8), 1994-1997.

Trang 26

THÔNG BÁO KHOA HỌC

THÀNH PHẦN VÀ MỨC ĐỘ NHIỄM KÝ SINH TRÙNG Ở CÁ TẦM NGA

(Acipencer guldenstaedtii Brandt and Ratzeburg, 1833) VÀ CÁ TẦM XIBERI (Acipencer baerii Brandt, 1869) NUƠI AO VÀ NUƠI LỒNG TẠI LÂM ĐỒNGTHE COMPOSITION, PREVALANCES AND INTENSITIES OF PARASITES OF RUSSIAN STURGEON (Acipencer guldenstaedtii Brandt and Ratzeburg, 1833) AND SIBERIAN STURGEON (Acipencer baerii Brandt, 1869) CULTURED IN PONDS AND FLOATING CAGES IN LAMDONG PROVINCE

và 05 lồi ký sinh trùng ở cá tầm nuơi lồng, gồm T nigra, I multifi liis, Gyrodactylus sp., Ceratomyxa sp và Neoergasilus sp Đây là thơng báo đầu tiên về thành phần và mức độ nhiễm ký sinh trùng ở cá tầm Nga và cá tầm Xiberi nuơi ao và nuơi lồng ở Việt Nam

Từ khĩa: Ký sinh trùng, cá tầm Nga, cá tầm Xiberi, Lâm Đồng

ABSTRACT

This paper presents the composition, prevalances and intensities of parasites of pond and cage - cultured Russian Sturgeon (Acipencer guldenstaidtii Brandt and Ratzeburg, 1833) and Siberian Sturgeon (Acipencer baerii Brandt, 1869) in Lamdong Province One hundred and twenty seven specimens of pond - cultured Russian Sturgeon (mean length 659,6 mm (450,0-770,0)) and 108 cage - cultured Russian Sturgeon (mean length 535,1 mm (530,0-747,2)); 96 specimens of pond - cultured Siberian Sturgeon (mean length 652,3

mm (500,0-720,0)) and 111 cage - cultured Siberan Sturgeon (mean length 558,9 mm (524,0-880,0)) were randomly collected from different farms Results showed that there were, 03 parasitic species from pond - cultured sturgeons, including Trichodina nigra, Ichthyophthirius multifi liis, and Gyrodactylus sp.; and 05 parasitic species from cage - cultured sturgeons, including T nigra, I multifi liis, Gyrodactylus sp., Ceratomyxa

sp and Neoergasilus sp This is the fi rst paper on the composition, prevalances and intensities of parasites on pond and cage – cultured Russian Sturgeon and Siberian Sturgeon in Vietnam

Key words: Parasite, Rusian Sturgeon, Siberian Sturgeon, Lamdong.

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Cá tầm Nga (Acipencer guldenstaidtii

Brandt and Ratzeburg, 1833) và cá tầm Xiberi

(Acipencer baerii Brandt, 1869) được nhập về

nuơi tại Việt Nam từ năm 2005 Sau thời gian

nuơi thử nghiệm thành cơng, cá tầm Nga và

cá tầm Xiberi đã được nhiều địa phương trong

đĩ cĩ Lâm Đồng phát triển nuơi với quy mơ lớn, tạo ra hàng ngàn tấn sản phẩm mỗi năm

và đã trở thành nghề mới tạo ra nhiều cơng việc và thu nhập cho người dân (Võ Thế Dũng, 2012) Cũng như nhiều lồi thủy sản khác, khi phát triển nuơi đại trà một thời gian, dịch bệnh

¹ Viện Nghiên cứu Nuơi trồng Thủy sản III

Trang 27

thường phát sinh và gây nên nhiều thiệt hại

cho người nuôi thủy sản, cá tầm cũng thường

xuyên gặp phải dịch bệnh (Võ Thế Dũng và

Võ Thị Dung, 2016; Võ Thế Dũng và Võ Thị

Dung, 2014; Võ Thế Dũng và Trần Thị Bạch

Dương, 2011; Võ Thế Dũng và các cộng sự,

2011), ký sinh trùng là tác nhân phổ biến trong

các mô hình nuôi tại Lâm Đồng Nghiên cứu

này trình bày kết quả nghiên cứu thành phần ký

sinh trùng bắt gặp trên cá tầm Nga và cá tầm

Xiberi nuôi ao và nuôi lồng tại Lâm Đồng làm

cơ sở cho việc phòng trị các bệnh do ký sinh trùng gây ra

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Thu mẫu ngẫu nhiên: thu cá còn sống một

cách ngẫu nhiên từ các ao nuôi thương phẩm tại các cơ sở nuôi cá tầm ở Lâm Đồng Thông tin chi tiết được trình bày ở Bảng 1

Bảng 1: mẫu cá tầm dùng nghiên cứu ký sinh trùng

Hình 1: Sơ đồ nghiên cứu ký sinh trùng

2 Vận chuyển và lưu giữ mẫu: Toàn bộ cá mẫu

được đóng bao nilông có bơm oxy, để vào thùng

xốp và chuyển về Viện Nghiên cứu nuôi trồng

thủy sản III Duy trì nhiệt độ nước trong quá

trình vận chuyển từ 19-21ºC Tại Viện Nghiên

cứu nuôi trồng thủy sản III, giữ cá trong các bể

xi măng có sục khí, nhiệt độ nước được duy trì

trong khoảng 20-21ºC, pH giao động từ 8,0-8,5,

mỗi ngày thay 50% lượng nước trong bể, cho

ăn bằng thức ăn công nghiệp Áp dụng phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng ở cá của Dogiel (1929; trích dẫn bởi Anon., 1964), Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007), Đỗ Thị Hòa vá cộng sự (2004), Võ Thế Dũng và cộng sự (2012a,b)

Trang 28

3 Xử lý số liệu

- Tính tỷ lệ nhiễm (TLN):

Trong đó: A% là TLN, N1 là số cá bị nhiễm,

N là số cá kiểm tra.

