Tạp chí Khoa học Công nghệ Mỏ: Số 5/2019 trình bày các nội dung chính sau: Khai thác lò chợ không để lại trụ than bảo vệ lò chuẩn bị - kinh nghiệm trên thế giới và tiềm năng ứng dụng tại các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh, các giải pháp công nghệ đổ thải hợp lý đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái đối với các mỏ than khoáng sản Việt Nam, giải pháp kiểm soát phát thải khí mê tan trong khai thác than hầm lò ở Việt Nam,... Để nắm nội dung mời các bạn cùng tham khảo tạp chí.
Trang 1Kû niÖm 47 N¨m Ngµy thµnh lËp
24/10/1972 - 24/10/2019
Trang 2Viện Khoa học Công nghệ Mỏ
Số 3 Phan Đình Giót - Hà Nội
CÔNG NGHỆ KHAI THÁC HẦM LÒ Tác giả Trang
Khai thác lò chợ không để lại trụ than bảo vệ lò chuẩn bị - kinh nghiệm trên thế giới và tiềm năng ứng dụng tại các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh
ThS Đinh Văn Cường
TS Nguyễn Anh Tuấn PGS.TS Trần Văn Thanh
1
CÔNG NGHỆ KHAI THÁC LỘ THIÊN
Các giải pháp công nghệ đổ thải hợp lý đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái đối với các mỏ than khoáng sản Việt Nam
TS Lưu văn Thực,
CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
Đánh giá hiện trạng bảo vệ môi trường trong khai thác, tuyển quặng bauxit và sản xuất alumin tại Lâm Đồng và Đăk Nông
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và
đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho các trạm xử lý nước thải mỏ than thuộc TKV
Ths Nguyễn Tiến Dũng
TS Bùi Thanh Hoàng
TS Nguyễn Văn Hậu
27
Giải pháp kiểm soát phát thải khí
mê tan trong khai thác than hầm lò
ở Việt Nam
TS Nhữ Việt Tuấn,
TS Bùi Việt Hưng,
TS Nguyễn Minh Phiên
TS Đào Hồng QuảngThs Đoàn Ngọc CảnhThs Nguyễn Hải LongThs Đặng Văn Phôi
50
SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM VÀ HIỆU QUẢ
Nghiên cứu giải pháp xác định mòn dàn ống sinh hơi qua phần mềm mô phỏng Ansys Academic Research CFD nhằm dự báo nguy cơ bục đường ống để nâng cao hiệu quả vận hành lò hơi
TIN TRONG NGÀNH
Khoa học và công nghệ góp phần thúc đẩy sản xuất, nâng cao hiệu quả khai thác và chế biến than - khoáng sản; TKV: Hiệu quả cơ giới hoá trong khai thác lò chợ xiênchéo;
Trang 3KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ KHAI THÁC HẦM LÒ 1
Tóm tắt:
Với các lò chợ dài, tổn thất công nghệ phổ biến ở mức trên 20%, phần nhiều trong số đó nằm ở trụ bảo vệ các đường lò chuẩn bị (có trữ lượng bằng từ 12 ÷ 15% tổng trữ lượng huy động trong diện tích khai thác lò chợ) Vì vậy vấn đề đặt ra là cần thiết phải có giải pháp giảm tổn thất than tại các khu vực dự kiến áp dụng công nghệ lò chợ dài, đặc biệt là giải pháp cho phép khai thác tối đa trữ lượng than trong trụ bảo vệ lò chuẩn bị.
1 Đặt vấn đề
Theo Quy hoạch phát triển ngành than Việt
Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm
2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 (sau
đây gọi tắt là Quy hoạch 403), một trong các
mục tiêu chiến lược quan trong được đặt ra là
giảm tổn thất tài nguyên trong khai thác than
nói chung, khai thác hầm lò nói riêng Cụ thể là
“Phấn đấu đến năm 2020 giảm tỷ lệ tổn thất khai
thác bằng phương pháp hầm lò xuống khoảng
20% và dưới 20% sau năm 2020” [5].
Công nghệ khai thác đang áp dụng tại các
mỏ hầm lò hiện nay có thể được quy về hai dạng
chính là (1) gương lò ngắn (ngang nghiêng, dọc
vỉa phân tầng, buồng thượng, đào lò lấy than)
áp dụng cho vỉa than có góc dốc lớn (trên 45°)
hoặc tận thu tại các khu vực vỉa có điều kiện
phức tạp, nhỏ lẻ, phân tán; và (2) lò chợ dài
khấu theo phương vỉa, áp dụng cho các khu
vực vỉa có góc dốc đến 45° Thực tế, sản lượng
khai thác bằng công nghệ gương lò ngắn (tổn
thất công nghệ phổ biến từ 30÷40%, khó có giải
pháp điều chỉnh giảm) chỉ đóng góp khoảng 12
÷ 15% tổng sản lượng than hầm lò hàng năm
của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản
Việt Nam (TKV), phần còn lại được đảm nhiệm
bởi các lò chợ dài Tuy nhiên, ngay với các lò
chợ dài, tổn thất công nghệ cũng đang phổ biến
ở mức trên 20%, phần nhiều trong số đó nằm ở trụ bảo vệ các đường lò chuẩn bị (có trữ lượng bằng từ 12 ÷ 15% tổng trữ lượng huy động trong diện tích khai thác lò chợ) Qua đó có thể thấy,
để đạt được mục tiêu theo Quy hoạch 403, cần thiết phải có giải pháp giảm tổn thất than tại các khu vực dự kiến áp dụng công nghệ lò chợ dài, đặc biệt là giải pháp cho phép khai thác tối đa trữ lượng than trong trụ bảo vệ lò chuẩn bị
2 Các giải pháp công nghệ giảm tổn thất than trong trụ bảo vệ lò chuẩn bị
Sơ đồ chuẩn bị khai thác lò chợ dài đang được áp dụng tại các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh có thể khái quát là 121 Nghĩa là mỗi một
(1) lò chợ sẽ phải chi phí hai (2) đường lò (thông
gió, vận tải) và một (1) trụ than bảo vệ rộng từ
15 ÷ 18m để duy trì lò vận tải làm lò thông gió cho lò chợ kế tiếp Với chiều dài lò chợ dao động
từ 100 ÷ 150m, bình quân 120m, tỷ lệ tổn thất than để lại trong các trụ bảo vệ đường lò vận tải chiếm tương ứng 12 ÷ 15% tổng trữ lượng được huy động trong diện tích khai thác lò chợ, từ đó làm tăng mức độ tổn thất than, chi phí mét lò cũng như giá thành sản xuất
Để khắc phục tồn tại nêu trên của sơ đồ 121,
nhiều nước trên thế giới (Nga, Trung Quốc, Ba Lan, [3]) đã áp dụng thành công giải pháp sử dụng trụ nhân tạo thay thế trụ than bảo vệ lò chuẩn bị Theo đó, để đồng thời khai thác được
KHAI THÁC LÒ CHỢ KHÔNG ĐỂ LẠI TRỤ THAN BẢO VỆ LÒ CHUẨN
BỊ - KINH NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VÀ TIỀM NĂNG ỨNG DỤNG TẠI
CÁC MỎ HẦM LÒ VÙNG QUẢNG NINH
ThS Đinh Văn Cường
Viện Khoa học Công nghệ Mỏ - Vinacomin
TS Nguyễn Anh Tuấn
Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
PGS.TS Trần Văn Thanh
Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội
Biên tập: TS Đào Hồng Quảng
Trang 42 KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ KHAI THÁC HẦM LÒ
than trong trụ bảo vệ và duy trì lò vận tải làm
lò thông gió cho lò chợ phía dưới, trụ than sau
khai thác sẽ được thay thế bằng trụ nhân tạo
hình thành từ dải đá chèn, các cụm cột, cũi, vật
liệu hóa chất hoặc hỗn hợp vữa bê tông, Với
sơ đồ này, mỗi (1) lò chợ chỉ phải chi phí một
(1) đường lò chuẩn bị và một (1) trụ nhân tạo
thay thế trụ than (sơ đồ chuẩn bị và khai thác
kiểu này được khái quát là 111) Như vậy, so với
sơ đồ 121, sơ đồ kiểu 111 đã cho phép giảm
tổn thất than trong trụ bảo vệ và chi phí mét lò
chuẩn bị (giảm 01 đường lò) Tuy nhiên, sơ đồ
111 vẫn tồn tại nhược điểm là phải tiêu hao chi
phí không nhỏ cho công tác thi công trụ nhân
tạo (thiết bị, nguyên vật liệu, nhân công, …)
Minh họa cho sơ đồ kiểu 121 và 111 thể hiện
trong hình 1
Nhằm mục tiêu giải quyết triệt để các nhược
điểm của sơ đồ chuẩn bị kiểu 121, 111 nêu trên,
thời gian gần đây tại Trung Quốc đã nghiên cứu
và áp dụng thành công sơ đồ chuẩn bị khai thác
lò chợ không trụ bảo vệ (gọi tắt là 110) Với giải
pháp này, mỗi (1) lò chợ chỉ còn phải chi phí
a Sơ đồ chuẩn bị kiểu 121 b Sơ đồ chuẩn bị kiểu 111
Hình 1 Minh họa sơ đồ chuẩn bị lò chợ
kiểu 121 và 111
một (1) đường lò chuẩn bị và không (0) trụ than
bảo vệ Bản chất của giải pháp công nghệ này
là đường lò chuẩn bị của lò chợ đang khai thác
sẽ được duy trì mà không cần sự hỗ trợ của trụ than hay trụ bảo vệ nhân tạo Đường lò được duy trì bằng giải pháp tổng thể là thực hiện chủ
a Sơ đồ khai thác lò chợ chuẩn bị kiểu 110
b Sơ đồ nguyên lý bố trí vì neo cáp gia tăng khả năng mang tải của lò dọc vỉa và bố trí lỗ khoan cắt vách
Hình 2 Minh họa sơ đồ chuẩn bị và khai thác lò chợ kiểu 110
Trang 5KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ KHAI THÁC HẦM LÒ 3
động giảm tải áp lực lên đường lò, đồng thời
tăng cường khả năng mang tải của đường lò Cụ
thể, trong quá trình khai thác, lò dọc vỉa cần duy
trì sẽ được tăng khả năng mang tải bằng các vì
neo cáp ghim sâu vào vách cơ bản, chống tăng
cường đường lò bằng vì chống thủy lực dạng tổ
hợp hoặc vì đơn, và đồng thời dỡ tải áp lực mỏ
tác động lên lò chuẩn bị bằng khoan nổ mìn cắt
vách phạm vi hông lò giáp với phá hỏa Đây là
một bước tiến mới, hướng đi rất khả thi để giải
bài toán giảm tổn thất tài nguyên và phí mét lò
