Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản: Số 1/2017 thông tin đến quý độc giả một số bài viết như: dư lượng thuốc trừ sâu gốc clo trên hải sản tại Khánh Hòa; ảnh hưởng của một số loại thức ăn đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata Bleeker, 1852) giai đoạn cá hương; sự thay đổi chất lượng cảm quan và thành phần sinh hóa cơ bản của rong nho (Caulerpa lentillifera) theo thời gian nuôi trồng...
Trang 1THÔNG BÁO KHOA HỌC
DƯ LƯỢNG THUỐC TRỪ SÂU GỐC CLO TRÊN HẢI SẢN
TẠI KHÁNH HỊA
ORGANOCHLORINE PESTICIDE RESIDUES IN SEAFOOD
AT KHANH HOA PROVINCE
Nguyễn Thuần Anh 1 , Phan Thị Thanh Hiền1
Ngày nhận bài: 14/7/2015; Ngày phản biện thơng qua: 8/12/2015; Ngày duyệt đăng: 10/3/2017
TĨM TẮT
Mục đích của nghiên cứu này nhằm cung cấp những thơng tin về dư lượng thuốc trừ sâu gốc Clo trong các loại hải sản đại diện cho 5 loại hình nghề khai thác phổ biến ở Khánh Hịa được khai thác với sản lượng lớn và tiêu thụ nhiều để từ đĩ cĩ các giải pháp kịp thời nhằm đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng Hàm lượng thuốc trừ sâu gốc Clo được phân tích bằng phương pháp sắc ký khí đầu dị bắt điện tử GC-ECD (Gas Chromatography - Electron Capture Detector) Kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ mẫu nhiễm Heptachlor, Aldrin, Endrin, Dieldrin lần lượt là 65,3%, 61,3%, 60,0% và 48,0% Hàm lượng thuốc trừ sâu gốc Clo trung bình của 5 lồi hải sản xác định được như sau: Heptachlor trong cá ngừ (7,5 µg/kg), mực (9,2 µg/kg), cá đổng (7,3 µg/kg), cá cờ (6,9 µg/kg) và cá nục (9,0 µg/kg); Aldrin trong cá ngừ (8,3 µg/kg), mực (9,5 µg/kg), cá đổng (5,2 µg/kg), cá cờ (7,3 µg/kg) và cá nục (12,9 µg/kg); Endrin trong cá ngừ (6,9 µg/kg), mực (5,7 µg/kg), cá đổng (6,7 µg/kg), cá
The objective of this study is to analyse organochlorine pesticide residues in seafoods consumed
in Khanh Hoa province, using representative of the 5 popular high-yield fi sheries exploitation types, and also provide timely solutions to ensure the consumers’ health The organochlorine pesticide contents are determined
by GC-ECD (Gas Chromatography - Electron Capture Detector) The results showed that the rates of samples contaminated by Heptachlor, Aldrin, Endrin, Dieldrin were 65.3%, 61.3%, 60.0% and 48.0%, respectively The average organochlorine pesticide concentrations in the fi ve seafood species were: Heptachlor in tuna (7.5 µg/kg), squid (9.2 µg/kg), paradise fi sh (7.3 µg/kg), horsehead fi sh (6,9 µg/kg) and round scad (9,0 µg/kg); Aldrin in tuna (8.3 µg/kg), squid (9.5 µg/kg), paradise fi sh (5.2 µg/kg), horsehead fi sh (7.,3 µg/kg) and round scad (12,9 µg/kg); Endrin in tuna (6.9 µg/kg), squid (5.7 µg/kg), paradise fi sh (6.7 µg/kg), horsehead fi sh (6.5 µg/kg) and round scad (6,9 µg/kg); Dieldrin in tuna (6…4 µg/kg), squid (6.6 µg/kg), paradise fi sh (5.4 µg/kg), horsehead fi sh (6.6 µg/kg) and round scad (8.7 µg/kg) There is no signifi cant difference between the average heptachlor, aldrin, endrin, dieldrin concentrations in seafood (horsehead fi sh, tuna, paradise fi sh, round scad and squid) (P > 0,05).
Key words: seafood, organochlorine pesticides, fi sh port, horsehead fi sh, tuna, paradise fi sh, round scad, squid, Khanh Hoa
1 Khoa Cơng nghệ Thực phẩm - Trường Đại học Nha Trang
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hải sản là một nguồn thực phẩm giàu dinh
dưỡng nhưng ở nước ta do chưa được kiểm
soát tốt nên hải sản kém chất lượng vẫn được
lưu thông trên thị trường và tiềm ẩn nhiều mối
nguy gây mất an toàn cho sức khỏe người tiêu
dùng Hiện nay, thuốc trừ sâu được sử dụng
khá phổ biến trong nông nghiệp Việc sử dụng
thuốc trừ sâu bừa bãi, không tuân thủ các qui
định trong quá trình trồng trọt làm ảnh hưởng
đến môi trường đất, nước Khi phun thuốc trên
cây trồng, có hơn 50% thuốc bị rơi vãi xuống
đất Ước tính có tới 90% thuốc sử dụng không
tham gia diệt sâu, bệnh mà gây nhiễm độc cho
đất, nước, không khí và nông sản Trong số các
nhóm thuốc trừ sâu thì thuốc trừ sâu gốc Clo có
khả năng tồn lưu rất lâu trong môi trường đất,
nước và khó bị phân hủy hơn các nhóm thuốc
trừ sâu khác Quá trình rửa trôi của các cơn
mưa làm nước bị nhiễm thuốc trừ sâu Thêm
vào đó là hệ thống kênh rạch, sông ngòi, ao hồ
dễ dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước trên
diện rộng Các loài thủy hải sản sống trong môi
trường nước bị ô nhiễm thuốc trừ sâu sẽ có
khả năng bị nhiễm mối nguy này từ môi trường
nước và từ nguồn thức ăn do sự tích lũy sinh
học (Fontcubert và cộng sự, 2008; Meng và
cộng sự, 2009; Moon và cộng sự, 2009)
Thuốc trừ sâu gốc Clo không chỉ phát
hiện được trong nước và thủy sản ở Việt Nam
(Kannan và cộng sự, 1992; Dang và cộng sự,
2001; Hung và Thiemann, 2002; NAFIQAD,
2006; Ngo, 2008; Hsia và Huiyi, 2008) mà
còn ở các nước châu Á khác như Thái Lan,
Campuchia, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, Indonesia,
Hồng Kông, Trung Quốc và Nhật Bản (Monirith
và cộng sự, 2000; Cheevaporn và cộng sự,
2005; Yang và cộng sự, 2006; Guo và cộng
sự, 2007; Hsia và Huiyi, 2008) và một số nước
trên thế giới như Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico, Úc, Niu
Di-lân, Ma rốc (Kelly, 1994; Stancius và cộng
sự, 2005; Vannoort và Thomson, 2005; Coat
và cộng sự, 2006; Bouchaib và cộng sự, 2007)
Thường xuyên ăn phải những thực phẩm có
thuốc trừ sâu sẽ gây những tác động không tốt
đối với cơ thể Do đó, việc kiểm tra hàm lượng thuốc trừ sâu trong các sản phẩm thủy hải sản được sự quan tâm đặc biệt của rất nhiều tổ chức quốc tế và quốc gia nhằm bảo vệ sức khỏe con người
Khánh Hòa là tỉnh duyên hải Nam - Trung
Bộ có sản lượng đánh bắt và tiêu thụ hải sản lớn, là đầu mối cung cấp hải sản quan trọng cho cả nước Bên cạnh đó, Khánh Hòa còn là vùng chuyên canh nông nghiệp khá lớn ở khu vực Nam - Trung Bộ nên việc sử dụng thuốc trừ sâu khá phổ biến Trong số các loại thuốc trừ sâu thì thuốc trừ sâu gốc Clo hiện nay đang
bị lạm dùng nhiều, rất độc và lại có khả năng tồn lưu lâu trong môi trường Vì vậy, việc khảo sát dư lượng thuốc trừ sâu gốc Clo trong các loài hải sản được khai thác với sản lượng lớn
và được tiêu thụ nhiều là vấn đề mang tính chất thời sự và cấp thiết cao để từ đó có các giải pháp cụ thể giúp bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng
II ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: 5 loại hải sản đại diện cho 5 loại hình nghề khai thác ở Khánh Hòa (sản phẩm nghề chụp: mực, sản phẩm nghề lưới kéo: cá đổng, sản phẩm nghề lưới rê: cá ngừ, sản phẩm nghề lưới vây: cá nục, sản phẩm nghề câu: cá cờ) Đây là các loại hải sản được khai thác với sản lượng lớn và tiêu thụ nhiều tại Khánh Hòa
Mẫu để phân tích thuốc trừ sâu gốc Clo được lấy tại 5 cảng cá (cảng cá Hòn Rớ, cảng
cá Vĩnh Trường, cảng cá Vĩnh Lương, cảng cá
Đá Bạc và cảng cá Đại Lãnh)
Số lượng mẫu của 5 loại hải sản được lấy tại 5 cảng ở 3 đợt trải đều trong năm là 75 mẫu (5 loại*5 cảng* 3 đợt = 75 mẫu) Việc lấy mẫu được thực hiện theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5276:1990 và quy định của Bộ Y tế tại Thông tư số 14/2011/TT-BYT ngày 01/4/2011 (Bộ Y tế, 2011) Khối lượng mẫu lấy tại 1 điểm trong 1 lần thu mẫu là 1,5 kg (nếu khối lượng của cá thể lớn hơn 1,5 kg thì lấy toàn bộ
Trang 3cá thể ấy) Mẫu mang tính đại diện, đảm bảo
tính khách quan, ngẫu nhiên và được bao gói,
ghi ký mã hiệu nhận diện Mẫu được lấy bằng
dụng cụ đã được rửa sạch, sấy khô Mẫu và
nước đá được bỏ vào các túi nilon sạch riêng
biệt và cột chặt miệng rồi bỏ vào thùng cách
nhiệt để duy trì nhiệt độ 0 - 50C Tránh không
cho nước đá tiếp xúc trực tiếp với mẫu Mẫu
nhanh chóng vận chuyển về phòng thí nghiệm
phân tích Việc bảo quản mẫu được thực hiện
ở -800C tại Trung tâm Thí nghiệm - Thực hành,
Trường Đại học Nha Trang
Mẫu được loại nước bằng Na2S04 khan và
dùng hỗn hợp n-hexane:acetone (2:1, v/v) để
ly trích các thuốc trừ sâu gốc Clo ra khỏi mẫu
Thực hiện tách chiết và làm giàu mẫu trên cột
fl orisil Hàm lượng thuốc trừ sâu gốc Clo được
xác định bằng phương pháp sắc ký khí đầu
dò bắt điện tử GC-ECD (Agilent 6890, Mỹ)
(AOAC 2007.01, 2007) với giới hạn phát hiện
(LOD: Limit of Detection) xác định được từ
thực nghiệm là: 2,4 - D methyl ester: 3 µg/kg;
silvex methyl ester: 1 µg/kg; lindan: 0,4 µg/kg;
heptachlor, dieldrin: 0,3 µg/kg; aldrin: 0,6 µg/kg;
γ - chlordan: 4,6 µg/kg; α - chlordan: 3,5 µg/kg; nonachlor: 3,8 µg/kg; pp’ - DDE: 0,8 µg/kg; endrin: 0,4 µg/kg; pp’ - DDT: 0,7 µg/kg; methoxychlor: 2,3 µg/kg Sử dụng chất chuẩn thuốc trừ sâu gốc Clo của Supelco (USA) và hóa chất tinh khiết của Merck (Đức)
Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của các giá trị dư lượng thuốc trừ sâu gốc Clo trung bình trong 5 loại hải sản khai thác được kiểm tra bằng phép phân tích phương sai một yếu tố (one-way ANOVA) ở mức ý nghĩa α = 0,05
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kết quả phân tích tình hình nhiễm thuốc trừ sâu gốc Clo trên 5 loại hải sản tương ứng với
5 loại hình nghề khai thác tại Khánh Hòa cho thấy tất cả các mẫu phân tích tích đều không phát hiện thấy 2,4 - D methyl ester, silvex methyl ester, lindan, α- chlordan, γ - chlordane, nonachlor, pp’DDE, pp’DDT, methoxychlor nhưng lại phát hiện thấy bị nhiễm heptachlor, aldrin, endrin, dieldrin với tỷ lệ (%) mẫu nhiễm được trình bày ở biểu đồ Hình 1
Hình 1 Tỷ lệ (%) nhiễm heptachlor, aldrin, endrin và dieldrin trong mẫu phân tích 5 loài hải sản
(cá cờ, cá nục, cá ngừ, cá đổng, mực) khai thác tại Khánh Hòa
Trang 4Kết quả trình bày ở Hình 1 cho thấy tỷ lệ mẫu
hải sản nhiễm thuốc trừ sâu gốc Clo như sau:
65,3% mẫu nhiễm Heptachlor (trong đó 13,3%
mẫu cá ngừ, 14,7% mẫu mực, 13,3% mẫu cá
cá cờ và 13,3% mẫu cá nục)
Hàm lượng Heptachlor, Aldrin, Endrin và Dieldrin trung bình, nhỏ nhất và lớn nhất trong các mẫu phân tích 5 loại hải sản khai thác tại Khánh Hòa được trình bày ở Bảng 1
Bảng 1 Hàm lượng heptachlor, aldrin, endrin và dieldrin trung bình, nhỏ nhất và lớn nhất trong các mẫu phân tích 5 loại hải sản (cá cờ, cá nục, cá ngừ, cá đổng, mực) khai thác tại Khánh Hòa
Kết quả biểu diễn ở Bảng 1 cho thấy: hàm
lượng Heptachlor trung bình trong cá ngừ
Việc kiểm tra bằng phép phân tích phương
sai một yếu tố kèm theo phép so sánh luân phiên
từng cặp cho thấy không có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê (P > 0,05) giữa hàm lượng
Heptachlor, Aldrin, Endrin và Dieldrin trung bình
trên các mẫu phân tích 5 loại hải sản (cá ngừ,
Kết quả phân tích hàm lượng thuốc trừ sâu gốc clo (heptachlor, aldrin, endrin, dieldrin) trung bình trên 5 loại hải sản trong nghiên cứu này được so sánh với các mức giới hạn hàm lượng thuốc trừ sâu gốc Clo được phép có trong thủy sản theo quy định của Cộng đồng chung Châu
Âu và Việt Nam được trình bày ở Bảng 1
Trang 5Kết quả so sánh ở Bảng 1 cho thấy hàm
lượng thuốc trừ sâu gốc Clo trung bình trong
hải sản khai thác tại Khánh Hòa của nghiên
cứu này thấp hơn giới hạn hàm lượng thuốc
trừ sâu cho phép trong thủy sản của Cộng
đồng Châu Âu (Chỉ thị 96/23/EC) và Việt Nam
(Quyết định số 46/2007/QĐ-BYT) Mặc dù hàm
lượng thuốc trừ sâu Clo trong hải sản xác định
từ nghiên cứu này nằm trong ngưỡng giới hạn
cho phép trong quy định Việt Nam và Châu Âu
nhưng chưa thể nói là an toàn vì còn tùy thuộc
vào lượng và tần suất sử dụng hải sản của
người tiêu dùng Hơn thế nữa, ngoài việc ăn
hải sản thì người tiêu dùng còn ăn các thực
phẩm khác cũng có khả năng chứa mối nguy
thuốc trừ sâu gốc Clo như rau, củ, trái cây
Do vậy, để đánh giá được mức độ an toàn cho
sức khỏe cũng như nguy cơ của người tiêu
dùng đối với mối nguy thuốc trừ sâu Clo do ăn
các thực phẩm ẩn chứa mối nguy này thì cần
tiến hành các nghiên cứu tiếp theo để đánh giá
mức độ tiêu thụ và phơi nhiễm của người tiêu
dùng đối với mối nguy này
IV KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết quả của nghiên cứu đã xác định được heptachlor, aldrin, endrin, dieldrin trong các mẫu hải sản đem phân tích với hàm lượng trung bình dao động từ 0,005 ÷ 0,01 mg/kg Việc đánh giá mức độ an toàn đối với sức khỏe
và cảnh báo nguy cơ của người tiêu dùng đối với các mối nguy thuốc trừ sâu gốc Clo trên cần được tiếp tục thực hiện để đưa ra các giải pháp quản lý an toàn thực phẩm hải sản có hiệu quả Tuy nhiên, trong thời điểm hiện tại
để đảm bảo an toàn thực phẩm, phòng tránh cho người tiêu dùng khỏi nguy cơ đối với mối nguy thuốc trừ sâu thì cần kiểm soát chặt chẽ việc chấp hành các quy định trong việc
sử dụng thuốc trừ sâu, đồng thời kết hợp với tuyên truyền việc sử dụng thuốc trừ sâu đúng nguyên tắc
Bảng 2 So sánh kết quả hàm lượng thuốc trừ sâu gốc Clo (heptachlor, aldrin, endrin, dieldrin) trung bình trên 5 loại hải sản đại diện cho 5 loại hình nghề khai thác
trong nghiên cứu này với các quy định liên quan
Thuốc trừ
sâu gốc Clo
Giới hạn cho phép (mg/kg)
của Cộng đồng chung
Châu Âu (Chỉ thị 96/23/EC)
và Việt Nam (Quyết định
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 68 Cheevaporn V., Duangkaew K., Tangkrock-Olan N., 1994 Environmental Occurrence of Organochlorines in the East Coast of Thailand Journal of Health Science, 2005, 51, 1: 80-88.