- Cường độ nhiễm trung bình (CĐNTB):

Trong đó: + Đối với các ký sinh trùng

Cera-tomyxa sp.: C (cường độ nhiễm trung bình) được

tính cho số ký sinh trùng trên mỗi thị trường kính

40 quan sát ngẫu nhiên ở các tiêu bản của các cá thể

vật chủ bị nhiễm Quan sát ngẫu nhiên 10 thị trường

kính 40 trên mỗi cá thể vật chủ bị nhiễm, và đếm số

cá thể ký sinh trùng trên các thị trường kính này P

là tổng số trùng đếm được T là tổng số thị trường

quan sát ngẫu nhiên trên các cá thể vật chủ bị nhiễm

+ Đối với Trichodina nigra, Ichthyophthirius

multifi liis, Gyrodactylus sp., Neoergasilus sp.:

C (cường độ nhiễm trung bình) được tính cho

số ký sinh trùng trung bình trên 1 lam kính đối với số lam kính (T) được quan sát từ các cá thể

cá bị nhiễm P là tổng số trùng trên tất cả các lam kính có ký sinh trùng này

- So sánh thống kê: + Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên cá tầm Nga và cá tầm Xiberi được so sánh thống kê bằng Chisquare, sử dụng phần mềm EpiInfo, mức ý nghĩa P = 0,05

+ Cường độ nhiễm ký sinh trùng trên cá tầm Nga và cá tầm Xiberi được so sánh thống

kê bằng Mann-Whitney U test, thực hiện bằng phần mềm Stata 9.0

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1 Kết quả nghiên cứu thành phần và mức

độ nhiễm ký sinh trùng ở cá tầm nuôi ao và

cá tầm nuôi lồng

Bảng 2: Thành phần, tỷ lệ và cường độ nhiễm ký sinh trùng ở cá tầm nuôi ao

(Ghi chú: Số liệu cùng hàng có chữ cái hoặc số mũ giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa thống kê, và ngược lại)

Bảng 2 cho thấy, thành phần loài ký sinh

trùng ký sinh ở cá tầm nuôi ao không nhiều

và hoàn toàn giống nhau giữa cá tầm Nga và

cá tầm Xiberi (Cùng có 03 loài T nigra, I

multifi liis, và Gyrodactylus sp.) Tỷ lệ nhiễm

dao động từ 5,3-25,3% Cường độ nhiễm khá

thấp, ví dụ T nigra chỉ có 1,8-7,8 trùng/lam

kính, hay Gyrodactylus sp chỉ từ 1,5-2,2

trùng/lam kính So sánh thống kê cho thấy, tỷ

lệ nhiễm khác nhau không có ý nghĩa thống

kê ở cả 03 loài ký sinh trùng bắt gặp trên 02

loài cá Cường độ nhiễm của I multifi liis và Gyrodactylus sp khác nhau không có ý nghĩa thống kê, nhưng cường độ nhiễm T nigra ở cá

tầm Xiberi cao hơn có ý nghĩa thống kê so với cường độ nhiễm ở cá tầm Nga

Bảng 3: Thành phần, tỷ lệ và cường độ nhiễm ký sinh trùng ở cá tầm nuôi lồng

(Ghi chú: * là trùng/TTK Số liệu cùng hàng có chữ cái hoặc số mũ giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa thống kê, và ngược lại)

Trang 29

Bảng 3 cho thấy, cá tầm Xiberi nuôi lồng

nhiễm 05 loài ký sinh trùng (T nigra, I

mul-tifi liis, Gyrodactylus sp., Ceratomyxa sp và

Neoergasilus sp.), cá tầm Nga nhiễm 02 loài

ký sinh trùng (T nigra, I multifi liis) Trong 5

loài ký sinh trùng được tìm thấy ở cá lồng, có

03 loài giống với ký sinh trùng bắt gặp trên cá

tầm ao là T nigra, I multifi liis, và

Gyrodacty-lus sp., có 02 loài khác là Ceratomyxa sp và

Neoergasilus sp Nhìn chung thành phần loài

ký sinh trùng ở cá tầm nuôi lồng không nhiều,

tỷ lệ nhiễm dao động từ 2,1% (Neoergasilus sp

ở cá tầm Xiberi) đến 23,9% (T nigra ở cá tầm

Xiberi), và cường độ nhiễm dao động từ 1 – 7,7

trùng/lam kính ở các ngoại ký sinh trùng và 2,5

trùng/TTK đối với Ceratomyxa sp ở cá tầm

Xiberi So sánh thống kê cho thấy, tỷ lệ nhiễm

T nigra và I multifi liis ở cá tầm Nga và cá tầm

Xiberi khác nhau không có ý nghĩa thống kê

Cường độ nhiễm T nigra khác nhau có ý nghĩa

thống kê, nhưng cường độ nhiễm I multifi liis

khác nhau không có ý nghĩa thống kê giữa cá

tầm Nga và cá tầm Xiberi

2.Thảo luận

Cá tầm ở Lâm Đồng được nuôi trong ao

nước chảy hoặc trong các lồng đặt trong các hồ

chứa, môi trường nuôi trong sạch, mật độ nuôi

thấp, cá được cho ăn bằng thức ăn công nghiệp

nên khả năng bị nhiễm ký sinh trùng không cao

và ít có nguy cơ nhiễm ký sinh trùng nội ký

sinh Vì thế trong nghiên cứu này chỉ bắt gặp

01 loài nội ký sinh là Ceratomyxa sp., nhiều

khả năng có từ con giống (Võ Thế Dũng và Võ

Thị Dung, 2018) Ceratomyxa là giống ký sinh

trùng có số lượng loài rất lớn, ký sinh ở nhiều

loài cá khác nhau, bao gồm cả cá nước

mặn-lợ như các loài cá mú (Võ Thế Dũng và cộng

sự, 2012b; Đỗ Thị Hòa và cộng sự, 2004), cá

nước ngọt như cá hồi (Võ Thế Dũng và Võ Thị

Dung, 2018) Hầu hết các công trình nghiên

cứu trước đây mới chỉ thông báo bắt gặp các

loài thuộc giống ký sinh trùng này mà chưa

đề cập đến tác hại của chúng; gần đây mới

bắt đầu có nghiên cứu đề cập đến khả năng

gây hại của ký sinh trùng này đến cá (Võ Thế

Dũng và Võ Thị Dung, 2018)