chuẩn bị phục vụ khai thác lò chợ, chi tiết thể
hiện trong hình 2
3 Giải pháp công nghệ khai thác lò chợ
không để trụ than bảo vệ lò chuẩn bị (phương
pháp 110)
Các điểm then chốt của công nghệ khai thác
không để lại trụ than bảo vệ lò chuẩn bị theo
phương pháp 110 nằm ở ba khâu chính là:
- (1) Tăng khả năng chịu tải của đường lò
chuẩn bị bằng kết cấu vì neo cáp để treo giữ
đá vách nóc lò chuẩn bị lên lớp đá vách cơ bản
bền vững
- (2) Xác định phạm vi cần dỡ tải và xây dựng
hộ chiếu khoan nổ mìn cắt vách
- (3) Chống tăng cường đường lò chuẩn bị và
cách ly ngăn đất đá phá hỏa tràn vào không gian đường lò được bảo vệ
Chi tiết nội dung các khâu công nghệ nêu trên như sau:
3.1 Tăng khả năng chịu tải của đường lò chuẩn bị bằng neo cáp
Việc xác định hộ chiếu và thi công neo cáp cho lò chuẩn bị cần bảo vệ được thực hiện tương tự công tác đào lò neo đang triển khai tại các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh Chiều dài, số lượng vì neo cáp tùy thuộc vào cấu trúc của đá vách khu vực thi công đường lò Điểm khác biệt
cơ bản là neo cáp tăng khả năng mang tải sẽ sử dụng bộ khóa neo đặc biệt, có độ linh hoạt lớn
để có thể hợp tác tốt hơn với tải trọng động đột ngột, cũng như các dịch chuyển biến dạng lớn của khối đất đá xung quanh lò chuẩn bị trong và sau khi điều khiển nổ mìn cắt vách (hình 3)
3.2 Xác định phạm vi cần dỡ tải và xây dựng hộ chiếu khoan nổ mìn cắt vách
* Xác định chiều cao đá vách cần nổ mìn dỡ tải
Chiều sâu đá vách cần điều khiển dỡ tải tùy thuộc vào cấu trúc địa chất của khu vực, đồng thời phải đảm bảo đá vách sau sập đổ lấp kín tối
đa không gian phá hỏa phía sau lò chợ giáp với
a- Cấu trúc bên ngoài của khóa neo; b – cấu trúc bên trong của khóa neo; c – khóa neo làm việc khi có
dịch chuyển biến dạng lớn Hình 3: Kết cấu của neo cáp sử dụng trong giải pháp không trụ bảo vệ
Trang 64 KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ KHAI THÁC HẦM LÒ
lò chuẩn bị Chiều sâu phạm vi đá vách cần điều
khiển có thể được xác định như sau [6]:
- Chiều sâu cắt vách tối thiểu (Hmin) được
- Chiều sâu cắt vách thiết kế (Hc) khống chế
trong giới hạn giữa chiều cao tối thiểu, tối đa
nêu trên, và được xác định theo công thức (hình
4)
Hình 4: Sơ đồ xác định chiều cao đá vách
cần nổ mìn dỡ tải
(3)
HG – Chiều cao đường lò chuẩn bị được bảo
k – hệ số nở rời của đá phá hỏa
* Xác định chiều sâu lỗ khoan cắt vách
Chiều sâu lỗ khoan cắt vách phụ thuộc vào
chiều cao đá vách cần dỡ tải và góc khoan so
với mặt phẳng nóc lò Theo kinh ngiệm tại Trung
Quốc [7], góc tạo giữa lỗ khoan và mặt phẳng
nóc lò nên được thiết kế nằm trong phạm vi từ
65° ÷ 80° Góc khoan được lựa chọn phải cân
đối đến góc dốc vỉa than và cấu trúc các tập đá
vách cần dỡ tải, sao cho góc khoan nằm trong giới hạn trên
Khi đã xác định được góc khoan phù hợp, chiều sâu lỗ khoan khi đó được lựa chọn theo công thức sau:
, m (4)Trong đó:
HC – Chiều cao gương khai thác lò chợ, m;
q - Góc khoan so với mặt phẳng nằm ngang, độ;
ko - hệ số kinh nghiệm, ko = 1,4 ÷ 1,8;
* Xây dựng hộ chiếu khoan nổ mìn cắt vách
- Xác định khoảng cách giữa các lỗ khoan cắt vách: Công tác nổ mìn được coi là đạt hiệu
quả khi đá vách ở phạm vi giữa các lỗ khoan sau nổ mìn sẽ giao thoa để tạo nên một vết cắt liền mạch dọc theo phương đường lò chuẩn bị Một số nghiên cứu [6, 7, 8] đã chỉ ra, khoảng cách hợp lý giữa hai lỗ khoan dao động từ 400 ÷ 500mm trong đá cứng, từ 500 ÷ 600mm trong đá mềm Lỗ khoan cắt vách thông thường sẽ nằm trong cả hai phạm vi này, nên cơ bản khoảng cách giữa hai lỗ khoan cắt vách được xác định
là 500mm
- Công tác nổ mìn cắt vách: Do lỗ khoan nổ
mìn cắt vách có chiều dài lớn (thường ≥ 5,0m), thuốc nổ trong lỗ khoan sẽ được nạp phân đoạn Để thuận lợi cho công tác nạp mìn và đảm bảo hiệu quả giao thoa giữa các lỗ khoan, thuốc
nổ và bua sẽ được nạp bên trong đường ống nhựa PVC có đường kính nhỏ hơn đường kính
lỗ khoan (bố trí thành nhiều đoạn ống ngắn, liên kết ren hoặc khớp nối để thuận tiện cho công tác vận chuyển và nạp mìn, nạp bua) Trên thân đường ống được gia công hai hàng lỗ đối diện nhau, dọc theo phương đường lò, các hàng lỗ này sẽ nằm trên một mặt phẳng, để hình thành đường biên giới giữa phạm vi đá vách nóc lò chuẩn bị và đá vách nóc lò chợ phạm vi cần dỡ tải Thuốc nổ để nổ mìn cắt vách có thể sử dụng loại an toàn đang được sử dụng tại các mỏ hầm
lò Với đường kính thỏi thuốc từ 27 ÷ 32mm, sử dụng loại ống PVC có đường kính trong 37mm, đường kính ngoài 42mm, khi đó đường kính
lỗ khoan cắt vách sẽ bằng khoảng 48mm Các loại máy khoan thi công neo tại các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh hoàn toàn đáp ứng yêu cầu Nguyên tắc nạp nổ mìn cắt vách và ví dụ thực tế thể hiện trong hình 5
Trang 7KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ KHAI THÁC HẦM LÒ 5
3.3 Chống tăng cường đường lò chuẩn
bị và cách ly đất đá phá
Phạm vi cần chống tăng cường của đường lò
chuẩn bị khi áp dụng giải pháp khai thác không
trụ bảo vệ bao gồm phạm vi chịu ảnh hưởng
của áp lực tựa trước gương lò chợ (hai hông
đều là than, đá nguyên khối chưa khai thác) và
sau gương lò chợ (một hông là đá phá hỏa, một
hông còn lại là than, đá nguyên khối) Chiều dài
cần chống tăng cường phụ thuộc vào diễn biến
áp lực mỏ và dịch động đường lò chuẩn bị cần
bảo vệ Theo nghiên cứu [6, 7, 8], phạm vi cần
chống tăng cường của lò chuẩn bị được chia
làm 04 khu vực:
- Khu vực I: phạm vi khoảng 20 ÷ 30m trước
gương lò chợ, đá vách bắt đầu dịch chuyển do chịu tác động của áp lực tựa từ gương khai thác
- Khu vực II: phạm vi từ mét thứ 0 ÷ mét 60 tình từ gương lò chợ về phá hỏa Ở phạm vi này
đá vách sập đổ, vỡ vụn điền lấp vào không gian
đã khai thác, cấu trúc của đá vách phạm vi sập
a Cấu trúc đường ống PVC phục vụ nạp mìn cho lỗ khoan cắt vách
b Mô hình cơ học của công nghệ nổ mìn định hướng cắt vách
c Lỗ khoan đơn d Dải lỗ khoan sau nổ e Bề mặt đá vách được cắt
Hình 5 Hộ chiếu nổ mìn lỗ khoan định hướng cắt vách dỡ tải áp lực
Trang 86 KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ KHAI THÁC HẦM LÒ
trạng thái cân bằng, kết thúc dịch chuyển
Như vậy có thể xác định, phạm vi đường lò
cần chống tăng cường là khoảng 180 ÷ 190m,
trong đó 20 ÷ 30m phía trước và 160m phía sau
gương lò chợ Vật liệu chống tăng cường có thể
sử dụng kết cấu vì thủy lực tổ hợp hoặc kết cấu
vì đơn-xà kim loại Đồng thời, để ngăn đất đá
tràn vào không gian đường lò, hông lò phía phá
hỏa phải được giữ bằng kết cấu chống giữ phù
hợp, có thể sử dụng vì thép kết hợp lưới Bên
cạnh đó, do đường lò giáp trực tiếp với phá hỏa,
nên trong trường hợp vỉa than khu vực áp dụng
có tính tự cháy, ảnh hưởng lớn của nước, hông
lò phía phá hỏa phải được phun bê tông hoặc
vật liệu khoáng hóa mỏ chuyên dụng, để làm
làm cứng và cách ly khu vực phá hỏa với không
gian đường lò chuẩn bị cần bảo vệ Chi tiết minh
họa thể hiện trong hình 6, hình 9
Một trong các đơn vị điển hình áp dụng thành
công giải pháp công nghệ 110 tại Trung Quốc có
thể kể đến mỏ Điểm Bình, tỉnh Sơn Tây [7], áp
dụng tại lò vận tải lò chợ 9100 thuộc vỉa than số
9, thuộc loại than bitum và than cốc Vỉa than có
cấu tạo địa chất đơn giản, thuộc loại vỉa chứa
khí lớn, chiều dày vỉa 3,1m, dốc 4° Đá vách có
cấu tạo phức tạp, gồm nhiều lớp đá có thành
phần thạch học khác nhau, vách trực tiếp là sét
kết dày trung bình 2,1m, vách cơ bản là cát kết
dày 6,1m, tiếp phía trên vách cơ bản lớp sét kết
dày 0,7m và vỉa than số 8 dày trung bình 2,4m
Lò chợ áp dụng nằm ở chiều sâu 225 ÷ 360m,
kích thước theo hướng dốc 220m, theo phương
1088m Trong đó, chiều dài đường lò vận tải áp
dụng giải pháp là 942m, được đào tiết diện hình
chữ nhật, rộng 5,0m, cao 3,1m, chống giữ bằng
neo cất dẻo cốt thép và neo cáp Chiều sâu lỗ
khoan cắt vách 9,0m, gia cường khả năng mang
tải lò chuẩn bị bằng 02 thanh neo cáp dài 13,3m
Kết quả quan trắc dịch động cho thấy, lò vận tải lò chợ 9100 có mức độ biến dạng lớn nhất theo chiều cao là 439mm (hạ nóc 186mm, bùng nền 253mm), theo chiều rộng là 330mm (hông phá hỏa giảm 201mm, hông phía trụ than giảm 129mm) Đường lò vận tải được bảo vệ thành công bằng giải pháp 110, đảm bảo kích thước yêu cầu để phục vụ cho lò chợ kế tiếp mà không phải đào lò mới Chi tiết thể hiện trong hình 7, hình 8