9 Coat S., Bocquené G., and Godard E., 2006 Contamination of some aquatic species with the organochlorine pesticide chlordecone in Martinique Aquatic Living Resources, 19: 181-187
10 Dang D.N., Carvalho F.B., Nguyen M.A., Nguyen Q.T., Nguyen T.H.Y., Villeneuve J.P., Cattini C., 2001 Chlorinated pesticides and PCBs in sediments and molluscs from freshwater canals in the Hanoi region Environmental Pollution, 112: 311-320
11 European Union (EU), 1996 Council Directive 96/23/EC on measures to monitor certain substances and residues thereof in live animals and animal products
12 Fontcuberta M., Arqués J.F., Villalbí J.R., Martínez M., Centrich F., Serrahima E., Pineda L., Duran J., Casas C.,
2008 Chlorinated organic pesticides in marketed food: Barcelona, 2001–06 Science of the Total Environment 389: 52-57
13 Guo J.Y., Zeng E.Y., Wu F.C., Meng X.Z., Mai B.X., Luo X.J., 2007 Organochlorine pesticides in seafood products from southern China and health risk assessment Journal Environmental Toxicology and Chemistry,
26, 6: 1109-1115
14 Hsia T L., Huiyi S., 2008 Technical Compilation of Heavy Metals, Pesticide Residues, Histamine and Drug Residues in Fish and Fish Products in Southeast Asia Japanese Trust Fund II Project on Research and Analysis
of Chemical Residues and Contamination in Fish and Fish Products 2004 ÷ 2008, 212p
15 Hung D.Q., Thiemann W., 2002 Contamination by selected chlorinated pesticides in surface waters in Hanoi, Vietnam Chemosphere, 47: 357-367
16 Kannan K., Tanabe S., Hoang T.Q., Nguyen D.H., Tatsukawa R., 1992 Residue Pattern and Dietary Intake
of Persistent Organochlorine Compounds in Foodstuffs from Vietnam, J Archives of Environmental and Toxicology, 22: 367-374
17 Kelly A.G., Campbell D Persistent Organochlorine Contaminants in Fish and Shellfi sh from Scottish Waters, Scottish Fisheries Research Report, N.54, ISSN 0308 8022, The Scottish Offi ce Agriculture and Fisheries Department, 28p
18 Meng X.Z., Guo Y., Mai B.X., Zeng E.Y., 2009 Enantiomeric Signatures of Chiral Organochlorine Pesticides in Consumer Fish from South China Journal of Agricultural Food Chemistry, 57: 4299-4304
19 Monirith I., Nakata H., Watanabe M., Takahashi S., Tanabe S., Tana T.S., 2000 Organochlorine contamination
in fi sh and mussels from Cambodia and other Asian countries Water Science and Technology, 42: 241-252
20 Monirith I., Nakata H., Watanabe M., Takahashi S., Tanabe S., Tana T.S., 2000 Organochlorine contamination
in fi sh and mussels from Cambodia and other Asian countries Water Science and Technology, 42: 241-252
21 Moon H.B., Kim H.S., Choi M., Yu J., Choi H.G., 2009 Human health risk of polychlorinated biphenyls and organochlorine pesticides resulting from seafood consumption in South Korea, 2005-2007 Food and Chemical Toxicology 47: 181-1825
22 Stanciu G., Mititelu M., Gutaga S., 2005 Pesticides and Heavy Metals Determination in Marine Organisms from Black Sea, Chemical Bulletin of “POLITEHNICA” University of Timisoara, 50, 64,1-2:123-126
23 Vannoort R.W., Thomson B.M., 2005 New Zealand Total Diet Survey Agricultural Compound Residues, Selected Contaminants and Nutrients, New Zealand Food Safety Authority, New Zealand, ISBN 0-478-29801-3, 144p
24 Yang N., Matsuda M., Kawano M., Wakimoto T., 2006 PCBs and organochlorine pesticides (OCPs) in edible
fi sh and shellfi sh from China Chemosphere, 63, 8:1342-1352
Trang 7ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI THỨC ĂN ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG
VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ BỐNG TƯỢNG
(Oxyeleotris marmorata Bleeker, 1852) GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG
EFFECTS OF THREE DIFFERENT FEED TYPES ON GROWTH AND SURVIVAL RATE
OF MARBLE GOBY (Oxyeleotris marmorata Bleeker, 1852) JUVENILES
cá hương Cá cho ăn thức ăn trùn chỉ cĩ tốc độ tăng trưởng cao nhất với khối lượng cá khi hết thúc thí nghiệm đạt giá trị trung bình là 1,97 ± 0,45(g); khối lượng cá gia tăng đạt 82,4 ± 4,21% và tỷ lệ sống đạt 86,67% Khơng cĩ sự sai khác về tỷ lệ sống giữa nghiệm thức trùn chỉ và cá tạp (86,67 ± 12,34% và 90 ± 5,77%), tuy nhiên cĩ sự sai với nghiệm thức thức ăn chế biến.
Từ khĩa: cá bống tượng, thức ăn, tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng
ABSTRACT
Experiments on effects of several different foods on the growth and survival rate of marble goby fi sh were conducted during eight weeks The mean weight and length of fi sh used for the experiments was 1.08 g ± 0.32g; 4.713 ± 0.374cm/fi sh respectively and they were fed twice daily Three dietary treatments were applied including tubifex, trash fi sh and mixed diet, and each had three replicates (30 fi sh per tank) The results of this study showed that earthworm dietary treatment only affected growth and survival rate at late larval stages The young marble goby fed on tubifex showed the highest growth at the end of the treatment: 1.97 ± 0.45 (g); weight gain: 82.4 ± 4.21% and the survival rate of 86,67% Although the tubifex and trash fi sh treatment showed no differences in survival of the goby fi sh, they were signifi cantly different from the mixed diet treatment.
Keywords: goby fi sh, mixed diet, survival rate, growth rate
1 Viện Nuơi trồng thủy sản- Trường Đại học Nha Trang
THÔNG BÁO KHOA HỌC
1 ĐẶT VẤN ĐẾ
Cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata
Bleeker, 1852) là lồi đặc trưng của vùng nhiệt
đới, chúng cĩ thể thích nghi với cả mơi trường
nước ngọt và nước lợ (với độ mặn từ 4-15 ppt)
Cá cĩ sức sống cao, tương đối dễ nuơi và là một trong những lồi cá nước ngọt cĩ giá trị kinh tế cao Trong năm 2006, cá bống tượng loại 1 (600-800 g/con) cĩ giá lên tới 350.000 đ/kg Đến năm 2014, giá cá bống tượng trên
Trang 8thị trường vẫn giữ ở mức 320.000 đ/kg, riêng
ở Cà Mau giá cá bống tượng thương phẩm gia
tăng mạnh, đạt mức 480.000 đến 490.000đ/kg
đối với cá thương phẩm 600 - 800g/con, cá
có kích thước lớn từ 1kg/con trở nên có giá
530.000 đ/kg [12, 13, 14]
Cá bống tượng là loài có tốc độ tăng
trưởng chậm, đặc biệt ở giai đoạn dưới 100g
Từ giai đoạn cá bột phải mất 2 - 3 tháng nuôi
cá mới đạt chiều dài khoảng 3 - 4cm, muốn cá
đạt kích thước 100 g/con thì cần thêm 4 - 5
tháng nữa [1, 13]
Hiện nay, đã có rất nhiều các cơ sở cho
sinh sản nhân tạo thành công cá bống tượng
và đạt được những kết quả nhất định [1, 4],
tuy nhiên số lượng con giống vẫn chưa phục
vụ đủ cho nhu cầu nuôi cá bống tượng của
người dân Tỷ lệ sống của cá bống tượng ở
giai đoạn từ cá bột đến cá giống rất thấp, tỷ lệ
sống của cá trong giai đoạn này thường dao
động từ 25 đến 35% [1] Nguyên nhân chính
của tỷ lệ sống thấp đó là kích cỡ miệng của
cá rất nhỏ từ 0,08 đến 0,2 mm [7], chúng chỉ
ăn các loại động vật phù du có kích thước nhỏ
và những loại mồi hiện diện trong tầm mắt
chúng, chính vì vậy mà việc sản xuất giống
gặp nhiều khó khăn trong việc bổ sung dinh
dưỡng thức ăn cho cá
Có rất nhiều những nghiên cứu về dinh
dưỡng và thức ăn cho cá bống tượng bột như
Amornsakun (2002, 2003), Abol-Munafi (2002, 2006), Dương Tấn Lộc (2002), Bùi Minh Tâm và
Lê Như Xuân (1995) tuy nhiên những nghiên cứu này chủ yếu chỉ tập trung trên cá bống tượng từ 0 đến 30 ngày tuổi, những nghiên cứu về thức ăn trên cá hương còn rất hạn chế Theo Bùi Minh Tâm và Lê Như Xuân (1995), khi tiến hành thí nghiệm với các loại thức ăn khác nhau cho cá 30 ngày tuổi thì nghiệm thức cho ăn thức ăn trùn chỉ và nghiệm thức cho ăn thức ăn trùn chỉ kết hợp thức ăn viên cho tốc
độ tăng trưởng cao nhất (1,141g lên 4,586g) sau 60 ngày theo dõi Ngoài ra cũng theo các tác giả này khi theo dõi cá bống tượng hương
30 ngày tuổi đến 60 ngày thì thấy cá cho ăn cả ngày lẫn đêm cho tốc độ tăng trưởng cao hơn
so với cá chỉ cho ăn ngày hoặc chỉ cho ăn đêm
II ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cá bống tượng
(Oxyeleotris marmorata Bleeker, 1852), cá
thí nghiệm được 2 tháng tuổi với khối lượng
và kích thước trung bình là 1,08 ± 0,32g và 4,713 ± 0,373cm Thí nghiệm được bố trí thực hiện tại Trại thực nghiệm Nuôi và sản xuất giống nước ngọt Ninh Phụng - Trường Đại học Nha Trang từ 2/3/2015 đến 2/5/2015
Hình 1 Cá bống tượng thí nghiệm và hệ thống bể nuôi
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí với 3 nghiệm thức
thức ăn (NTTA) khác nhau là trùn chỉ, thức ăn chế
biến và thức ăn cá tạp, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Thí nghiệm được bố trí trong các bể composit có thể tích 100L/bể, mật độ 30 cá thể/bể Thí nghiệm được tiến hành trong 8 tuần
Trang 92.2 Thức ăn thí nghiệm
Thức ăn chế biến: bao gồm 70% cá tạp xay
nhuyễn + 30% bột đậu nành, vitamin premix,
khoáng Nguyên liệu được trộn đều, sau đó
được hấp chín và để nguội trước khi cho ăn
Thức ăn cá tạp được băm nhỏ vừa kích cỡ
miệng cá trước khi cho ăn
Thức ăn trùn chỉ là thức ăn sống, trước khi
cho ăn tiến hành rửa qua nước muối 3 - 5 ppm
trong vòng 5 phút, sau đó cho cá ăn
2.3 Chăm sóc và quản lý
Cá được cho ăn 2 lần/ngày vào 8 giờ sáng
và 17 giờ chiều với khẩu phần 7 - 10% khối
lượng thân Tuy nhiên trong quá trình cho ăn
thường xuyên phải theo dõi để điều chỉnh lượng
thức ăn cho phù hợp Sau khi ăn 1 giờ tiến hành
siphon loại bỏ chất thải, thức ăn dư thừa và cấp
lại lượng nước đã mất trong quá trình siphon
Các thông số môi trường như nhiệt độ, oxy, pH,
NH3/NH4+ được kiểm tra đo đạc thường xuyên
và duy trì ngưỡng thích nghi của cá Khối lượng
và chiều dài của cá được xác định sau khi kết
thúc thí nghiệm Kiểm tra tỷ lệ sống và quan sát
tình trạng sức khỏe của cá
3 Các chỉ tiêu theo dõi
Khối lượng cá ban đầu (start weight, WS) được xác định khi bố trí thí nghiệm Khi kết thúc thí nghiệm cân từng cá thể để xác định khối lượng cuối (End weight-WE) Các số liệu thu dùng để tính toán tỷ lệ sống (Survival rate-SR); mức gia tăng khối lượng (Weight Gain -WG); tốc độ tăng trưởng theo ngày (Daily Growth Rate-DGR; tốc độ tăng trưởng đặc biệt (Specifi c growth rate-SGR); hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR)