Trùng bánh xe (Trichodina nigra):

Tricho-dina là giống ký sinh trùng có số lượng loài khá

lớn, trên 170 loài đã được phát hiện và mô tả (Lom and Dyková, 1992), các loài thuộc giống này ký sinh trên nhiều loài thủy sản khác nhau,

ở các loại thủy vực từ nước ngọt (Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007); bao gồm cả cá nước lạnh như cá hồi (Võ Thế Dũng và Võ Thị Dung, 2018), lợ và mặn (Võ Thế Dũng, 2010; Võ Thế Dũng và cộng sự, 2005) Nhiều loài thuộc

giống Trichodina có thể gây bệnh nguy hiểm

cho cá nuôi (Đỗ Thị Hòa và cộng sự, 2004) Mức độ nhiễm ký sinh trùng này ở cá không chỉ liên quan đến ký chủ mà có sự liên quan chặt chẽ đến hàm lượng các yếu tố như nitrite, nitrate, phosphate, oxy và nhiệt độ nước (Ogut

ương trong bể với tỷ lệ nhiễm từ 10,0-20,0%

và cá giống ương hai mươi ngày trong ao đất

có tỷ lệ nhiễm từ 10,0-46,7% Popielarczyk và

Kolman (2013) đã tìm thấy Trichodina sp., từ

cá tầm đại tây dương (Acipenser oxyrinchus oxyrinchus (Mitchill, 1815)) nuôi ao ở Ba Lan,

với tỷ lệ nhiễm 100,0%, cường độ nhiễm tương ứng là 13,6

Trùng quả dưa (I multifi liis): bắt gặp ký

sinh ở nhiều loài cá nước ngọt ở nhiều khu vực trên thế giới; ở Việt Nam loài ký sinh trùng này cũng được bắt gặp ở nhiều loài cá khác

nhau, như cá diếc (Carassius auratus auratus)

(Võ Thế Dũng và cộng sự, 2016), cá chép, cá

mè, cá trôi, cá rô phi (Hà Ký và Bùi Quang

Tề, 2007), chúng có thể gây bệnh nguy hiểm cho nhiều loài cá nuôi (Đỗ Thị Hòa và cộng sự,

2004) Cá tầm nuôi ở Nga cũng nhiễm với I multifi liis nhưng tỷ lệ và cường độ thấp và hầu

như chưa đến mức gây bệnh cho cá (Ivanova

và cộng sự, 1993)

Sán đơn chủ (Gyrodactylus sp.): Sán đơn

chủ là giống sán có thành phần loài phong phú, chúng phân bố ở cả nước ngọt, lợ và mặn ở hầu hết các khu vực trên thế giới (Võ Thế Dũng,

2010) Gyrodactylus là giống sán đẻ con, nên

phát triển nhanh và có thể dễ dàng gây nên

Trang 30

dịch bệnh nguy hiểm cho cá hồi giống (Võ Thế

Dũng và cộng sự, 2014), Hà Ký và Bùi Quang

Tề (2007) công bố bắt gặp 9 loài thuộc giống

Gyrodactylus ký sinh ở một số loài cá nước

ngọt Việt Nam Bauer và cộng sự (2002) khi

tổng kết về ký sinh trùng của cá tầm ở Nga cho

biết, sán đơn chủ bắt gặp khá thường xuyên ở

cá tầm, giống sán phổ biến nhất là Nitzschia

và loài thường gặp nhất là Nitzschia sturionis

Abildgaard 1794 Popielarczyk và Kolman

(2013) đã tìm thấy Gyrodactylus sp từ cá tầm

đại tây dương (Acipenser oxyrinchus

oxyrin-chus (Mitchill, 1815)) nuôi ao ở Ba Lan, với

tỷ lệ nhiễm là 27,2% và cường độ nhiễm 0,3

Giáp xác Neoergasilus sp.: Chưa có nhiều

nghiên cứu về các loài giáp xác thuộc giống

Neoergasilus ký sinh Ở Việt Nam, mới chỉ có

02 loài được công bố bắt gặp ở cá, gồm

Neoer-gasilus japonicas (ký sinh ở cá chép và cá mè

hoa) và N longispinosus (ký sinh ở cá diếc, cá

trôi và cá trắm cỏ) (Hà Ký và Bùi Quang Tề,

2007) Tuy nhiên công trình này cũng chưa

nói rõ khả năng gây hại của loài giáp xác này

đối với loài cá bị ký sinh Đối với cá tầm, chỉ

bắt gặp một cá thể Neoergasilus sp trên cá

tầm Xiberi nuôi lồng, chứng tỏ khả năng gây

hại của loài này đối với cá tầm là không lớn

IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 Kết luận

Thành phần ký sinh trùng ở cá tầm Nga và

cá tầm Xiberi nuôi ao tại Lâm Đồng giống nhau, gồm 03 loài T nigra, I multifi liis, và Gyrodactylus sp Tỷ lệ nhiễm thấp, dao động

từ 5,3-25,3%, cường độ nhiễm dao động từ

1,5 trùng/lam kính (Gyrodactylus sp ở cá tầm

Nga) đến 7,8 trùng/lam kính (T nigra ở cá tầm Xiberi)