Ví dụ khác áp dụng thành công sơ đồ kiểu
110 tại Trung Quốc là mỏ Bạch Giảo, tỉnh Tứ Xuyên [6] Vị trí áp dụng tại lò vận tải lò chợ
2422, đào chống neo chất dẻo cốt thép kết hợp neo cáp, chiều rộng 4,2m, chiều cao 2,5m Vỉa than phạm vi áp dụng có chiều dày 2,1m, vách trực tiếp là sét kết dày 1,5m, phía trên là đá bột kết Chiều sâu khai thác 482m, chiều dài lò chợ theo hướng dốc 165m, chiều dài theo phương
lò vận tải áp dụng giải pháp 465m Chiều cao
đá vách được điều khiển dỡ tải là 5,0m, tăng khả năng mang tải lò chuẩn vị bằng 03 vì neo cáp dài 8,0m Kết quả áp dụng thực tế thể hiện trong hình 9
Từ những lợi ích to lớn về kinh tế, kỹ thuật đạt được, phương pháp khai thác lò chợ theo kiểu 110 ngày càng được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực khai thác than hầm lò ở Trung Quốc,
và đã trở thành cuộc cách mạng lần thứ 3 trong ngành khai mỏ than ở Trung Quốc [4]
4 Tiềm năng ứng dụng giải pháp 110 tại các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh
Về tiềm năng trữ lượng: Theo kết quả thực
hiện của đề tài [2], trữ lượng vỉa than dày trung bình (184.327 nghìn tấn), đến dày (280.080 nghìn tấn), thoải đến nghiêng được huy động vào khai thác theo 12 dự án mỏ hầm lò lớn vùng Quảng Ninh (Mạo Khê, Uông Bí, Vàng Danh) là
a.Tăng cường bằng vì tổ hợp b Tăng cường bằng vì đơn c Kết cấu cách ly đá phá hỏa
Hình 6 Ví dụ các giải pháp chống tăng cường lò chuẩn bị được bảo vệ
Trang 9KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ KHAI THÁC HẦM LÒ 7
khoảng 464.407 nghìn tấn, chiếm gần 74% tổng
trữ lượng (630.645 nghìn tấn - chỉ tính trong
phạm vi lò chợ, chi tiết thể hiện trong hình 10)
Đây là phạm vi trữ lượng dự kiến áp dụng công
nghệ lò chợ dài, bảo vệ lò dọc vỉa bằng trụ than
Nếu chỉ tạm tính bằng 12% trữ lượng huy động
trong diện tích khai thác lò chợ, trữ lượng than
để lại trong trụ bảo vệ đã là 55.729 nghìn tấn
(22.119 nghìn tấn vỉa dày trung bình, 33.610
nghìn tấn vỉa dày), tương đương tổng trữ lượng huy động của một mỏ hầm lò lớn Qua đó có thể thấy, tiềm năng trữ lượng để ứng dụng giải pháp
110 là rất rộng mở
Về khả năng kỹ thuật: Từ các giới thiệu về
phương pháp khai thác lò chợ kiểu 110 nêu trên cho thấy, các điểm mấu chốt của công nghệ
là chống giữ tăng cường lò chuẩn bị bằng các loại vì chống thủy lực, neo cáp, khoan nổ mìn
Hình 7 Thiết kế và thực tế thi công giải pháp 110 tại mỏ Điểm Bình
a- Vị trị cách gương lò chợ 100m; b- Cách gương lò 200m,c- Cách gương lò 300m;d - Cách gương lò 400m Hình 8 Một số hình ảnh thực tế đường lò vận tải lò chợ 9100 được bảo vệ bằng giải pháp 110
tại mỏ Điểm Bình
Trang 108 KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ KHAI THÁC HẦM LÒ
dỡ tải đá vách không yêu cầu phức tạp về thiết
bị cũng như kỹ thuật thi công Các mỏ hầm lò
vùng Quảng Ninh đã làm quen và áp dụng thành
công cơ giới hóa đồng bộ sử dụng giàn chống
tự hành từ năm 2005, công nghệ chống lò bằng
vì neo đã được triển khai đại trà tại hầu hết các
mỏ, do đó, việc thực hiện các khâu công nghệ
nêu trên của phương pháp 110 là hoàn toàn đáp
ứng yêu cầu
Dự kiến hiệu quả áp dụng: Cụ thể về hiệu
quả ứng dụng giải pháp phải được tính toán chi
tiết, đầy đủ các yếu tố đầu vào theo thiết kế cụ
thể Tuy nhiên, sơ bộ từ kinh nghiệm áp dụng tại
Trung Quốc cho thấy, triển khai giải pháp công
nghệ khai thác lò chợ không để trụ than bảo vệ
lò chuẩn bị sẽ cho phép mang lại một số hiệu
quả như sau:
- Giảm tổn thất do khai thác được thêm than
từ trụ bảo vệ (bằng 12 ÷ 15% sản lượng khai
thác lò chợ)
- Giảm chi phí mét lò chuẩn bị (giảm 01
đường lò, tương đương 50% chi phí)
- Giảm chi phí khấu hao mở mỏ, hạ tầng do khai thác được thêm than so với dự kiến của
dự án Bên cạnh đó, theo quy định hiện hành, sản lượng than được khai thác từ trụ bảo vệ lò chuẩn bị (đã được xác định là tổn thất trong dự
án đầu tư) sẽ không phải chịu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản cũng như phí sử dụng tài liệu thăm dò Các loại phí này chiếm tỷ lệ không
hề nhỏ trong kết cấu giá thành của các đơn vị
5 Kết luận
Trong bối cảnh việc đầu tư xây dựng mới mỏ than hầm lò cần nhiều thủ tục và không thể triển khai sớm, để đáp ứng nhu cầu than ngày càng gia tăng của đất nước, song song với việc đẩy mạnh phát triển sâu bằng ứng dụng các loại hình công nghệ khai thác có mức độ cơ giới hóa cao, công suất lớn, TKV chủ trương khai thác tối đa tài nguyên than đã được quy hoạch vào khai thác theo các dự án mỏ, trong đó bao gồm cả trữ lượng than dự kiến để lại làm trụ bảo vệ lò chuẩn
bị Kinh nghiệm trên thế giới đã chỉ ra, khai thác tận thu than trong trụ bảo vệ lò chuẩn bị bằng các
b Hông lò trước khi phun cách ly bề
mặt phía phá hỏa d Phun bê tông cách ly bề mặt hồng lò phía phá hỏa e Không gian lò được bảo vệ bằng giải pháp 110
Hình 9: Kết quả áp dụng giải pháp 110 tại mỏ Bạch Giảo
Hình 10: Trữ lượng huy động tại 12 dự án mỏ hầm lò lớn vùng Quảng Ninh [2]
Trang 11KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ KHAI THÁC HẦM LÒ 9
giải pháp sử dụng trụ nhân tạo (111) hay không
để lại trụ bảo vệ (110) là một hướng đi mới, khả
thi, đảm bảo hiệu quả về mặt kỹ thuật cũng như
kinh tế cho doanh nghiệp Để có thể ứng dụng tại
các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh, trước mắt TKV
cần giao cho đơn vị tư vấn phối hợp với đối tác
nước ngoài có kinh nghiệm cùng nghiên cứu áp
dụng giải pháp trong thực tế tại một mỏ hầm lò
vùng Quảng Ninh, làm cơ sở đánh giá, hoàn thiện
trước khi nhân rộng./
Tài liệu tham khảo:
1 Phùng Mạnh Đắc, Nguyễn Anh Tuấn và
nnk (1991), Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ:
Nghiên cứu áp dụng các sơ đồ công nghệ khai
thác không để lại trụ than bảo vệ, Viện Khoa học
Công nghệ Mỏ, Hà Nội
2 Đặng Thanh Hải và nnk (2016), Báo cáo
tổng kết đề tài cấp TKV “Phát triển áp dụng cơ
giới hóa đào lò và khai thác tại các mỏ hầm lò
vùng Quảng Ninh giai đoạn 2013 ÷ 2015, lộ trình
đến năm 2020”, Viện Khoa học Công nghệ Mỏ,
Hà Nội
3 Đinh Văn Cường, Trần Văn Thanh, Nguyễn
Anh Tuấn (2018), Đánh giá khả năng sử dụng
trụ nhân tạo thay thế trụ than bảo vệ lò chuẩn bị
trong quá trình khai thác tại các mỏ hầm lò vùng
Quảng Ninh, Hội thảo khoa học “Công nghiệp
mỏ thế kỷ 21 – Những vấn đề Khoa học, Công
nghệ và Môi trường”, Hội KHCN Mỏ Việt Nam,
(8/2018), tr 243-251
4 Phùng Mạnh Đắc, Trương Đức Dư (2018),
Giải pháp công nghệ mới về khai thác không
trụ bảo vệ để tiết kiệm tài nguyên và khả năng
áp dụng để khai thác than ở Việt Nam, Hội thảo
chuyên đề “Áp dụng công nghệ khai thác tiết kiệm tài nguyên ở các mỏ than hầm lò Quảng Ninh”, Hội KHCN Mỏ Việt Nam, (12/2018), tr 1-8
5 Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam
đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 14/3/2016
6 Manchao He, Guolong, Zhibiao, Longwall
mining “cutting cantilever beam theory” and
110 mining method in China – The third mining science innovation, Journal of Rock Mechanics
an Geotechnical Engineering 2015(7), p
483-492
7 Zimin Ma, Jiong Wang, Manchao He, Yubing
Gao, Jinzhu Hu, Qiong Wang, Key Technologies
and Application Test of an Innovative Noncoal Pillar Mining Approach: A Case Study, Enegies
2018 (11) (www.mdpi.com/journal/enegies)
8 Tao Zhigang, Song Zhigang, He Manchao,
Meng Zhigang, Pang Shihui, Principles of
the roof cut short-arm beam mining method (110 method) and its mining-induced stress distribution, International Journal of Mining
Science and Technology 28 (2018), p 391-396
Abstract:
For longwalls, the technological loss is commonly over 20%, most of which is located in the pillars of preparation roadways (with reserves of 12 ÷ 15% of the total mobilized reserves in the exploitation area of the longwall) Therefore, it is necessary to have solutions to reduce coal loss in areas where longwall technology application is expected to be applied, especially the solution that allows the maximum exploitation of coal reserves in pillars of the preparation roadway.