4 Phương pháp xử lý số liệu
Các giá trị trung bình và độ lệch chuẩn được xử lý trên chương trình Microsoft excel 2007 So sánh giá trị trung bình giữa các nghiệm thức dựa vào phép phân tích ANOVA
và phép thử Turkey với mức ý nghĩa <0,05 bằng chương trình SPSS Version 15.0
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên sinh trưởng của cá bống tượng Bảng 1 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cá bống tượng sau khi kết thúc thí nghiệm
Khối lượng ban đầu (g) 1,08 ± 0,32 1,08 ± 0,32 1,08 ± 0,32
Khối lượng cuối Wc(g) 1,97 ± 0,0455 c 1,43 ± 0,05b 1,25 ± 0,05a
Chiều dài ban đầu Lđ(cm) 4,74 ± 0,39 4,74 ± 0,39 4,74 ± 0,39
Chiều dài cuối Lc(cm) 5,549 ± 0,051c 5,177 ± 0,049b 4,94 ± 0,06a
WG (%) 82,4 ± 4,21 c 32,43 ± 4,64b 15,53 ± 4,88a
SGR (%/ngày) 1,07 ± 0,0414c 0,50 ± 0,063b 0,26 ± 0,076a
Các giá trị thể hiện trong bảng là trung bình ± sai số chuẩn Trong cùng hàng, giá trị trung bình
kèm theo chữ cái khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p<0.05)
Số liệu ở Bảng 1 cho thấy sau thời gian thí
nghiệm, cá tăng trưởng ở tất cả các nghiệm
thức, các loại thức ăn khác nhau trong các
nghiệm thức có ảnh hưởng khác nhau đến
khối lượng và chiều dài của cá khi kết thúc thí
nghiệm, mức gia tăng khối lượng, tốc độ tăng
trưởng theo ngày và tốc độ tăng trưởng đặc
biệt (SGR) với sự sai khác có ý nghĩa thống
kê (p<0,05)
Khối lượng và chiều dài trung bình của cá bống tượng khi kết thúc thí nghiệm ở NTTA sử dụng trùn chỉ đạt giá trị cao nhất với giá trị lần lượt là 1,97 ± 0,0455g; 5,549 ± 0,051cm, tiếp đến là nghiệm thức sử dụng thức ăn cá tạp và nghiệm thức thức ăn chế biến cho kết quả thấp nhất Các chỉ tiêu về sự gia tăng khối lượng
WG, SGR và DGR đều cho thấy thức ăn trùn chỉ mang lại kết quả tốt nhất trong các thức ăn
Trang 10thí nghiệm, tiếp đến là thức ăn cá tạp và cuối
cùng là thức ăn chế biến Giữa các nghiệm
thức này có sự sai khác có ý nghĩa thống kê
(P<0,05) Điều này phù hợp với nghiên cứu
của Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh
Tuấn, 2009 khi cho rằng thay thế sớm hoàn
toàn thức ăn tự nhiên bằng thức ăn nhân tạo
giai đoạn cá bột hay cá giống sẽ dẫn đến ức chế quá trình sinh trưởng của cá, gây cá bệnh
và cho tỷ lệ sống thấp
2 Ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên tỷ lệ sống và hệ số thức ăn của cá bống tượng
Hình 2 Tỷ lệ sống của các nghiệm thức thức ăn thí nghiệm
Hàm lượng các thành phần dinh dưỡng
trong thức ăn không những ảnh hưởng đến sự
sinh trưởng và phát triển của cá bống tượng mà
còn ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá trong quá
trình tiến hành thí nghiệm Kết quả nghiên cứu
cho thấy tỷ lệ sống của cá bống tượng ở nghiệm
thức cá tạp là cao nhất (90%), tiếp đến là nghiệm
thức thức ăn trùn chỉ (86,67%) và cuối cùng là
thức ăn chế biến (55,56%), không có sự sai khác
có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ sống giữa cá ăn thức
ăn trùn chỉ với cá ăn thức ăn cá tạp
Trùn chỉ là thức ăn ưa thích của nhiều loại
cá giống Rất nhiều các nghiên cứu đều chỉ ra
rằng ở giai đoạn giống, cá ăn thức ăn trùn chỉ
có tốc độ tăng trưởng nhanh, tỷ lệ sống cao như
Đỗ Minh Tri (2008); Nguyễn Văn Triều và ctv
(2008) Đỗ Minh Tri (2008) khi tiến hành nghiên
cứu thức ăn cho cá hú Pangasius conchophilus
giai đoạn giống cho thấy, cá cho ăn trùn chỉ
có tốc độ trăng trưởng (0,016 g/ngày) và tỷ lệ sống (98,67%) là cao nhất, kết quả này có sự khác biệt có ý nghĩa so với cá cho ăn hoàn toàn
thức ăn công nghiệp Nguyễn Văn Triều và ctv (2008) ương nuôi cá kết Kryptopterus bleekeri
giống bằng các loại thức ăn khác nhau cho thấy
tỷ lệ sống của cá sau 30 ngày ương đạt tốt nhất khi cho ăn trùn chỉ so với cho ăn bằng Artemia hay kết hợp hai loại thức ăn này [6] Tuy nhiên Trần Ngọc Hải và ctv (2011) khi nghiên cứu về
thức ăn cho cá ngát (Plotosus canius) với 3 loại
thức ăn (trùn chỉ, cá tạp và thức ăn viên) giai đoạn giống, kết quả nghiên cứu cho thấy sau 30 ngày ương, nghiệm thức có cho cá ăn thức ăn
cá tạp lại cho tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cao nhất, tiếp theo mới là nghiệm thức cho ăn trùn chỉ và thức ăn chế biến [2]
Hình 3 Hệ số thức ăn (FCR) của các nghiệm thức thức ăn thí nghiệm
Trang 11Hệ số sử dụng thức ăn ở các nghiệm thức
sử dụng các loại thức ăn khác nhau là tương
đối cao, đặc biệt là nghiệm thức thức ăn chế
biến lên tới 8,53 Nghiệm thức thức ăn trùn chỉ
có hiệu quả sử dụng thức ăn tốt nhất được
thể hiện qua hệ số sử dụng thức ăn thấp với
4,78; tiếp đến là thức ăn cá tạp và có sự sai
khác có ý nghĩa thống kê giữa nghiệm thức
Hệ số sử dụng thức ăn ở thí nghiệm rất cao,
điều đó cũng phù hợp với đặc tính sinh trưởng
của loài, cá bống tượng là loài tăng trưởng
chậm, đặc biệt ở giai đoạn dưới 100g Để cá
hương có kích thước từ 1,5 - 2cm phát triển lên
7-10 cm cần mất tới 4 tháng [6]
IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
- Sử dụng thức ăn trùn chỉ cho tốc độ tăng
trưởng và tỷ lệ sống tốt nhất trong giai đoạn
ương cá hương cá bống tượng, có sự sai khác có ý nghĩa với các nghiệm thức thức
ăn cá tạp, chế biến (p<0,05) Khối lượng và chiều dài khi kết thúc thí nghiệm của nghiệm thức thức ăn trùn chỉ lần lượt là 1,97 ± 0,45g; 5,549 ± 0,051
- Tỷ lệ sống của cá ở nghiệm thức thức ăn
cá tạp cao nhất đạt 90%, trùn chỉ là 86,67% và thức ăn chế biến là 55,55%
- Hệ số thức ăn của nghiệm thức thức ăn trùn chỉ thấp nhất 4,78, cá tạp chế biến lần lượt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1 Ng uyễn Chung, 2007 Kỹ thuật sinh sản và nuôi cá Bống tượng NXB Nông nghiệp, 126 trang
2 Trần Ngọc Hải và ctv, 2010 Nghiên cứu xây dựng qui trình công nghệ sản xuất giống cá ngát (Plotosus canius)
Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 12/2010, 95 trang
3 Trần Ngọc Hải, Lê Quốc Việt, Lý Văn Khánh và Cao Mỹ Án, 2011 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại thức
ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá ngát giai đoạn giống (Plotpsus canius, Hamilton 1882) Tạp chí Khoa
học Trường Đại học Cần Thơ 2011:18b: 254-261
4 Ng uyễn Phú Hòa, Dương Hữu Tâm, 2007 Tình hình nuôi cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata) tại xã Tân
Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tạp chí Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, KHKT Nông Lâm nghiệp, số 1&2/2007: 143-145
5 Dương Tấn Lộc, 2002 Kỹ thuật nuôi cá Bống tượng NXB Nông nghiệp, 32 trang
6 Nguyễn Văn Triều, Dương Nhựt Long và Nguyễn Anh Tuấn, 2008 Nghiên cứu ương giống cá kết (Micronema bleekeri) bằng các loại thức ăn khác nhau Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, 2008 (2): 67-75.
7 Lê Như Xuân, Dương Nhựt Long, Bùi Minh Tâm, 2000 Sinh học và kỹ thuật nuôi một số loài cá nước ngọt Giáo trình giảng dạy Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ: 109-121
8 Lê Như Xuân, Bùi Minh Tâm, 08/1995 Tài liệu tập huấn kỹ thuật nuôi thủy sản: 11-12
9 http://thuysanvietnam.com.vn/nuoi-ca-bong-tuong-gia-ban-cao-article-9371.tsvn
10 http://www.antv.gov.vn/tin-tuc/kinh-te/tp-ca-mau-gia-ca-bong-tuong-tang-dot-bien-63845.html
Trang 12Tiếng Anh
11 Abol-Munafi , A B, P T Liem and Ng B S., 2002 Studies on the larval rearing of Oxyeleotris marmoratus
(Bleeker) Paper presented at the Malaysian Science & Technology Congress 2002 Symposium C: Life Science
Sarawak, 12-14 December 2002, Malaysia
12 Abol-Munafi , A B, P T Liem, M V Van, M A Ambak, 2006 Histological ontogeny of the digestive system of
Marble Goby (Oxyeleotris Marmoratus) larvae Journal of Sustain Sci & Mngt, 2006 Vol 1(2): 79-86
13 A mornsakun, T Sriwatana, W and Chamnanwech, U, 2002 Some aspects in early life stage of sand goby,
Oxyeleotris marmoratus Larvae, Songklanakarin J Sci Technol, 24(4): 611-619
14 Am ornsakun, T., Sriwatana, W., and Chamnanwech, U., 2003 The culture of sand goby, Oxyeleotris marmoratus II: Gastric emptying times and feed requirements of larvae Songklanakarin J Sci Technol., 25(3): 373-379
15 Panu Tavarutmaneegul, 1988 Breeding and Rearing of Sand Goby (Oxyeleotris marmoratus Blk.)
Fry Aquaculture, 69, 29: 299-305
16 Poh Leong Loo et al, 2015 Manipulating culture conditions and feed quality to increase the survival of Larval Marble goby oxyeleotris marmorata North American Journal of Aquaculture 77:2: 149-159
Trang 13SỰ THAY ĐỔI CHẤT LƯỢNG CẢM QUAN VÀ THÀNH PHẦN SINH HĨA
CƠ BẢN CỦA RONG NHO (Caulerpa lentillifera)
THEO THỜI GIAN NUƠI TRỒNG
CHANGES OF SENSORY QUALITY AND BASIC BIOCHEMICAL CONTENTS UNDER (CAULERPA LENTILLIFERA) GRAPE SEAWEED CULTIVATION PERIODS
Vũ Ngọc Bội 1 , Nguyễn Thị Mỹ Trang 1, Hồng Thái Hà 2 , Đặng Xuân Cường 3
Ngày nhận bài: 22/12/2015; Ngày phản biện thơng qua: 26/9/2016; Ngày duyệt đăng: 10/3/2017
TĨM TẮT
Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu đánh giá sự thay đổi về chất lượng cảm quan và một số thành phần sinh hĩa cơ bản của rong nho theo thời gian nuơi trồng từ lúc bắt đầu thả giống đến giai đoạn 45 ngày tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy sau 35 - 40 ngày nuơi trồng, rong nho cĩ chất lượng cảm quan cao nhất nhưng sự tích lũy một số thành phần sinh hĩa như protein, khống chất, vitamin lại đạt cao nhất ở giai đoạn sau 40 ngày tuổi Như vậy để sử dụng rong nho như rau xanh chúng ta nên thu hoạch rong ở giai đoạn 35 - 40 ngày nuơi trồng.
Từ khĩa: rong nho, thời gian sinh trưởng, khống, vitamin
ABSTRACT
This study focused on the changes in sensory qualities, minerals and vitamin contents of grape seaweed
by growth periods from germination to 45 days The results showed that the sensory qualities of grape seaweed reached maximum between 35 and 40 days, whiles mineral and vitamin contents reached the maximum after
40 days of cultivation Thus, it is advisable for us to harvest grape seaweed between 35 and 40 days of cultivation in order to use as fresh vegetables.
Keywords: Grape seaweed, cultivation periods, mineral, vitamin
1 Khoa Cơng nghệ thực phẩm - Trường Đại học Nha Trang
2 Trường Cao đẳng Cơng thương Thành phố Hồ Chí Minh
3 Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Cơng nghệ Nha Trang
THÔNG BÁO KHOA HỌC
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Rong nho biển (Caulerpa lentillifera
J Agardh 1837) là lồi rong biển mới được di
nhập về nuơi trồng ở Việt Nam trong những
năm gần đây [ 22] Trên thế giới đã cĩ một số
cơng trình cơng bố về thành phần hĩa học của
rong nho cho thấy rong nho cĩ chứa các chất
sinh học cĩ giá trị như: vitamin nhĩm A, nhĩm B,
nhĩm C, polyphenol, chlorophyll,… và đặc biệt
là caulerpin - một chất cĩ tác dụng kích thích
vị giác làm ngon miệng cũng như cĩ khả năng giúp điều hịa huyết áp và tăng cường tiêu hĩa, kháng ung thư, chống đơng tụ máu, kháng virus, chống oxy hĩa [18], [19] , [20 ], [21] Tuy thế thành phần hĩa học của rong nĩi chung và rong nho nĩi riêng thường thay đổi theo độ tuổi
và vùng nuơi trồng Về mặt sinh học, khi phát triển đến giai đoạn đạt “độ chín” sinh lý, sinh vật nĩi chung và rong nĩi riêng thường tích lũy các chất với hàm lượng cao Riêng đối với thực vật
Trang 14trong đó có rong thường có mầu sắc hấp dẫn
nhất Chính vì thế, việc xác định thời điểm rong
nho có chất lượng cao nhất thể hiện qua mầu
sắc và sự tích lũy các chất dinh dưỡng cao
nhất làm cơ sở cho việc quyết định thời gian
thu hoạch rong là cần thiết Hiện nay, ở Việt
Nam chưa có một công trình nghiên cứu nào
công bố nghiên cứu đánh giá về thành phần
hóa học, sự thay đổi trạng thái của rong nho
theo thời gian nuôi trồng làm cơ sở cho việc
lựa chọn thời gian thu hoạch Do vậy, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá sự biến đổi
về chất lượng cảm quan và một số thành phần
sinh hóa trong rong nho theo thời gian nuôi
trồng tại vùng biển Cam Ranh - Khánh Hòa
làm cơ sở cho việc lựa chọn độ tuổi thu hoạch
cũng như đánh giá giá trị của rong nho
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Vật liệu nghiên cứu
Rong nho (Caulerpa lentillifera) được nuôi
trồng tại ao nuôi rong nho do PGS TS Nguyễn
Hữu Đại nuôi trồng tại tổ Phúc Ninh, phường
Cam Phúc Nam, TP Cam Ranh, tỉnh Khánh
Hòa Sau các khoảng thời gian nuôi trồng 30
ngày, 35 ngày,… 45 ngày, tiến hành thu mẫu
rong nho và loại bỏ phần thân bò, thu thân
đứng, xếp phần thân đứng của rong vào thùng
xốp có nắp đậy, trên nắp có lỗ thông khí, mỗi
thùng xốp chứa 20kg rong và vận chuyển ngay
về Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học -
Trung tâm Thực hành Thí nghiệm - Trường Đại
học Nha Trang để đánh giá chất lượng cảm
quan và phân tích một số thành phần sinh
hóa cơ bản của rong nho như vitamin nhóm A,
nhóm B, nhóm C, polyphenol, chlorophyll,
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Phương pháp phân tích
- Xác định độ ẩm: độ ẩm được xác định
bằng phương pháp sấy đến khối lượng không
đổi ở 1050C Độ ẩm của mẫu được tính theo
G1: Khối lượng cốc sấy và mẫu thử trước sấy (g)
G2: Khối lượng cốc thử và mẫu thử sau sấy (g)G: Khối lượng cốc sấy (g)
- Xá c đị nh hà m lượ ng tro toàn phần theo tiêu chuẩn TCVN 5484 : 2 002 [6]
- Xá c đị nh hà m lượ ng protein theo tiêu chuẩ n TCVN 4328 : 2001 [5]
- Xá c đị nh hà m lượ ng lipit theo tiêu chuẩn TCVN 7083 : 2002 [7]
- Xá c đị nh hà m lượ ng cacbohydrat tổng số theo TCVN 4594 : 1988 [17]
- Xác định hàm lượng iôt theo TCVN
63 41:1998 [4]
- Xác định hàm lượng các ion bằng phương pháp đo quang phổ hấp thụ nguyên tử theo TCVN: hàm lượng chì theo TCVN 7602:2007 (AOAC 972.25) [8], hàm lượng cadmi theo TCVN 7603:2007 (AOA C 973.34) [9], hàm lượng thuỷ ngân theo TCVN 7604:2007 (AO AC 971.21) [10], hàm lượng arsen theo TCVN 7770:2007 (ISO 17239:2004) [11], hàm lượng sắt, magiê, calcium kali theo TCV N 1537: 2007 [12], hàm lượng phospho theo
T CVN 9516:2012 [16]
- Xác định hàm lượng các vitamin theo phương pháp sử dụng sắc ký lỏng hiệu năng cao theo TCVN: hàm lượng vitamin A theo TCVN 8674:2011 [14], hàm lượng vitamin C bằng phương pháp sử dụng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) theo TCVN 8977:2011 [15], hàm lượng vitamin B1 theo TCVN 5162:
2008 [13]
2.2 Phương pháp xử lý số liệu
Kết quả phân tích được lặp lại 3 lần, kết quả là trung bình trung giữa các lần thí nghiệm Giá trị bất thường được loại bỏ bằng phương pháp Duncan Sử dụng phần mềm MS Excel
2010 để vẽ đồ thị
Trang 15III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Sự thay đổi chất lượng cảm quan rong
nho theo thời gian sinh trưởng
Kết quả nghiên cứu ở Hình 1 cho thấy
chất lượng cảm quan của rong nho thay đổi
mạnh theo thời gian sinh trưởng Cụ thể, ở
giai đoạn 30 ngày tuổi rong hơi non và có màu
xanh nhạt, cầu rong hơi mềm nên chất lượng
cảm quan chỉ đạt 17,2 điểm và chưa đạt yêu
cầu thu hoạch Ở giai đoạn 35 - 40 ngày tuổi,
rong nho có chất lượng cảm quan cao nhất
và đạt 18,2 điểm Khi tiếp tục nuôi rong đến
45 ngày, chất lượng cảm quan của rong nho giảm do rong hơi già độ giòn của cầu rong giảm,
độ dai của rong tăng và đặc biệt là tỷ lệ rong không sử dụng được cao Hơn nữa sự khác biệt
về chất lượng cảm quan của rong ở giai đoạn
35 - 40 ngày tuổi có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với chất lượng cảm quan của rong thu mẫu ở các thời điểm khác (p<0,05)
Hình 1 Sự thay đổi chất lượng cảm quan của rong nho theo thời gian nuôi trồng
Kết quả này có thể lý giải: khi rong chưa
đạt đến giai đoạn “chín” sinh lý tức rong còn
non, rong có hàm nước cao hơn và sự tích lũy
các chất như carbohydrate, protein, còn thấp
nên trạng thái rong hơi mềm Khi rong đạt độ
tuổi từ 35 - 40 ngày tuổi, sự tích lũy các chất
dinh dưỡng cao hơn nên rong có cấu trúc cứng
hơn, mầu sắc tốt hơn vì thế rong có trạng thái
cảm quan tốt hơn Ở thời điểm sau 45 ngày
tuổi, trong rong bắt đầu xảy ra sự già hóa, đồng
nghĩa với hàm lượng carbohydrate tăng cao,
hàm lượng nước Khi hàm lượng carbohydrate
trong rong càng cao thì rong càng dai do vậy
chất lượng cảm quan của rong giảm thấp hơn
so với thời điểm 40 ngày tuổi Kết quả nghiên
cứu của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên
cứu bước đầu của một số tác giả khác công bố
về quá trình sinh trưởng của rong nho trong bể
nuôi thí nghiệm [18], [2] Như vậy ở thời điểm
35 - 40 ngày tuổi, là thời điểm rong nho có chất
lượng cảm quan cao nhất Do vậy nếu xét theo
chất lượng cảm quan nên thu rong ở thời điểm
35 - 40 ngày tuổi
2 Sự biến đổi thành phần sinh hóa theo thời gian nuôi trồng rong nho
2.1 Sự biến đổi hàm lương carbohydrat, lipid
và protein theo thời gian nuôi trồng rong nho
Kết quả phân tích hàm lượng chất xơ (carbohydrat), lipid và protein ở rong nho cũng cho thấy hàm lượng các chất trên tăng theo thời gian nuôi trồng (Hình 2) Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây trên thế giới và ở Việt Nam về sự tích lũy các chất trong rong [1], [2], [18] Cụ thể, ở thời điểm 45 ngày tuổi, rong nho có hàm lượng các chất xơ, lipid và protein tích lũy cao nhất, tương ứng 2,3 ± 0,09%, 0,87 ± 0,04% và 6,8 ± 0,14% Kết quả phân tích cũng cho thấy hàm lượng chất xơ, lipid và protein có sự khác biệt mang nghĩa thống
kê dưới tác động của thời gian sinh trưởng (p<0,05) Tuy vậy, đối với hàm lượng protein
Trang 16của rong nho ở thời điểm 40 - 45 ngày sinh
trưởng lại không có sự khác biệt mang ý nghĩa
thống kê (p>0,05), đồng nghĩa với thời gian
nuôi 40 - 45 ngày, hàm lượng protein của rong
nho thay đổi không đáng kể Kết quả phân tích
cũng cho thấy hàm lượng protein ở rong nho
cao hơn hàm lượng chất xơ và hàm lượng
lipid Hàm lượng protein của rong nho thay
đổi chậm theo độ tuổi thu hoạch và nằm trong
khoảng từ 6,2 đến 6,8%
Kết quả phân tích cũng cho thấy hàm
lượng chất xơ chất xơ ở rong nho tăng rất
nhanh theo thời gian thu hoạch Cụ thể ở giai
đoạn 45 ngày tuổi, rong nho có hàm lượng
chất xơ là 2,3%, tăng 3,4 lần so với hàm
lượng chất xơ ở rong nho 30 ngày tuổi Theo
chi Caulerpa và ở những vùng khác nhau
cũng có sự khác biệt về hàm lượng protein, lipid và carbohydrat Hàm lượng protein ở loài
rong Caulerpa lentillifera cao hơn so với loài
C ashmeadii và C racemosa, nhưng thấp
hơn hàm lượng protein ở loài Caulerpa
paspaloides và Caulerpa scalpeliformis Từ
các phân tích ở trên cho thấy để hài hòa giữu các thành phần protein, lipid và carbohydrat nên thu hoạch rong ở thời điểm 35 - 40 ngày tuổi bởi sau 40 ngày tuổi rong có hàm lượng chất xơ cao nên rong già và dai vì thế khó sử dụng như rau xanh
Hình 2 Sự thay đổi hàm lượng chất xơ, protein và lipid theo thời gian nuôi trồng rong nho
2.2 Sự thay đổi hàm lượng vitamin A, B 1 và C
theo thời gian nuôi trồng rong nho
Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng
vitamin A, B1 và C trong rong nho tăng theo
thời gian nuôi trồng, thời gian nuôi trồng càng
dài hàm lượng các loại vitamin A, B1 và C trong
rong càng cao Cụ thể rong nho 40 ngày tuổi
có hàm lượng VTM A tăng cao gấp 3,7 lần
so với rong nho 30 ngày tuổi; Tương tự như
thế, hàm lượng vitamin C của rong nho cũng
tăng theo thời gian nuôi trồng Khi rong nho
đạt 40 ngày tuổi thì hàm lượng vi tamin C tăng
chậm và đến 45 ngày tuổi thì đạt mức cao nhất 16,3 ± 0,467 mg/kg Trong khi đó, vitamin B1chiếm hàm lượng nhỏ hơn các vitamin khác có trong thành phần của rong nho và có tốc độ tăng theo thời gian sinh trưởng chậm hơn Sau 45 ngày tuổi, hàm lượng vitamin B1 đạt cao nhất và
có hàm lượng 3,1 ± 0,117 mg/kg Kết quả phân tích Anova cũng cho thấy thời gian nuôi trồng
có tác động tích cực đến sự tích lũy vitamin
A, B1 và C trong rong nho (p<0,05), ngoại trừ khoảng thời gian 40 đến 45 tuổi là không tác động lên hàm lượng vitamin C (p>0,05)
Trang 17Sukalyan và cộng sự (2012) [20] cũng chỉ
ra hàm lượng vitamin C trong loài Caulerpa
scalpeliformis là 0,3 ± 0,02mg/g và hàm lượng
vitamin C có trong loài Caulerpa scalpeliformis
lớn hơn rong nho đang trình bày ở nghiên cứu
này So sánh với các nghiên cứu ở trên cho
thấy có mối tương quan chặt chẽ giữa sự tích
lũy vitamin với hàm lượng protein, lipid, chất xơ
và chất lượng cảm quan của rong nho theo độ
tuổi nuôi trồng Phối hợp kết quả này với các
nghiên cứu ở trên cho thấy độ tuổi thu hoạch
rong nho nên nằm trong khoảng 40 ngày
2.3 Sự biến đổi hàm lượng một số loại khoáng chất trong rong nho theo thời gian sinh trưởng
Kết quả phân tích hàm lượng khoáng cơ bản trong rong nho (Hình 4 và 5) cho thấy hàm lượng khoáng ở rong cũng tăng theo thời gian sinh trưởng và sự tích lũy khoáng cũng bị tác động mạnh bởi thời gian nuôi trồng (p<0,05) Kết quả phân tích còn cho thấy vào thời điểm
45 ngày thu hoạch, rong nho có hàm lượng khoáng cao nhất Phân tích cho thấy có sự tương đồng cao đối với sự tích lũy vitamin, protein, lipid và chất xơ (R2>0,8)
Hình 3 Sự thay đổi hàm lượng vitamin theo thời gian nuôi trồng rong nho
Hình 4 Sự tích lũy hàm lượng vitamin theo thời gian nuôi trồng rong nho
Các nguyên tố vi lượng cần thiết cho con
người như Iod, K, Ca, Mg, P ở rong non có
hàm lượng thấp và trong rong trưởng thành có
hàm lượng cao Hàm lượng Mg có trong rong
nho thấp nhất và mức độ tăng theo thời gian
nuôi trồng ít hơn so với các nguyên tố khác Khi
rong đạt 45 ngày tuổi, hàm lượng Mg đạt mức
0,67%, tăng 2,5 lần so với hàm lương Mg ở rong
30 ngày tuồi Tương tự như thế, hàm lượng K
của rong nho tăng mạnh từ 35 - 45 ngày tuổi và
đạt giá trị cao nhất 0,92 % khi rong ở 45 ngày tuổi Hàm lượng P thấp hơn K, nhưng sự biến đổi tương tự như K và đạt giá trị cao nhất 0,85% khi rong đạt 45 ngày tuổi Trong khi đó, hàm lượng Ca ở rong cao hơn các loại khác và tăng đột biến khi rong nho được 45 ngày tuổi, tương ứng 1,8% cao gấp 3,2 lần so rong nho 30 ngày tuổi (Hình 4 và 5) Hàm lượng Iod ở rong nho khá cao và đạt cao nhất 371,3 ± 14,68µg/kg DW khi rong 45 ngày tuổi (Hình 5)
Trang 18Duduku và cộng sự (2008) [19] cho thấy,
loài Caulerpa sp ở Trung Quốc có hàm lượng
Mg 0,949 ± 0,002%, Ca 0,943 ± 0,002%,
K 4,411 ± 0,079% và Fe 0,007% So sánh với
rong nho trồng ở Cam Ranh chúng tôi phân
tích cho thấy hàm lượng Ca và Fe ở rong
nho trồng ở Cam Ranh cao hơn so với loài
Caulerpa sp ở Trung Quốc và hàm lượng Mg
của loài Caulerpa sp ở Trung Quốc cao hơn
so với rong nho nuôi trồng ở Cam Ranh Sự
khác biệt này hoàn toàn có thể giải thích do sự
khác biệt về giống và vị trí địa lý
2.4 Sự thay đổi hàm lượng kim loại nặng tích lũy ở rong nho theo thời gian nuôi trồng
Kết quả phân tích cho thấy rong có hàm lượng kim loại nặng thấp và hàm lượng kim loại nặng ở rong nho cũng tăng theo thời gian nuôi trồng nhưng mức độ tăng không đáng kể Cụ thể, hàm lượng
As3+, Cd2+, Hg2+ nhỏ hơn 0,01mg/kg Riêng hàm lượng Pb2+ ở rong nho cao nhất là 0,076mg/kg vào thời điểm sau 35 ngày nuôi trồng và sau đó hàm lượng Pb2+ ở rong nho giảm mạnh (Hình 6) Điều đáng chú ý là hàm lượng Pb2+ cao nhất vào thời điểm 35 ngày nuôi trồng, sau đó lại giảm
Hình 5 Sự tích lũy hàm lượng iod và P theo thời gian nuôi trồng rong nho
Hình 6 Sự biến đổi hàm lượng kim loại nặng tích lũy ở rong nho theo thời gian nuôi trồng
Duduku và cộng sự (2008) còn cho thấy,
loài Caulerpa sp trồng tại Trung Quốc cũng
có hàm lượng kim loại nặng ở mức nhỏ hơn
0,002% [19] Tuy thế, hàm lượng kim loại nặng
của loài rong này lớn hơn nhiều so với hàm
lượng kim loại nặng của rong nho trồng ở Việt
Nam Kết quả phân ích cũng cho thấy có sự tác
động của thời gian nuôi rong đến hàm lượng
kim loại nặng (p>0,05), ngoại trừ hàm lượng
Hg2+ không bị tác động bởi thời gian nuôi rong
(p>0,05)
IV KẾT LUẬN
Từ các phân tích ở trên cho phép rút ra một
số kết luận như sau:
- Các thành phần sinh hóa cơ bản của rong nho Caulerpa lentillifera như protein, lipid, chất
xơ, vitamin B1, A, C,… đều tăng theo thời gian nuôi trồng rong
- Rong nho trồng ở Cam Ranh, Khánh Hòa
có hàm lượng kim loại nặng thấp hơn quy định của Bộ Y tế
- Để đảm bảo rong không bị dai, đạt tiêu chuẩn về cảm quan và các tiêu chuẩn khác nên thu hoạch rong ở giai đoạn 35 - 40 ngày tuổi
Trang 19TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1 Nguyễn Hữu Đại, 2009 Di nhập và trồng rong nho biển (Caulerpa lntillifera) ở Khánh Hòa Hội nghị khoa học
toàn quốc
2 Nguyễn Xuân Hòa, Nguyễn Hữu Đại và Nguyễn Xuân Vỵ, 2001 Sự hấp thụ, tích lũy Nitrat, Phosphat và khả
năng xử lý môi trường ưu dưỡng của rong Xà Lách Ulva (Chlorophyta, Ulvales) Tuyển tập Nghiên cứu biển
XI, Trang 105 - 114
3 Tiêu ch uẩn ngành 64 TCN 50 - 91 - Xá c đị nh hà m lượ ng ẩ m
4 TCVN 63 41:1998 - Muối iot Phương pháp xác định hàm lượng iôt
5 Tiêu ch uẩ n TCVN 4328 :2001 - Xá c đị nh hà m lượ ng protein
6 Tiêu ch uẩn TCVN 5484:2002 - Xá c đị nh hà m lượ ng tro toàn phần
7 Tiêu ch uẩn TCVN 7083:2002 - Xá c đị nh hà m lượ ng lipit
8 TCVN 76 02:2007 (AOAC 972.25): Thực phẩm Xác định hàm lượng chì bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử
9 TCVN 76 03:2007 (AOAC 973.34): Thực phẩm Xác định hàm lượng cadmi bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử
10 TCVN 76 04:2007 (AOAC 971.21): Thực phẩm Xác định hàm lượng thuỷ ngân bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử không ngọn lửa
11 TCVN 77 70:2007 (ISO 17239:2004): Rau, quả và sản phẩm rau, quả - Xác định hàm lượng arsen - Phương pháp
đo phổ hấp thụ nguyên tử giải phóng hydrua
12 TCVN 15 37: 2007 - Thức ăn chăn nuôi – Xác định hàm lượng canxi, đồng, sắt, magiê, mangan, kali, natri và kẽm – Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử
13 TCVN 5 162:2008 - Thực phẩm – Xác định vitamin B1 bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)
14 TCVN 86 74:2011 - Thức ăn chăn nuôi - Xác định hàm lượng vitamin A - Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao
15 TCVN 89 77:2011 - Thực phẩm - Xác định vitamin C bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)
16 TCVN 95 16:2012 - Thực phẩm - Xác định hàm lượng phospho - Phương pháp đo quang phổ
Tiếng Anh
17 AOAC 1 998 - Xá c đị nh hà m lượ ng cacbonhydrat
18 Daniel robledo and Yolanda Freile-Pelegrı´N., 2005 Volume Seasonal variation in photosynthesis and
biochemical composition of Caulerpa spp (Bryopsidales, Chlorophyta) from the Gulf of Mexico, Phycologia,
44 (3): 312-319.
19 Duduku Krishnaiah, Rosalam Sarbatly, D M R Prasad and Awang, 2008 Mineral content of some seaweeds from Sabah’s south china sea Asian Journal of Scientifi c Research, 1(2), 166-170
20 Nasrin Movahhedin, Jaleh Barar, Fatemeh Fathi Azad, Abolfazl Barzegari and Hossein Nazemiyeh, 2014
Phytochemistry and Biologic Activities of Caulerpa Peltata Native to Oman Sea Iran J Pharm Res 13(2):
515-521
21 Sukalya n Chakraborty & Tanushree Bhattachary, 2012 Nutrient composition of marine benthic algae found in the Gulf of Kutch coastline, Gujarat India J Algal Biomass Utln 3 (1): 32-38
22 http:/ /www.ninhthuan.gov.vn/chinhquyen/sonnnt/Pages/Rong-nho,-mot-trien-vong-moi.aspx
Trang 20NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA GELATIN, SORBITOL, TINH BỘT
BIẾN TÍNH ĐẾN ĐỘ BỀN ĐƠNG KẾT SURIMI CÁ HỐ (Trichiurus haumenla) EFFECTS OF GELATIN, SORBITOL, MODIFIED STARCH ON THE GEL STRENGTH
OF HAIRTAIL SURIMI (Trichiurus haumenla)
Từ khĩa: Cá hố (Trichiurus haumenla), độ bền đơng kết, surimi, tinh bột biến tính
ABSTRACT
The results of the study indicated that the folding grade of hairtail surimi was rather stable at different additive concentrations At the optimal concentration of additives (3.20% modifi ed starch, 4.00% sorbitol, 0.74% gelatin), the gel strength value increased from 332 g.cm to 867 g.cm, which was 2.61 times higher compared to the control sample [3].
Keywords:hairtail, gel strength, surimi, modifi ed starch
1 Khoa Cơng nghệ thực phẩm - Trường Đại học Nha Trang
THÔNG BÁO KHOA HỌC
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Độ bền đơng kết là chỉ tiêu quan trọng
trong đánh giá chất lượng surimi và sản phẩm
mơ phỏng, chỉ tiêu đề cập đến khả năng liên
kết của mạng lưới gel trong cấu trúc surimi
dưới tác dụng của lực nén Surimi là bán thành
phẩm, là nền protein để phục vụ sản xuất
sản phẩm mơ phỏng Surimi cĩ độ bền đơng
kết thấp dẫn đến chất lượng sản phẩm mơ
phỏng sẽ kém đi do khả năng liên kết mạng
lưới gel yếu, sản phẩm dễ bị nứt, gãy khi tác
động của lực trong cơng đoạn chế biến và sử
dụng Cĩ nhiều phương pháp cải thiện độ bền
đơng kết của surimi, tuy nhiên phối trộn phụ
gia bao gồm chọn lựa loại, chất lượng, tỷ lệ
bổ sung các chất phụ gia là cơng đoạn được
các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Vì
vậy việc tiến hành nghiên cứu “Ảnh hưởng của
gelatin, sorbitol, tinh bột biến tính đến độ bền đơng kết surimi cá hố” là cần thiết để cải thiện
chất lượng cho surimi sản xuất từ cá hố phục
vụ cho thị trường nội tiêu và xuất khẩu
II NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Nguyên vật liệu
1.1 Nguyên liệu cá hố
Cá hố nguyên liệu (Trichiurus haumenla)
sử dụng trong suốt quá trình thí nghiệm là cá hố câu, được đánh bắt tại vùng biển Khánh Hịa, thu mua ở cảng cá Lương Sơn, cá tươi được lựa chọn đạt tiêu chuẩn TCVN 3215:1988
Trang 21Cá hố được thu mua có kích thước đồng đều
với chiều dài thân từ 50-60cm, khối lượng
trung bình dao động từ 350-400 g/con
1.2 Chất phụ gia thực phẩm sử dụng trong
nghiên cứu
Chất phụ gia dùng trong nghiên cứu bao
gồm: Gelatin, Sorbitol, tinh bột phosphate (còn
gọi là tinh bột biến tính phosphate) Tất cả đều
đạt tiêu chuẩn tinh khiết dùng trong thực phẩm,
do Nhật Bản sản xuất, Công ty TNHH Hoàng
Anh - TP HCM nhập khẩu và phân phối
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Bố trí thí nghiệm
Cá hố tươi sau khi thu mua được bảo quản
bằng nước đá vẩy ở nhiệt độ 0 - 40C, vận
chuyển về phòng thí nghiệm trong thời gian
1 giờ Tiến hành xử lý rửa, tách thịt, nghiền
thô, rửa bằng dung dịch cồn Từ số liệu về quá
trình phối trộn phụ gia tinh bột biến tính 2,6%;
2,8% và 3,0%, 0,6%, 0,8% và 1,0%, sorbitol
3,8%, 4,0% và 4,2% sử dụng phân tích trên
phần mềm Design Expert 6.0 và tìm phương
trình hồi qui Thông số tối ưu hóa của quá trình
được suy ra từ những phân tích bề mặt đáp
ứng thu được Kết quả tối ưu được kiểm tra lại
bằng thực nghiệm nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa lý thuyết tối ưu và thực tế trước khi rút ra kết luận cuối cùng về các thông số của quá trình phối trộn phụ gia Để đánh giá hiệu quả sử dụng tinh bột biến tính, tác giả đã bố trí mẫu đối chứng dựa trên qui trình sản xuất surimi cá hố bổ sung phụ gia gồm tinh bột lúa
mì 2,0%, sorbitol 2,0% và gelatin 0,3% cho độ bền đông kết của surimi cá hố là 332 g.cm, tham khảo theo Giáo trình Khoa học về surimi
và sản phẩm mô phỏng [3]
Phối trộn phụ gia: hiện nay có rất nhiều loại phụ gia bổ sung trong sản xuất surimi cá hố Qua quá trình nghiên cứu của bản thân và kế thừa các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, trong nghiên cứu này 3 biến được chọn (Xi, i=1, 2, 3) là các chất phụ gia thực phẩm: tinh bột biến tính X1 (%), gelatin X2 (%)
và sorbitol X3 (%); hàm mục tiêu (Y) là độ bền đông kết của surimi cá hố, với khoảng nghiên cứu được xác định:
+ Tỷ lệ tinh bột biến tính bổ sung (X1):
2,6 - 3,0%+ Tỷ lệ sorbitol bổ sung (X2): 3,8 - 4,2%+ Tỷ lệ gelatin bổ sung (X3): 0,6 - 1,0%
Bảng 1 Điều kiện thí nghiệm lựa chọn tỷ lệ phối trộn phụ gia sản xuất surimi cá hố
Chọn phương trình hồi quy tuyến tính có dạng:
Sử dụng phần mềm Design Expert 6.0 đưa
ra phương trình hồi quy, mô hình toán học và
các biểu đồ, đồ thị thể hiện sự ảnh hưởng và
mối tương quan giữa các yếu tố: tỷ lệ tinh bột
biến tính, gelatin và sorbitol đến độ bền đông
Trang 22cá hố, số liệu phân tích được sử dụng để tính
toán, vẽ đồ thị
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Xác định tỷ lệ phụ gia tối ưu bổ sung vào surimi
bằng phương pháp quy hoạch thực nghiệm
Để nghiên cứu xác định được tỷ lệ tối
ưu của các loại phụ gia, sử dụng phần mềm
Design Expert 6.0 để phân tích ANOVA nhiều yếu tố nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa các loại phụ gia gồm tinh bột biến tính, gelatin, sorbitol với độ bền đông kết của surimi cá hố làm cơ sở cho việc lựa chọn tỷ lệ phụ gia tối ưu cho quá trình sản xuất surimi Kết quả tối ưu hóa nhằm xác định tỷ lệ phụ gia bổ sung vào surimi được thể hiện ở Bảng 2
Bảng 2 Kết quả xác định độ bền đông kết của surimi cá hố theo tỷ lệ phối trộn phụ gia
có bổ sung tinh bột biến tính sản xuất surimi
Bảng 3 Kết quả phân tích ANOVA về độ bền đông kết surimi
cá hố theo tỷ lệ phối trộn phụ gia đã chọn
Mức độ không tương thích (Lack of fi t) Không có ý nghĩa (not signifi cant)
Từ kết quả thu được ở Bảng 3 căn cứ vào
trị số Prob>F của mô hình có giá trị nhỏ hơn
0,05 và mức độ không tương thích của mô hình
lớn hơn 0,05 cho phép đánh giá mô hình có ý
nghĩa, giữ lại các hệ số có trị số Prob>F của các biến nhỏ hơn 0,05, loại bỏ các hệ số có trị số Prob>F lớn hơn 0,05 thu được phương trình hồi quy độ bền đông kết của surimi cá hố như sau:
Trang 23Kết quả phân tích ANOVA về yếu tố độ
bền đông kết của surimi cá hố được trình bày
trên Bảng 3 căn cứ vào trị số Prob>F có giá trị
bằng 0,005 nhỏ hơn 0,05 cho thấy mô hình hồi
qui hoàn toàn tương thích và có ý nghĩa Các
giá trị R bình phương và R bình phương hiệu
chỉnh có giá trị cao lần lượt là 0,989 và 0,968
Kết quả này cho thấy hàm hồi qui thu được
và các biến độc lập có mức độ phù hợp và
tương quan cao Các kết quả thực nghiệm thể hiện ở Bảng 4 cũng cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa kết quả tính toán và kết quả thực nghiệm
Kết quả tối ưu hóa theo phương trình hồi qui và kết quả thực nghiệm đánh giá độ bền đông kết của các mẫu surimi cá hố sản xuất có
bổ sung tinh bột biến tính để kiểm chứng kết quả tối ưu được thể hiện ở Bảng 4
Y = 847,75 + 15,25X1 + 6,00X2 + 5,50X3 - 5,5X1X3 – 7,25X2X3 (1)
Bảng 4 Kết quả tối ưu hóa tỷ lệ phụ gia bổ sung vào surimi theo phương trình hồi qui
và kết quả thực nghiệm kiểm chứng số liệu tối ưu hóa
Kết quả đánh giá độ bền đông kết của các mẫu surimi cá hố sản xuất thể hiện ở Bảng 4 cho thấy
có tương thích giữa kết quả đánh giá độ bền đông kết của các mẫu surimi cá hố thực nghiệm và kết quả tối ưu theo phương trình hồi quy
Kết quả này chứng tỏ phương trình hồi quy toán học đã xây dựng phù hợp với thực tế sản xuất surimi và phù hợp với các đặc tính của surimi
Hình 1A Ảnh hưởng và mối tương tác của tinh bột biến tính và sorbitol bổ sung đến độ bền đông kết của surimi cá hố
Hình 1A Ảnh hưởng và mối tương tác của tinh bột biến tính và sorbitol bổ sung
đến độ bền đông kết của surimi cá hố
Trang 24Từ kết quả nghiên cứu trình bày ở các
Hình 1A, 1B và 1C và phương trình hồi qui có
thể nhận định bước đầu khi giảm tỷ lệ các chất
phụ gia bổ sung vào surimi, đặc biệt là giảm tỷ
lệ tinh bột biến tính bổ sung thì độ bền đông
kết của surimi cá hố giảm Kết quả này có thể
lý giải là do trong cấu trúc của tinh bột biến tính
có nhiều nhóm hydroxy và có chứa các nhóm
phosphate, chính các nhóm này đã tham gia tạo thành các liên kết hydro và liên kết ion nối các chuỗi polypeptid với nhau cũng như nối chuỗi polypeptid với mạch tinh bột
Mặt khác, các nhóm hydroxy (-OH) và các nhóm phosphate chưa tham gia liên kết còn có thể liên kết với nước tự do trong khối gel surimi làm cho khối gel có cấu trúc chặt chẽ, khối gel
Hình 1B Ảnh hưởng và mối tương tác của gelatin và sorbitol bổ sung
đến độ bền đông kết của surimi cá hố
Hình 1C Ảnh hưởng và mối tương tác của tinh bột biến tính và gelatin bổ sung
đến độ bền đông kết của surimi cá hố
Trang 25trở nên đồng nhất và hạn chế sự tách nước
khi gia nhiệt và bảo quản đông Chính vì thế
khi có mặt của các loại phụ gia có khả năng
đồng tạo gel tạo lên kết với chuỗi polypeptid
của protein thịt cá như gelatin là protein có
chứa các acid amin có thể tạo liên kết ưa béo
và liên kết hydro, sorbitol là polyol có chứa
nhiều nhóm hydroxy có khả năng tạo liên kết
hydro và liên kết với nước và đặc biệt là tinh
bột biến tính vốn có chứa nhiều nhóm hydroxy
và nhóm phosphate có thể tạo liên kết hydro,
liên kết ion, liên kết hydro với nước sẽ làm cho
surimi có cấu hài hòa về các loại liên kết nên
khối gel surimi sẽ có độ bền đông kết tốt nhất
và trạng thái cấu trúc đồng đều, hài hòa nhất,
hạn chế việc kết tinh nước tạo tinh thể nước đá
khi bảo quản đông và hạn chế việc thoát nước
khi rã đông [3], [4], [5]
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ
bổ sung các loại phụ gia tối ưu được chọn trong sản xuất surimi cá hố là: tỷ lệ tinh bột biến tính 3,0%, tỷ lệ gelatin 0,74%, tỷ lệ sorbitol 4,2%
2 Kết quả so sánh chất lượng surimi
cá hố giữa qui trình đề xuất và qui trình tham khảo
Sau khi tiến hành tối ưu hóa quá trình phối trộn phụ gia Tiến hành sản xuất surimi theo qui trình đề xuất với tỷ lệ các phụ gia đã tối ưu
và qui trình tham khảo [3] và so sánh đánh giá kết quả chất lượng surimi sản xuất theo hai qui trình đề xuất và qui trình tham khảo nhằm mục đích đánh giá được hiệu quả của việc sử dụng tinh bột biến tính làm chất phụ gia nâng cao độ bền đông kết của surimi cá hố Kết quả đánh giá độ bền đông kết của surimi được trình bày trên Hình 2
Hình 2 So sánh độ bền đông kết surimi cá hố giữa qui trình đề xuất và qui trình tham khảo
So sánh kết quả độ bền đông kết của
surimi cá hố giữa qui trình đề xuất với tỷ lệ các
phụ gia đã tối ưu và qui trình tham khảo [3]
được thể hiện trên Hình 2 cho thấy tỷ lệ phối
trộn phụ gia trong sản xuất surimi cá hố tối ưu
được lựa chọn: tỷ lệ tinh bột biến tính 3,0%, tỷ
lệ gelatin 0,74%, tỷ lệ sorbitol 4,2% thì độ bền
đông kết của surimi cá hố tăng từ 332 g.cm lên
867 g.cm, cao gấp 2,61 lần so với độ bền đông kết của surimi cá hố ở mẫu đối chứng
IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Sử dụng phụ gia sản xuất surimi cá hố với tỷ lệ tinh bột biến tính 3,0%, tỷ lệ gelatin 0,74%, tỷ lệ sorbitol 4,2% cho thấy surimi cá
hố có độ bền đông kết cao gấp 2,61 lần so với
Trang 26độ bền đông kết của surimi cá hố ở mẫu đối
chứng đã góp phần nâng cao độ bền đông kết,
là một chỉ tiêu rất quan trọng trong đánh giá
chất lượng surimi Kết quả nghiên cứu bước
đầu áp dụng thành công ở Công ty TNHH Thủy sản Hòa Thắng - Bà Rịa, Vũng Tàu đã xuất khẩu được hơn 500 tấn surimi vào thị trường Nhật Bản
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 27KẾT QUẢ ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG NGHỀ KHAI THÁC THỦY SẢN TẠI VÙNG BIỂN VEN BỜ TỪ CỬA LỊ ĐẾN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN
INVESTIGATING OF FISHERY EXPLOITATION ALONG THE COASTAL AREA FROM CUA LO TO DIEN CHAU DISTRICT, NGHE AN PROVINCE
Nguyễn Thị Hoa Hồng 1 , Trần Đức Phú 2 , Nguyễn Văn Lục 3
Ngày nhận bài: 06/02/2017; Ngày phản biện thơng qua: 20/02/2017; Ngày duyệt đăng: 10/3/2017
TĨM TẮT
Bài báo nhằm cung cấp thơng tin thực trạng hoạt động khai thác thuỷ sản trong vùng biển ven bờ từ thị
xã Cửa Lị đến huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An gọi chung là vùng biển nghiên cứu (VBNC) VBNC cĩ diện tích khoảng 1667km 2 , ở đĩ cĩ vịnh Diễn Châu độ sâu chỉ từ 5÷7m và hai bãi tơm Diễn Châu, Cửa Hội [4] thuận tiện cho nghề lưới rê, lưới kéo, câu và nghề khác (lồng bẫy, mành, vĩ ) hoạt động Với nguồn lợi đa dạng, phong phú đã làm cho số lượng tàu thuyền hoạt động trong VBNC liên tục tăng từ 1303 (2011) lên 1473 tàu (2016); trung bình mỗi năm tăng 34 chiếc; trong đĩ cĩ cả những tàu cơng suất lớn hơn 20cv và nhiều loại tàu thuyền, dụng cụ cĩ tính huỷ diệt, phá hoại ngư trường và nguồn lợi.
Bài báo cũng cho biết thực trạng ngày càng gia tăng số lượng tàu thuyền hoạt động khai thác trong VBNC đã làm cho năng suất và sản lượng khai thác ngày càng giảm, trong khi đĩ tàu thuyền dưới 20cv hầu hết cũ kỹ, chất lượng vỏ máy kém, trình độ ngư dân thấp rất khĩ cho chủ trương cải tiến tàu thuyền để vươn lộng ra khơi.
Từ khố: Vùng biển ven bờ, Diễn Châu, Cửa Lị, thực trạng
ABSTRACT
The purpose of this article is to provide information on fi sheries exploitation along the coastal area from Cua Lo town to Dien Chau district, Nghe An province (hereafter referred to as VBNC - the marine area under research) VBCN covers an area of 1667 square kilometres home to Dien Chau bay, has the depth of 5-7 metres, and two shrimp grounds (Dien Chau and Cua Hoi) [4], which are suitable for trawls, drift nets, line fi shing and others (cages, traps, trammels, lift nets ) Due to the rich resources, the number of fi shing ships, boats in the VBCN has increased continuously from 1303 ships (2011) to 1473 ships (2016); which is about 34 each year
on an average These include ships of bigger than 20HP and many ships have tools which can exterminate or damage the fi shery grounds and resources severely The article also points out that the increase in the number
of ships, boats has caused the exploitation productivity and output to decline Moreover, most of ships, boats with less than 20HPare old, and their hulls have poor quality; and fi shermen are not well-trained These cause diffi culties in implementing the policy on improving ships and boats for offshore fi shing
Keywords: Coastal area, Dien Chau, Cua Lo, status
1 Bộ Nơng nghiệp và Phát triển Nơng thơn
2 Viện Khoa học và cơng nghệ khai thác - Trường Đại học Nha Trang
3 Viện Hải dương học Nha Trang
THÔNG BÁO KHOA HỌC
Trang 28I ĐẶT VẤN ĐỀ
Vùng biển ven bờ từ Diễn Châu đến Cửa
Lò gọi chung là vùng biển nghiên cứu ký hiệu
là VBNC Phía Tây VBNC được giới hạn bởi
đường bờ biển các huyện Diễn Châu, Nghi
Lộc, thị xã Cửa Lò; phía Đông là tuyến bờ;
phía Nam giáp với tỉnh Hà Tĩnh còn phía Bắc
giáp vùng biển ven bờ huyện Quỳnh Lưu [2]
Trong VBNC có vịnh Diễn Châu là nơi sinh sản,
nuôi dưỡng các loài hải sản cung cấp nguồn
lợi phong phú và đa dạng cho cả vùng biển
VBNC có bãi tôm Diễn Châu và Cửa Hội nằm
dọc theo tuyến bờ, từ vĩ độ 17-190 Bắc Nguồn
lợi chủ đạo của vùng biển là cá, chiếm 65,5%;
sau đó là giáp xác chiếm 30,1%, còn lại là mực
và các loài hải sản khác [4] Vùng biển nghiên
cứu có nền đáy bằng phẳng, độ sâu nhỏ, đặc
biệt là vịnh Diễn Châu có độ sâu từ 5÷7m, rất
thuận lợi cho nghề lưới kéo, lưới rê và nghề
câu của ngư dân sống trên bờ biển phát triển
Trong nhiều năm qua đội tàu thuyền khai
thác thuỷ sản trong VBNC liên tục gia tăng từ
1303 chiếc (2011) lên 1473 (2016) trong đó
có cả những tàu công suất lớn hơn 20cv hoạt
động sai tuyến Ngoài ra còn có nhiều loại tàu
thuyền, dụng cụ có tính huỷ diệt, phá hoại ngư
trường và nguồn lợi Thực trạng này đã làm
cho năng suất và sản lượng khai thác trong
VBNC ngày càng giảm dẫn đến nguy cơ huỷ
diệt nguồn lợi Mặc dù Ủy ban nhân dân tỉnh
Nghệ An đã có nhiều chủ trương nhằm khắc
phục tình trạng trên nhưng kết quả chưa đạt
được như mong muốn
Cần phải tiến hành điều tra xác định đầy đủ
các số liệu thực trạng hoạt động khai thác làm
cơ sở khoa học cho việc phân tích, đánh giá để
đề xuất những giải pháp nhằm khai thác hợp lý
góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo
vệ nguồn lợi thuỷ sản trong VBNC
II TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp được khai thác từ các
số liệu thống kê của địa phương [1,3], công
trình khoa học liên quan như các báo cáo tổng
kết đề tài; bài báo trong và ngoài nước; báo cáo khoa học hội thảo về khai thác nguồn lợi thuỷ sản
Số liệu sơ cấp được thu thập từ phỏng vấn
và khảo sát trực tiếp theo mẫu phiếu điều tra xây dựng sẵn theo hình thức ngẫu nhiên và đại diện Số lượng tàu thuyền thực tế hoạt động khai thác trong VBNC giai đoạn từ 2011-2016 được tiến hành qua 5 bước như sau:
Bước 1: Xác định danh sách tàu thuyền khai thác thuỷ sản của huyện Diễn Châu, Nghi Lộc, Cửa Lò (tạm gọi là địa phương nghiên cứu (ĐPNC)):
Bước 2: Xác định danh sách sơ bộ tàu thuyền hoạt động khai thác trong VBNC:Bước 3: Xác định tàu thuyền khai thác thuỷ sản ra hoặc vào VBNC
Bước 4: Kiểm chứng thực tế tàu thuyền hoạt động trong VBNC
Bước 5: Lập danh sách tàu thuyền thực tế hoạt động trong VBNC
Thông tin về năng suất khai thác, sản lượng, ngư cụ, kích thước mắt lưới, sản phẩm được xác định thông qua số liệu điều tra trong giai đoạn 2011-2016 và tham vấn chuyên gia bằng cách khảo sát trực tiếp và gián tiếp từ thuyền trưởng, thuyền viên; cán bộ quản lý nghề cá tại các cấp; nậu vựa tại bến cá kết hợp phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA), phỏng vấn cá nhân trực tiếp, qua điện thoại và email, quan sát trực tiếp
2 Phương pháp xử lý số liệu
Tiến hành hiệu chỉnh số liệu thu được và làm sạch các phiếu câu hỏi điều tra Xử lý và phân tích thông tin bằng kiến thức chuyên môn thông qua Microsoft Excel
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Vùng biển ven bờ
và các xã ven biển thuộc huyện Diễn Châu, Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò tỉnh Nghệ An [5] Phạm vi thời gian: từ năm 2012 đến 2016
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động khai
thác thuỷ sản tại vùng biển nghiên cứu
Trang 29III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Cơ cấu đội tàu thực tế hoạt động khai thác thuỷ sản trong VBNC
Bảng 1 Cơ cấu đội tàu thực tế hoạt động trong VBNC theo địa phương
Bảng 2 Cơ cấu đội tàu thực tế hoạt động trong VBNC theo nghề, nhóm công suất
Từ bảng 1 và bảng 2 cho thấy số lượng tàu
thực tế hoạt động trong VBNC có xu hướng
tăng theo thời gian; từ 1303 tàu (2011) tăng
lên 1473 tàu (2016); trung bình mỗi năm tăng
34 chiếc Tổng số tàu thực tế hoạt động trong
VBNC tăng 170 chiếc trong đó huyện Diễn Châu
60 chiếc; huyện Nghi Lộc tăng 29 chiếc; thị xã Cửa Lò tăng 23 chiếc, ở địa phương khác tăng
58 chiếc
2 Đặc điểm vỏ và máy tàu thuyền thực tế khai thác thuỷ sản trong VBNC
Bảng 3 Thông số cơ bản của vỏ tàu thực tế hoạt động trong VBNC
Lưới rê <20cv 6,34 ± 0,65 2,26 ± 0,27 0,63 ± 0,28 Tre, gỗ
≥20cv 10,74 ± 0,51 3,14 ± 0,14 1,23 ± 0,19 GỗLưới kéo <20cv 7,27 ± 0,36 2,34 ± 0,43 0,65 ± 0,22 Tre, gỗ
≥20cv 12,95 ± 0,19 3,98 ± 0,07 1,41 ± 0,07 GỗCâu <20cv 6,22 ± 0,46 2,27 ± 0,37 0,64 ± 0,38 Tre, gỗ
≥20cv 10,74 ± 0,51 3,14 ± 0,14 1,23 ± 0,19 GỗKhác <20cv 7,44 ± 0,41 2,34 ± 0,23 0,62 ± 0,29 Tre, gỗ
≥20cv 11,33 ± 0,04 3,63 ± 0,04 1,29 ± 0,00 Gỗ
Trang 30Từ Bảng 3 cho thấy hầu hết tàu thuyền hoạt
động trong VBNC có kích thước nhỏ, vật liệu vỏ chủ yếu là tre và gỗ chiếm từ 72,23 - 80,63%, rất khó cho chương trình vươn khơi
Bảng 4 Các thông tin chính về trang bị máy động lực trên tàu
Từ Bảng 4 cho thấy: hầu hết máy tàu trang bị trên tàu hoạt động trong VBNC chủ yếu là xuất xứ
từ Trung Quốc (96,30%), còn các nước nhật Bản, Hàn Quốc không đáng kể
3 Thực trạng ngư cụ thực tế hoạt động khai thác thuỷ sản trong VBNC
3.1 Ngư cụ nghề lưới rê
Bảng 5 Các thông số cơ bản của cheo lưới rê
3 Lớp trong rê 3 lớp
3.2 Ngư cụ nghề lưới kéo
Ngư cụ nghề lưới kéo hoạt động trong
vùng biển nghiên cứu gồm có lưới kéo cá và
lưới kéo tôm, ốc Các thông số chính của lưới kéo tôm và lưới kéo cá hoạt động trong VBNC được thống kê ở Bảng 6
Bảng 6 Các thông số cơ bản của ngư cụ nghề lưới kéo
Kích thước mắt lưới đụt (2a) 12,32 ± 0,98mm 16 ± 0,78mm
3.3 Ngư cụ nghề câu
Nghề câu hoạt động trong VBNC gồm có
câu tay và câu vàng Nghề câu tay ở đây là
câu cần, các thông số cơ bản được trình bày ở Bảng 7 Các thông số cơ bản của ngư cụ câu vàng được trình bày ở Bảng 8
Bảng 7 Các thông số cơ bản của nghề câu tay
Trang 31Bảng 8 Các thông số cơ bản của nghề câu vàng
Nghề bẫy trong vùng biển nghiên cứu gồm
bẫy kiểu Trung Quốc và bẫy kiểu truyền thống
Các thông số cơ bản của lồng bẫy kiểu Trung Quốc được trình bày ở Bảng 9, thông số cơ bản của bẫy ốc hương được trình bày ở Bảng 10
Bảng 9 Thông số cơ bản của lồng bẫy kiểu Trung Quốc
5 Khung lồng FeØ3, bọc nhựa Chiều cao – Chiều rộng=220-250mm
Bảng 10 Các thông số cơ bản của bẫy ốc hương
4 Thực trạng thuyền viên trên tàu khai thác thuỷ sản trong VBNC
Bảng 11 Tuổi nghề của thuyền viên trên tàu khai thác thuỷ sản trong VBNC
Từ Bảng 11 cho thấy, thời gian đi biển
của thuyền viên trên tàu khai thác thuỷ sản ở
VBNC tập trung cao nhất từ 16÷25 năm, chiếm
37,37%; tiếp theo là nhóm tuổi nghề 4÷15 năm,
chiếm 29,29%; thứ ba là nhóm tuổi nghề từ 26÷35 năm chiếm 16,67% Hai nhóm còn lại chỉ chiếm 16,67% trong đó nhóm dưới 4 năm tuổi chiếm 9,60%; nhóm 36÷45 năm tuổi chiếm 7,07%
Trang 32Bảng 12 Trình độ học vấn của thuyền viên trên tàu khai thác trong VBNC
Từ Bảng 12 cho thấy hầu hết thuyền viên
trên tàu khai thác thuỷ sản trong VBNC có trình
độ thấp Số thuyền viên có trình độ bậc tiểu học
có tỷ lệ cao nhất với 75,26%; tiếp đến là bậc trung học cơ sở 21,72%; cuối cùng là trung học phổ thông chỉ có 3,02%
Bảng 13 Trình độ chuyên môn của thuyền viên trên tàu KTTS trong VBNC
Đơn vị tính: Người
Từ Bảng 13 cho thấy: hầu hết thuyền viên
làm việc trên các tàu khai thác thuỷ sản ở VBNC
không học qua các lớp đào tạo nghề (0%)
mà chủ yếu là học theo kinh nghiệm (100%)
Chỉ có 31,18% trong tổng số 93 tàu điều tra có chứng chỉ thuyền trưởng, máy trưởng
5 Thực trạng về năng suất của tàu hoạt động trong VBNC
Bảng 14 Biến động năng suất khai thác của tàu theo năm
6 Thực trạng về thời gian hoạt động khai
thác thuỷ sản của đội tàu trong VBNC
Thời gian hoạt động của đội tàu khai thác
thuỷ sản trong VBNC được thể hiện bởi số ngày hoạt động tiềm năng (Bảng 15) và hệ số hoạt động của đội tàu (Bảng 16)
Trang 33Bảng 15 Số ngày hoạt động tiềm năng của đội tàu khai thác trong VBNC
Bảng 16 Hệ số hoạt động của đội tàu khai thác trong VBNC
7 Thực trạng về sản lượng khai thác thuỷ sản trong VBNC
Bảng 17 Biến động sản lượng khai thác của tàu theo nghề, nhóm công suất và năm
- Đã xác định được số lượng tàu thuyền
thực tế hoạt động trong vùng biển ven bờ các
huyện Diễn Châu, Nghi Lộc, Cửa Lò là liên tục
tăng, 1303 tàu (2011) tăng lên 1473 tàu (2016);
trung bình mỗi năm tăng 34 chiếc Đây là một trong những nguy cơ gây áp lực khai thác ngày càng lớn cho vùng biển ven bờ, làm cho tình trạng khai thác bất hợp lý ngày càng nghiêm trọng trong VBNC
- Ngày càng gia tăng các hoạt động bất hợp pháp của nhiều loại tàu thuyền, có nhiều tàu
Trang 34công suất lớn hơn 20cv hoạt động sai tuyến
Ngoài ra còn có nhiều loại tàu thuyền, dụng cụ
có tính huỷ diệt, phá hoại ngư trường và nguồn
lợi Cụ thể là trong năm 2016, tàu lưới kéo (338
chiếc), tàu lắp máy công suất từ 20cv trở lên
409 chiếc, nghề lồng bẫy kiểu Trung Quốc,
dụng cụ kích điện, chất nổ vẫn ngang nhiên
hoạt động Thực trạng này đã làm cho năng suất
và sản lượng khai thác trong VBNC ngày càng giảm dẫn đến nguy cơ huỷ diệt nguồn lợi
- Một thực trạng nổi bật khác là tàu thuyền hoạt động trong vùng biển nghiên cứu có công suất dưới 20cv hầu hết vỏ tàu làm từ vật liệu
gỗ và tre, chất lượng máy rất kém, trình độ thuyền viên thấp rất khó cho chủ trương cải tiến tàu thuyền để vươn lộng ra khơi
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Chi cục Khai thác-Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Nghệ An, 2007-2015 Danh sách tàu thuyền đánh cá từ năm 2007-2015
2 Chính phủ, 2010 Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 31/3/2010 về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển, Hà Nội
3 Phòng Nông nghiệp - Phá t triển nông thôn huyện Diễn Châu, Nghi Lộc, Cửa Lò, 2015 Danh sách tàu cá dưới 20cv thuộc huyện quản lý
4 Tổng cục Thủy sản, 2015 Báo cáo dự án”Điều tra tổng thể hiện trạng và biến động nguồn lợi thủy sản ven biển Việt Nam”
5 UBND tỉnh Nghệ An, 2015 Quyết định số 02/2015/QĐ-UBND, ngày 09 tháng 01 năm 2015 Ban hành Quy định quản lý hoạt động khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Trang 35PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO CHO NGHỀ NUƠI TƠM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM CANH CỦA TỈNH NINH THUẬN
EFFICIENCY ANALYSIS OF INPUT UTILIZATION FOR INTENSIVE WHITE-LEG
SHRIMP AQUACULTURE IN NINH THUAN PROVINCE
Lê Kim Long 1 , Lê Văn Tháp1
Ngày nhận bài: 08/4/2016; Ngày phản biện thơng qua: 20/8/2016; Ngày duyệt đăng: 10/3/2017
TĨM TẲT
Nghiên cứu phân tích hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào (cịn gọi là hiệu quả kỹ thuật theo định hướng đầu vào) cho các nơng hộ nuơi tơm thẻ chân trắng thâm canh tại tỉnh Ninh Thuận trong năm 2014 bằng phương pháp DEA Kết quả nghiên cứu cho thấy, bình quân, các yếu tố đầu vào biến đổi của sản xuất cĩ thể giảm xuống 20,7% trong khi vẫn duy trì được đầu ra khơng đổi Do vậy, khơng thả giống quá dày và kiểm sốt chặt chẽ việc sử dụng thức ăn đĩng vai trị rất quan trọng đối với nghề nuơi tơm Ninh Thuận Hơn nữa, việc mở rộng diện tích nuơi và rút ngắn thời gian nuơi trong năm cĩ ảnh hưởng tích cực, quan trọng, đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào Cuối cùng, chất lượng của các chương trình tập huấn kỹ thuật của các cơ quan khuyến nơng cũng như các chính sách hỗ trợ vay vốn cho nghề nuơi cần được xem xét lại một cách cẩn trọng để hướng đến một nghề nuơi tơm bền vững cho Ninh Thuận
Từ khĩa: hiệu quả kỹ thuật, tơm thẻ chân trắng thâm canh, Ninh Thuận, DEA
ABSTRACT
The study adopts Data Envelopment Analysis (DEA) method to analyse effi ciency in input utilisation (so-called technical effi ciency with input orientation) in intensive white-leg shrimp farming in Ninh Thuan province in 2014 The results indicate that, on average, variable inputs of production can be reduced by 20.7%, yet still maintaining a constant output Therefore, effective management of stocking and feeding is very important for the development of Ninh Thuan’s white-leg shrimp aquaculture In addition, expanding farm area and shortening culture time in the year of operation are also important for effi ciency improvement in input utilization Finally, it is suggested that the quality of technical training courses and government’s credit policies for aquaculture should be re-assessed for a sustainable shrimp aquaculture in Ninh Thuan
Keywords: technical effi ciency, intensive white-leg shrimp farming, Ninh Thuan, DEA
1 Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang
THÔNG BÁO KHOA HỌC
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ năm 2001, tơm thẻ chân trắng đã
bắt đầu trở thành đối tượng nuơi quan trọng
đối với sự phát triển kinh tế vùng duyên hải,
Việt Nam Nghề nuơi tơm thẻ chân trắng tập
trung chủ yếu ở các tỉnh miền trung và khu
vực đồng bằng sơng Cửu Long với diện tích
nuơi gia tăng nhanh chĩng từ 13.455 hec-ta năm 2005 tới 22.192 hec-ta năm 2010 [6] Năm 2012, diện tích nuơi đã đạt 38.169 ha với sản lượng 177.817 tấn Đặc biệt, theo
dữ liệu của VASEP, trong năm 2012, mặc dù diện tích nuơi tơm thẻ chân trắng chỉ chiếm 5,9% diện tích nuơi thủy sản cả nước nhưng
Trang 36sản lượng đạt tới 27,3% tổng sản lượng nuôi
cả nước [5]
Ninh Thuận là tỉnh cực nam của miền Trung,
Việt Nam với diện tích tiềm năng để nuôi tôm
nước lợ khoảng 1.000 hec-ta (ha) Nghề nuôi
tôm ở Ninh Thuận bắt đầu với con tôm sú từ
những năm 1990 với hình thức nuôi chủ yếu là
bán thâm canh Nghề nuôi tôm thẻ chân trắng
bắt đầu phát triển ở Ninh Thuận đầu những
năm 2000 Trong vùng duyên hải Nam Trung
bộ, Ninh Thuận là địa phương có diện tích nuôi
tôm thẻ chân trắng lớn Năm 2005, UBND tỉnh
Ninh Thuận chính thức cho phép đưa tôm thẻ
chân trắng vào nuôi thử nghiệm tại khu vực
nuôi tôm thuộc dự án nuôi tôm trên cát xã An
Hải, huyện Ninh Phước, sau đó được nhân
rộng tại hai vùng dự án nuôi tôm trên cát An
Hải và vùng dự án nuôi tôm công nghiệp Sơn
Hải kể từ đầu năm 2006 theo Quyết định số
455/QĐ-UBND ngày 24/01/2006 của Chủ tịch
UBND tỉnh Ninh Thuận [4]
Ngay từ khi triển khai, đối tượng tôm thẻ
chân trắng đã được nhiều người dân hưởng
ứng chuyển đổi nhờ những ưu điểm vượt trội
của nó so với tôm sú như: dễ sinh sản và thuần
dưỡng; có thể nuôi ở mật độ cao, yêu cầu hàm
lượng protein trong thức ăn thấp hơn so với
tôm sú, chịu được nhiệt độ thấp và chịu được
nước có chất lượng kém hơn so với tôm sú,
chúng có thể nuôi được ở nhiều loại thủy vực
khác nhau Theo thống kê của Chi cục Nuôi
trồng Thủy sản thì từ năm 2006 đến nay diện
tích nuôi tôm thẻ chân trắng tại Ninh Thuận
không ngừng tăng lên Cụ thể, năm 2006 diện
tích nuôi tôm thẻ chân trắng ở Ninh Thuận là
159 ha, năm 2008 diện tích nuôi là 600 ha,
năm 2010 diện tích nuôi là 811 ha và đến năm
2011 diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ở đây
là 984 ha, trong đó diện tích nuôi tôm thẻ chân
trắng thâm canh khoảng 850 ha [4]
Trong những năm qua, do lợi nhuận từ
nghề nuôi tôm thẻ chân trắng mang lại khá cao
nên diện tích nuôi ngày càng gia tăng không
theo quy hoạch của địa phương và của ngành
Diện tích nuôi gia tăng tỷ lệ thuận với mức độ
ô nhiễm môi trường, dịch bệnh bùng phát và lây lan Đây cũng chính là hệ quả của việc quản
lý chưa chặt chẽ, trình độ của người nuôi còn hạn chế, nhất là kỹ thuật quản lý môi trường, phòng ngừa dịch bệnh trên tôm nuôi v.v, làm cho nghề nuôi tôm thẻ chân trắng chưa thật
sự phát triển bền vững Mặc dù lợi nhuận của nghề nuôi tôm mang lại tuy có cao nhưng thiếu tính ổn định, còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, nguy
cơ [1, 4]
Thế giới đã và đang dịch chuyển mô hình phát triển từ “kinh tế nâu, brown economy” sang “kinh tế xanh, green economy” [17] Đây
là bước chuyển tiếp cần thiết để từng bước tiến tới sự phát triển bền vững Trong điều kiện dân số thế giới gia tăng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn, việc phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào để tìm cách gia tăng sản lượng đầu ra mà không phải sử dụng nhiều hơn các yếu tố đầu vào đang là một chủ đề được nhiều nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách trên thế giới quan tâm Farrel, năm 1957, là người đầu tiên xây dựng một cách có hệ thống về lý thuyết này [10] Hiện tại, có hai cách tiếp cận phân tích chính
là Data Envelopment Analysis (DEA), còn gọi
là cách tiếp cận phi tham số, được khởi xướng bởi Charnes và các cộng sự năm 1978; và Stochastic Frontier Analysis (SFA), hay là cách tiếp cận tham số, được phát triển bởi Battese
và Coelli năm 1995 [7, 8] Ưu điểm chính của DEA so với SFA là không phải tìm kiếm và giả thiết dạng hàm cho công nghệ sản xuất,
và vì thế, thường đơn giản trong tính toán và không phải thực hiện các kiểm định với yêu cầu rất chặt chẽ (thường không phải lúc nào cũng thỏa mãn) về giả thiết nhiễu của mô hình Nhược điểm chính của phương pháp DEA là không tách được nhiễu ngẫu nhiên ra khỏi kết quả tính toán [9]
Việc phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào của các đơn vị sản xuất nhằm đề xuất các chính sách phát triển bền vững đã
và đang được áp dụng rất rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm Cả hai cách tiếp cận
Trang 37phân tích DEA và SFA đều có những ưu,
nhược điểm riêng và được áp dụng rất rộng
rãi trong nghiên cứu của ngành nuôi trồng thủy
sản [11,16] Dù vậy, hiện có rất ít các nghiên
cứu theo các cách tiếp cận này cho ngành nuôi
trồng thủy sản Việt nam khi tính bền vững đang
là một câu hỏi quan trọng, đặc biệt đối với nghề
nuôi tôm [15] Các nghiên cứu tiêu biểu về nuôi
tôm trên thế giới sử dụng cách tiếp cận phân
tích DEA có thể kể đến như: Matinez & Lueng,
năm 2003, cho nghề nuôi tôm của Mexico và
Nguyen & Fisher, năm 2014, cho nghề nuôi
tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam
[13,15]
Để đơn giản trong tính toán và phân tích,
cách tiếp cận phân tích DEA được lựa chọn sử
dụng trong nghiên cứu này Mục tiêu của bài
viết là: phân tích hiệu quả sử dụng các yếu tố
đầu vào của nghề khai nuôi tôm thẻ chân trắng
thâm canh của Ninh Thuận, với bộ dữ liệu thu
thập cho năm sản xuất 2014, nhằm đề xuất
một số khuyến nghị cho chính quyền và các hộ
nuôi nhằm từng bước phát triển nghề nuôi tôm
thẻ chân trắng bền vững ở Ninh Thuận
II CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1 Khái niệm về hiệu quả (Effi ciency)
Hiểu theo nghĩa rộng, hiệu quả thể hiện
mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu
được (outputs) so với các biến số đầu vào
(inputs) đã được sử dụng để tạo ra những kết
quả đầu ra đó [9]
Hiệu quả = Đầu ra /Đầu vào
2 Hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của
sản xuất (Technical effi ciency with input
orientation)
Hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào là
khả năng tạo ra một lượng đầu ra cho trước
từ một lượng đầu vào nhỏ nhất tương ứng với
một trình độ công nghệ nhất định [9]
Phương pháp DEA
Farrel (1957) là người đầu tiên xây dựng
một cách có hệ thống về lý thuyết này và
sau đó được Charnes, Cooper, và Rhodes
phát triển vào năm 1978 với tên gọi là DEA như sau [7, 9, 10]:
Giả sử một nghề sản xuất đơn giản sử dụng 2 yếu tố đầu vào x1, x2 để sản xuất ra
1 đầu ra q được trình bày như hình vẽ dưới đây Đường biên SS’ là đường biên giới hạn của sản xuất, nghĩa là để sản xuất được một đơn vị sản lượng đầu ra thì (i) miền không gian phía tay trái của đường SS’ là miền không gian không khả thi; (ii) miền không gian nằm bên tay phải của đường SS’ là miền sản xuất khả thi trong thực tế Như vậy, các đơn vị sản xuất trong thực tế nằm trên đường SS’ là có sự kết hợp tốt nhất, tiết kiệm nhất các yếu tố đầu vào của sản xuất nên được xem là các đơn vị sản xuất đạt được hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào đạt 100% Vì vậy C và D là những đơn vị sản xuất đạt hiệu quả Điều đó có nghĩa
là, A và B là những đơn vị sản xuất chưa đạt hiệu quả Mức hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của đơn vị sản xuất A được đo lường khoảng cách OA’/OA và nhỏ hơn 1 Tương tự,
sự không hiệu quả của B được trình bày bởi khoảng cách OB’/OB và nhỏ hơn 1 Điều này
có nghĩa là các đơn vị sản xuất A và B có thể giảm sử dụng 2 đầu vào đối với A là từ A đến A’, và B là từ B đến B’ mà không giảm đầu ra
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Dữ liệu nghiên cứu
1.1 Địa bàn và qui mô nghiên cứu
Đối tượng khảo sát là các hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh của tỉnh Ninh Thuận trong năm sản xuất 2014 Tổng số hộ nuôi
Trang 38trong tổng thể là 442 và mẫu nghiên cứu là
102, chiếm tỷ lệ 23% trên tổng thể
1.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
giản bằng cách dựa vào danh sách các hộ
nuôi được cung cấp bởi Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận, sau đó
rút thăm ngẫu nhiên không lặp lại từ danh sách
lập để chọn ra các hộ cần điều tra Số liệu thu
thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp
chủ hộ nuôi
2 Mô hình và phương pháp phân tích
dữ liệu
Các nghiên cứu trước đây trong nghề nuôi
trồng thủy sản ở các nước đang phát triển áp
dụng phương pháp phân tích DEA, ví dụ như
Lê Kim Long và Đặng Hoàng Xuân Huy (2015);
Nguyen & Fisher (2014) và Alarm (2011),
thường lựa chọn cách tiếp cận tối thiểu hóa
đầu vào với đầu ra không đổi vì: (i) các hộ nuôi
ở các nước đang phát triển thường có nguồn
lực đầu vào tài chính có hạn; (ii) các hộ nuôi
dễ kiểm soát đầu vào hơn nhiều so với đầu
ra; và (iii) việc sử dụng lãng phí đầu vào trong
nghề nuôi, đặc biệt là thức ăn và kháng sinh,
hóa chất đang thách thức nghiêm trọng tính
bền vững của các nghề nuôi [1, 8, 13] Do vậy,
bài viết này cũng thực hiện đo lường hiệu quả
kỹ thuật theo hướng tối thiểu hóa các yếu tố
đầu vào trong khi vẫn duy trì được mức đầu
ra không đổi Hơn nữa, nghiên cứu này chỉ tập
trung phân tích hiệu quả kỹ thuật thuần túy nên
mô hình DEA sẽ xem xét trường hợp năng suất
biến đổi theo quy mô (variable return to scale
– VRS) [9] Mô hình toán cụ thể cho bài toán
DEA_VRS với định hướng đầu vào như sau:
Giả sử rằng có N hộ nuôi tôm thẻ chân
trắng và sử dụng K yếu tố đầu vào Đối với hộ
nuôi thứ i (i = 1, 2,…, N), dữ liệu đầu vào và
đầu ra được biểu diễn bằng các véc tơ cột là xi
và yi Dữ liệu cho tất cả các hộ nuôi được biểu
diễn bởi ma trận K*N yếu tố đầu vào, X, và véc
tơ cột đầu ra Y Khi đó, mô hình toán cho hộ
Trong đó, TE j là chỉ số hiệu quả kỹ thuật tính
toán từ (1); Z j là véc tơ các đặc điểm sản xuất
của nông hộ, ß là véc tơ các tham số được ước lượng và ε j là sai số ngẫu nhiên Phần
mềm thống kê R được sử dụng để ước lượng
kết quả
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Thống kê mô tả các biến dùng trong phân tích
Tiếp theo Lê Kim Long và Đặng Hoàng Xuân Huy (2015); Nguyen & Fisher (2014), và Alarm và các cộng sự (2011), nghiên cứu này
sử dụng 5 biến đầu vào biến đổi chủ yếu (chiếm phần lớn chi phí biến đổi) của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh tại Ninh Thuận là [6, 2,15]: giống, thức ăn, lao động, hóa chất năng lượng cho mỗi ha trong năm sản xuất 2014, 01 biến đầu ra là sản lượng tôm thu hoạch trên một ha trong năm cho mô hình DEA_VRS ở (1) Trên cơ sở tổng lược của Sharma & Lueng năm 2003; Iliyasu và các cộng sự năm 2014
và Nguyen & Fisher năm 2014; cũng như đặc điểm của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng ở Ninh Thuận, các đặc điểm sản xuất của nông hộ được lựa chọn cho mô hình phân tích (2) gồm [11, 15, 16]: (i) diện tích trang trại nuôi tôm; (ii) vay nợ là biến giả với biến có giá trị là 1 nếu hộ
có vay nợ, và có giá trị là 0 nếu hộ không vay nợ; (iii) thời gian nuôi là số ngày hộ nuôi tôm trong năm; (iv) kinh nghiệm là số năm mà chủ
hộ tham gia nghề nuôi; (v) tập huấn là biến giả với giá trị bằng 1 nếu hộ đã từng được tập huấn
Trang 39kỹ thuật bởi các cơ quan nhà nước, và giá trị
bằng 0 nếu chưa được tập huấn; (vi) học vấn
cũng là biến giả và có giá trị bằng 1 nếu chủ hộ
đã học từ trung cấp trở lên, và giá trị là 0 nếu chưa Bảng 1 mô tả thống kê tất cả các biến sử dụng trong nghiên cứu này
Bảng 1 Một số giá trị thống kê của các biến dùng trong phân tích
Năng lượng (x5) Kw/ha 379.926,54 231.735,31 25.320,00 932.224,00
Đặc điểm sản xuất nông hộ
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra
Bảng 1 cho thấy một số đặc trưng cơ bản
của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh
ở Ninh Thuận Các hộ nuôi tôm thẻ chân trắng
ở Ninh Thuận có diện tích nuôi bình quân đạt
0,85 ha, lớn nhất là 6 ha và nhỏ nhất là 0,3 ha,
với độ lệch chuẩn là 0,69 Kinh nghiệm tham
gia nuôi trồng thủy sản của chủ hộ bình quân
đạt 11,31 năm, lớn nhất là 24 và nhỏ nhất là
4 năm Năng suất tôm bình quân cho mỗi ha
trong năm 2014 đạt 29.930,69 kg, lớn nhất là 50.010 và nhỏ nhất là 5.260 kg với độ lệch chuẩn là 11.345 Thời gian nuôi bình quân trong năm 2014 của mỗi hộ là 224,80 ngày, nhỏ nhất là 55 ngày và lớn nhất là 330 ngày
2 Hiệu quả kỹ thuật theo phương pháp DEA
Kết quả tính toán hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào được trình bày như ở Bảng 2
Bảng 2 Hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào nghề nuôi tôm thẻ chân trắng ở Ninh Thuận 2014
Trang 40Qua bảng 2, hiệu quả sử dụng các nguồn
lực đầu vào của các hộ nuôi tôm thẻ chân
trắng thâm canh tỉnh Ninh Thuận biến động từ
0,4 đến 1,0 với giá trị trung bình là 0,793 và có
phân phối xấp xỉ phân phối chuẩn; trong đó,
14,8% số hộ nuôi đạt hiệu quả 100% Kết quả
này cho thấy, bình quân, các đầu vào biến đổi
hiện tại của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thâm
canh ở Ninh Thuận có thể giảm xuống 20,7%
trong khi vẫn duy trì được đầu ra không đổi
Kết quả nghiên cứu này cũng tương đối tương
đồng với kết quả của Alarm năm 2014 đối với
nghề nuôi cá ba sa thâm canh ở Bangladesh
[6]; và có xu hướng đạt được hiệu quả cao
hơn kết quả của Nguyen & Fisher năm 2014
tính toán cho nghề nuôi tôm (nhiều giống và
loại hình nuôi) ở vùng Đồng bằng sông Cửu
Long [15]
Trong năm sản xuất 2014, với bình quân
số vụ nuôi trong năm của mẫu là 2,18, từ dữ
liệu Bảng 1, hai chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng
đối với các hộ nuôi tôm thẻ chân trắng ở Ninh
Thuận là [14]: (i) mật độ thả giống bình quân là
((4.323,73*1000)/2,18))/10000 = 166 con/m2; (ii) hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) bình quân
là (46.465,69/29.930,69) = 1,53 lần, tức mức
sử dụng thức ăn là 1,53 kg để tạo ra được 1 kg thành phẩm tôm Với kết quả mức hiệu quả kỹ thuật trung bình là 79,3% cho thấy rằng, bình quân, hộ nuôi chỉ nên thả mật độ nuôi mỗi vụ
là 166*0.793 = 132 con/m2 và FCR chỉ nên sử dụng ở mức 1,53*0,793 = 1,21 lần Điều này, không chỉ giúp các hộ tiết kiệm chi phí trong quá trình sản xuất (thức ăn chiếm khoảng 50% chi phí biến đổi) mà còn giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường khi lượng phát thải ô nhiễm của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng chủ yếu do thức ăn tạo ra
Kết tiếp, với kết quả tính toán và dạng phân phối của hiệu quả kỹ thuật được trình bày
ở Bảng 2, mô hình hàm hồi quy Tobit được lựa chọn và áp dụng để phân tích các đặc điểm sản xuất và nông hộ ảnh hưởng đến hiệu quả
kỹ thuật của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng tại Ninh Thuận như sau [7]:
Bảng 3 Mô hình hồi quy Tobit phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra
Kết quả ở Bảng 3 cho thấy hai biến diện
tích trang trại và thời gian nuôi ảnh hưởng có ý
nghĩa thống kê đến hiệu quả kỹ thuật của nông
hộ nuôi tôm thẻ chân trắng ở Ninh Thuận với
mức ý nghĩa 5% Cụ thể, thứ nhất, kết quả cho
thấy nếu diện tích trang trại nuôi tôm càng lớn
thì hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào
càng cao Lí do là các trang trại nuôi tôm càng
lớn càng có xu hướng được hưởng lợi từ đặc
trưng kinh tế của quy mô sản xuất [7] Thứ hai,
nếu thời gian nuôi trong năm càng dài thì sự phi hiệu quả càng lớn Kết quả này có thể giải thích bởi hai lí do: (i) các hộ nuôi kéo dài chu kỳ nuôi hơn mức cần thiết sẽ tốn nhiều đầu vào nhưng tôm không lớn nhiều nữa [7]; (ii) các nông hộ với thời gian nuôi dài trong năm có xu hướng sử dụng đất quá mức và vì thế sẽ phải đối diện với rủi ro lây lan dịch bệnh và ô nhiễm Alarm năm 2011 và Nguyen & Fisher năm
2014 cũng tìm thấy mối quan hệ này [6, 15]