Thành phần ký sinh trùng ở cá tầm Nga

và cá tầm Xiberi nuôi lồng khác nhau, bắt

gặp 05 loài ký sinh trùng, gồm T nigra, I multifi liis, Gyrodactylus sp., Ceratomyxa sp

và Neoergasilus sp ở cá tầm Xiberi, và 02 loài ký sinh trùng, gồm T nigra, I multifi liis

cá tầm Nga nuôi lồng

2 Kiến nghị

Tiếp tục nghiên cứu để định loại các loài

ký sinh trùng ký sinh ở cá tầm, và thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu về bệnh và các biện pháp phòng trị bệnh do ký sinh trùng gây

ra để hỗ trợ sản xuất hiệu quả các loài cá tầm

ở Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Võ Thế Dũng và Võ Thị Dung, 2018 Ký sinh trùng ký sinh ở cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss Walbaum,

1792) nuôi thương phẩm tại Lâm Đồng Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 14/2018: 65-69

2 Võ Thế Dũng và Võ Thị Dung, 2016 Nghiên cứu bệnh xuất huyết trên cá tầm Nga giống (Acipenser

guldenstaedtii) tại Lâm Đồng và đề xuất biện pháp phòng trị Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

số 5/2016: 87-91

3 Võ Thế Dũng, Nguyễn Nhất Duy, Võ Thị Dung, Nguyễn Nguyễn Thành Nhơn, 2016 Nguyên sinh động vật

ký sinh trên cá diếc (Carassius auratus auratus (Linnaeus, 1758)) thu tại Phú Yên Kỷ yếu Hội nghị Ký sinh

trùng học toàn Quốc lần thứ 43 năm 2016, Tp Ban Mê Thuột - Đắk Lắc, trang: 43-51

4 Võ Võ Thế Dũng và Võ Thị Dung, 2014 Kết quả nghiên cứu bệnh xuất huyết, lở loét do vi khuẩn gây ra ở

cá tầm nuôi thương phẩm tại Lâm Đồng Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số 23/2014: 99-105

5 Võ Thế Dũng, Võ Thị Dung, Hòang Ngọc Hồi, Đinh Thị Thu Thùy, 2014 Nghiên cứu một số ký sinh trùng

gây bệnh ở cá hồi vân (Onchorhynchus mykiss) giống tại Lâm Đồng Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông

thôn, số 6/2014: 69-73

Trang 31

6 Võ Thế Dũng, 2012 Quy hoạch phát triển nuôi cá nước lạnh trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020 Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản III

7 Võ Thế Dũng, Võ Thị Dung, Nguyễn Nguyễn Thành Nhơn, Lê Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Hoàn, Nguyễn Thị Hồng Tuyên, Nguyễn Viết Thùy và Nguyễn Trọng Lực, 2012a Nghiên cứu tìm hiểu tác nhân gây bệnh là

ký sinh trùng, nấm và vi khuẩn trên cá hồi và cá tầm nuôi tại Lâm Đồng Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III

8 Võ Thế Dũng, Glenn Allan Bristow, Nguyễn Hữu Dũng, Võ Thị Dung và Nguyễn Nguyễn Thành Nhơn, 2012b Ký sinh trùng cá mú và cá chẽm ở Việt Nam Nhà xuất bản Nông nghiệp, ISBN: 978-604-60-0543-8

9 Võ Thế Dũng, Trần Thị Bạch Dương, 2011 Nghiên cứu tác nhân gây bệnh trên cá tầm (Acipencer baeri) và

cá hồi (Oncorhynchus mykiss) trong hệ thống ao nuôi công nghiệp Tuyển tập báo cáo Hội nghị Khoa học Thuỷ

sản toàn Quốc năm 2011, Nhà xuất bản Nông nghiệp: 196-200

10 Võ Thế Dũng, Võ Thị Dung, Nguyễn Thị Hồng Tuyên, Nguyễn Viết Thùy và Lê Phước Thuần, 2011

Nghiên cứu một số tác nhân có khả năng gây bệnh xuất huyết lở loét ở cá tầm (Acipenser gueldenstaidtii và

A baeri) nuôi ở Lâm Đồng Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Số 23/2011: 74-79

11 Võ Thế Dũng, 2010 Động vật ký sinh ở cá mú thuộc giống Epinephelus Luận án tiến sĩ sinh học Thư viện

Khoa học và công nghệ Quốc gia- Tp Hồ Chí Minh

12 Võ Thế Dũng, Bristow G A., Nguyễn Hữu Dũng, Võ Thị Dung và Nguyễn Thị Thanh Thùy (2005), “Thành

phần ĐVKS ở một số loài cá mú thuộc giống Epinephelus ở khu vực Khánh Hòa”, Tạp chí Khoa học và Công

15 Anon (1964), “Redogörelse för den i Sovjetunuionen använda för s.k fullständig parasitologisk

under-sökning av fi sk”, Tiedoksianto Information, 1(1): 8-11.

16 Barazi M.S., Mokhayer B., Masoumian M., Shenavar M.A., Jalilpour J., Masoumzadeh M., and Alizadeh

M., 2010 Parasitic infection among larvae and fi ngerlings of the Persian Sturgeon (Acipenser persicus) in

Vniro tanks and earthen ponds Iranian Journal of Fisheries Science, 9(3): 342-351

17 Bauer O.N., Pugachev O.N and Voronin V.N., 2002 Study of parasites and diseases of sturgeons in Russia:

a review Journal of Applied Ichthyology, 18: 420-429

18 Ivanova, N S.; Golovina, V A.; Golovin, P P., 1993 Parasites and diseases of sturgeons artifi cially reared

in the Volga-Caspian and Azov basins Fish Manage Ser Aquacult 2: 1–34

19 Lom J., and Dyková I., 1992 Protozoan Parasites of Fishes Developments in Aquaculture and Fisheries science, Volume 26, Elsevier Science Publishers B V Netherland

20 Ogut H and Palm H W., 2005 Seasonal dynamics of Trichodina spp on whiting (Merlangius merlangus)

in relation to organic pollution on the eastern Black Sea coast of Turkey Parasitology Research, 96(2): 153