Longwall mining with coal non-pillars in the preparation roadway - experiences in the world and potential applications
in coal underground mines in Quang Ninh
MSc Dinh Van Cuong, Vinacomin – Institute of Mining Science and Technology
Dr Nguyen Anh Tuan, Vietnam National Coal Mineral Industries Holding Corporation Limited
Assoc.Prof.PhD Tran Van Thanh, Hanoi University of Mining and Geology
Trang 1210 KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ KHAI THÁC LỘ THIÊN
1 Mở đầu
Các mỏ khoáng sản khai thác lộ thiên cần
phải bóc khối lượng lớn đất đá thải Tùy thuộc
điều kiện tự nhiên của các mỏ, khối lượng đất
đá bóc được bố trí tại các bãi thải ngoài, tạm
hoặc bãi thải trong Diện tích chiếm dụng đất bề
mặt làm bãi thải phụ thuộc vào khối lượng, tính
chất đất đá bóc, nền bãi thải
Các mỏ lộ thiên lớn nước ta tập trung chủ
yếu tại các tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên, Lạng
Sơn, Lào Cai, Lâm Đồng, Đăk Nông Theo quy
hoạch phát triển ngành Than, khoáng sản, khối
lượng đổ thải hàng năm vẫn rất lớn, trung bình
mỗi năm toàn Tập đoàn Công nghiệp
Than-khoáng sản Việt Nam (TKV) đổ thải khoảng 200
triệu m3, trong đó khoảng 57% khối lượng đổ
thải tại các bãi thải ngoài, các bãi thải tiếp tục
được đổ lên cao và mở rộng Trong điều kiện
khí hậu ngày càng biến đổi phức tạp, các trận
mưa lũ có xu thế kéo dài nhiều ngày với cường
độ lớn, nếu đất đá thải bão hòa nước sẽ làm
tăng nguy trượt lở và mất an toàn cho các công
trình xung quanh Đặc biệt cho các công trình
phục vụ công tác khai thác hầm lò và dân cư
Đến nay, nhiều bãi thải như: Đông Cao Sơn,
Chính Bắc, Bàng Nâu, trong Núi Béo, Cọc Sáu,
v.v đã đổ với khối lượng tới hàng trăm triệu
m3 đất đá, chiều cao bãi thải tới vài trăm mét,
số lượng tầng thải nhiều Trong những năm tới,
khối lượng đất bóc các mỏ than khoáng sản lộ thiên từ 10÷60 triệu m3/năm như bảng 1[1, 2, 3].Hầu hết các mỏ khai thác khoáng sản lộ thiên Việt Nam sử dụng hình thức đổ thải bãi thải cao, kết hợp giữa ôtô – máy gạt Quá trình thải đá theo trình tự như sau: Ô tô đổ đất đá trực tiếp xuống sườn hoặc lên mặt tầng thải, máy gạt đẩy đất
đá xuống suờn tầng thải (hoặc gạt theo bề mặt), duy trì đường ô tô trên tầng thải Các bãi thải này thường có chiều cao từ 60÷150 m, có nơi đến
350 m, góc dốc sườn bãi thải tương đối lớn từ
300÷400 Ngoài ra, mỏ than Cao Sơn đang vận hành tuyến băng tải đá ra bãi thải Bàng Nâu có bề rộng băng 2m, công suất 20 triệu m3/năm Đây
là hệ thống băng tải đá thải có qui mô, công suất lớn và hiện đại nhất tại Việt Nam Khi vận tải bằng băng tải, công tác thải đá phối hợp với máy thải đá kiểu công xôn Bãi thải được đổ theo hình thức hai phân tầng vừa dỡ lên trên vừa dỡ xuống dưới hoặc có thể đổ thải 1 tầng
từ dưới lên trên
2 Các vấn đề về môi trường có thể xảy ra đối với bãi thải
Tại Việt Nam, tác động do đổ thải đất đá gây
ra các hiện tượng như: Làm nhiễm bẩn nước
và thay đổi hướng dòng chảy, xả bụi và khí độc vào không khí, sạt lở bãi thải đất đá,… trôi lấp xuống các công trình phía dưới ảnh hưởng đến
CÁC GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ ĐỔ THẢI HỢP LÝ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI ĐỐI VỚI CÁC MỎ THAN,
KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
TS Lưu văn Thực, TS Đoàn Văn Thanh
Viện Khoa học Công nghệ Mỏ- Vinacomin Biên tập: TS Lưu Văn Thực
Tóm tắt:
Các mỏ khai thác khoáng sản lộ thiên Việt Nam, phần lớn đất đá được đổ ra bãi thải ngoài, một
số mỏ sử dụng bãi thải trong, bãi thải tạm Việc sử dụng bãi thải ngoài đã chiếm dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp của địa phương ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống, an ninh trật tự khu vực mỏ Trong khi đó, điều kiện khí hậu ngày càng biến đổi phức tạp, các trận mưa, lũ có xu thế kéo dài nhiều ngày với vũ lượng lớn Khi đất đá thải bão hòa nước sẽ làm tăng nguy sạt lở và mất an toàn cho các công trình xung quanh, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường Để đảm bảo phát triển bền vững, hài hòa giữa khai thác khoáng sản và kinh tế xã hội ở các vùng mỏ, cần thiết phải có một số giải pháp công nghệ đổ thải hợp lý nhằm đảm bảo an toàn cho các công trình xung quanh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Trang 13KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ KHAI THÁC LỘ THIÊN 11
các công trình sông, suối, v.v tác động đến môi
trường sinh thái khu mỏ Các hình thái địa hình
nhân sinh mà bãi thải là nhân tố điển hình tạo ra
nhiều hiện tượng tai biến môi trường Trong quá
khứ đã xảy ra nhiều sự cố về tai biến môi trường
đối với các bãi thải như:
- Năm 1992, thảm họa trượt lở bãi thải thảm
khốc xảy ra tại khu khai thác mangan Kép Ky
xã Quang Trung - huyện Trà Lĩnh - Cao Bằng
Toàn bộ dải thung lũng dài 150 m, rộng 45 m đã
bị khối trượt lở lấp đầy với độ dày 3-15 m, làm
chết 200 người
- Năm 2004, trượt lở bãi thải quặng khai
trường 12 thuộc Công ty Apatit Lào Cai Bãi thải
quặng Apatít cao 50 m trượt lở sâu vào mặt cắt
ngang 20 m, cuốn theo người và vùi lấp thiết bị, làm 2 công nhân chết tại chỗ (hình 1)
- Năm 2006, do mưa lớn kéo dài làm vỡ đập chắn đất đá thải (đập Khe Rè) tại Công ty CP Than Cọc Sáu làm đất đá và nước tràn xuống gây ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân Mưa lớn làm sụt lở gần 500.000 m3 đất đá tại bãi thải của Công ty CP Than Cao Sơn làm vùi lấp hoàn toàn cửa lò +36, vỉa G9 cùng với hệ thống máng rót, đê bảo vệ của Công ty CP Than Mông Dương v.v… (hình 2)
- Năm 2012, khu vực đổ đất đá thải của mỏ than Phấn Mễ (thuộc Công ty cổ phần gang thép Thái Nguyên) bất ngờ trượt lở, vùi lấp nhà của
10 hộ dân sinh sống dưới chân núi (hình 3)
Bảng 1 Khối lượng đất đá thải của các mỏ than, khoáng sản lộ thiên thuộc TKV theo quy hoạch
TT Tên mỏ 2019÷2020 2021÷2025 2026÷2030 Còn lại Khối lượng đất đá thải theo năm, 10 3 m 3
I Các mỏ than
Hình 1 Trượt lở tại bãi thải quặng Apatít - Công ty
Apatit Lào Cai năm 2004 Hình 2 Trượt lở tại bãi thải Đông Cao Sơn năm 2006
Trang 1412 KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ KHAI THÁC LỘ THIÊN
- Năm 2015, tại tỉnh Quảng Ninh, từ ngày
26/7/2015 đến ngày 5/8/2015 đã diễn ra đợt mưa
với cường độ lớn, lượng mưa tại vùng đo được
khoảng từ 1.100÷1.600 mm Mưa lớn trong thời
gian dài đã gây xói lở mạnh tại một số bãi thải có
dạng “cánh cung lõm” như Đông Cao Sơn, Chính
Bắc Đối với các bãi thải đã kết thúc đổ thải và
tiến hành hoàn thổ như Nam Lộ Phong, Nam Đèo
Nai, và một số các bãi thải đang đổ thải có dạng
“thẳng” và dạng “cánh cung lồi” như: Bàng Nâu,
trong moong Lộ Trí, đều ổn định, không xảy ra
hiện trượng trôi trượt, xói lở tầng thải hoặc xảy ra
cục bộ với phạm vi nhỏ và cường độ yếu (hình 4)
3 Đề xuất các giải pháp công nghệ đổ
thải hợp lý, giảm thiểu ảnh hưởng đến môi
trường
Để giảm thiểu sự xói lở, trôi trượt bãi thải làm
bồi lấp sông suối và các công trình lân cận dưới
chân bãi thải trong điều kiện khí hậu mưa nhiều
bất thường với vũ lượng lớn, cần thiết phải có
một số giải pháp công nghệ đổ thải hợp lý nhằm
đảm bảo an toàn cho các công trình xung quanh,
giảm thiểu ô nhiễm môi trường
3.1 Các bãi thải ngoài
- Xác định hệ số ổn định bãi thải hợp lý:
Căn cứ vào các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên - kĩ thuật đến độ
ổn định của bãi thải Các bãi thải ngoài của các
mỏ than lộ thiên thuộc Tập đoàn TKV thường xuyên chịu ảnh hưởng của các đợt mưa bão Khi lượng mưa lớn, đất đá bị bão hòa, thấm rã
và xảy ra nguy cơ sạt lở cao Đặc biệt khi chiều cao tầng thải lớn và bãi thải nằm trong các khu vực thu nước Để đảm bảo ổn định các bãi thải, cần xác định các thông số của bãi thải khi đất đá
ở trạng thái bão hòa nước hoàn toàn: Kết quả nghiên cứu cho thấy đất đá thải khi bão hoàn nước dung trọng tăng lên từ 5÷10%, lực dính kết và góc ma sát trong trung bình giảm 10%, dẫn đến độ ổn định của bãi thải giảm so với trạng thái tự nhiên [4]
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, để đảm bảo
an toàn cho các công trình xung quanh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường: Với chiều cao các bãi thải phổ biến từ 120÷270 m; góc nghiêng sườn tầng từ 28÷350; góc dốc bãi thải từ 14÷290; hệ
Hình 3 Trượt lở tại bãi thải mỏ than Phấn Mễ
năm 2012 Hình 4 Trượt lở tại bãi thải trong mỏ than Núi Béo năm 2015
Hình 5 Kết quả kiểm toán ổn định bãi thải Đông Cao Sơn
Trang 15KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ KHAI THÁC LỘ THIÊN 13
số ổn định khi ở trạng thái khô nk = 1,373÷1,794,
còn ở trạng thái bão hòa nước nbh = 1,311÷1,598
[4] Mặt cắt đặc trưng kết quả kiểm toán ổn định
bãi thải Đông Cao Sơn (hình 5)
- Lựa chọn công nghệ, trình tự và các thông
số đổ thải hợp lý:
Các khu vực bãi thải xa khu dân cư, các công
trình cần bảo vệ: Đổ thải theo hình thức chu vi,
trình tự đổ thải được tiến hành từ dưới lên trên,
bãi thải phát triển từ trong ra ngoài, với chiều
cao tầng 20÷50 m (BT mỏ Na Dương 10÷20 m),
chiều rộng mặt tầng thải từ 25÷30 m (mùa khô),
mùa mưa chiều rộng sẽ tăng lên là 45÷50 m
Đối với các bãi thải gần khu vực dân cư, các
công trình cần bảo vệ: Đổ thải theo hình thức
chu vi, trình tự đổ từ dưới lên và theo nhóm
tầng, khi kết thúc nhóm hoặc tạm dừng nhóm
này mới đến nhóm khác Trước khi đổ thải, cần
xây dựng tiến trước các hệ thống đê, đập chắn
và hệ thống thoát nước trên toàn bộ bãi thải
hoặc là theo từng giai đoạn Những khu vực đặc
biệt, cần phải đổ trước, đổ vào mùa khô, đồng
thời tiến hành cải tạo phục hồi môi trường ngay
khi có thể và đổ từ ngoài vào trong Khi đổ thải
đến ranh giới kết thúc, chiều rộng tầng thải từ 25÷40 m trong mùa khô và được mở rộng đến 35÷55 m trong mùa mưa (hình 6)
- Lựa chọn hình dạng bãi thải hợp lý:
Hình dạng bãi thải liên quan đến mức độ tập trung hoặc phân tán dòng chảy mặt Theo kết quả khảo sát các bãi thải thuộc các mỏ than lộ thiên TKV, tại những khu vực bãi thải có bình đồ dạng “cánh cung lõm” bị xói lở mạnh hơn các khu vực khác Nguyên nhân của vấn đề này là khi lượng mưa vượt qua năng lực thoát nước của hệ thống mương, rãnh tại chân tầng, bãi thải dạng hình cánh cung lõm sẽ là không gian thu nước mặt từ các khu vực lân cận và dòng chảy mặt xuất hiện (hình 7a), trong khi đó các bãi thải có dạng thẳng (hình 7b) và dạng cánh cung lồi (hình 7c) nước mặt được phân tán đồng đều trên các khu vực của bãi thải Vì vậy, các bãi thải được thiết kế đổ thải tạo “dạng cánh cung lồi” và dạng “thẳng”, hạn chế tối đa đổ thải dạng “cánh cung lõm”
- Xác khoảng cách ảnh hưởng của bãi thải khi có tác động của dòng nước mặt:
Xác định khoảng cách ảnh hưởng hợp lý sẽ
Hình 6 Trình tự đổ thải bãi thải ngoài đối với khu vực gần dân cư, các công trình cần bảo vệ 1,2… 9
trình tự thi công đổ thải
Hình 7 Các dạng bình đồ bãi thải (a dạng cánh cung lõm; b dạng thẳng, c dạng cánh cung lồi)
Trang 1614 KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ KHAI THÁC LỘ THIÊN
giúp cho các nhà quản lý mỏ cũng như các sở
ban ngành địa phương dễ dàng xử lý khí xảy
ra các sự cố gây ảnh hưởng tới các công trình
xung quanh trong quá trình đổ thải trên các mỏ
lộ thiên Chiều rộng đai sạt lở phía mép và đai
mở rộng dưới chân bãi thải được thể hiện trên
hình 8 và được xác định theo công thức 1 và 2
[5]
Trong đó: α T và α S – góc
dốc sườn tầng thải trước và sau khi trượt lở,
độ; H – chiều cao tầng thải hoặc bãi thải, m; b –
chiều rộng đai sạt lở phía mép tầng hoặc bãi thải,
m; B – chiều rộng đai mở rộng dưới chân tầng
hoặc bãi thải, m; n – là hệ số kinh nghiệm, phụ
thuộc vào các loại sơ đồ biến dạng khác nhau
Kết quả tính toán khoảng cách ảnh hưởng
của bãi thải ngoài khi có tác động của dòng
nước mặt cho thấy, khi đất đá bị sũng nước thì
sườn bãi thải sẽ chịu áp lực thủy động của dòng nước lớn nhất, tức là góc dốc sườn bãi thải nhỏ nhất, khi đó:
Với chiều cao tầng/bãi thải H = 50÷300 m, chiều rộng đai mở rộng dưới chân bãi thải lớn nhất B = 44÷361 m và chiều rộng đai trượt lở phía mép bãi thải lớn nhất b = 49÷394 m;
Như vậy, để giảm thiểu ảnh hưởng của bãi thải đến các công trình xung quanh khi có tác động của dòng nước mặt, cần phải xây dựng hệ thống đê chắn đất đá dưới chân bãi thải và di dời các công trình ra khỏi bán kính ảnh hưởng của bãi thải
Tuy nhiên, thực tế bãi thải chia thành các tầng thải với chiều cao từ 20÷50 m và chiều rộng mặt tầng thải từ 20÷40 m, chiều rộng trên các tầng thải ngoài việc đảm bảo ổn định bờ mỏ còn có nhiệm vụ chứa được đất đá sạt lở của tầng thải khi có chịu tác động của dòng nước Do vậy, chiều rộng đai mở rộng dưới chân bãi thải lớn nhất chỉ cần tính cho tầng dưới cùng Với chiều cao tầng thải lớn nhất 50 m, chiều rộng đai mở rộng dưới chân bãi thải lớn nhất là 65 m
- Lựa chọn giải pháp thoát nước:
Để đảm bảo công tác thoát nước của các bãi thải, cần thiết phải có giải pháp kết nối các công trình thoát nước trên bãi thải với công trình thoát nước lân cận Trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch nạo vét các suối, kênh mương dẫn nước, các khe rạch và xây dựng hệ thống đê ngăn đất đá thải và các hồ lắng bùn xử lý nước Bên cạnh
đó, phải xây dựng các công trình bảo vệ bãi thải bao gồm: Tạo mặt tầng thải nghiêng, tạo rãnh thoát nước và hố tiêu năng dọc chân tầng thải; xây dựng các tuyến đê và mương thoát nước bao quanh chân bãi thải, hướng dòng chảy vào các hố xử lý môi trường Tại những khu vực kết
Hình 8 Sơ đồ thể hiện các thông số về biến dạng
và trượt lở bãi thải
Hình 9 Kết cấu mặt tầng thải khi kết thúc
)1(
)2(
m H
n
b
S T
S
sin.sin
)sin(
α α
α
=
m H
n B
S T
S
sin.sin
)sin(
.)
1
(
α α
α
−
=
Trang 17KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ KHAI THÁC LỘ THIÊN 15
thúc đổ thải trồng cây xanh để hạn chế xói mòn,
sạt lở bãi thải; tạo đê ngăn theo các mép tầng
thải, dốc nước ngang tầng thải nhằm ngăn dòng
chảy tràn xuống sườn tầng Kết cấu mặt tầng
thải thể hiện trên hình 9
3.2 Các bãi thải trong
Các moong lộ thiên sau khi kết thúc khai thác,
nhiều mỏ sẽ được dùng làm bãi thải trong cho
các khai trường lân cận Đối với các bãi thải
trong được chia thành 2 dạng như sau:
- Trong thời gian tới khai trường Nam Lộ Trí
Đèo Nai, khai trường mỏ Khe Chàm II (LT), khai
trường mỏ Cao Sơn, khai trường vỉa 14 cánh
Đông, khai trường vỉa 14 cánh Tây mỏ than Núi
Béo, khai trường khu Đông, khu Tây mỏ đồng
Sin Quyền Các khu vực này sau khi kết thúc khai
thác sẽ được đổ thải trong để khai thác hầm lò
- Một số moong kết thúc khai thác lộ thiên mà
bên dưới không có dự án khai thác hầm lò như:
Khai trường 917 mỏ Suối Lại, trong vỉa Chính mỏ
Đèo Nai, trong Thắng lợi mỏ Cọc Sáu, bãi thải
trong vỉa trụ mỏ than Hà Tu, mỏ đồng Tả Phời
Các bãi thải có thể được đổ thải sau khi kết
thúc công tác khai thác hoặc đổ thải song song
với quá trình khai thác
- Đối với các bãi thải trong không có khai thác
hầm lò phía dưới:
Công nghệ đổ thải theo chu vi, trình tự đổ thải
được thực hiện từ dưới lên, sử dụng hình thức
đổ thải theo chu vi với chiều cao tầng tối đa 50 m
Bãi thải được đổ thải thải đến mức thoát nước tự chảy, sau đó đổ tiếp lên cao (hình 10)
Khi quá trình đổ thải được thực hiện song song với quá trình khai thác cần phải đổ thải từ dưới lên, duy trì khoảng cách từ bãi thải đến bờ công tác khoảng cách nhất định, đảm bảo an toàn Hướng phát triển của bãi thải trùng với hướng khai thác (hình 11)
- Đối với các bãi thải trong có khai thác hầmlò phía dưới:
Việc khai thác than hầm lò bên dưới các công trường lộ thiên rất khó khăn do sự tích tụ nước từ các nguồn nước mặt và nước ngầm vào đáy moong lộ thiên Bên cạnh đó, quá trình khai thác hầm lò sẽ tạo ra các khe nứt, sụt lún
có xu hướng phát triển lên phía trên và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc dẫn nước từ moong khai thác lộ thiên xuống các đường lò Dưới áp lực của nước có trong moong lộ thiên có thể gây, ngập mỏ, ngừng trệ sản suất, hư hại thiết bị khai thác hoặc nghiêm trọng hơn là đe dọa đến tính mạng của công nhân sản xuất dưới hầm lò Công nghệ đổ thải theo lớp, chiều cao mỗi lớp phụ thuộc vào loại thiết bị tham gia đổ thải, mức độ yêu cầu đầm chặt đất đá và chi phí làm đường, đổ thải Như vậy, với phương pháp này các tầng thải có thể được hình thành từ 1 đến vài lớp thải Ví dụ, trong trường hợp chiều cao tầng 50 m, cần phải thực hiện 10 lớp thải nếu chiều cao mỗi lớp thải 5 m hoặc 5 lớp thải nếu chiều cao mỗi lớp thải là 10 m (hình 12)
Hình 10 Sơ đồ trình tự đổ bãi thải trong khai trường đã kết thúc khai thác
Hình 11 Sơ đồ trình tự đổ thải tại bãi thải trong khai trường đang khai thác
Trang 1816 KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ KHAI THÁC LỘ THIÊN
Mặt khác, cần phải nắn các dòng chảy nước
mặt ra khỏi khu vực có khả năng chảy vào
moong khai thác bằng cách đào các kênh dẫn
nước bên ngoài phạm vi dịch chuyển biến dạng,
nứt vỡ do ảnh hưởng của khai thác lộ thiên gây
ra để hướng dòng chảy sang các khu vực không
nằm trên khu vực khai thác hầm lò
3.3 Các bãi thải đổ thải bằng băng tải
(hình 13)
Để đảm bảo ổn định bãi thải, cần tạo tầng
đổ thải với chiều cao tầng phù hợp với chiều
dài cần máy thải đá Theo [4] thì chiều cao tầng
thải khi sử dụng băng tải £ 50 m là phù hợp
Việc lựa chọn máy thải đá phải đảm bảo đất đá
được thoát hết xuống tầng thải phía dưới, hạn
chế việc lưu lại đất đá trên tầng thải, ảnh hưởng
đến quá trình hoạt động liên tục của hệ thống Vì
vậy, bán kính dỡ tải R0 thỏa mãn công thức sau:
R o ≥ b + C (3)
Trong đó: b- chiều rộng đới phá hủy, m; C- khoảng cách từ trục quay của máy thải đá đến mép trong của đới phá hủy, m
Kết quả tính toán cho thấy, khi chiều cao tầng thải lớn nhất là 50 m thì R0 > (27,41 + C) m
4 Kết luận
Điều kiện khí hậu ngày càng biến đổi phức tạp, đã và đang tác động đến rất lớn đến ngành khai thác khoáng sản nói chung, đối với các bãi thải nói riêng Do vậy, để đảm bảo an toàn cho các công trình xung quanh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, các mỏ khoáng sản lộ thiên thuộc TKV nói riêng và nước ta nói chung trong quá trình đổ thải cần áp dụng các giải pháp như đã
đề xuất trên đây
Tài liệu tham khảo:
1 Công ty Cổ phần tư vấn Đầu tư mỏ và Công
nghiệp- Vinacomin (2015), Phương án khai thác
hợp lý 3 mỏ Cọc Sáu – Đèo Nai – Cao Sơn.
Hình 12 Sơ đồ trình tự đổ thải theo lớp tại các moong kết thúc khai thác lộ thiên
có khai thác hầm lò phía dưới 1-lớp đất phủ; 2 – đường lò; 3 – rãnh thoát nước tại mức thoát nước tự chảy; 4 – rãnh thoát nước vành
khăn; 5 – rãnh thoát nước dọc; 6 – lớp đổ thải
Hình 13 Sơ đồ xác định khoảng cách tối thiểu của bán kính dỡ tải khi đổ thải bằng máy thải đá
Trang 19KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ KHAI THÁC LỘ THIÊN 17
2 Lưu Văn Thực, (2011), Nghiên cứu các
giải pháp kỹ thuật và công nghệ khai thác theo
hướng hiện đại hóa tại các mỏ than lộ thiên vùng
Quảng Ninh, Viện KHCN Mỏ - Vinacomin.
3 Hồ Sĩ Giao, Bùi Xuân Nam, Mai Thế Toản
(2010), Bảo vệ môi trường trong khai thác mỏ lộ
thiên, Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa.
4 Dương Trung Tâm (2016), Nghiên cứu độ ổn
định, lựa chọn thông số, trình tự đổ thải, các giải pháp thoát nước và các công trình bảo vệ phù hợp với tình hình biến đổi khí hậu tại các bãi thải mỏ than
lộ thiên thuộc TKV, Viện KHCN Mỏ - Vinacomin.
a number of reasonable waste dumping technology solutions to ensure safety for surrounding works and minimize environmental pollution.
Reasonable waste dumping technology solutions to meet the requirements
of ecological environment protection for mineral coal mines of Vietnam
Dr Luu Van Thuc, Dr Doan Van Thanh
Vinacomin – Institute of Mining Science and Technology
Trang 2018 KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
1 Mở đầu
Ngành công nghiệp khai thác và chế biến
bauxit đã có đóng góp rất lớn cho sự phát triển
kinh tế xã hội tại Tây Nguyên cũng như cả nước,
giải quyết công ăn việc làm cho một lượng lớn
lao động; Ngay từ giai đoạn bắt đầu thực hiện
dự án Tổ hợp bauxit nhôm Lâm Đồng và Dự
án Nhà máy alumin Nhân cơ , Tập đoàn công
nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đã triển
khai đồng bộ các giải pháp khắc phục và ngăn
ngừa ô nhiễm như: xây dựng các hệ thống xử
lý nước thải sản xuất, sinh hoạt, hệ thống chống
bụi, ồn, thu gom xử lý chất thải rắn, cải tạo phục
hồi môi trường các khai trường sau khai thác và
giải quyết các vấn đề môi trường khác, từ đó,
từng bước giảm tác động xấu của quá trình khai
thác, tuyển quặng bauxit và sản xuất Alumin đến
môi trường, dân cư
2 Các biện pháp, công trình giảm thiểu ô
nhiễm môi trường không khí trong quá trình
khai thác tuyển quặng bauxit và sản xuất
Alumin tại Lâm Đồng và Đăk Nông
Trong thời gian qua, các biện pháp xử lý bụi,
khí thải, tiếng ồn, rung đang được Tổ hợp bauxit
- nhôm Lâm Đồng, Nhà máy Alumin Nhân Cơ áp
dụng như sau:
bauxit
a Giảm thiểu bụi trong hoạt động khai thác.
- Sử dụng máy xúc có dung tích gầu lớn để
bốc xúc đất đá, bốc xúc quặng, đồng thời trong quá trình xúc bốc giảm khoảng cách đổ từ gầu tới thùng xe
b Giảm thiểu bụi đất trên tuyến đường vận tải, chống bụi xưởng tuyển.
- Quy định xe chở đúng trọng tải, chạy đúng tốc độ cho phép, phủ bạt khi xe có tải
- Quy định hoạt động bốc xúc lên xe gọn gàng, không chất quá tải Tưới nước dập bụi trên các tuyến đường vận chuyển quặng về nhà máy tuyển
- Trồng, chăm sóc cây xanh hai bên đường vận chuyển quặng về nhà máy tuyển
- Vận chuyển quặng tinh về nhà máy alumin
sử dụng hệ thống băng tải kín
- Quy định các đơn vị vận chuyển tro, xỉ phải đảm bảo xe vận chuyển được che phủ kín, không rơi vãi, chấp hành tải trọng, tốc độ theo quy định
- Biện pháp xử lý bụi tại mặt bằng nhà máy tuyển là sử dụng ô tô tưới nước dập bụi kết hợp với vòi phun nước di động tại các vị trí khu vực kho quặng nguyên khai, kho chứa quặng tinh, Bunke cấp liệu
c Giảm thiểu khí thải của các phương tiện vận tải.
- Giảm thiểu sự ô nhiễm gây ra do khí thải các phương tiện vận tải bằng các giải pháp sau:+ Không chở quá tải trọng quy định
+ Sử dụng xe còn niên hạn sử dụng, thường
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG KHAI THÁC,
TUYỂN QUẶNG BAUXIT VÀ SẢN XUẤT ALUMIN
TẠI LÂM ĐỒNG VÀ ĐĂK NÔNG
Trang 21KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG 19
xuyên bảo dưỡng
d Biện pháp hạn chế tiếng ồn, rung
Nguồn gây tiếng ồn, độ rung lớn chủ yếu
do các thiết bị nghiền, đập trong xưởng tuyển
quặng, công đoạn nghiền đá vôi, nghiền quặng
tinh của nhà máy Alumim Để hạn chế các bộ
phận trong dây chuyền theo thiết kế được chống
rung, hạn chế tối đa việc phát ra tiếng ồn
Tại khu vực sản xuất alumin, có nhiều nguồn
phát sinh chất ô nhiễm vào không khí như: Khu
vực nhiệt phân hydroxit nhôm, nhà máy nhiệt
điện, nhà máy khí hóa than với các chất ô nhiễm
gồm bụi, khí độc hại (SO2, NOx) Các công trình,
biện pháp kiểm soát các chất ô nhiễm không khí
và nguồn phát thải của nhà máy Alumin được
tổng hợp trong bảng sau:
Hiệu quả của các giải pháp xử lý như sau:
Các chỉ tiêu khí độc đo được tại ống khói các
khu vực nung hydrat, nhà máy nhiệt điện, nhà
máy khí hóa than có kết quả nằm trong giới hạn
cho phép của QCVN 19:2009/BTNMT Cột B – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ (xem hình 1)
Quá trình vận hành tổ hợp Bauxit nhôm Lâm Đồng, nhà máy Alumin Nhân Cơ cho thấy, chất lượng không khí xung quanh trong khu vực sản xuất cũng như các khu vực lân cận tốt, các thông số đánh giá đều đạt QCVN 05:2013/BTNMT (xem hình 2)
3 Các biện pháp, công trình giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước trong quá trình khai thác tuyển quặng bauxit và sản xuất Alumin tại Lâm Đồng và Đăk Nông
Các công trình xử lý nước thải tại nhà máy Alumin Lâm Đồng và Đăk Nông đã được xây dựng hoàn chỉnh, đảm bảo toàn bộ nước thải sản xuất, sinh hoạt phát sinh trong quá trình khai thác tuyển quặng bauxit và sản xuất Alumin tại Lâm Đồng và Đăk Nông được thu gom, xử
lý đạt QCVN trước khi thải ra môi trường Các
Bảng 1 Tổng hợp các công trình, biện pháp kiểm soát các chất ô nhiễm không khí và nguồn phát thải của
nhà máy alumin Nhân Cơ
Khu vực sản xuất Nguồn ô nhiễm Biện pháp kiểm soát Chất ô nhiễm
Khói bụi
SO2
NO2
Hệ thống
tiếp than
Hệ thống tiếp than, băng tải chuyển
Trang 2220 KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
Khu vực sản xuất Nguồn ô nhiễm Biện pháp kiểm soát Chất ô nhiễm
Ba bộ tiếp liệu có đo thể
Xử lý alumin, guồng gàu
Guồng gàu, silo và máng trượt của hệ thống
Máy đóng gói alumin Bốn bộ giảm bụi lắp trong thiết bị Bụi alumin
Hình 1 Hàm lượng các chất ô nhiễm phát thải vào môi trường
tại nhà máy Alumin Nhân Cơ
Trang 23KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG 21
công trình xử lý nước thải bao gồm:
- Mạng lưới thu gom nước thải, thoát nước khu
vực mỏ - tuyển, nhà máy Alumin;
- Trạm xử lý nước thải sản xuất D10 nhà máy
Alumin;
- Trạm xử lý nước thải sinh hoạt D11 nhà máy
Alumin và hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt
khu vực mỏ tuyển;
- Công trình xử lý nước dư hồ bùn đỏ nhà máy
Alumin;
- Bể tách dầu tại kho chứa dầu nhẹ và trạm bơm
dầu nhà máy Alumin;
- Hệ thống quan trắc nước thải tự động tại các
điểm xả thải
Nước thải sản xuất tại nhà máy Alumin Lâm
Đồng và Đăk Nông được xử lý với công nghệ
tiên tiến, nước thải sau xử lý đạt QCVN 40:
2011/BTNMT (B) Quy trình công nghệ xử lý
nước thải như hình 3 dưới đây
Kết quả phân tích chất lượng nước thải sản xuất nhà máy Alumin Tân Rai và nhà máy Alumin Nhân Cơ trước khi thải ra môi trường năm 2018 cho thấy tất cả các thông số quan trắc đều đạt
- QCVN 40: 2011/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp (cột B quy định giá trị C của các thông số ô nhiễm trong nước thải công nghiệp khi xả vào nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt)
4 Các công trình, giải pháp quản lý chất thải rắn nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường đất trong quá trình khai thác tuyển quặng bauxit và sản xuất Alumin tại Lâm Đồng và Đăk Nông
tuyển
Đất đá thải: Hoạt động khai thác quặng tại
Tổ hợp bauxit - nhôm Lâm Đồng và nhà máy Alumin Nhân Cơ được thực hiện theo hình thức
Ghi chú: - KK01: Khu vực trung tâm nhà máy tuyển quặng; - KK02: Khu trung tâm nhà máy sản xuất Alumin; - KK03: Khu vực băng tải; - KK04: Khu vực gần hồ bùn đỏ; - KK05: Khu vực thôn 3, xã Nhân cơ; -
KK 06: Khu vực hồ xỉ than, thôn 4 Hình 2 Kết quả quan trắc môi trường không khí năm 2018 tại Công ty Nhôm Đăk Nông – TKV
Nguồn: Báo cáo kết quả QTMT, Công ty Nhôm Đăk Nông – TKV, 2018
Trang 2422 KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
TT Chỉ tiêu Đơn vị
Nước thải sản xuất, nước thải sinh hoạt sau hệ thống xử lý từ nhà máy Alumin Tân Rai
Nước thải sản xuất Nhà máy Alumin Nhân Cơ
QCVN 40:2011/ BTNMT (B)
nhà máy Alumin Nhân Cơ trước khi xả ra môi trường năm 2018
Nguồn: Báo cáo quan trắc môi trường định kỳ - Công ty TNHH MTV Nhôm Lâm Đồng-TKV
Công ty Nhôm Đăk Nông -TKV, 2018
Trang 25KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG 23
cuốn chiếu, đất đá thải từ lô khai thác trước
được hoàn thổ vào lô khai thác phía sau Các
lô sau khi hoàn thổ sẽ được cải tạo, phục hồi để
trả lại diện tích như trước khi khai thác
Bùn thải xưởng tuyển: Bùn thải xưởng tuyển
chủ yếu là đất đá không chứa các chất ô nhiễm
Bùn thải xưởng tuyển được lưu giữ tại các hồ
bùn thải theo từng giai đoạn vào các hồ bùn thải
Hồ bùn thải sau khi kết thúc sẽ được cải tạo,
phục hồi môi trường bao gồm các bước như
sau: Thực hiện tháo khô, san gạt, lu lèn, xây
dựng hệ thống thoát nước và tiến hành trồng
cây
Các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm do chất thải
rắn sinh hoạt như sau:
- Tái sử dụng các chất thải có khả năng tái
chế như giấy, bìa các tông, vỏ chai, lon đồ hộp,
nilon, thức ăn thừa nhằm tiết kiệm tài nguyên
- Hợp đồng thuê đơn vi có chức năng thu
gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt tại nhà máy
Alumin và nhà máy Tuyển định kỳ với tần suất 2
ngày/lần tại các điểm tập kết
Đối với chất thải nguy hại
Các loại chất thải nguy hại phát sinh từ các phân xưởng sản xuất của Tổ hợp bauxit - nhôm Lâm Đồng và nhà máy Alumin Nhân Cơ được thống kê trong bảng 3
Hiện nay việc thu gom, lưu giữ, quản lý, vận chuyển và xử lý các loại chất thải nguy hại phát sinh được thực hiện theo đúng pháp luật hiện hành, được quy định tại Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 06 năm 2015 Toàn
bộ chất thải được lưu giữ tại các kho chất thải nguy hại và thuê đơn vị có chức năng vận chuyển, xử lý
Hiện tại, tổ hợp bauxit - nhôm Lâm Đồng có
04 kho lưu giữ CTNH Kho số 1, 2, 3 có diện tích bằng nhau, diện tích mỗi kho là: 26m2, kích thước mỗi kho Rài x Rộng x Cao = 6,2m x 4,2m
x 3m Kho số 4 có diện tích 240m2, kích thước kho Rài x Rộng x Cao = 24m x 10m x 5,5m Nhà máy Alumin Nhân cơ có 01 nhà kho lưu giữ CTNH có diện tích 240m2, kích thước kho Rài x Rộng x Cao = 24m x 10m x 4,5m Các kho đều thiết kế tường bao kín bằng gạch chỉ
đỏ dày 220mm có mái che; nền kho đổ bê tông dày 100mm và có hệ thống rãnh, hố thu nước chảy tràn; bên trong kho được phân thành nhiều khoang chứa khác nhau
Bùn đỏ của nhà máy alumin Tân Rai được
Trang 2624 KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
1 16 01 06 Bóng đèn huỳnh quang, cao áp, compact các loại và các loại thủy tinh
hoạt tính thải
Chứa các thành phần nguy hại Kho CTNH
2 16 01 08 Mỡ thải Chứa các thành phần nguy hại Kho CTNH
3 17 02 03 Dầu bôi trơn thải Tính dễ bắt cháy, chứa các thành phần nguy
hại Kho CTNH
4 18 01 03 Bao bì cứng thải bằng nhựa (vỏ thùng hóa chất) Chứa các thành phần nguy hại Kho CTNH
5 18 01 04 Bao bì cứng thải bằng các vật liệu khác (Chai, lọ, phuy, can chứa hóa
chất…)
Chứa các thành phần nguy hại Kho CTNH
6 18 02 01 Chất hấp thụ (mùn cưa nhiễm dầu mỡ), giẻ lau nhiễm các thành phần
nguy hại
Chứa các thành phần nguy hại Kho CTNH
7 19 06 01 Pin, ắc quy chì thải thải các loại Chứa các thành phần nguy hại Kho CTNH
8 15 01 02 Bộ lọc dầu đã qua sử dụng Tính dễ bắt cháy, chứa các thành phần nguy
hại Kho CTNH
9 15 01 06 Chi tiết, bộ phận của phanh đã qua sử dụng có chứa amiăng, bìa amiăng Chứa các thành phần nguy hại Kho CTNH
10 12 06 01 Hạt cation xử lý nước, hạt hút ẩm Chứa các thành phần nguy hại Kho CTNH
11 19 02 06 Linh kiện điện tử Chứa các thành phần nguy hại Kho CTNH
12 07 03 11 Ỗng dẫn dầu cao su các loại Tính dễ bắt cháy, chứa các thành phần nguy
hại Kho CTNH
13 02 11 02 Than hoạt tính đã qua sử dụng (lõi than các loại) Chứa các thành phần nguy hại Kho CTNH
14 17 01 06 Dầu thủy lực tổng hợp thải Tính dễ bắt cháy, chứa các thành phần nguy
hại Kho CTNH
15 17 03 01 Dầu truyền nhiệt và cách điện thải có PCB Tính dễ bắt cháy, chứa các thành phần nguy
hại Kho CTNH
16 07 04 01 Que hàn thải Chứa các thành phần nguy hại Kho CTNH
17 02 04 02 Chất thải có thủy ngân Chứa các thành phần nguy hại Kho CTNH
Bảng 3 Danh mục các loại chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động của Tổ hợp bauxit - nhôm Lâm Đồng
và Nhà máy Alumin Nhân Cơ
Trang 27KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG 25
18 03 01 02 Dịch cái thải từ quá trình chiết tách (mother, liquor), dung dịch tẩy rửa và
dung môi hữu cơ khác
Chứa các thành phần nguy hại Kho CTNH
19 03 01 03 Dịch cái thải từ quá trình chiết tách (mother, liquor), dung dịch tẩy rửa và
dung môi có gốc halogen
Chứa các thành phần nguy hại Kho CTNH
1 13 01 01 Chất thải lây nhiễm (bao gồm cả chất thải sắc nhọn) Chứa các thành phần nguy hại Kho CTNH
2 13 03 02 Các thiết bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng có chứa thủy ngân và các kim loại
nặng (nhiệt kế, huyết áp kế,…)
Chứa các thành phần nguy hại Kho CTNH
thải ra khu chứa bằng phương pháp thải bùn cô
đặc chồng lớp (Dry Stacking) Bùn sau khi được
xử lý bởi hai thiết bị lắng (settlers) và 6 thiết bị
rửa (washers) của dây chuyển rửa ngược dòng
và được bơm bằng bơm ly tâm bơm cưỡng bức
theo đường ống thải ra khu chứa bùn đỏ Bùn
đỏ được thải vào hồ bùn đỏ theo hệ thống
đường ống đặt dọc theo đỉnh đập bao quanh các
khoang chứa, trên đường ống chính cứ 30m đặt
đường ống nhánh có van xả bùn vào hồ chứa
Trước đây công nghệ thải bùn đỏ được thải ra
hồ ở nhiệt độ trên 70oC và thải nổi trên mặt hồ
Đầu năm 2014, Tổ hợp bauxit - nhôm Lâm Đồng
đã nghiên cứu giải pháp thải chìm xuống đáy hồ
ở nhiệt độ thấp hơn 60oC nhằm giảm sự
Cấu tạo lớp chống thấm đáy khoang
chứa bùn đỏ
bốc hơi qua đó giảm được mùi phát sinh từ Hồ bùn đỏ giảm thiểu ảnh hưởng môi trường xung quanh Hồ bùn đỏ thiết kế gồm 08 khoang (hồ), khi khoang 1 hoạt động thì khoang 2 dự phòng Hiện tại đã dừng đổ khoang 1, đang đổ khoang
2, khoang 3, khoang 4 đang dự phòng để đảm bảo cho an toàn, phòng tránh sự cố của hồ bùn
đỏ
Ngoài các giải pháp, các công trình bảo vệ môi trường đã đang được thực hiện và đem lại các hiệu quả tích cực, bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác, tuyển quặng và sản xuất Alumin tại Lâm Đồng, Nhân Cơ, Công ty nhôm Lâm Đồng và Đăk Nông cũng đã chủ động xây dựng các công trình giải pháp ứng phó sự cố môi trường như sau:
Công trình phòng ngừa sự cố vỡ đập thải quặng đuôi: (định kỳ nạo vét kênh thoát nước của hồ thải quặng đuôi, dốc nước thân đập Ngoài ra, còn tiến hành trồng cỏ trên mái đập giảm thiểu xói mòn, sạt lở mái đập và lắp đặt hệ thống quan trắc ngay trong quá trình đắp đập);Công trình phòng ngừa, ứng phó sự cố Hồ bùn đỏ (luôn duy trì một hồ đệm phía sau hồ bùn đỏ chính đang đổ thải để thu nước khi trạm thu nước của hồ bùn đỏ chính không hoạt động Xây dựng các giếng quan trắc nước ngầm xung quanh hồ bùn đỏ nhằm giám sát kiềm trong hồ bùn đỏ có thẩm thấu ra bên ngoài để giải pháp phòng ngừa hợp lý);
Phòng ngừa, ứng phó sự cố Hệ thống lọc bụi tĩnh điện;
Phòng ngừa, ứng phó sự cố Hệ thống xử lý nước thải sản xuất, sinh hoạt
cÊu t¹o lßng hå
Trang 2826 KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
5 Kết luận
Trong quá trình triển khai thực hiện Dự án
Tổ hợp bau xit nhôm Lâm Đồng và Dự án Nhà
máy alumin Nhân cơ, Tập đoàn Công nghiệp
Than – Khoáng sản Việt Nam đã chủ động thực
hiện nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ môi
trường Các công trình, giải pháp bảo vệ môi
trường được xây dựng theo tiến độ của dự án,
đảm bảo giảm thiểu các tác động của dự án
đến môi trường Tuy nhiên, đây là lĩnh vực công
nghiệp mới tại Việt Nam, nên trong quá trình vận
hành của dự án, Tập đoàn Công nghiệp Than –
Khoáng sản Việt Nam cũng đã gặp nhiều khó
khăn tồn tại về kĩ thuật công nghệ trong các lĩnh
vực bảo vệ môi trường như: khó khăn trong vấn
đề xử lí bùn đỏ, tận thu tái sử dụng xút, trồng
cây công nghiệp phù hợp có hiệu quả, bàn giao
đất đai sau khai thác cho địa phương v.v
Do đó, để khắc phục những tồn tại nêu trên,
đảm bảo an toàn và sản xuất, giảm thiểu tác
động đến môi trường, thích ứng với biến đổi khí
hậu, ngành công nghiệp Bauxit cần thiết phải đẩy mạnh, quan tâm đầu tư hơn nữa cho công tác đảm bảo an toàn và môi trường, triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ môi nhằm phát triển hài hòa với môi trường và cộng đồng, từng bước xây dựng ngành công nghiệp bauxit phát triển bền vững ở Việt Nam
Tài liệu tham khảo:
1 Báo cáo Đánh giá tác động môi trường cho
Dự án “Tổ hợp Bauxit Nhôm Lâm Đồng”.
2 Báo cáo Đánh giá tác động môi trường cho
Dự án “Nhà máy sản xuất Alumin Nhân Cơ”.
3 Báo cáo xác nhận hoàn thành các công
trình bảo vệ môi trường cho dự án “Tổ hợp Bauxit Nhôm Lâm Đồng”.
4 Báo cáo quan trắc môi trường định kỳ -
Công ty TNHH MTV Nhôm Lâm Đồng-TKV năm 2016,2017,2018.
5 Báo cáo quan trắc môi trường định kỳ - Công
ty Nhôm Đăk Nông - TKV năm 2016,2017,2018.
Assessment of the current status of environmental protection in bauxite ore
mining, sorting and alumina production in Lam Dong and Dak Nong
Dr Le Binh Duong, Vinacomin – Institute of Mining Science and Technology
Abstract:
Over the past years, the environmental protection in bauxite ore mining, sorting and alumina production at Lam Dong aluminum bauxite complex and Nhan Co alumina plant project have also been interested in implementing with solutions such as construction of environmental protection works, works of protection and coping with environmental incidents, raising awareness of environmental protection of officials and employees etc.,However, the inadequacy still exists and caused some minor incidents Therefore, in order to identify the causes and overcome the above-mentioned shortcomings, it is necessary to evaluate the current situation of environmental protection in bauxite ore exploitation and sorting in Vietnam Since, measures proposed to protect the environment in bauxite ore mining and sorting in the coming time.
Trang 29KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG 27
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO CÁC TRẠM XỬ LÝ NƯỚC THẢI
MỎ THAN THUỘC TKV
Ths Nguyễn Tiến Dũng
TS Bùi Thanh Hoàng
TS Nguyễn Văn Hậu
áp dụng, mức độ yêu cầu về nước thải đầu ra và khả năng đáp ứng về mặt tài chính mà các hệ thống
xử lý nước thải có thể được áp dụng với những quy trình công nghệ xử lý khác nhau Các trạm xử
lý nước thải mỏ đã và đang vận hành đáp ứng yêu cầu để xả nước thải mỏ ra môi trường theo quy định Tuy nhiên, việc khảo sát, đánh giá một cách tổng thể toàn bộ các trạm xử lý nước thải mỏ than thuộc TKV để phát hiện ra những ưu, nhược điểm, từ đó nghiên cứu đề xuất các giải pháp tổng hợp nhằm nâng cao hiệu quả, giảm chi phí xử lý nước thải mỏ than thuộc TKV là hết sức cần thiết Bài báo này, tóm tắt kết quả kháo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho các trạm xử lý nước thải mỏ than thuộc TKV cho thời gian tới.
1 Thực trạng nước thải và công nghệ xử
lý nước thải mỏ than trong TKV
1.1 Về tính chất nước thải mỏ
Ngành than hiện đang áp dụng 02 hình thức
khai thác lộ thiên và hầm lò Khai thác lộ thiên
thường tạo ra các hố moong sâu so với địa hình
tự nhiên của khu vực, nguồn nước chảy vào
moong bao gồm nước ngầm và nước mưa Khai
thác hầm lò tạo ra các đường lò đi sâu xuống
lòng đất, nguồn nước chảy vào hầm lò chủ yếu
là nước ngầm thấm ra Để khai thác được than
cần thực hiện bơm thoát nước ra khỏi khu vực,
từ đó xuất hiện nước thải mỏ
Nước thải mỏ thường có tính axít và hàm
lượng kim loại (chủ yếu là Fe, Mn) cao, nguyên
nhân là do trong các mỏ than đều có pyrít (FeS2)
đi kèm Khi khai thác than pyrít sắt có trong than
và trong các vỉa đá tiếp xúc với không khí và
nước, bị oxy hoá, sẽ tạo ra axít H2S04 Theo
công nghệ khai thác, vùng địa lý, địa chất tầng
khai thác và thời tiết (mùa mưa, khô), thành
phần các tác nhân gây ô nhiễm trên có thể thay
- Giai đoạn từ năm 2009 trở về trước: Giai đoạn này nước thải mỏ hầu như không qua xử
lý mà thải thẳng ra môi trường, một số mỏ có chất lượng nước tương đối xấu được xử lý bằng công nghệ hết sức đơn giản (trung hòa bằng sữa vôi + lắng) dẫn đến hiệu quả xử lý không cao Vì vậy, chất lượng nước sau xử lý đa số chưa đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn cho phép
- Giai đoạn từ năm 2009 trở lại đây: Việc xử
lý nước thải mỏ đã được TKV quan tâm nghiên cứu một cách bài bản, quy mô và có ứng dụng công nghệ tiên tiến trong nước cũng như nước ngoài, đồng thời hợp tác với nước ngoài để học hỏi kinh nghiệm một cách khoa học
Hiện nay, ngành than đang vận hành khoảng
40 trạm xử lý nước thải mỏ theo các nhóm công nghệ chính như sau:
Nhóm 1: Bể điều hòa → Trung hòa → Keo
tụ → Lắng (lắng ngang, lắng tấm nghiêng)
Trang 3028 KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải từ CL +38.I và
CLG +40 - mỏ than Dương Huy
Hệ thống xử lý nước thải CL +38.I và CLG +40 - mỏ
than Dương Huy
Nhóm công nghệ này chủ yếu áp dụng cho
nước thải mỏ có tính axít, hàm lượng TSS, Fe
vượt quy chuẩn cho phép, tuy nhiên hàm lượng
Mn tương đối thấp nằm trong giới hạn cho phép
Nhóm 2: Bể điều hòa → Trung hòa → Keo
tụ → Lắng (lắng ngang) → Khử Mangan bằng
bình lọc áp lực Nhóm công nghệ này có thể xử
Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải CL +260 khu Đông
Vàng Danh - Công ty than Uông B í
Hệ thống xử lý nước thải CL +260 khu Đông Vàng
Danh - Công ty than Uông Bí
lý triệt để nước thải có tính axít, hàm lượng TSS,
Fe, Mn cao vượt giới hạn cho phép Tuy nhiên, công nghệ này có nhược điểm tiêu tốn nhiều điện năng cho khâu lọc áp lực để xử lý Mn, dẫn đến chi phí xử lý tương đối cao
Nhóm 3: Bể điều hòa → Trung hòa → Keo
tụ → Lắng (lắng tấm nghiêng) → Khử Mangan bằng bể lọc trọng lực Công nghệ này đang ngày càng được ứng dụng nhiều cho xử lý nước thải
Sơ đồ công nghệ của Hệ thống xử lý nước thải mỏ
than Cọc Sáu
mỏ, có thể xử lý triệt để nước thải có tính axít, hàm lượng TSS, Fe, Mn cao vượt giới hạn cho phép Ngoài ra, công nghệ này có ưu điểm là chi phí đầu tư và vận hành thấp, thuận lợi trong
cải tiến, mở rộng hệ thống
Nhóm 4: Bể điều hòa → Keo tụ → Lắng I
(lắng đứng) → Trung hòa & Oxy hóa → Keo tụ
Trang 31KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG 29
Hệ thống xử lý nước thải mỏ than Cọc Sáu
Sơ đồ công nghệ của Hệ thống xử lý nước thải tập
trung khu vực Tràng Khê - Hồng Thái
Hệ thống xử lý nước thải mỏ than Tràng Khê - Công
ty than Uông Bí
→ Lắng II (lắng đứng) → Hạ pH bằng axit H2SO4
Công nghệ này mới được áp dụng tại Trạm xử
lý nước thải khu vực Tràng Khê - HồngThái do
MIRECO thiết kế, đây là trạm xử lý nằm trong
chương trình hợp tác với Hàn Quốc của TKV
2 Những vấn đề bất cập hiện nay trong quá trình vận hành các hệ thống xử lý nước thải mỏ than thuộc TKV
2.1 Vấn đề chung
Chất lượng nước thải đầu vào là yếu tố quyết định đến việc lựa chọn quy trình công nghệ xử lý Nếu nước thải đầu vào có tính axít, hàm lượng
Fe, cặn lơ lửng vượt giới hạn cho phép thì chỉ cần xử lý qua các công đoạn trung hòa, keo tụ, lắng (nhóm công nghệ số 1) là đảm bảo yêu cầu trước khi thải ra môi trường Tuy nhiên, thực tế thì rất nhiều trạm có nước thải đầu vào như trên, nhưng lại được đầu tư quy trình công nghệ để
xử lý cả mangan tức là bao gồm các công đoạn như trung hòa, keo tụ, lắng và lọc khử mangan Việc này đã làm phát sinh thêm công đoạn xử lý không cần thiết dẫn đến gia tăng chi phí xử lý
2.2 Bất cập từng khâu công nghệ
* Đối với khâu trung hòa:
Việc lưu giữ vôi cho các trạm đang được chuyển dần sang dạng silo nhằm giảm sức người, không gây ảnh hưởng đến môi trường, sức khỏe do phát sinh bụi bột vôi trong công đoạn pha chế Tuy nhiên, hầu hết các trạm đều không cấp trực tiếp vôi bột từ sillo vào bể trung hòa mà phải qua công đoạn pha thành dung dịch trước khi cấp vào bể trung hòa Kinh nghiệm trên thế giới và ngay tại trạm XLNT mỏ than Vàng Danh cho thấy việc cấp trực tiếp vôi bột vào bể trung hoàn toàn khả thi, giảm khâu trung gian không cần thiết qua đó giảm thất thoát vôi bột Ngoài ra, các trạm hầu hết áp dụng trung hòa một cấp, định lượng hóa chất trung hòa bằng kinh nghiệm sẽ khó khăn trong kiểm soát chất lượng đầu ra
* Đối với khâu lắng:
- Bể lắng tấm nghiêng đang được sử dụng khá phổ biến đối với các trạm xử lý nước thải mỏ trong những năm gần đây Bể lắng tấm nghiêng được biết đến có hiệu suất lắng cao, giảm diện tích xây dựng bể Tuy nhiên, khảo sát thực tế tại các trạm nhận thấy đa số bể lắng sau một ca vận hành bông bùn đã bịt kín các ống lắng gây ảnh hưởng đến hiệu quả lắng Để giải quyết vấn
đề trên, công nhân vận hành buộc phải dừng xử
lý, xả hết nước trong bể lắng rồi dùng vòi áp lực
Trang 3230 KHCNM SỐ 5/2019 * CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
cao để xịt rửa Việc thường xuyên phải xịt rửa
ảnh hưởng đến năng lực xử lý của trạm
- Bể lắng ngang được sử dụng tại các trạm
xử lý nước thải mỏ được đầu tư trong giai đoạn
đầu đa số thiết kế chưa phù hợp, hay có thể nói
chưa đúng theo tiêu chuẩn quy định dẫn đến
hiệu quả lắng chưa cao, ngoại trừ các trạm xử lý
Dương Huy, Mông Dương được thiết kế tương
đối phù hợp
* Đối với khâu xử lý bùn:
Bể lắng bùn thường có chiều cao từ 1m
đến 1,5m Bùn thu từ các bể lắng được bơm
về bể lắng bùn Để thoát nước trong, bể có hệ
thống ống thoát có van, bố trí thành nhiều tầng
(thường là 2 tầng) Thực tế khảo sát nhận thấy
hầu hết bùn trong bể lắng ở trạng thái khó lắng,
khó tách nước, dẫn đến thời gian lưu bùn lớn,
lại phụ thuộc vào điều kiện thời tiết (khi trời mưa,
bùn lại bị làm loãng trở lại) Ngoài ra, chưa có có
quy định cụ thể về tỷ lệ rắn/lỏng trước khi vận
chuyển đi đổ thải Quá trình đổ thải tại bãi thải
có thể là nguồn tái ô nhiễm đối với môi trường
xung quanh
* Đối với khâu lọc khử mangan:
Các chất bẩn dạng hạt và dạng keo thường
nhanh chóng tích tụ trên bề mặt lớp vật liệu
trong bể lọc và tạo thành một lớp màng tại các
bể lọc xuôi chiều Lớp màng này càng dễ hình
thành khi vật liệu trong bể không có thành phần
cấp phối đồng nhất, các hạt nhỏ bị đưa lên lớp
trên, các hạt to nằm lại ở dưới sau mỗi lần rửa
ngược Đây là lý do khiến bể lọc nhanh bị tắc,
thậm chí xảy ra hiện tượng áp suất âm do trở
lực sinh ra trong bể (đặc biệt là qua lớp màng
cặn) lớn, vượt qua cả thế năng của lượng nước
ở trên bể Màng cặn cũng làm cho dung lượng
chứa cặn trong bể giảm vì cặn chưa vận chuyển
được xuống các lớp vật liệu bên dưới, bể đã bị
tắc, sẽ phải ngừng bể lọc rửa thường xuyên,
gây tốn kém, đồng thời nước sau lọc có chất
lượng kém Điều này đã xảy ra ở trạm XLNT
600 m3/h, 1.200m3/h mỏ than Mạo Khê làm ảnh
hưởng tới hiệu quả lọc Mn
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới giá thành
xử lý
Nhìn chung, tính chất nước thải đầu vào là
yếu tố chính quyết định chi phí xử lý, nước thải
có pH thấp, hàm lượng kim loại nặng (Fe, Mn), cặn lơ lửng lớn sẽ tiêu tốn nhiều hóa chất, tăng chi phí xử lý bùn dẫn đến chi phí xử lý cao Công nghệ xử lý cũng ảnh hưởng đến chi phí xử
lý, thực tế nhóm công nghệ II thường có chi phí
xử lý cao hơn nhóm công nghệ 3 khi so sánh ở cùng công suất, chất lượng nước thải đầu vào Mặt khác, đối với các trạm có cùng tính chất nước thải đầu vào, trạm XLNT có công suất lớn
sẽ có chi phí xử lý nhỏ hơn
3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho các trạm xử lý nước thải mỏ than thuộc TKV
Thông qua thực trạng, các vấn đề bất cập, tham khảo công nghệ của thế giới đề xuất một
số giải pháp để nâng cao hiệu quả cho các trạm
xử lý nước thải mỏ than thuộc TKV như sau:
3.1 Các giải pháp tổng thể
- Trang bị hệ thống điều khiển tự động trong quá trình vận hành các trạm xử lý để kiểm soát hiệu quả của từng khâu công nghệ nhằm kiểm soát tốt chất lượng nước sau xử lý, hạn chế sự phụ thuộc vào yếu tố kinh nghiệm của người vận hành trực tiếp
- Đối với các trạm xử lý có thiết kế hệ thống
bể lọc khử mangan, trong khi thực tế hàm lượng mangan trong nước thải đầu vào nằm trong giới hạn cho phép cần cải tiến tách biệt hai khâu công nghệ lắng và lọc bằng van đóng chặn, nước sau lắng dẫn trực tiếp ra môi trường, công đoạn lọc
dự phòng trong trường hợp hàm lượng mangan nước thải đầu vào vượt giới hạn cho phép theo các giai đoạn khai thác Trong trường hợp nước thải sau bể lắng chưa đạt hoặc yêu cầu chất lượng nước sau xử lý cao hơn thì có thể thay thế vật liệu lọc cát mangan bằng các loại cát thông thường khác có giá thành rẻ, thông dụng hơn
3.2 Các giải pháp cụ thể đối với các khâu công nghệ
- Cần khuyến khích chuyển sang áp dụng hệ thống chứa và cấp vôi bột tự động dạng silo để đảm bảo vệ sinh, sức khỏe của công nhân Vôi bột nên cấp trực tiếp vào bể trung hòa, việc cấp cũng cần phải phù hợp để quá trình hòa trộn