149-21 Popielarczyk R., Kolman R., 2013 Preliminary analysis of ectoparasites of the sturgeon Acipenser chus oxyrinchus (Mitchill, 1815) originating from different water habitats Annals of Parasitology 2013, 59(3): 139–141

Trang 32

oxyrin-THÔNG BÁO KHOA HỌC

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG VẬT LIỆU KẾT CẦU SANDWICH

INOX-FOAM-INOX TRONG NGÀNH ĐĨNG TÀU

Nguyễn Văn Hân¹

Ngày nhận bài: 15/1/2018; Ngày phản biện thơng qua: 23/6/2018; Ngày duyệt đăng: 23/9/2018

TĨM TẮT

Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu thực nghiệm cơ tính (chỉ xét về khả năng chịu lực uốn và lực cắt) của vật liệu sandwich kết cấu inox – foam – inox (I-F-I) Từ kết quả thực nghiệm đĩ tiến hành phân tích, đánh giá khả năng ứng dụng kết cấu I-F-I trong ngành cơng nghiệp đĩng tàu đặc biệt là tàu du lịch.

Từ khĩa: Inox, foam.

ABSTRACT

This paper presents an investigation of the mechanical characteristics of the sandwich material cluded stainless steel - foam – stainless steel (I-F-I) Base on the achieved results, the author analyzed and evaluated the applicability of structure I-F-I to the shipbuilding industry, especially cruise ships.

Keywords: Stainless steel, foam

Hình 1 Kết cấu Inox – Foam – Inox

1, 3 –lớp inox (lớp da); 2 – lớp Foam

¹ Khoa Cơ khí, Trường Đại học Nha Trang

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Thực tế hiện nay, việc sử dụng các kết cấu

dạng Sandwich trong đĩng tàu thủy cũng đã

được nhiều nước tiên tiến trên thế giới nghiên

cứu và ứng dụng từ khá lâu Phổ biến nhất là

kết cấu gồm ba lớp vật liệu nằm sát và liên kết

bền chặt với nhau, thuật ngữ tiếng Anh là kết

cấu kiểu Sandwich hiểu theo nghĩa là kết cấu

gồm 3 lớp, hai lớp ngồi cùng được gọi là lá

mỏng, gồm nhiều lớp mỏng, cĩ đặc tính chịu

kéo, chịu nén tốt, bằng vật liệu Composite với

lá mỏng trong cùng cĩ kích cỡ bằng lớp đầu

tiên, kết cấu vật liệu như lớp ngồi Lớp giữa là

vật liệu độn để tăng độ cứng tấm chiếm khơng

gian đáng kể, cĩ đặc tính cơ học đáng quý là là

khả năng chịu nén cao Vật liệu độn cĩ tỉ trọng

riêng nhỏ, độ bền cơ học thấp, khả năng liên

kết hai lớp da Lớp vật liệu độn khơng chịu kéo

nén nhưng cĩ ưu điểm duy nhất là chuyển tải

trọng từ lớp ngồi bên này sang lớp bìa bên kia,

hiểu theo nghĩa cơ học là chịu lực cắt

Theo [1] ta cĩ Wx = bh²/6, Wx – momen chống uốn, b – chiều rộng của mẫu, h – chiều dày của mẫu, nếu h càng lớn thì momen chống uốn càng lớn, với vật liệu kết cấu IFI chiều dày

h được tăng lên nhiều lần nhờ lớp foam ở giữa, vật liệu foam giá thành rẻ, nhẹ, cách âm cách nhiệt và khử rung động tốt Hơn nữa ứng suất lớn nhất lại rơi vào hai lớp da bằng inox, vật liệu inox cĩ cơ tính cao, chống ăn mịn tốt phù hợp làm việc trong mơi trường nước mặn, dễ tạo hình, dễ chế tạo, bề mặt trơn nên ma sát thấp sức cản thấp Kết cấu IFI này tận dụng tốt được ưu điểm của hai loại vật liệu đĩ chính là

lý do lựa chon vật liệu này để nghiên cứu

Trang 33

Bảng 1 So sánh độ bền của inox với vật liệu khác [5]

Hình 2: Biều đồ so sánh độ bền của vật liệu

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Vật liệu nghiên cứu:

1.1 Inox

Thép không gỉ, hay còn gọi là inox (từ

gốc tiếng Pháp: inoxydable) là một loại thép

hợp kim có chứa Cr (với hàm lượng Cr tối

thiếu là 10,5% khối lượng) Nếu các loại thép

thông thường khi tiếp xúc với các tác nhân

oxy hóa (như không khí, độ ẩm .) sẽ tạo

thành gỉ sắt và ăn mòn vào lớp vật liệu bên trong, thì trong thép không gỉ, khi hàm lượng

Cr đủ cao, trên bề mặt nó sẽ hình thành một lớp màng thụ động là oxit crom có tác dụng ngăn cản quá trình tạo gỉ và ăn mòn vào lớp vật liệu bên trong khiến cho bề mặt nó luôn tạo cảm giác sáng bóng

Nhờ những đặc tính nổi bật, ngày nay, thép không gỉ được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp, y tế, đời sống

Từ số liệu ở Bảng 1 ta vẽ được đồ thị so sánh độ bền uốn của các loại vật liệu

1.2 Foam [4]

Foam là Nhựa tổng hợp dạng bọt cứng,

được tạo thành từ hai thành phần hóa học

chính Polyol & Isocyanate gọi tắt là chất A

và chất B, để đạt được độ cứng cũng như tỉ

trọng ở mỗi dự án, hai loại hóa chất này phải

tuân theo tỉ lệ pha trộn nhất định

Sử dụng tốt nhất: Công nghiệp đóng tàu,

công nghiệp lạnh như tấm panel kho lạnh, nhà

máy bia, các bồn và đường ống lạnh vvv…

Tỉ trọng: 22 – 200 (kg/m³)

Khả năng chịu nhiệt: - 60ºC – 80ºC

Chịu nén cao: 180 - 250 kPa

Không thấm nước: < 3%

2 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong đề tài là kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu

lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm, trên cơ

sở chế tạo và thử nghiệm xác định cơ tính của kết cấu vật liệu đề xuất và ứng dụng các thông

số vật liệu đã xác định trong tính toán độ bền của một mẫu tàu cụ thể nhằm mục đích đánh giá khả năng sử dụng kết cấu vật liệu mới này trong chế tạo các loại tàu du lịch cỡ nhỏ

2.1 Chế tạo mẫu thử cơ tính của kết cấu IFI

2.1.1 Các tiêu chuẩn mẫu thử

Mẫu thử được thiết kế và chế tạo theo các TCVN, mẫu thử kéo kim loại theo TCVN

Trang 34

Hình 3 Mẫu thử

Bảng 2: Các kích thước khảo sát

Bảng 3: Cớ tính của Nhôm

Bảng 4: Cơ tính của hai da Inox

197 – 2002, mẫu thử uốn kim loại theo

TCVN 198-2008 Để thuận tiện so sánh các

mẫu thử uốn của nhôm, inox, foam và cả kết

cấu sandwich inox-foam-inox sẽ cùng kích

thước chiều rộng và chiều dài với mẫu thử

inox (Hình 3), chỉ thay đổi kích thước chiều cao(bề dày) của mẫu

Mẫu thử được chế tạo gồm 3 lớp, foam-inox, kích thước các lớp inox và foam trong các mẫu được thay đổi theo Bảng 2

Inox-2.1.2 Máy thử mẫu: Máy kéo nén Instron model

3360 do Mỹ sản xuất có công suất 10 kN

2.1.3 Chế tạo mẫu thử: Tiến hành cắt nhôm,

inox có kích thước theo hình vẽ 3 chiều dài 200

mm, chiều rộng 15 mm, chiều dày của nhôm là

2 mm, và 3 mm, chiều dày của inox theo Bảng

2, số lượng mẫu thử mỗi mẫu thử 4 lần để lấy trung bình Sau khi cắt xong mẫu ta tiến hành đúc kết cấu IFI (Hình 1) Tỷ lệ pha trộn Polyol

& Isocyanate để tạo foam là 1,1:1

1.2 Cơ tính của hai da Inox

2.2 Thử mẫu và xử lý số liệu thực nghiệm:

Chuẩn bị xong mẫu ta tiên hành đo lực

cắt lớn nhất của các mẫu, khởi động máy đo,

đặt khoảng các hai đe là 120 mm, đặt đơn vị

chiều dài là milimet, đơn vị lực là Niuton

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1 Các kết quả thử nghiệm

1.1 Cơ tính của Nhôm

Trang 35

Bảng 5: Cơ tính của foam

Bảng 6: Lực cắt lớn nhất của kết cấu

1.3 Cơ tính của foam

1.4 Cơ tính của kết cấu

Ứng suất uốn (ϭmax , N/mm²)

Độ bền uốn được xác định theo công thức (theo TCVN 6282 – 2003):

Trong đó: F – Lực uốn lớn nhất lớn nhất (N); l - Chiều dài đo được (mm)

b - Chiều rộng của mẫu thử (mm); t - Chiều dày của mẫu thử (mm)

Trang 36

Hình 4 Biểu đồ cường độ chịu lực cắt lớn nhất của kết cấu vật liệu

1.5 Biểu đồ cường độ chịu lực cắt lớn nhất của kết cấu vật liệu

2 Thảo luận

Để đành giá khả năng sử dụng kết cấu vật

liệu ta phải gắn mẫu kết cấu vật liệu đó với

một mẫu tàu có sẵn, và khí khảo sát độ bền

thân tàu ta chon một mẫu tàu nhôm đã được

đăng kiểm cấp phép lưu hành, mẫu được

chọn là mẫu tàu nhôm dài 4,56 m, rộng 1,55

m, tải 6 người, chiều dày của lớp nhôm đáy

là 2 mm, theo bảng 1 độ bền uốn của nhôm

là 41,5 kg/mm², độ bền uốn của inox là 89,72

kg/mm² gấp hơn hai lần của nhôm, điều đó

cho thấy để có sức bền uốn tương đương thì

chiều dày của nhôm phải gấp 2 lần của inox,

Từ các đồ thị trên hình 4 có thể rút ra được

các kết luận sau:

- Lớp foam có ảnh hưởng khá lớn đến

khả năng chịu uốn của kết cấu IFI, với giá

trị lực cắt lớn nhất tăng khá nhanh khi tăng

chiều dày lớp foam Ví dụ khi thử nghiệm kết

cấu vật liệu IFI với hai tấm inox dày 1,0 mm

nhận thấy giá trị lực uốn lớn nhất là 116 N

(đường vàng trên đồ thị)

- Khi có lớp foam dày 23 mm, giá trị lực

cắt lớn nhất tăng lên 270,5 N, có lớp foam

dày 42 mm thì giá trị lực cắt lớn nhất tăng lên

379,65 N Còn nều sử dụng tấm inox chiều

dày 0,5 mm có lớp foam ở giữa dày 42 mm thì giá trị của lực uốn lớn nhất lúc này bằng 190.46 N gần bằng với trường hợp sử dụng hai tâm inox dày 1,2 mm không có lớp foam ở giữa với giá trị lực uốn lớn nhất là 197,47 N

- Trên đồ thị này cũng cho thấy, với các tấm inox có chiều dày càng lớn thì khi tăng chiều dày lớp foam, cơ tính tăng gần như tuyến tính

- Cơ tính rất ít tăng trong phạm vi chiều dày lớp foam từ (23 ÷ 28) mm

IV KẾT LUẬN

1 Kết luận:

Kết quả nghiên cứu thử nghiệm cơ tính của vật liệu thấy vật liệu sandwich kết cấu inox-foam-inox đủ bền và có khả năng ứng dụng trong ngành đóng tàu đặc biết là tàu nhỏ phục vụ du lịch với những ưu điểm vượt trội như độ chống ăn mòn trong nước mặn cao, công nghệ chế tạo không phức tạp, cơ tính tốt, giá thành rẻ hơn so với vật liệu nhôm đặc biệt là kết cầu này có lớp foam ở giữa nên khả năng chống ồn giảm rung động rất tốt

2 Kiến nghị

Nghiên cứu công nghệ đóng tàu nhỏ phục

vụ du lịch bằng kết cấu vật liệu mới IFI

Trang 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 PGS.TS Đặng Viết Cương, Sức bền vật liệu, NXB Khoa học kỹ thuật, năm 2008

2 Tiêu chuân Việt Nam mẫu thử kéo kim loại theo TCVN 197 – 2002, mẫu thử uốn kim loại theo TCVN 198-2008, TCVN 6282 – 2003, TCVN 6282 – 2003

3 www.euro-inox.org/pdf/map/Tables_TechnicalProperties_EN.pdf‎

4 http://www.bayercoatings.com

5 http://vientauthuy.com.vn/home/default.aspx

Trang 38

ẢNH HƯỞNG CỦA hCG VÀ LHRH-A LÊN ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH SẢN CÁ

DÌA (SIGANUS GUTTATUS)

EFFECTS OF hCG & LHRH-A ON REPRODUCTIVE PHYSIOLOGY IN GOLDEN RABBIT

FISH (SIGANUS GUTTATUS)

Phạm Quốc Hùng¹, Phạm Huy Trường², Nguyễn Văn An³

Ngày nhận bài: 14/8/2018; Ngày phản biện thơng qua: 10/9/2018; Ngày duyệt đăng: 28/9/2018

TĨM TẮT

Nghiên cứu được thực hiện trên 60 mẫu cá cái cĩ chiều dài và khối lượng tồn thân trung bình lần lượt

là 31,22 ± 2,28 cm và 606,67 ± 104,04 gram Thí nghiệm được bố trí bởi 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức 20 mẫu Nghiệm thức 1 (đối chứng) cá được tiêm nước muối sinh lý; nghiệm thức 2: cá được tiêm 1500 IU hCG/kg

cá cái và nghiệm thức 3: cá được tiêm 50 µg LHRH-A + 5mg DOM/kg cá cái Trước và sau khi tiêm 12 giờ và

24 giờ, cá được giải phẫu để thu buồng trứng, đánh giá mức độ thành thục và phân tích thành phần sinh hĩa Kết quả phân tích cho thấy, thành phần sinh hĩa của buồng trứng cá trước và sau khi tiêm cĩ sự thay đổi lớn về hàm lượng protein và lipid trong buồng trứng Sức sinh sản tuyệt đối dao động từ 420.632 đến 732.353 trứng/

cá cái Sức sinh sản tương đối dao động từ 826 đến 1221 trứng/g cá cái Kích thước nỗn bào ở giai đoạn chưa thành thục dao động từ 53 đến 148 µm và ở giai đoạn thành thục dao động từ 364 đến 371 µm.

Từ khĩa: Cá dìa, Siganus guttatus, thành phần sinh hĩa, trứng cá, LHRH-A, hCG

THÔNG BÁO KHOA HỌC

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Cá dìa (Siganus guttatus) hiện được nuơi

khá phổ biến tại các vùng đầm phá nước lợ cũng

như nuơi lồng trên biển ở nước ta Đây là lồi

cá biển cĩ giá trị kinh tế cao, thịt thơm ngon,

giàu dinh dưỡng [13] Tuy nhiên, con giống

vẫn cịn phụ thuộc vào khai thác tự nhiên [2]

Việc sản xuất giống cá dìa cịn gặp nhiều hạn

chế như tỷ lệ đẻ thấp, việc ương nuơi ấu trùng

gặp nhiều khĩ khăn, dẫn đến tỷ lệ sống của ấu

trùng khơng cao, khĩ đạt được kích thước cá giống Ở nước ta, nghiên cứu về sinh lý, nội tiết sinh sản và kích thích sinh sản trong điều kiện nuơi nhốt chưa được chú ý đầy đủ [12] Ngồi

ra, việc thử nghiệm các loại hormone hoặc chất kích thích sinh sản như hCG (human chorionic gonadotropin), não thùy thể, GnRHa và một

số chất khác lên sự phát triển buồng trứng và quá trình tích lũy nỗn hồng trên cá dìa chưa được thực hiện [1] Trước bối cảnh đĩ, chúng tơi thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của hCG

và LHRH-A đến một số đặc điểm sinh lý sinh

¹ Viện Nuơi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang

² Trung tâm Khuyến nơng Khánh Hịa

³ Trường Đại học Kiên Giang

Trang 39

sản của cá dìa cái, nhằm cung cấp dữ liệu khoa

học, góp phần hướng đến hoàn thiện quy trình

sinh sản nhân tạo và sản xuất giống

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đàn cá nghiên cứu

Đàn cá nghiên cứu có chiều dài và khối

lượng toàn thân trung bình lần lượt là 31,22 ±

2,28 cm và 606,67 ± 104,04 gram Cá bố mẹ

được thu gom từ các lồng bè nuôi trên biển

tại Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa (12° 52'

15"N, 108° 40' 33"E) sau đó được thuần dưỡng

10 ngày trong bể xi măng ở mật độ 6 con/m³

trước khi thí nghiệm Cá được cho ăn hàng

ngày bằng thức ăn công nghiệp cho cá biển với

thàn phần protein (42%), lipid (6%), tro (16%),

chất xơ (3%) và độ ẩm (11%) với tỷ lệ 2-3 %

trọng lượng thân Buồng trứng cá cái đang ở

giai đoạn tích lũy noãn hoàng Đàn cá được

lựa chọn để thí nghiệm đáp ứng các yêu cầu

như: khỏe mạnh, màu sắc tự nhiên, bơi lội linh

hoạt, không bị dị tật, dị hình, không có biểu

hiện bệnh

2 Bố trí thí nghiệm

Cá bố mẹ được nuôi trong bể xi măng ở mật

độ 3kg/m³ ở điều kiện môi trường thích hợp, như

nhiệt độ nước dao động 32ºC; độ mặn:

28-32‰; pH: 7,8-8,6 và oxy hòa tan (DO): 3,5-4,6

mg/l Thí nghiệm được bố trí với 3 nghiệm thức

Nghiệm thức 1: Đối chứng (tiêm nước muối

sinh lý)

Nghiệm thức 2: Tiêm 1500 IU hCG/kg cá cái

Nghiệm thức 3: Tiêm 50 µg LHRH-A +

5mg DOM/kg cá cái

Sau khi tiêm, cá được thả lại vào bể nuôi và

tiến hành thu mẫu sau các mốc thời gian 12 giờ

và 24 giờ Trong quá trình thí nghiệm cá không

được cho ăn Các yếu tố môi trường được duy

trì giống như trước khi tiêm hormone

3 Phương pháp thu và phân tích mẫu

Kích thước noãn bào được đo trên kính hiển

vi quang học có gắn trắc vi thị kính Thành

phần sinh hóa của trứng được phân tích tại Viện

Công nghệ Sinh học và Môi trường, trường Đại

học Nha Trang Sức sinh sản tuyệt đối là tổng

số trứng ở giai đoạn III-IV trong buồng trứng

cá cái Sức sinh sản tương đối là số lượng trứng

giai đoạn III-IV trong 1 gram khối lượng cá cái [10, 11] Trong nghiên cứu này, cá cái được xem là thành thục khi có một số dấu hiệu như bụng to tròn, mềm đều và lỗ sinh dục nở rộng kết hợp với quan sát buồng trứng sau khi mổ

cá Trong một vài trường hợp khi vuốt nhẹ ở bụng, trứng có thể chảy ra ngoài qua lỗ sinh dục Trước khi tiêm hormone, chúng tôi giải phẫu ngẫu nhiên 10 cá cái để đánh giá mực độ thành thục của buồng trứng, cũng như xác định một số đặc điểm sinh lý, sinh học sinh sản Sau khi cá được tiêm hormon, 12 giờ và sau 24 giờ, chúng tôi tiến hành giải phầu, đánh giá mức độ thành thục và phân tích thành phần sinh hóa của buồng trứng để so sánh với trước khi tiêm

4 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được trình bày dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn (Mean ± SD) Số liệu được xử lý sơ bộ bằng phần mềm Micro-soft Excel 2013 Ảnh hưởng của hormone hCG

và LHRH-A đến thành phần sinh hóa của trứng

cá được phân tích theo phương pháp phương sai một yếu tố (One-way ANOVA) và kiểm định Ducan với mức ý nghĩa P < 0,05 thông qua phần mềm SPSS version 18.0

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1 Sức sinh sản và kích thước noãn bào của đàn cá thí nghiệm

Sức sinh sản là một trong những chỉ tiêu sinh học sinh sản quan trọng Qua đó, chúng ta có thể ước tính số lượng trứng đẻ ra mỗi lần, từ

đó xây dựng kế hoạch sản xuất giống sát với thực tế và yêu cầu Kết quả xác định sức sinh sản của chúng tôi trên đàn cá cái có khối lượng dao động từ 440 đến 600 gram có kết quả thể hiện ở Bảng 1 Trong nghiên cứu này sức sinh sản tuyệt đối của cá dìa dao động từ 420.632 đến 732.353 trứng, tương ứng với sức sinh sản tương đối dao động từ 826 đến 1221 trứng/g cá cái Nghiên cứu của Yeldan và Avsar [14] trên

cá dìa Siganus rivulatus, chỉ ra rằng sức sinh

sản tuyệt đối trung bình là 434.761 trứng/cá cái.Các loài cá có kích thước noãn bào lớn thường có sức sinh sản nhỏ và ngược lại, những loài cá có sức sinh sản lớn thường có kích thước noãn bào nhỏ Sức sinh sản và kích thước noãn

Trang 40

bào còn phụ thuộc vào tập tính chăm sóc con

của cá bố mẹ [10, 11] Kết quả nghiên cứu của

chúng tôi về kích thước noãn bào qua các giai

đoạn phát triển được thể hiện ở Bảng 2 So với

các loài cá dìa khác cùng họ, đường kính trứng

thành thục của cá dìa Siganus rivulatus lớn hơn

cá dìa Siganus guttatus và trung bình đạt 440

μm [14] Cá dìa là loài thụ tinh ngoài, do đó trong môi trường tự nhiên có nhiều yếu tố bất lợi như nhiệt độ, dòng chảy, kẻ thù do vậy sức sinh sản của cá phải lớn để tăng tần xuất bắt gặp tinh trùng, tỷ lệ thụ tinh và duy trì giống loài đặc biệt đối với các loài cá không có tập tính chăm sóc trứng

Bảng 1: Sức sinh sản của đàn cá nghiên cứu theo khối lượng cá cái

Bảng 2: Kích thước noãn bào đàn cá thí nghiệm

2 Thành phần sinh hóa của trứng cá

Protein, ẩm, tro và lipid là các chỉ tiêu sinh

hóa căn bản phản ánh mức độ tích lũy dinh

dưỡng hay noãn hoàng trong tế bào trứng,

từ đó dự báo mức độ thành thục của cá [1]

Do đó việc xác định thành phần sinh hóa của trứng cá trong tuyến sinh dục là cần thiết Kết quả nghiên cứu được thể hiện ở Bảng 3 và 4

Bảng 3: Biến động thành phần sinh hóa trong buồng trứng cá dìa cái (giai đoạn IV)

sau khi tiêm 1500 IU hCG/kg cá cái

Các ký tự khác nhau trong cùng một cột cho thấy sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (p<0.05) (one-way ANOVA và Duncan´s post-hoc test).

Ngày đăng: 30/10/2020, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm