1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tạp chí Khoa học – Công nghệ thủy sản: Số 2/2020

132 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 10,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạp chí Khoa học – Công nghệ thủy sản: Số 2/2020 thông tin đến quý độc giả các bài viết ảnh hưởng của nồng độ enzyme và thời gian đến quá trình thủy phân sụn cá mập (Carcharhinus dussumieri); giáp xác, sán dây và giun tròn ký sinh ở cá diếc (Carassius auratus auratus (Linnaeus, 1758)) thu tại Phú Yên; kết quả nghiên cứu xây dựng giải pháp chuyển đổi nghề lưới kéo của huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh khai thác thuỷ sản tại vùng biển ven bờ sang nghề nuôi biển; nghiên cứu thực trạng nghề lưới kéo hoạt động khai thác thuỷ sản tại vùng biển ven bờ huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh...

Trang 1

NHA TRANG UNIVERSITY

Số 2 - 2020

NHA TRANG UNIVERSITY

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

• Tòa soạn : Trường Đại học Nha Trang, số 02 Nguyễn Đình Chiểu, TP Nha Trang - Khánh Hòa

• Điện thoại : 0258.2220767

• Fax : 0258.3831147

• E-mail : tapchidhnt@ntu.edu.vn

• Giấy phép xuất bản : 292/GP-BTTTT ngày 3/6/2016

• Chế bản tại : Phòng Khoa học và Công nghệ - Trường Đại học Nha Trang

TỔNG BIÊN TẬP

TS TRẦN DỖN HÙNG PHĨ TỔNG BIÊN TẬP

TS VŨ KẾ NGHIỆP BAN BIÊN TẬP

BAN THƯ KÝ ThS Trần Nhật Tân - ThS Lương Đình Duy

KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ THỦY SẢN

ISSN 1859 - 2252

PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh

Trường Đại học Nha Trang

Trường ĐH Kinh tế Luật- ĐHQG Tp HCM

PGS TS Nguyễn Văn Duy

Trường Đại học Nha Trang

PGS.TS Nơng Văn Hải

Viện Nghiên cứu hệ gen - Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam

PGS TS Lê Văn Hảo

Trường Đại học Nha Trang

TS Nguyễn Thị Hiển

Trường Đại học Nha Trang

TS Nguyễn Văn Hịa

Trường Đại học Nha Trang

GS TS Hồng Đình Hịa

Trường ĐH Bách khoa Hà Nội

GS TS Nguyễn Trọng Hồi

Trường ĐH Kinh tế Tp HCM

PGS TS Lê Minh Hồng

Trường Đại học Nha Trang

National Taiwan Ocean University, Taiwan

PGS TS Lê Phước Lượng

Trường Đại học Nha Trang

PGS TS Nguyễn Đình Mão

Trường Đại học Nha Trang

TS Mai Thị Tuyết Nga

Trường Đại học Nha Trang

PGS TS Ngơ Đăng Nghĩa

Trường Đại học Nha Trang

PGS TS Nguyễn Văn Nhận

Trường Đại học Nha Trang

PGS TS Nguyễn Hữu Ninh

Viện Nghiên cứu NTTS I - Bộ NNPTNT

PGS TS Mai Thanh Phong

Trường Đại học Nha Trang

PGS TS Nguyễn Anh Tuấn

Trường Đại học Nha Trang

Trang 3

MUÏC LUÏC

Ghi nhận mới và mối quan hệ tiến hóa của Epiphyte (Melanothamnus thailandicus) trên

rong sụn (Kappaphycus alvarezii) tại Khánh Hòa

Đặng Thúy Bình, Khúc Thị An, Văn Hồng Cầm, Trần Văn Tuấn

Nghiên cứu đặc điểm sinh học tinh sào cá khế vằn (Gnathanodon speciosus)

Hứa Thị Ngọc Dung, Đào Thị Đoan Trang, Phạm Quốc Hùng

19

Giáp xác, sán dây và giun tròn ký sinh ở cá diếc (Carassius auratus auratus (Linnaeus,

1758)) thu tại Phú Yên

Võ Thế Dũng, Võ Thị Dung, Nguyễn Nhất Duy

26

Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển nuôi tôm trên cát ở tỉnh Hà Tĩnh

Trương Thị Mỹ Hạnh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Thị Nguyện, Tống Trần Huy, Chu Chí Thiết, Lê Thị Mây và Phan Thị Vân

Nghiên cứu thực trạng nghề lưới kéo hoạt động khai thác thuỷ sản tại vùng biển ven bờ

huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh

Đỗ Đình Minh, Hoàng Văn Tính, Phan Trọng Huyến

68

Thành phần loài và các loại nghề khai thác cá ở đầm Đông Hồ, Hà Tiên tỉnh Kiên Giang

Lê Thị Thu Thảo, Nguyễn Phi Uy Vũ 79

Ảnh hưởng của tần suất cho ăn đến cá bè đưng (G Speciosus forsskål, 1775) ở giai đoạn

đầu nuôi thương phẩm

Võ Thế Dũng, Võ Thị Dung

90

Đa dạng thành phần loài cá ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang

Trần Công Thịnh, Võ Văn Phú, Nguyễn Phi Uy Vũ, Bùi Đức Lỉnh

97

Nghiên cứu thiết kế, chế tạo thiết bị đo áp suất phun nhiên liệu trên đường ống cao áp để

chẩn đoán trạng thái kỹ thuật của động cơ diesel máy chính tàu cá

Hồ Đức Tuấn, Đoàn Phước Thọ

112

VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI

Một vài khía cạnh quản lý môi trường đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản 119

Trang 4

GHI NHẬN MỚI VÀ MỐI QUAN HỆ TIẾN HÓA CỦA

EPIPHYTE (Melanothamnus thailandicus) TRÊN RONG SỤN (Kappaphycus alvarezii) TẠI KHÁNH HÒA

NEW RECORD AND THE MOLECULAR PHYLOGENY OF EPIPHYTE (Melanothamnus thailandicus) ON RED ALGAE (Kappaphycus alvarezii) IN

KHANH HOA

Đặng Thúy Bình¹, Khúc Thị An¹, Văn Hồng Cầm¹, Trần Văn Tuấn¹

¹Viện Công nghệ sinh học và Môi trường, Trường Đại học Nha Trang

Tác giả liên hệ: Đặng Thúy Bình (Email: binhdt@ntu.edu.vn)

Ngày nhận bài: 25/03/2020; Ngày phản biện thông qua: 21/05/2020; Ngày duyệt đăng: 17/06/2020

TÓM TẮT

Rong sụn (Kappaphycus alvarezii Doty) là loài rong có giá trị kinh tế cao, phân bố ở vùng biển Châu

Á Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam Trong những năm gần đây, nghề nuôi rong sụn phát triển ở các tỉnh Miền Trung góp phần xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, bệnh do rong phụ sinh (epiphyte) ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng rong sụn Mẫu rong sụn nhiễm epiphyte được thu tại vịnh Cam Ranh và Vân Phong, Khánh Hòa Epiphyte được khảo sát và định loại dựa trên đặc điểm hình thái, kiểm chứng phân loại và khảo sát mối quan hệ tiến hóa bằng chỉ thị rbcL của DNA lục lạp Nghiên cứu phát hiện dạng true epiphyte (u lồi dạng sợi), định loại và ghi nhận mới Melanothamnus thailandicus, ở Việt Nam và trên song sụn Trình tự rbcL của epiphyte thể hiện sự tương đồng cao (99,98%) với loài M thailandicus phân bố ở Thái Lan Cây phát sinh loài cho thấy M thailandicus ở Khánh Hòa và Thái Lan sắp xếp cùng nhánh, và cùng với các loài thuộc giống Melanothamnus tạo thành nhánh đồng dạng Nghiên cứu định loại chính xác epiphyte, khảo sát mối quan hệ phát sinh loài, bổ sung thành phần loài rong của Việt Nam, và góp phần phát hiện sớm tác nhân gây bệnh trong nghề nuôi rong sụn.

Từ khóa: Rong sụn, Epiphyte, Kappaphycus alvarezii, Melanothamnus, Khánh Hòa

ABSTRACT

Kappaphycus alvarezii Doty is a species of red algae with high economic value, distributed in Asia Pacifi c waters, including Vietnam In recent years, seaweed farming has rapidly developed in the Central Provinces, contributing to poverty reduction However, parasitic epiphyte affects the yield and quality of K alvarezii Samples of epiphyte infected K alvarezii were collected in Cam Ranh and Van Phong Bays, Khanh Hoa Epiphyte was investigated and identifi ed based on morphological characteristics Taxonomic verifi cation and molecular phylogeny were examined by rbcL gene of Chloroplast DNA The study discovered a true epiphyte, identifi ed as Melanothamnus thailandicus, a new record in Vietnam, and on K alvarezii The rbcL sequence

of M thailandicus exhibits a high similarity (99.98%) with this species distributed in Thailand Phylogenetic tree showed that M thailandicus in Khanh Hoa and Thailand were clustered in the same clade, and together with species of the genus Melanothamnus formed monophyletic lineage Curent research identifi ed parasitic epiphyte on K alvarezii, examined the molecular phylogeny, contributing to update list of seeweed species in Vietnam, as well as early pathogen detection for seaweed aquaculture.

Key words: Red algae, Epiphyte, Kappaphycus alvarezii, Melanothamnus, Khanh Hoa

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Rong sụn (Kappaphycus alvarezii Doty)

sinh trưởng tự nhiên ở vùng biển Châu Á Thái

Bình Dương, nhất là vùng Đông Nam Á Rong

sụn có giá trị kinh tế cao, dùng để chế biến carrageenan, một chế phẩm được ứng dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, y dược, mỹ phẩm Nghề trồng rong

Trang 5

sụn hiện nay đem lại lợi ích kinh tế khá lớn

cho nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các

nước Đông Nam Á như Philippines, Malaysia,

Indonesia và Việt Nam với tổng sản lượng lên

đến 95% tổng sản lượng rong sụn khô tiêu thụ

trên toàn thế giới, ước chừng khoảng 160.000

tấn khô/ năm [3,12]

Khánh Hòa với lợi thế đường bờ biển dài

200 km, với hơn 200 hòn đảo lớn nhỏ, nhiều

vũng, vịnh lớn (Vân Phong, Nha Trang, Cam

Ranh), có khí hậu ôn hòa là điều kiện thuận lợi

để nuôi trồng rong sụn [2,3] Tuy nhiên, hiện

nay nghề trồng rong sụn đang phải đối mặ t với

rất nhiều khó khăn và thách thức như nguồn

giống và chất lượng giống không đảm bảo,

năng suất và chất lượng rong giảm, đặ c biệt khí

hậu thay đổi phức tạp (cường độ ánh sáng tăng,

độ mặ n nước biển cao, mực nước biển dâng) do

ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu làm

dễ dẫn đến bùng phát các dịch bệnh như bệnh

ice-ice (bệnh trắng lũn thân) và bệnh epiphyte

(rong tảo phụ sinh) trên rong nuôi [4]

Các nghiên cứu trên thế giới về bệnh

epiphyte cho thấy epiphyte gây ảnh hưởng rất

lớn đến năng suất và chất lượng của rong sụn

[8,17] Các công bố đã chỉ ra mùa vụ là nhân tố

chính ảnh hưởng đến việc bùng phát dịch bệnh

do epiphyte và gây nhiễm khuẩn thứ cấp ở rong

sụn [13,20,22]

Ở Việt Nam các nghiên cứu chủ yếu tập

trung vào các kỹ thuật nuôi trồng và chiết suất

carrageenan từ rong sụn [2,3,5] Epiphyte

hiện diện thường xuyên và là một thành phần

quan trọng trong hệ sinh thái biển [6] Đối với nghề nuôi rong sụn, bệnh trắng lũn thân (ice-ice disease) đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của rong sụn [1,4] Tuy nhiên, các nghiên cứu về bệnh do epiphyte vẫn còn hạn chế

Trong những thập kỷ gầm đây, chỉ thị phân tử được sử dụng rộng rãi trong phân loại sinh vật Đối với thực vật, chỉ thị Ribulose bisphosphate carboxylase large subunit (rbcL) của DNA lục lạp chứng tỏ là công cụ hữu hiệu trong định loại và khảo sát mối quan hệ phát sinh loài, đặc biệt đối với rong biển [16], trong

đó có rong phụ sinh [9,15]

Nghiên cứu hiện tại định loại và khảo sát mối quan hệ tiến hóa với ghi nhận mới loài rong nâu dạng sợi sống phụ sinh trên rong sụn dựa trên đặc điểm hình thái và di truyền Phát hiện này bổ sung dữ liệu về thành phần rong phụ sinh trên rong sụn, góp phần phát hiện sớm mầm bệnh trong phát triển nghề nuôi rong

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯU

1 Địa điểm và phương pháp thu mẫu

Mẫu rong sụn được thu tại các vị trí khác nhau, trải đều trên diện tích nuôi trồng của các hộ nuôi tại Cam Phúc Bắc (11º58’7’’N, 109º12’8’’E), Cam Ranh - Khánh Hòa (50 mẫu) và Vịnh Vân Phong (12º39’38”N, 109º20’47”E), Vạn Ninh, Khánh Hòa (50 mẫu)

từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 9 năm 2018 (Hình 1)

Hình 1 Bản đồ thu mẫu (a) rong sụn nhiễm epiphyte (b) tại Khánh Hòa Khung hình vuông màu xanh

chỉ khu vực thu mẫu (Địa điểm được chi tiết tại vịnh Vân Phong và Cam Ranh).

Trang 6

Các mẫu rong sau khi thu được bao bọc

bằng giấy báo, sau đó vận chuyển về phòng thí

nghiệm trong các thùng xốp được làm ẩm (nhiệt

độ 22 ± 2ºC) bằng nước biển Mẫu rong sau đó

được lưu giữ trong các bể kính (80/50/30 cm)

chứa nước biển, chiếu sáng tự nhiên, và sục khí

Mẫu rong được được rửa sạch lần nữa bằng bàn

chải mềm và bảo quản trong formalin 5% (đệm

<0,1mm trên thân rong tại những vị trí nhiễm

epiphyte (có biểu hiện chấm đen, phồng lên

hoặc lộ lông) Lát cắt được quan sát dưới kính

hiển vi quang học (Olympus DP50) ở các độ

phóng đại 100 - 400 [20] Sau đó dùng panh,

kẹp và kim nhỏ để gỡ các epiphyte ra khỏi thân

rong và quan sát dưới kính hiển vi quang học

(Olympus DP50) Epiphyte được định loại dựa

theo Trono (1999) [19] và Muangmai et al

(2014) [15]

2.2 Định loại epiphyte bằng phương pháp

sinh học phân tử

Tách chiết và kiểm tra DNA tổng số

Mẫu rong phụ sinh được thu nhận trong ống

ly tâm ependorf 1,5ml, nghiền trong Nitơ lỏng

thành dạng bột mịn Sau đó, DNA tổng số được

tách chiết bằng bộ kit Wizard® SV Genomic

DNA Purifi cation System (Promega, Mỹ) theo

hướng dẫn của nhà sản xuất có hiệu chỉnh Ở

bước thu hồi, thay vì rửa giải một lần duy nhất

với thể tích 250 μl Nuclease-Free Water, tiến

hành rửa giải 3 lần với 70 μl AE Buffer nhằm

thu được DNA có chất lượng tốt và nồng độ cao

Sản phẩm tách chiết DNA tổng số được điện

di trên gel agarose 1,5% bằng hệ thống điện

di ngang (Biorad), nhuộm Ethidium bromide

và quan sát bằng thiết bị UV Transilluminator

(M-20E, Mỹ)

Khuếch đại đoạn gen rbcL của DNA lục lạp và

giải trình tự

Nghiên cứu tiến hành phản ứng PCR

khuếch đại đoạn gen Ribulose bisphosphate

carboxylase large subunit (rbcL) của DNA lục

lạp sử dụng cặp mồi F57-5'-GTA ATT CCA

TAT GCT AAA ATG GG-3' và R1381-5'ATC TTT CCA TAG ATC TAA AGC-3' [10] Phản ứng PCR được tiến hành với tổng thể tích

25 μL gồm: 5 μl Green Gotaq® Flexi Buffer (Promega) 5X, 3 μl MgCl2 25mM, 1 μl dNTPs 10mM, 1 μl mỗi mồi (10 mM), 0,2 μl GoTaq polymerase (5 U/μl), 5 μl ADN và nước cho

đủ thể tích Thành phần phản ứng được hiệu chỉnh bằng cách cho thêm PEG 10% và bột Skim Milk 0.,% (W/v) (mỗi loại 0,5 μl) để tăng độ nhạy của phản ứng [7] Phản ứng được chạy trên máy luân nhiệt C1000 Touch (Bio-Rad) theo chu trình nhiệt độ như sau: Biến tính ban đầu tại 94ºC trong 3 phút; sau đó

là 38 chu kỳ của 94ºC trong 45 giây, nhiệt độ bắt cặp 49ºC trong 50 giây, 72ºC trong 1 phút; cuối cùng là bước kéo dài tại 72ºC trong 10 phút và giữ mẫu ở 4ºC Sản phẩm PCR được giải trình tự theo nguyên tắc Dye – labelles dideoxy terminator (Big Dye Terminator v.3.1, Applied Biosystems) với các đoạn mồi tương

tự như phản ứng PCR theo chương trình luân nhiệt như sau: 96ºC trong 20 giây, 50ºC trong 20 giây, cuối cùng là 60ºC trong 4 phút Sản phẩm sau đó được phân tích bằng thiết bị ABI Prism 3.700 DNA Analyser (Applied Biosystems) tại Công ty 1st Base, Singapore

3 Kiểm chứng phân loại và xây dựng mối quan hệ phát sinh chủng loại

Trình tự của mẫu rong phụ sinh được kết nối sử dụng tính năng Contig Expres thuộc phần mềm Geneious Pro v.5.5.7 [14] Sau đó, các trình tự được kiểm chứng bằng chương trình BLAST Nucleotide trên website của Ngân hàng quốc tế Genbank Trình tự rong phụ sinh thu được và các trình tự cùng loài và giống

có trên Genbank được dóng hàng và so sánh sự khác biệt di truyền dựa trên phần mềm Bioedit [11]

Mối quan hệ phát sinh loài của epiphyte được khảo sát dựa trên trình tự loài rong thu

được (loài Melanothamnus thailandicus), trình

tự cùng loài (3 trình tự), 10 trình tự của loài cùng giống (trước kia được dịnh danh là giống

Neosiphonia), và 4 trình tự loài khác giống (Polysiphonia spp.) trên Genbank Thông

tin về trình tự, địa điểm thu mẫu và mã số

Trang 7

genbank được trình bày ở Bảng 1 Phân tích

được tiến hành dựa trên thuật toán Neighbour

Joining (NJ), với giá trị tin cậy (Bootstrap –

BT) là 1000 sử dụng phần mềm Mega 7.0 [18]

Spyridiocolax capixaba và Spyridia clavata

(Spyridiaceae) được sử dụng làm nhóm ngoại

Bảng 1 Thông tin về trình tự, địa điểm thu mẫu và mã số Genbank của các loài epiphyte Tên loài

được liệt kê theo Genbank Tên loài cập nhật được mô tả ở hình 6.

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO

LUẬN

1 Định loại dựa trên đặc điểm hình thái

Sau khi quan sát các lát cắt, kết hợp với

quan sát hình thái từng mẫu epiphyte dưới kính

hiển vi quang học, đối chiếu với các tài liệu

về phân loại, nghiên cứu định loại và ghi nhận

mới 1 loài epiphyte trên rong sụn dựa trên đặc

điểm hình thái

Melanothamnus thailandicus (N Muangmai

& C.Kaewsuralikhit) Díaz-Tapia & Maggs,

2017

Địa điểm thu mẫu: Vịnh Cam Ranh và Vịnh

Vân Phong, Khánh Hòa

Vật chủ: Gracilaria fi sher (Thái Lan),

Kappaphycus alvarezii (Việt Nam, ghi nhận mới)

Dạng Epiphyte (true epiphyte): Đầu tiên,

epiphyte hình thành các đốm đen li ti, chưa có hình dạng rõ ràng, xung quanh các đốm đen có dấu hiệu của sự tổn thương cấu trúc mô, sau đó, tạo thành các u lồi (Hình 2a), có thể chỉ là các u lồi có đỉnh đen, ngay tâm hình thành nên dạng sợi, ban đầu chỉ là sợi nhỏ, nhưng dần dần hình thành dạng sợi lớn (Hình 2b,c) rồi sau đó có khả năng phân nhánh tạo dạng cây (Hình 2d)

Đặc điểm hình thái: Kích thước chiều dài

từ 0,3 - 2 cm, trung bình 1,5 ±0,05 (n=30) có màu nâu đỏ khi quan sát dưới kính hiển vi, thân chia thành các đốt theo chiều dọc, phân nhánh

ở gốc, dạng chữ Y (Hình 3b,c), có 4 tế bào quanh tế bào trung tâm ở mỗi đốt (Hình 3b), nhánh mang bào tử chỉ có 3 tế bào (Hình 3d) Đỉnh sinh trưởng chia thành 3 thùy, 1 thùy lớn

ở giữa, 2 thùy nhỏ 2 bên (Hình 3a)

Trang 8

2 Kiểm chứng định loại epiphyte bằng

phương pháp sinh học phân tử

2.1 Tách chiết DNA và khuếch đại gen rbcL

của DNA lục lạp

Kết quả điện di DNA tổng số tách chiết từ

mẫu epiphyte là 1 băng rõ nét nhưng có vệt

sáng kéo dài (lần rửa giải thứ nhất - E1) do có

nhiều DNA bị đứt gãy, và 1 băng cho dải sáng

mờ hơn nhưng không có vệt sáng kéo dài (lầm

rửa giả thứ hai - E2) (Hình 4) Để đảm bảo chất lượng DNA cho phản ứng PCR, nghiên cứu sử dụng DNA tách chiết từ mẫu rửa giải E2 để khuếch đại đoạn gen rbcL

Sử dụng DNA tổng số đã tách chiết làm khuôn, cặp mồi F57 và R1381 [10], sản phẩm PCR của gen rbcL thu được cho kết quả phù hợp với tính toán lý thuyết Các mẫu đều có băng với kích thước tương ứng 1324 bp (Hình 4)

Hình 3 Hình thái ngoài của M thailandicus

a) Đỉnh sinh trưởng b) Phân nhánh chữ Y c) Phân nhánh ở gốc d) Nhánh mang bào tử

Hình 2 Các dạng của epiphyte dưới kính hiển vi

soi nổi a) Dạng u lồi; b và c) Dạng u lồi mọc sợi,

d) Dạng sợi

Hình 4: Hình ảnh điện di DNA tổng số và sản phẩm PCR gen rbcL của loài

Melanothamnus thailandicus

M: Thang chuẩn DNA 100 bp, E1, E2: DNA tổng số ở lần rửa giải 1 và 2, M1, M2:

sản phẩm PCR của M thailandicus, N: mẫu đối chứng âm.

2.2 Kiểm chứng định loại bằng chỉ thị phân tử

Sản phẩm khuếch đại gen rbcL của loài

M thailandicus được giải trình tự và dóng

hàng, thu được trình tự dài 1120 bp Sử dụng

tính năng Blast, và so sánh trình tự khác

biệt, trình tự loài M thailandicus thể hiện

sự tương đồng 99,98% (1 sai khác nuceotide tại vị trí 683 trên 1120 bp) Sự khác biệt di

Trang 9

truyền là 0,02 % khi so sánh với các trình tự

của loài này trên Genbank (Hình 5)

M thailandicus được mô tả bởi Muangmai

et al (2014) [15] với tên loài Neosiphonia

thailandica ở cảng Sri Racha, Vịnh Thái Lan

Đặc trưng hình thái cơ bản là các nhánh bào

tử có 3 tế bào xung quanh Phân tích mối quan

hệ phát sinh loài cho thấy M thailandicus sắp xếp chung nhánh với các loài Neosiphonia, và gần gũi với loài N sphaerocarpa và P forfex

Hình 5: Vị trí khác biệt Nucleotide (vị trí 683, in đậm) của trình tự rbcL loài M thailandicus

so với các trình tự trên Genbank.

M.thKM502785 CATAGAATAT AGAAATCTTT CTTTCCAACG CATAAAAGGC TGCGAATTAA TGTTTTCATCM.thKM502787 CATAGAATAT AGAAATCTTT CTTTCCAACG CATAAAAGGC TGCGAATTAA TGTTTTCATCM.thKM502786 CATAGAATAT AGAAATCTTT CTTTCCAACG CATAAAAGGC TGCGAATTAA TGTTTTCATC

Nghiên cứu hiện tại cho thấy sự tương đồng

về mặt hình thái (phân nhánh gốc chữ Y, đỉnh

sinh trưởng có 3 tế bào), và di truyền (tương

đồng là 99,98% dựa trên chỉ thị rbcL của DNA

lục lạp) có thể định loại chính xác loài này là

Melanothamnus thailandicus Theo Muangmai

et al (2014) [15], M thailandicus được tìm

thấy trên Gracilaria fi sher, vì vậy đây là lần

đầu tiên loài này được ghi nhận trên rong sụn

2.3 Khảo sát mối quan hệ phát sinh loài Melanothamnus thailandicus

Dựa trên trình tự loài M thailandicus từ

nghiên cứu hiện tại, và các trình tự có sẵn trên Genbank (Bảng 1), phân tích mối quan hệ phát sinh loài với giá trị BT trên các nhánh được biểu hiện ở Hình 6

Hình 6: Cây phát sinh loài (phương pháp NJ, phần mềm Mega) của các loài Melanothamnus Giá trị

tin cậy (Boostraps) được biểu hiện trên các nhánh Hình chữ nhật là loài trong nghiên cứu hiện tại

Tên mới được cập nhật theo Díaz-tapia et al (2017) [9]

Trang 10

Trên Hình 6, Loài M thailandicus (tên cũ

Neosiphonia thailandica) được xếp chung một

nhánh riêng biệt với các loài này thu từ Thái

Lan (BT 100%), giúp khẳng định sự định loại

chính xác và vị trí phân loại của loài Loài M

thailandicus cùng với các loài cùng giống tạo

thành một nhánh đồng dạng với giá trị BT cao

(100%) Các loài Melanothamnus spp thể hiện

mối quan hệ gần gũi với các loài thuộc giống

Polysiphonia

Theo Muangmai et al (2014) [15], N

thailandica có quan hệ gần gữi với loài

N sphaerocarpa và Polysiphonia forfex

Díaz-tapia et al (2017) [9] đề xuất giống

Melanothamnus (bao gồm các loài của giống

Fernandosiphonia và Neosiphonia, và xếp

3 loài trên vào giống Melanothamnus Giống

Melanothamnus (gồm 46 loài) đặc trưng bởi

đỉnh sinh trưởng có 3 tế bào Nguồn gốc tiến

hóa của giống Melanothamnus được ước tính

là 75,7 - 95,78 triệu năm trước Mặc dù phát

sinh trong kỷ Phấn trắng, Melanothamnus

là một giống chủ yếu ở Ấn Độ - Thái Bình Dương, do đó sự vắng mặt của giống này ở phía đông bắc Đại Tây Dương hiện vẫn chưa thể giải thích [9]

IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:

Nghiên cứu ghi nhận mới epiphyte trên rong sụn Dựa trên đặc điểm hình thái và di truyền, nghiên cứu định loại chính xác loài

Melanothamnus thailandicus và khảo sát mối

quan hệ tiến hóa Cần có nghiên cứu chuyên sâu và trên diện rộng các dạng/loài epiphyte trên rong sụn nhằm bổ sung thành phần loài, tác nhân gây bệnh góp phần phát hiện sớm và

có biện pháp phòng, trừ bệnh thích hợp

LỜI CẢM TẠ: Nhóm tác giả xin gửi lời cảm

ơn đến Ths Trương Thị Oanh, và Ths Trần Quang Sáng đã hỗ trợ xử lý hình ảnh và số liệu

di truyền

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Bùi Đình Lâm, Định Thị Ngọc Mai, Nguyễn Lâm Anh, Hoàng Thị Lan, Đinh Thị Thu Hằng, Trần Thị Hồng

Hà, Lê Mai Hương, Đặng Diễm Hồng (2010), “Đa dạng sinh học của các loài vi sinh vật cơ hội gây bệnh trắng

nhũn thân (ice – ice disease) trên Rong Sụn (Kappaphycus alvarezii, K striatum) ở miền trung Việt Nam” Tạp

chí Khoa học và Công nghệ 48, Tr 311–319.

2 Đinh Thị Hải Yến, (2005) “Thử nghiệm trồng rong sụn (Kappapphycus alvarezii Doty) tại Đàm Bấy, Nha

Trang, Khánh Hòa”, Kỷ yếu Hội Nghị Khoa Học Toàn Quốc về Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật Lần Thứ

6 Tr 1828–1833

3 Huỳnh Quang Năng (2006), “Hoạch định vùng phát triển trồng rong sụn (Kappaphycus alvarezii) ven biển

phía Nam Việt Nam” Báo cáo khoa học, Tr 25-28

4 Lê Mai Hương, Trần Mai Đức (2010), “Nghiên cứu công nghệ sản xuất và ứng dụng chế phẩm vi sinh trong

phòng bệnh nhũn thân (ice-ice disease) ở rong sụn Việt Nam”, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học chương

trình CNSH thủy sản

5 Ngô Thị Thu Thảo, Huỳnh Hàn Châu, Trần Ngọc Hải (2010), “Ảnh hưởng của việc nuôi kết hợp các mật

độ rong sụn (Kappaphycus alvarezii) với tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei)” Tạp chí Khoa học, Trường

Đại học Cần Thơ 16a, Tr 100–110

6 Nguyễn Hữu Đại (1999), “Rong biển phụ sinh (Epiphyte) trên cỏ biển ở Khánh Hòa” Tuyển tập Nghiên cứu

biển IX, Tr 196–204.

Tiếng Anh

7 Arbeli, Z., Fuentes, C.L., (2007), "Improved purifi cation and PCR amplifi cation of DNA from environmental

samples" FEMS Microbiology Letters 272, pp 269–275 https://doi.org/10.1111/j.1574-6968.2007.00764.x.

Trang 11

8 Borlongan, I.A.G., Luhan, M.R.J., Padilla, P.I.P., Hurtado, A.Q., (2016), "Photosynthetic responses of

‘Neosiphonia sp epiphyte-infected’ and healthy Kappaphycus alvarezii (Rhodophyta) to irradiance, salinity and

pH variations", Journal of Applied Phycology 28, pp 2891–2902 https://doi.org/10.1007/s10811-016-0833-4.

9 Díaz-tapia, P., Mcivor, L., Freshwater, D.W., Verbruggen, H., Wynne, M.J., Maggs, C.A., Gray, V.S.F.,

(2017) "The genera Melanothamnus Bornet & Falkenberg and Vertebrata S F Gray constitute well-defi ned clades of the red algal tribe Polysiphonieae" European Journal of Phycology 52, 1–30 https://doi.org/10.108

0/09670262.2016.1256436

10 Freshwater, D.W., Ueness, J., (1994) "Phylogenetic relationships of some European Gelidium (Gelidiales, Rhodophyta) species, based on rbcL nucleotide sequence analysis" Phycologia 33.

11 Hall, T.A., (1999) "BioEdit: A user-friendly biological sequence alignment editor and analysis program for

Windows95/98/NT" Nucleic Acids Symposium Series 41, pp 95–98.

12 Hayashi, L., Anicia., Hurtado, Msuya, F., Bleicher-Lhonneur, G., Critchley, Alan, (2010) "A Review of

Kappaphycus Farming: Prospects and Constraints, in: Seaweeds and Their Role in Globally Changing Environments" Springer Dordrecht Heidelberg, London, pp 254–283 https://doi.org/10.1007/978-90-481-8569-6.

13 Hurtado, A , Critchley, A , (2006) "Seaweed industry of the Phillipines and the problem of epiphytism in

Kappaphycus farming, in: &, Critchley, Ang, P.O (Eds.)", Advances in Seaweed Cultivation and Utilisation in

Asia University of Malaya, Kuala Lumpur, pp 21–28.

14 Kearse, M., Moir, R., Wilson, A., Stones-Havas, S., Cheung, M., Sturrock, S., Buxton, S., Cooper, A., Markowitz, S., Duran, C., Thierer, T., Ashton, B., Meintjes, P., Drummond, A., (2012) "Geneious Basic: An integrated and extendable desktop software platform for the organization and analysis of sequence data"

Bioinformatics 28, pp 1647–1649 https://doi.org/10.1093/bioinformatics/bts199

15 Muangmai, N., Yamagishi, Y., Maneekat, S., Kaewsuralikhit, C., (2014) "The new species Neosiphonia

thailandica sp nov (Rhodomelaceae, Rhodophyta) from the Gulf of Thailand" Botanica Marina 57, pp

459–467 https://doi.org/10.1515/bot-2014-0042

16 Nguyen, X., Nguyen, T., Dao, V., Liao, L., (2019) "New record of Grateloupia taiwanensis S -M Lin et

H -Y Liang in Vietnam : Evidence of morphological observation and rbc L sequence analysis" Biodiverstas

20, 688–695 https://doi.org/10.13057/biodiv/d200311

17 Rantetondok, Alexander., Latama, G., (2017) "Epiphytic and Ice-ice Diseases of Seaweed, Kappaphycus

alvarezii and its Effect on Growth Rate and Carrageenan Qualit" International Journal of Aquaculture 7, pp

134–138 https://doi.org/doi: 10.5376/ija.2017.07.0021

18 Tamura, K., Stecher, G., Peterson, D., Filipski, A., Kumar, S., (2013) "MEGA6: Molecular evolutionary

genetics analysis version 6.0" Moecular Biology and Evoluion 30, pp 2725–2729 https://doi.org/10.1093/

molbev/mst197

19 Trono, C., (1999) "Seaweeds, in: Carpenter, K.E and Niem, V.H (Ed.)", The Living Marine Resources of the

Western Central Pacifi c, Vol 1 FAO Species Identifi cation Guide for Fishery Purposes FAO, Rome, pp 19–99.

20 Vairappan, C., Chung, CS., Matsunaga, S., (2014) "Effect of epiphyte infection on physical and chemical

properties of carrageenan produced by Kappaphycus alvarezii Doty (Soliericeae, Gigartinales, Rhodophyta)"

Journal of Applied Phycolog 26, pp 923–931 https://doi.org/10.1007/s10811-013-0126-0.

21 Vairappan, C.S., (2006) "Seasonal occurrences of epiphytic algae on the commercially cultivated red alga

Kappaphycus alvarezii (Solieriaceae, Gigartinales, Rhodophyta)" Journal of Applied Phycolog 18 (3, pp

611–617 https://doi.org/10.1007/s10811-006-9062-6

22 Vairappan, C.S., Chung, C.S., Lhonneur, G.B., Critchley, A., (2007) "Distribution and symptoms of

epiphyte infection in major carrageenophyte-producing farms" Journal of Applied Phycolog https://doi.

org/10.1007/s10811-007-9299-8

Trang 12

ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ ENZYME VÀ THỜI GIAN ĐẾN QUÁ TRÌNH

THỦY PHÂN SỤN CÁ MẬP (Carcharhinus dussumieri)

EFFECTS OF THE ENZYME CONCENTRATION AND HYDROLYSIS TIME

TO THE PROCESS OF SHARK CARTILAGE (Carcharhinus dussumieri) HYDROLYSIS

Đinh Hữu Đông 1 , Vũ Ngọc Bội 2 , Nguyễn Thị Mỹ Trang 2

1 Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm Tp HCM

2 Khoa Công nghệ thực phẩm, Trường Đại học Nha Trang

Tác giả liên hệ: Vũ Ngọc Bội (Email: boivn@ntu.edu.vn)

Ngày nhận bài: 06/05/2020; Ngày phản biện thông qua: 18/05/2020; Ngày duyệt đăng: 12/06/2020

TÓM TẮT

Bài báo này công bố kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ enzyme đến quá trình thủy phân sụn cá mập (Carcharhinus dussumieri) bằng hỗn hợp enzyme alcalase-papain Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ enzyme và thời gian thủy phân có ảnh hưởng mạnh đến hàm lượng protein hòa tan, peptid, Naa, chondroitin

nghiên cứu cũng cho thấy nồng độ hỗn hợp enzyme alcalase-papain thích hợp cho quá trình thủy phân sụn cá mập là 0,3% Sau 10h thủy phân sụn cá mập bằng hỗn hợp enzyme alcalase-papain với nồng độ enzyme 0,3%, nhiệt độ thủy phân 50ºC, thủy phân ở pH tự nhiên (6,8), khối lượng mẫu 2kg và tỷ lệ nước bổ sung 2 lít, dịch thủy phân có hàm lượng protein hòa tan, peptid, Naa, chondroitin sulphate và N NH3 cao gấp 7,06 lần, 3,68 lần, 9,01 lần, 83,42 lần và 1,27 lần so với ban đầu.

Từ khóa: hỗn hợp alcalase - papain, protein, peptide, Naa, N NH3 , chodroitin sulphate, sụn cá mập, thủy phân.

ABSTRACT

This paper focused on the research to determine the effect of the enzyme concentration on hydrolyzing shark cartilage (Carcharhinus dussumieri) by the alcalase-papain enzyme mixture The results showed that the enzyme concentration and hydrolysis time strongly affected the content of soluble proteins, peptides, Naa, chondroitin sulphate, and N NH3 formed in shark cartilage hydrolyzate The results also indicated that the alcalase-papain enzyme mixture concentration of 0.3% was suitable for shark cartilage hydrolysis After 10 hours of shark cartilage hydrolysis by alcalase-papain enzyme mixture at concentration of 0.3%, temperature of 50ºC, natural pH (6.8), sample weight of 2 kilograms and the additional water ratio of 2 liters, the hydrolyzate had the content of protein, peptide, Naa, chondroitin sulphate, and N NH3 higher than 7.06 times, 3.68 times, 9.01 times, 83.42 times and 1.27 times higher than that in the original

Key words: mixture of alcalase-papain enzyme, protein, peptide, Naa, N NH3 , chodroitin sulphate, shark cartilage, hydrolysis.

I MỞ ĐẦU

Từ xưa người ta đã biết sụn cá mập có khả

năng làm sáng mắt, khả năng ức chế sự hình

thành các vi mao mạch tân sinh nên có thể hạn

chế các khối u, có khả năng ức chế hệ miễn dịch

nên giúp giảm nhẹ các chứng miễn dịch như

đau nhức xương, vẩy nến, [5] Sụn cá mập có

chứa chondroitin sulfat là thành phần chiếm tỷ

lệ chính tạo nên cấu trúc của mô sụn, hoạt dịch

bao quanh khớp, giúp bôi trơn sụn khớp [6]

Do vậy, sụn cá mập còn thường được điều chế

thành các loại thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị các bệnh về xương khớp và mắt [6] Tuy vậy, mô sụn nói chung và sụn cá mập nói riêng thường được cấu trúc bởi các protein không tan trong nước nên con người rất khó hấp thụ các chất từ mô sụn [3, 5, 6, 7, 10] Chúng tôi tiến hành nghiên cứu thu nhận các chất tự nhiên từ sụn cá mập bằng phương pháo thủy phân sụn

cá mập tươi bằng phương pháp thủy phân sử dụng enzyme protease và thu dịch thủy phân định hướng cho việc sử dụng làm thực phẩm

Trang 13

hỗ trợ phòng chống thoái hóa sụn khớp Trong

bài báo này, chúng tôi tiếp tục công bố nghiên

cứu về ảnh hưởng nồng độ hỗn hợp enzyme

alcalase - papain và thời gian thủy phân đến

quá trình thủy phân sụn cá mập

II NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG

Hình 1 Hình ảnh về sụn cá mập (Carcharhinus dussumieri) đã xử lý.

1.2 Enzym alcalase

Enzym alcalase 2.4L là chế phẩm protease

thương mại do hãng Novozyme - Đan Mạch

cung cấp Alcalase thuộc nhóm enzyme serine

endopeptidase có các đặc tính kỹ thuật như

sau: pH thích hợp trong khoảng 6 - 8, nhiệt độ

thích hợp 30 - 65ºC, hoạt tính 2,4AU/g được

bảo quản ở 0 - 5ºC

1.3 Enzym papain: Papain thương mại có hoạt

tính ≥2,0 mAnsonU/mg (cơ chất hemoglobine,

pH 6, nhiệt độ 35,5ºC) do Merck - Đức sản

xuất Papain là một enzyme chịu được nhiệt độ

tương đối cao Ở dạng nhựa khô, papain không

bị biến tính trong 3 giờ ở 100ºC, còn ở dạng

dung dịch, papain bị mất hoạt tính sau 30 phút

đị nh hà m lượ ng Nitơ amin

TCVN 3706-1990 Thủ y sả n – Phương phá p

xá c đị nh hà m lượ ng Nitơ ammoniac

* Xác định hoạt độ protease theo phương pháp Anson [1, 2, 9]

Nguyên tắc của phương pháp: dùng protein casein làm cơ chất xác định hoạt độ thủy phân protein của enzyme protease trên cơ sở định lượng sản phẩm được tạo thành trong phản ứng bằng phản ứng màu với thuốc thử Folin - Ciocalteau Dựa vào đồ thị chuẩn tyrosine để định lượng tương ứng với lượng sản phẩm tạo

Trang 14

thành dưới tác dụng của enzyme.

- Định lượng protein hòa tan theo phương

pháp Lowry [1, 9]:

Nguyên tắc của phương pháp là các axit

amin có vòng thơm, Tyr và Trp có mặt trong

protein sẽ phản ứng với thuốc thử

Folin-Ciocalteau tạo thành phức chất màu xanh đen

có độ hấp thụ cực đại ở bước sóng 650nm Dựa

vào đường chuẩn protein người ta có thể định

lượng hàm lượng protein

- Xác định hàm lượng peptid [1]: hàm

lượng peptid được định lượng dựa vào đường

chuẩn tyrosine Lấy 1g mẫu thủy phân, cho

thêm 9ml nước cất sau đó khuấy đều trong

khoảng 5 ÷10 phút rồi ly tâm lấy dịch trong

để xác định hàm lượng peptid như sau: lấy 2

ống nghiệm sạch 1 ống thí nghiệm và một ống

đối chứng Ống thí nghiệm: hút chính xác 2ml

dung dịch lọc ở trên cộng với 2ml Trichloacetic

acid (TCA) 20% để 30 phút rồi lọc qua giấy

lọc thu dịch lọc Lấy một ống nghiệm sạch cho

vào 1ml dịch lọc + 5ml dung dịch Na2CO3 0,4

M lắc đều, rồi cho vào 1ml Folin để 20 phút so

màu ở bước sóng 660 nm Ống đối chứng: lấy

1ml dung dịch TCA 10% + 5ml Na2CO3 0,4

M + 1ml folin để 20 phút đem so màu Tính kết quả: dựa vào đường chuẩn để tính lượng tysosin tương ứng

Hàm lượng peptid được tính theo công thức:

2.2 Phương pháp định lượng chondroitin sulfate (CS) bằng phương pháp so mầu theo Farndale và cộng sự [8]

Nguyên lý: Dựa trên sự thay đổi trong quang phổ hấp thụ của DMMB (1,9 Dimethylmethylene) khi tác dụng với chondroitin sulfate (glycosaminoglycan sulfate)

ở bước sóng 525nm Dựa vào đường chuẩn của chondroitin sulfate A (gốc sulfate gắn ở vị trí C-4 (chondroitin-4-sulfate), CS4) với DMMB

để xác định hàm lượng chondroitin sulfate Phương pháp này có độ nhạy cao, có thể định tính và định lựợng hàm lượng CS ở mức μg

2.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Bố trí thí nghiệm để xác định nồng độ hỗn hợp enzyme alcalase - papain thủy phân sụn cá mập được trình bày ở hình 2

Hình 2 Sơ đồ thí nghiệm xác định nồng độ hỗn hợp alcalase-papain thích hợp cho quá trình

thủy phân sụn cá mập.

Trang 15

Vi sụn cá mập đã xử lý, được rã đông, rửa,

xay nhỏ bằng máy xay và được sử dụng để làm

nguyên liệu nghiên cứu thủy phân bằng hỗn

hợp enzyme alcalase - papain Tiến hành 5 mẫu

thí nghiệm thủy phân sụn cá mập bằng hỗn hợp

enzyme alcalase-papain với nồng độ của hỗn

hợp enzyme khác nhau: mẫu 1: 0,1%, mẫu 2:

0,2%, …, mẫu 5: 0,5% Các mẫu thủy phân đều

sử dụng 2kg hỗn hợp sụn cá mập, tỷ lệ alcalase/

papain trong hỗn hợp 60/40, lượng nước bổ

sung là 2 lít, thủy phân ở pH tự nhiên của hỗn

hợp sụn cá mập (pH 6,8) và nhiệt độ thủy phân

50ºC Sau các khoảng thời gian: 0h, 2h, 4h, 6h,

8h và 10 giờ thủy phân, tiến hành lấy mẫu dịch

thủy phân để đánh giá hàm lượng protein hòa

tan, hàm lượng peptid, hàm lượng Naa, NNH3 và

hàm lượng chondroitin sulphate tạo thành Kết

quả đánh giá là cơ sở để lựa chọn nồng độ hỗn

hợp enzyme thích hợp cho quá trình thủy phân

sụn cá mập

2.4 Thiết bị và hóa chất

- Thiết bị: sử dụng các thiết bị hiện có tại

Trung tâm Thí nghiệm Thực hành – Trường

Đại học Nha Trang và Trường Đại học Công

nghiệp Thực phẩm - TP HCM: Máy so mầu

UV-VIS DR6000 - Hach (Mỹ); Bể ổn nhiệt

MEMMERT WNB14 - Đức, Máy ly tâm lạnh

tốc độ cao HERMLE Z36HK - Đức, Hệ thống phân tích hàm lượng nitơ/protein theo phương pháp Dumas (Đức), Bồn nước điều nhiệt Memmert WNB22 (Đức), nồi thủy phân dung tích 30 lít (Việt Nam),…

- Các hóa chất sử dụng trong thí nghiệm đều là hoá chất tinh khiết do hãng Merck - Đức cung cấp

2.5 Phương pháp xử lý số liệu

Mỗi thí nghiệm đều tiến hành lặp lại 3 lần độc lập và số liệu là kết quả trung bình của các lần thí nghiệm Kiểm tra sự khác biệt giữa các

số liệu thống kê bằng phần mềm Statgraphics Centurion XVII trial

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1 Ảnh hưởng thời gian thủy phân và nồng

độ hỗn hợp alcalase-papain tới hàm lượng protein hòa tan

Tiến hành 5 mẫu thí nghiệm thủy phân sụn

cá mập bằng hỗn hợp enzym alcalase - papain với nồng độ khác nhau: 0,1%, 0,2%, 0,3%, 0,4% và 0,5% Sau các khoảng thời gian: 0h, 2h, 4h, 6h, 8h và 10 giờ thủy phân, tiến hành lấy mẫu dịch thủy phân để đánh giá hàm lượng protein hòa tan Kết quả được thể hiện trên hình 3

Hình 3 Ảnh hưởng của nồng độ hỗn hợp enzyme alcalase-papain và thời gian thủy phân

đến hàm lượng protein tạo thành trong dịch thủy phân sụn cá mập

Trang 16

Từ kết quả phân tích ở hình 3 cho thấy theo

thời gian thủy phân hàm lượng protein hòa tan

tạo thành trong tất cả các mẫu thủy phân thủy

phân sụn cá mập bằng hỗn hợp alcalase-papain

đều tăng theo sự tăng nồng độ enzyme và thời

gian thủy phân nhưng mức độ tăng khác nhau

tùy thuộc vào nồng độ enzyme Cụ thể, sau

2 giờ thủy phân, hàm lượng protein hòa tan

của dịch thủy phân sụn cá mập bằng hỗn hợp

enzyme alcalase-papain ở nồng độ enzyme

0,1%, 0,2%, 0,3%, 0,4% và 0,5% là 4,45 g/kg,

5,37g/kg, 6,24g/kg, 6,34g/kg và 6,46g/kg, cao

gấp 2,23 lần, 2,69 lần, 3,12 lần, 3,17 lần và 3,23

lần so với ban đầu Sau 10 giờ thủy phân, hàm

lượng protein hòa tan của dịch thủy phân sụn

cá mập với nồng độ hỗn hợp enzyme

alcalase-papain sử dụng 0,1%, 0,2%, 0,3%, 0,4% và

0,5% là 10,16 g/kg, 12,98g/kg, 14,12g/kg,

14,67g/kg và 14,89g/kg, cao gấp tương ứng so

với ban đầu là 5,08 lần, 6,49 lần, 7,06 lần, 7,34

lần và 7,45 Kết quả này cho thấy khi tăng nồng

độ hỗn hợp enzyme alcalase - papain từ 0,1%

÷0,3% thì hàm lượng protein hòa tan tạo thành

trong dịch thủy phân tăng mạnh theo thời gian

và tăng mạnh theo chiều tăng nồng độ enzyme

Tuy vậy, khi tăng nồng độ hỗn hợp enzyme

alcalase - papain > 0,3% thì hàm lượng protein

hòa tan tạo thành trong dịch thủy phân lại có

xu thế tăng chậm lại và không tương xứng với

mức độ tăng nồng độ enzyme Mặt khác, kết

quả đánh giá cũng cho thấy sự khác biệt về

hàm lượng protein hòa tan tạo thành trong dịch

thủy phân ở các mẫu bổ sung 0,3%, 0,4% và

0,5% không đáng kể, không có ý nghĩa thống

kê Như vậy, khi tăng nồng độ hỗn hợp enzyme

alcalase - papain > 0,3% thì không làm tăng

đáng kể hàm lượng protein hòa tan trong dịch

thủy phân dẫn tới nếu tăng nồng độ hỗn hợp

enzyme alcalase - papain > 0,3% sẽ dẫn tới

lãng phí enzyme

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng có

nét tương đồng với một số nghiên cứu đã công

bố trước đây Cụ thể, năm 2004, Vũ Ngọc Bội

khi nghiên cứu về quá trình thủy phân protein

cá mối và cá cơm bằng enzyme protease từ B

subtilis S5 cho thấy nồng độ enzyme protease

từ B subtilis S5 thích hợp cho quá trình thủy

phân cơ thịt cá mối là 0,3% và nồng độ enzyme

protease từ B subtilis S5 thích hợp cho quá

trình thủy phân cá cơm trong sản xuất nước mắm là 0,2% [1] Năm 2010, Trần Cảnh Đình tiến hành thủy phân hỗn hợp sụn cá mập khô và tươi bằng enzyme protease cho rằng nồng độ enzyme protease thích hợp là 0,2% [3]

Từ những phân tích ở trên cho thấy khi xét theo khía cạnh hàm lượng protein hòa tan thì

sử dụng hỗn hợp enzyme alcalase - papain với nồng độ 0,3% là phù hợp cho quá trình thủy phân sụn cá mập.

2 Ảnh hưởng thời gian thủy phân và nồng

độ hỗn hợp alcalase-papain tới hàm lượng peptid tạo thành

Tiến hành 5 mẫu thí nghiệm thủy phân sụn

cá mập bằng hỗn hợp enzym alcalase - papain với nồng độ khác nhau: 0,1%, 0,2%, 0,3%, 0,4% và 0,5% Sau các khoảng thời gian: 0h, 2h, 4h, 6h, 8h và 10 giờ thủy phân, lấy mẫu dịch thủy phân để đánh giá hàm lượng peptid Kết quả được thể hiện trên hình 4

Từ kết quả phân tích ở hình 4 cho thấy cũng giống như hàm lượng protein, hàm lượng peptid tạo thành trong tất cả các mẫu thủy phân thủy phân sụn cá mập bằng hỗn hợp enzyme alcalase-papain đều tăng theo nồng độ enzyme và thời gian thủy phân nhưng mức độ tăng khác nhau tùy thuộc vào nồng

độ hỗn hợp enzyme sử dụng Cụ thể, ở thời điểm sau 2 giờ thủy phân, hàm lượng peptid tạo thành trong dịch thủy phân sụn cá mập bằng hỗn hợp enzyme alcalase-papain tương ứng với nồng độ enzyme 0,1%, 0,2%, 0,3%, 0,4% và 0,5% là 0,015146mg/mL, 0,01748 mg/mL, 0,020139mg/mL, 0,020561mg/mL

và 0,020773mg/mL, cao gấp tương ứng 2,16 lần, 2,50 lần, 2,88 lần, 2,94 lần và 2,97 lần

so với ban đầu Ở thời điểm sau 10 giờ thủy phân, hàm lượng peptid tạo thành trong dịch thủy phân sụn cá mập bằng hỗn hợp enzyme alcalase-papain tương ứng với nồng độ enzyme 0,1%, 0,2%, 0,3%, 0,4% và 0,5% là 0,019327 mg/mL, 0,02228mg/mL, 0,025735mg/mL, 0,026218mg/mL và 0,026564mg/mL, cao gấp 2,76 lần, 3,18 lần, 3,69 lần, 3,75 lần và 3,80 lần so với ban đầu Kết quả này cho thấy khi

Trang 17

tăng nồng độ hỗn hợp enzyme alcalase - papain

từ 0,1% ÷0,3% thì hàm lượng peptid tạo thành

trong dịch thủy phân cũng tăng mạnh theo

thời gian và tăng mạnh theo chiều tăng nồng

độ enzyme Nhưng khi tăng nồng độ hỗn hợp

enzyme alcalase - papain > 0,3% thì hàm lượng

peptid tạo thành trong dịch thủy phân tăng rất

ít và không tương xứng với mức độ tăng nồng

độ enzyme Mặt khác, kết quả đánh giá cũng

cho thấy sự khác biệt về hàm lượng peptid tạo

thành trong dịch thủy phân ở các mẫu bổ sung

0,3%, 0,4% và 0,5% không đáng kể, không có

ý nghĩa thống kê Như vậy, khi tăng nồng độ

hỗn hợp enzyme alcalase - papain > 0,3% thì

không làm tăng hàm lượng peptid trong dịch

thủy phân dẫn tới nếu tăng nồng độ hỗn hợp

enzyme alcalase - papain > 0,3% sẽ dẫn tới

lãng phí enzyme

Từ các phân tích hàm lượng peptid ở trên

cho thấy nồng độ hỗn hợp enzyme alcalase -

papain thích hợp cho quá trình thủy phân sụn

cá mập là 0,3%.

3 Ảnh hưởng thời gian thủy phân và nồng độ

hỗn hợp alcalase-papain tới hàm lượng Naa

Tiến hành 5 mẫu thí nghiệm thủy phân sụn

cá mập bằng hỗn hợp enzym alcalase - papain

với nồng độ khác nhau: 0,1%, 0,2%, 0,3%,

0,4% và 0,5% Sau các khoảng thời gian: 0h,

2h, 4h, 6h, 8h và 10 giờ thủy phân, lấy mẫu

dịch thủy phân để đánh giá hàm lượng Naa Kết quả được thể hiện trên hình 5

Kết quả phân tích trình bày ở hình 5 cho thấy hàm lượng Naa tạo thành trong tất cả các mẫu thủy phân thủy phân sụn cá mập bằng hỗn hợp alcalase-papain đều tăng theo thời gian thủy phân và nồng độ hỗn hợp enzyme nhưng mức độ tăng của các mẫu thí nghiệm sử dụng nồng độ enzyme khác nhau cũng khác nhau

Cụ thể, sau 2 giờ thủy phân, hàm lượng Naa của dịch thủy phân tương ứng với nồng độ hỗn hợp enzyme 0,1%, 0,2%, 0,3%, 0,4% và 0,5% là 5,21243g/lít, 5,21243g/lít, 7,00673g/lít, 7,11911g/kg và 7,21414g/lít, cao gấp tương ứng so với ban đầu là 4,24 lần, 4,98 lần, 5,70 lần, 5,79 lần và 5,87 lần Ở thời điểm sau 10 giờ thủy phân, hàm lượng Naa của dịch thủy phân sụn cá mập bằng hỗn hợp enzyme alca-lase-papain ở nồng độ 0,1%, 0,2%, 0,3%, 0,4%

và 0,5% là 8,28690g/lít, 9,62671g/lít, 11,08536 g/lít, 11,36078g/kg và 11,56613g/lít, cao gấp 6,74 lần, 7,83 lần, 9,01 lần, 9,24 lần và 9,40 lần

so với ban đầu Kết quả này cũng cho thấy khi tăng nồng độ hỗn hợp enzyme alcalase - papain

từ 0,1% ÷0,3% thì hàm lượng Naa tạo thành trong dịch thủy phân sụn cá mập tăng mạnh theo chiều tăng nồng độ enzyme và thời gian thủy phân Trái lại, khi tăng nồng độ hỗn hợp enzyme alcalase - papain > 0,3% thì hàm lượng

Hình 4 Ảnh hưởng của nồng độ hỗn hợp enzyme alcalase-papain và thời gian

thủy phân đến hàm lượng peptid tạo thành trong dịch thủy phân sụn cá mập.

Trang 18

Naa tạo thành trong dịch thủy phân lại tăng rất

chậm, không đáp ứng được mức độ tăng nồng

độ enzyme Như vậy, khi tăng nồng độ hỗn hợp

enzyme alcalase - papain > 0,3% thì không làm

tăng đáng kể hàm lượng Naa trong dịch thủy

phân dẫn tới nếu tăng nồng độ hỗn hợp enzyme

alcalase - papain > 0,3% có thể dẫn tới lãng phí

enzyme

Từ những phân tích ở trên khi xét theo khía

cạnh hàm lượng nitơ acid amin thì sử dụng hỗn

hợp enzyme alcalase - papain để thủy phân sụn

cá mập với nồng độ enzyme 0,3% là phù hợp

4 Ảnh hưởng thời gian thủy phân và nồng

độ hỗn hợp alcalase-papain tới hàm lượng

chodroitin sulphate tạo thành

Tiến hành 5 mẫu thí nghiệm thủy phân sụn

cá mập bằng hỗn hợp enzym alcalase - papain

với nồng độ khác nhau: 0,1%, 0,2%, 0,3%,

0,4% và 0,5% Sau các khoảng thời gian: 0h,

2h, 4h, 6h, 8h và 10 giờ thủy phân, lấy mẫu dịch

thủy phân để đánh giá hàm lượng chondroitin

sulphate Kết quả được thể hiện trên hình 6

Kết quả phân tích trình bày ở hình 6 cho

thấy hàm lượng chondroitin sulphate tạo thành

trong tất cả các mẫu thủy phân thủy phân

sụn cá mập bằng hỗn hợp alcalase-papain

đều tăng theo thời gian thủy phân và nồng

độ hỗn hợp enzyme nhưng mức độ tăng khác

nhau tùy thuộc vào nồng độ enzyme Ở giai

đoạn sau 2 giờ thủy phân sụn cá mập bằng hỗn hợp enzyme alcalase-papain, hàm lượng chondroitin sulphate tạo thành trong dịch thủy phân của các mẫu thí nghiệm sử dụng enzyme với nồng độ 0,1%, 0,2%, 0,3%, 0,4% và 0,5% là 7,33062mg/mL, 9,11400mg/mL, 9,84540mg/

mL, 10,43168mg/mL và 10,54282mg/mL, cao gấp tương ứng so với ban đầu là 18,85 lần, 23,43 lần, 25,31 lần, 26,82 lần và 27,10 lần Ở thời điểm sau 10 giờ thủy phân sụn cá mập bằng hỗn hợp enzyme alcalase-papain, hàm lượng chondroitin sulphate của dịch thủy phân tương ứng với nồng độ enzyme đã sử dụng 0,1%, 0,2%, 0,3%, 0,4% và 0,5% là 23,23486mg/

33,05696mg/mL và 33,09104mg/mL, cao gấp tương ứng 59,73 lần, 73,03 lần, 83,42 lần, 84,98 lần và 85,07 lần so với ban đầu Kết quả này cho thấy khi tăng nồng độ hỗn hợp enzyme alcalase - papain từ 0,1% ÷0,3% thì hàm lượng chondroitin sulphate tạo thành trong dịch thủy phân tăng mạnh theo chiều tăng nồng độ enzyme Tuy vậy, khi tăng nồng độ hỗn hợp enzyme alcalase - papain > 0,3% thì hàm lượng chondroitin sulphate tạo thành trong dịch thủy phân có xu hướng tăng chậm lại và mức độ tăng không tương xứng với mức độ tăng nồng

độ enzyme Mặt khác, kết quả đánh giá cũng cho thấy sự khác biệt về hàm lượng chondroitin

Hình 5 Ảnh hưởng của nồng độ hỗn hợp enzyme alcalase-papain và thời gian

thủy phân đến hàm lượng Naa tạo thành trong dịch thủy phân sụn cá mập.

Trang 19

sulphate tạo thành trong dịch thủy phân của các

mẫu bổ sung enzyme với nồng độ 0,3%, 0,4%

và 0,5% không đáng kể, không có ý nghĩa

thống kê Như vậy, khi tăng nồng độ hỗn hợp

enzyme alcalase - papain > 0,3% thì không làm

tăng đáng kể hàm lượng chondroitin sulphate

trong dịch thủy phân dẫn tới khi tăng nồng độ

hỗn hợp enzyme alcalase - papain > 0,3% sẽ

dẫn tới lãng phí enzyme

Từ những phân tích ở trên khi xét theo

khía cạnh hàm lượng chondroitin sulphate tạo

thành thì nồng độ hỗn hợp enzyme alcalase -

papain thích hợp cho quá trình thủy phân sụn

cá mập là 0,3%.

5 Ảnh hưởng thời gian thủy phân và nồng

độ hỗn hợp alcalase-papain tới hàm lượng

N NH3

Tiến hành 5 mẫu thí nghiệm thủy phân sụn

cá mập bằng hỗn hợp enzym alcalase - papain với nồng độ khác nhau: 0,1%, 0,2%, 0,3%, 0,4% và 0,5% Sau các khoảng thời gian: 0h, 2h, 4h, 6h, 8h và 10 giờ thủy phân, lấy mẫu dịch thủy phân để đánh giá hàm lượng NNH3 Kết quả được thể hiện trên hình 7

Hình 6 Ảnh hưởng của nồng độ hỗn hợp enzyme alcalase-papain và thời gian thủy phân đến hàm lượng chondroitin sulphate tạo thành trong dịch thủy phân sụn cá mập.

Hình 7 Ảnh hưởng của nồng độ hỗn hợp enzyme alcalase-papain và thời gian thủy phân

đến hàm lượng N NH3 tạo thành trong dịch thủy phân vi sụn cá mập.

Trang 20

Từ kết quả phân tích ở hình 7 cho thấy hàm

lượng NNH3 tạo thành trong các mẫu thủy phân

sụn cá mập bằng hỗn hợp enzyme

alcalase-papain với nồng độ enzyme sử dụng khác nhau

đều tăng theo thời gian thủy phân nhưng mức

độ tăng chậm và khác nhau không đáng kể giữa

các mẫu thí nghiệm Cụ thể, sau 10 giờ thủy

phân sụn cá mập bằng hỗn hợp enzym alcalase

- papain, các mẫu thủy phân sử dụng enzyme

với nồng độ: 0,1%, 0,2%, 0,3%, 0,4% và 0,5%

đều có hàm lượng NNH3 tăng trong khoảng từ

1,13-1,27 lần so với ban đầu và sự chênh lệch

về hàm lượng NNH3 giữa các mẫu thí nghiệm

không có ý nghĩa thống kê

IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Từ các kết quả nghiên cứu ở trên cho phép

rút ra kết luận:

1) Nồng độ hỗn hợp enzyme papain và thời gian thủy phân có ảnh hưởng mạnh đến hàm lượng protein hòa tan, peptid, Naa, chondroitin sulphate và NNH3 tạo thành trong dịch thủy phân sụn cá mập bằng hỗn hợp enzyme alcalase-papain

alcalase-2) Nồng độ hỗn hợp enzyme alcalase-papain thích hợp cho quá trình thủy phân sụn cá mập

là 0,3% Sau 10h thủy phân sụn cá mập bằng hỗn hợp enzyme alcalase-papain với nồng độ enzyme 0,3%, nhiệt độ thủy phân 50ºC, thủy phân ở pH tự nhiên (6,8), khối lượng mẫu 2kg

và tỷ lệ nước bổ sung 2 lít, dịch thủy phân

có hàm lượng protein hòa tan, peptid, Naa, chondroitin sulphate và NNH3 cao gấp 7,06 lần, 3,68 lần, 9,01 lần, 83,42 lần và 1,27 lần so với ban đầu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Vũ Ngọc Bội (2004), Nghiên cứu quá trình thủy phân protein cá bằng enzyme protease từ B subtilis, Luận

án tiến sĩ Sinh học chuyên ngành Hóa sinh, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh

2 Vũ Ngọc Bội, Lê Hương Thủy, Phạm Thị Hương, Đặng Thị Thu Hương (2015), “Nghiên cứu thủy phân moi

biển (Acetes sp) bằng hỗn hợp enzym alcalase - bromelin thô”, Tạp chí Khoa học Công nghệ Thủy sản, Số

4/2015, Trường Đại học Nha Trang, Trang 18-26

3 Trần Cảnh Đình và cộng sự (2010), Nghiên cứu ứng dụng sản xuất thử nghiệm chondroitin và glucosamin từ

nguyên liệu thủy sản, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học thuộc chương trình CNSH - thủy sản, Viện

Hải sản, Hải phòng

4 Đặng Văn Hợp, Đỗ Minh Phụng, Vũ Ngọc Bội, Nguyễn Thuần Anh (2010), Phân tích kiểm nghiệm thực

phẩm thủy sản, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

5 Phạm Thị Khánh Vân & Vũ Thị Thái (2004), "Phím nước mắt và tác dụng của chondroitin sulphat" Tạp chí Thuốc và Sức khỏe, Số 273(12)

Tiếng Anh

6 Antonilli L and Paroli E (1993), “Role of the oligosaccharide inner core in the inhibition of human leukocyte

elastase by chondroitin sulfates”, Int J Clin Pharmacol Res.;13 Suppl:11-7

7 Bruyere O & Reginster J Y (2007), "Glucosamine and chondroitin sulfate as therapeutic agents for knee

and hip osteoarthritis”, Drugs Aging, 24(7): p 573-580

8 Farndale W R., Buttle D J & Barrett A J (1986), "Improved quantitation and discrimination of sulphated

glycosaminoglycans by use of dimethylmethylene blue", Biochim Biophys Acta., 883: p 173-177.

9 J Jayaraman (1998), Laboratory manual in biochemistry, Wiley Eastern Limited

10 Robert M Lauder (2009), "Chondroitin sulphate: A complex molecule with potential impacts on a wide

range of biological systems", Complementary Therapies in Medicine, 17: p 56-62.

Trang 21

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC TINH SÀO CÁ KHẾ VẰN (Gnathanodon speciosus)

STUDY ON THE TESTIS BIOLOGY OF GOLDEN TREVALLY (Gnathanodon speciosus)

Hứa Thị Ngọc Dung 1 , Đào Thị Đoan Trang 1 , Phạm Quốc Hùng 1

1Trường Đại học Nha Trang

Tác giả liên hệ: Phạm Quốc Hùng (Email: hungpq@ntu.edu.vn)

Ngày nhận bài: 12/04/2020; Ngày phản biện thông qua: 13/05/2020; Ngày duyệt đăng: 12/06/2020

TÓM TẮT

Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về sinh học sinh sản cá khế vằn (Gnathanodon sus) Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm tinh sào cá khế vằn đực Đàn cá thí nghiệm có khối lượng và chiều dài lần lượt là 400-800 g và 30-44 cm Đàn cá được nuôi trong lồng trên biển và cho ăn hàng ngày bằng cá tạp với khẩu phần 3-5% khối lượng thân Cá đực được thu mẫu ngẫu nhiên để thu thập tinh sào Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số thành thục (GSI) trung bình của cá khế vằn đực tăng cao từ tháng 6 và đạt giá trị cao nhất vào tháng 9 (3,3% ± 0,6%) Tỷ lệ thành thục sinh dục ở cá đực đạt tỷ lệ cao giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 9 Đây là loài cá đẻ nhiều lần trong năm Trong tinh sào thành thục có nhiều tinh bào ở các giai đoạn phát triển khác nhau Thành phần sinh hóa của tinh sào thay đổi theo giai đoạn phát triển Hàm lượng protein và lipid ở giai đoạn thành thục cao hơn so với giai đoạn chưa thành thục.

specio-Từ khóa: tinh sào, cá khế vằn, Gnathanodon speciosus, thành phần sinh hóa, hệ số thành thục

ABSTRACT

This is for the fi rst time in Viet Nam, a study on reproductive biology of golden trevally (Gnathanodon speciosus) was conducted The present study was focused on testis biology of the fi sh The male broodstock with body weith and total length were 400-800 g and 30-44 cm, respectively Fish were kept in seacage and daily fed with trashfi sh at 3-5% body weight Testis were collected for biological parameters The results indicated that the GSI increased from June to September (3.3% ± 0.6%) Maturation of male fi sh increased from May to September Male golden trevally are multiple spawners There are different stages

of germcell development in the testis at the same time The biochemical composition changed based on the stages of testis maturation Protein and lipid contents in mature testis were found higher than that in immature testis.

Keywords: Testis, golden trevally, Gnathanodon speciosus, GSI, biocehmical composition

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Cá khế vằn, Gnathanodon speciosus, (tên

địa phương còn gọi là cá bè đưng, bè vàng,

bè nghệ) là loài cá biển có giá trị kinh tế,

sinh trưởng nhanh, dễ nuôi vì có tính ăn tạp,

nguồn thức ăn dễ tìm và nuôi được ở thủy vực

nước lợ [7; 12] Hiện nay loài cá này đã được

nhân giống thành công trong điều kiện nuôi

nhốt và được nuôi thương phẩm ở một số địa

phương ven biển [7; 12] Điều này đã tạo tiền

đề rất lớn trong việc mở rộng quy mô nghề

nuôi, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi

cho ngành thủy sản Trên thế giới cũng đã có

một số nghiên cứu về loài cá này, nhưng chủ

yếu tập trung vào sản xuất giống [11; 12] Tuy

nhiên, cá khế vằn chưa được nghiên cứu đầy

đủ, chưa có quy trình sản xuất giống và hiệu quả sản xuất không ổn định, chất lượng con giống chưa cao cũng như khi xảy ra dịch bệnh chưa có biện pháp quản lý và điều trị Tại Việt Nam hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về đặc điểm sinh học sinh sản của cá khế vằn Nhằm góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo, chúng tôi tiến hành ng-hiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản, tập trung vào đặc điểm tinh sào cá đực trong chu kỳ sinh sản

Nắm được quy luật phát triển của tinh sào và những thay đổi về tổ chức học trong chu kỳ sinh sản là một trong những thông tin rất cần thiết

Trang 22

cho biết hoặc có thể dự báo trạng thái thành thục

của cá đực, cũng như phục vụ cho công tác quản

lý đàn cá bố mẹ [4; 13; 14] Nghiên cứu này tập

trung vào việc xác định đặc điểm phát triển tinh

sào trong chu kỳ sinh sản cá khế vằn, đặc điểm

hình thái ngoài, tiêu bản mô học các giai đoạn

phát triển tinh sào, hệ số thành thục và thành

phần sinh hóa của tinh sào trong chu kỳ sinh sản

Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin hữu ích

về đặc điểm sinh học sinh sản, đóng góp cho

việc nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất

giống cá khế vằn sẽ mở ra nhiều tiềm năng và cơ

hội phát triển nghề nuôi cá biển, góp phần phát

triển ngành nuôi trồng thủy sản

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đàn cá thí nghiệm

Đàn cá bố mẹ thuộc Công ty TNHH Phượng

Hải Nha Trang được nuôi trong lồng trên biển

tại Đảo Trí Nguyên, Phường Vĩnh Nguyên, Nha

Trang (12°4′23.01″N, 109°2′51.97″E) Mật độ

nuôi bình quân 3 kg/m3 với tỷ lệ đực cái 1:1;

Nhiệt độ nước: 28 - 32oC; độ mặn: 29 - 34 ‰;

pH: 7,8 - 8,6 và oxy hòa tan: 4,5- 6,5 mg/l Cá bố

mẹ được cho ăn cá tạp hàng ngày với khẩu phần

bằng 3 - 5% khối lượng thân Cá đực có khối

lượng trung bình 400 - 800g, chiều dài trung

bình từ 30 - 44cm được bắt ngẫu nhiên để thu

mẫu tinh sào và đo kích thước Thời gian thu

mẫu từ tháng 3/2018 đến tháng 4/2019

2 Phương pháp làm tiêu bản tổ chức học

tinh sào

Mẫu tinh sào được đưa ra khỏi dung dịch

cố định, rửa và rút nước bằng cách ngâm

trong cồn tuyệt đối khoảng 4 - 8 giờ, tiếp theo,

ngâm trong methyl salicylate 12 - 24 giờ Sau

cùng, mẫu được thấm trong parafi n nóng chảy

ở 65o C trong thời gian ít nhất 6 giờ Sử dụng

máy đổ parafi n đã nóng chảy vào khuôn đã

chứa mẫu, để trên dàn lạnh khoảng 30 phút

cho mẫu parafi n đông cứng lại Dùng dao gọt

khối parafi n chứa mẫu thành hình thang hoặc

hình chữ nhật để dễ cắt lớp Gắn khối parafi n

lên đế gỗ và dán nhãn Gắn đế gỗ có mẫu vào

máy microtom, cắt lát có độ dày 5 - 7 micron

Đưa lát cắt vào nước ấm (40 - 45oC) khoảng

1 - 2 phút để lát cắt giãn ra Dùng lam sạch

lấy lát cắt ra khỏi nước và sấy trên máy sấy ở nhiệt độ 45 - 60oC trong 1 - 4 giờ

Sau khi được sấy khô, tiếp theo, mẫu được khử parafi n bằng cách ngâm trong dung dịch xilen và làm trương nước bằng cách nhúng trong dung dịch ethanol ở các nồng độ khác nhau khoảng 2 - 3 phút Cuối cùng mẫu được nhuộm trong dung dịch Hematoxylin - Mayer (4 - 6 phút) và Eosin (2 phút) để khô và đậy lamen bằng keo dán Ghi nhãn lên lamen là khâu cuối cùng của quy trình

3 Xác định GSI và các giai đoạn phát triển tinh sào

Tiêu bản tổ chức học được đọc trên kính hiển vi Zeiss Axioskop 2-Plus light (Zeiss Inc., Vienna, Austria) và chụp hình bằng máy Nikon Camera Head DS-5M và Nikon Camera Control Unit DS-L1 Bậc thang phân biệt các giai đoạn phát triển tinh sào trong nghiên cứu này dựa theo tiêu chuẩn của Nikolski (1963); Sakun (1954) và Sakun & Butskaya (1968) [6; 8; 9] Hệ số thành thục (GSI - Gonado Somatic Index) là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng tuyến sinh dục và khối lượng toàn bộ cơ thể

4 Xác định thành phần sinh hóa trong tinh sào cá khế vằn

Thành phần sinh hóa tinh sào (các chỉ tiêu

ẩm, tro, protein và lipid) ở các giai đoạn phát triển khác nhau được phân tích tại phòng thí nghiệm Công nghệ cao, Trung tâm Thí nghiệm Thực hành - Trường Đại học Nha Trang

- Xác định hàm lượng ẩm và tro: Theo

phương pháp sấy khô ở 105oC (độ ẩm) và nung

ở 550oC (tro) đến khối lượng không đổi

- Xác định hàm lượng protein bằng phương pháp Dumas (TCVN 11604: 2016) Phương

pháp đốt cháy Dumas để xác định protein thô Quy trình dùng một thiết bị lò điện đun nóng mẫu phân tích lên đến 600oC trong một lò phản ứng được bịt kín với sự hiện diện của oxy Hàm lượng nitơ của khí đốt sau đó được đo bằng cách dùng máy dò dẫn nhiệt

- Xác định lipid bằng thiết bị chiết Soxhlet:

Dựa vào tính tan hoàn toàn của chất béo vào dung môi hữu cơ Dùng dung môi hữu cơ trích ly chất béo có trong tuyến sinh dục cá Sau đó làm bay hơi hết dung môi, cân chất béo còn lại, tính

ra hàm lượng chất béo có trong tuyến sinh dục cá

Trang 23

5 Xử lý thống kê

Số liệu được trình bày dưới dạng TB ± SD

Sự khác nhau về các đặc điểm sinh sản giữa các

tháng hay các giai đoạn phát triển của tuyến sinh

dục được phân tích bằng phương pháp phân tích

phương sai một nhân tố (One-way ANOVA)

với kiểm định Duncan’s multiple range test trên

phần mềm SPSS có ý nghĩa ở mức P <0,05

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1 Biến động hệ số thành thục

Hệ số thành thục (GSI) biến động khá lớn trong mùa vụ sinh sản (Hình 1) GSI đạt cao nhất vào tháng 9 (3,2%) GSI đạt giá trị thấp nhất vào tháng 4 (0,4%) Tuy nhiên quan sát sự phát triển của tinh sào cho thấy cá đực ở tháng

4 có tỷ lệ thành thục khá cao

Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị GSI

trung bình của cá đực qua 7 tháng thu mẫu có

sự dao động lớn từ 0,4 % ± 0,30% đến 3,2% ±

0,58% Giá trị GSI ở tháng 3 và tháng 5 tương

đương nhau Sang tháng 6, GSI bắt đầu tăng

và đạt giá trị cực đại vào tháng 9 khi toàn bộ

Hình 1 Biến động giá trị GSI trung bình qua các tháng

Hình 2: Hệ số thành thục ở các giai đoạn phát triển của tinh sào

cá đực thu được đều có tinh sào ở giai đoạn IV, giai đoạn tinh sào đạt kích thước tối đa GSI đạt giá trị cực đại (3,2%) sau đó giảm mạnh vào tháng 12 rồi tăng nhẹ vào tháng 3 năm 2019 và tiếp tục giảm và có giá trị nhỏ nhất vào tháng 4 năm 2019 (0,4%)

Trang 24

Trong nghiên cứu này cho thấy cá khế vằn

đực có giá trị GSI thay đổi theo giai đoạn phát

triển của tinh sào, dao động từ 0, 4 - 1,9% Khi

tinh sào ở giai đoạn II, III giá trị GSI nhỏ hơn

và sai khác có ý nghĩa thống kê với GSI khi

tinh sào ở giai đoạn IV, V (Hình 2) Điều này

đúng với thực tế, ở giai đoạn IV và V cá bước

sang giai thành thục sinh dục, buồng sẹ phát

triển, khối lượng buồng sẹ tăng dẫn đến giá trị

GSI cao

GSI là một chỉ số quan trọng đánh giá mức

độ chín muồi của tuyến sinh dục Vì vậy, khi

nghiên cứu quá trình phát triển của tuyến sinh

dục, người ta không thể không đề cập GSI

Thông qua GSI, chúng ta có thể dự báo, theo

dõi quá trình phát triển và chín muồi của các tế

bào sinh dục [2; 5; 14] Tuy nhiên GSI đôi khi

không phản ánh đầy đủ trạng thái thực của các sản phẩm sinh dục, đặc biệt đối với các loài cá

đẻ nhiều lần trong năm [2; 5] Tuy vậy GSI là một phần bổ sung quan trọng cho sơ đồ chín muồi sinh dục ở cá

2 Các giai đoạn phát triển tinh sào

Về tổ chức học

Ở cá khế vằn đực, quá trình tạo tinh thể hiện khá phức tạp Trong tinh sào tồn tại nhiều giai đoạn phát triển khác nhau của tinh bào Qua Hình 3 có thể thấy, ở giai đoạn thành thục sinh dục, tinh sào cá tồn tại nhiều giai đoạn phát triển khác nhau của tinh bào gồm tinh nguyên bào; tinh bào đang phân chia; tinh bào cấp I, II; tinh tử và tinh trùng Điều này chứng tỏ đây là loài cá thành thục liên tục hay nói cách khác là loài sinh sản nhiều lần trong năm

Hình 3: Tổ chức học tinh sào cá khế vằn ở các giai đoạn khác nhau

1: Tinh nguyên bào, 2: Tinh nguyên bào đang phân chia, 3: Tinh bào cấp I, 4: Tinh bào cấp II;

5: Tinh tử; 6: Tinh trùng; Scale bar: 100 µm

Trang 25

Về hình thái học

Trong nghiên cứu này, đàn cá đực thu được

có tinh sào ở giai đoạn II, III, IV và V Tinh sào

ở giai đoạn I và VI không bắt gặp trong quá trình

thu mẫu Trên thực tế, ở giai đoạn I, nhìn bên

ngoài, tinh sào là những dải mỏng giống noãn

sào ở giai đoạn I, chính vì thế rất khó để phân biệt

đực cái Giai đoạn VI là giai đoạn sau khi cá tham

gia sinh sản, tinh sào đã trở về giai đoạn II, III

Giai đoạn II: Tinh sào có kích thước rất

nhỏ, hai phần của tinh sào còn dính nhau bởi

màng treo dài Tinh sào có màu hồng là màu

của các mạch máu chạy dọc và có những tia

nhỏ chạy về các lườn bên (Hình 4A)

Giai đoạn III: Tinh sào tăng lên về mặt thể

tích, hai phần tinh sào đã tách ra Tinh sào có màu

trắng, săn chắc và đàn hồi Khi cắt ngang tinh sào,

các mép của nó không tròn mà lại sắc cạnh và

thấy xuất hiện sẹ có màu trắng trong (Hình 4B)

Hình 4: Tinh sào cá khế vằn ở các giai đoạn phát triển

A: Giai đoạn II; B: Giai đoạn III; C: Giai đoạn IV; D: Giai đoạn V

Giai đoạn IV: Kích thước tinh sào đạt tối đa,

màu trắng sữa, chứa đầy sẹ Khi cắt ngang tinh sào, các mép tròn lại ngay và chổ cắt có dịch nhờn chảy ra Ở giai đoạn này, tinh trùng chín xuất hiện trong các bào nang và có xu hướng

đi ra khỏi bào nang Các tinh nguyên bào lớn đang phân chia giảm nhiễm Ngoài ra, trong tinh sào còn có các tinh bào sơ cấp, tinh bào thứ cấp và các tinh tử nằm trên thành các ống sinh tinh dự trữ cho lần phát dục tiếp theo (Hình 4C)

Giai đoạn V: Tinh sào đang ở thời kì sinh

sản Tinh sào có màu trắng sữa Bên trong ống sinh tinh chứa đầy các tế bào tinh trùng chín muồi (Hình 4D) Tuy nhiên, cá khế vằn không như nhiều loài cá khác Khi tinh sào ở giai đoạn

V, vuốt vào bụng cá không có hiện tượng tinh dịch chảy ra Vì thế, ở giai đoạn thành thục sinh dục nhìn từ bên ngoài rất khó để phân biệt được

cá khế vằn đực và cá khế vằn cái

C

Kết quả trên cho thấy quá trình phát triển,

thành thục, chín muồi và phóng thích tế bào sinh

dục đực trong chu kỳ sinh sản của cá khế vằn

khá tương đồng với các loài cá biển nhiệt đới nói

chung như cá chẽm mõm nhọn, cá dìa, cá bống

và cá Glossogobius giuris [2; 4; 14; 15] Sự mô tả

chi tiết các giai đoạn phát triển của tinh sào cũng

như tổ chức học ở từng giai đoạn phát triển, làm

căn cứ hướng dẫn phân biệt các giai đoạn phát

triển của tinh sào cá biển nhiệt đới nói chung

3 Thành phần sinh hóa của tinh sào

Thành phần sinh hóa của tinh sào như protiein, lipid, tro và độ ẩm được xem là các chỉ tiêu quan trọng, phản ánh mức độ tích lũy dinh dưỡng trong tinh sào, từ đó có thể dự báo được mức độ thành thục của cá [10] Thành phần sinh hóa còn là nguồn năng lượng và chất dinh dưỡng cho quá trình tạo tinh ở cá Kết quả nghiên cứu được thể hiện

ở Bảng 1

Trang 26

Kết quả phân tích cho thấy hàm protein đạt

giá trị cao nhất khi tinh sào cá ở giai đoạn IV, V

(25,9%) Hàm lượng tro và lipid thì ngược lại,

giảm dần khi tinh sào chuyển từ giai đoạn chưa

thành thục sang giai đoạn thành thục sinh dục

Điều này được cho là hợp lý vì khi cá bắt đầu

tham gia sinh sản, những chất dự trữ tích lũy ở

các cơ quan được huy động để tổng hợp thành

protein nuôi dưỡng các tế bào sinh dục phát

triển Những chất dự trữ này chuyển vào tuyến

sinh dục, làm cho protein trong tinh sào tăng

lên (từ 16,8 % đến 25,9%) Bên cạnh đó, chất

dinh dưỡng đưa vào tuyến sinh dục có nguồn

gốc từ mô sinh dưỡng ở cá bố mẹ, ước tính có

khoảng 7 - 8,7% lipid bị mất đi từ các tế bào

sinh dưỡng và được chuyển vào tinh sào

Protein được xem là thành phần quan

trọng trong tuyến sinh dục cá Đối với cá đực,

Hình 5 Hình thái ngoài cá khế vằn Bảng 1: Thành phần sinh hóa trong tinh sào cá khế vằn

cá dìa (Siganus guttatus) cùng giai đoạn đạt

14,8% [1] Điều này có thể cho thấy ở mỗi loài cá khác nhau, hàm lượng protein trong tinh sào khác nhau

IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Cá khế vằn là loài cá đẻ nhiều lần trong năm với mùa sinh sản chính kéo dài từ tháng

3 đến tháng 10 Tổ chức học của tinh sào thể hiện tính không đồng bộ với sự hiện diện các

Trang 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Nguyễn Văn An, Nguyễn Văn Minh, Phạm Quốc Hùng, (2019) “Ảnh hưởng của hCG và LHRH-A lên thành

phần sinh hóa của tinh sào cá dìa (Siganus guttatus)” Tạp chí khoa học công nghệ thủy sản; Số 3/2019, trang 3 - 8.

2 Phạm Quốc Hùng & Lê Hoàng Thị Mỹ Dung, (2011) “Nghiên cứu tổ chức học của tinh sào cá Chẽm Mõm

Nhọn Psammoperca waigiensis (Cuvier 1828)” Tạp chí khoa học công nghệ thủy sản, Số 2/2011, trang 19 - 27.

3 Phạm Quốc Hùng, Phạm Huy Trường, Nguyễn Văn An, (2018) “Ảnh hưởng của hCG, LHRH-A lên đặc

điểm sinh lý sinh sản cá dìa (Siganus guttatus)” Tạp chí khoa học công nghệ thủy sản; Số 3/2018, trang 38 - 43.

Tiếng Anh

4 Hung Quoc Pham, Anh Tuong Nguyen, Elin Kjørsvik, Mao Dinh Nguyen and Augustine Arukwe, (2012) “Seasonal

reproductive cycle in waigieu seaperch (Psammoperca waigiensis)” Aquaculture Research 43 (6): 815 - 830

5 Hung Q Pham, Hoang M Le, (2020) “Seasonal changes in three indices of gonadal maturation in male golden

rabbitfi sh (Siganus guttatus): implications for artifi cial propagation” Fish Physiology and Biochemistry, 46

6 Nikolsky, G V (1963) “The Ecology of Fishes” Academy press, London and New York 352 pp.

7 Pham Quoc Hung, Le Thi Nhu Phuong, (2019) “Seed production technology of golden trevally (Gnathanodon

speciosus)” The International Fisheries Symposium (IFS) 2019 November 18 - 21, 2019, Kuala Lumpur, Malaysia.

8 Sakun O F, (1954) “Analysis of gonadal function in male and female Vimba vimba with special reference to

the nature of spawning” Dokl Akad Nauk SSSR 98: 505 - 507

9 Sakun, O F & Butsakaia, (1968) “Analysis of gonadal function in male and female Vimba vimba L with

special reference to the nature of spawning” Dokl Akad Nauk SSSR 98: 505 - 700

10 Simpson, A., (1992) “Differences in body size and lipid reserves between maturing and non-maturing

Atlantic salmon parr, Salmo salar” Canadian Journal of Zoology 70: 1737 - 1742.

11 Tony S Dharma, (2014) “The mass seed production of golden trevally fi sh (Gnathanodon speciosus

forsskal) with different feed” Journal of Tropical Marine Science and Technology, Vol 6, No 2, 383 - 390

12 Tony S Dharma, Gigih S Wibawa dan AA Ketut A, (2017) “The hatchery technology of golden trevally

fi sh (Gnathanodon speciosus forsskal) for the sustainable development of the aquaculture in the Indonesian”

Asian-pacifi c aquaculture 2017 World aquaculture society.

13 Weltzien F A, Taranger G L, Karlsen O, Norberg B, (2002) “Spermatogenesis and related plasma androgen

levels in Atlantic halibut Hippoglossus hippoglossus” Comparative Biochemistry and Physiology A: Molecular

& Integrative Physiology 132: 567 - 575

14 Zeyl J N, Love P O, Higgs M D, (2014) “Evaluating gonadosomatic index as an estimator of reproductive

condition in the invasive round goby Neogobius melanostomus” Journal of Great Lakes Research 40: 164 - 171

15 Zutshi B, Murthy P S, (2001) “Ultrastructural changes in testis of gobiid fi sh Glossogobius giuris (Ham) induced by fenthion” Indian Journal of Experimental Biololy 39: 170 - 173.

tế bào sinh dục ở các giai đoạn phát triển khác

nhau Quá trình phát triển tinh sào trải qua 6

giai đoạn giống như các loài cá biển nhiệt đới

khác Hệ số thành thục GSI ở cá khế đực dao

động từ 0,4% đến 3,2% Thành phần sinh hóa

của tinh sào biến động theo giai đoạn phát

triển Hàm lương protein và lipid ở giai đoạn

tinh sào thành thục cao hơn so với giai đoạn

chưa thành thục Nhằm hoàn thiện quy trình

sản xuất giống, các nghiên cứu tương tự trên

cá cái cần được thực hiện

LỜI CẢM ƠN

Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn công

ty TNHH Phượng Hải Nha Trang đã tài trợ đàn

cá bố mẹ cho nghiên cứu; cảm ơn học viên cao học Nguyễn Thị Toàn Thư và sinh viên đại học

Lò Thị Dương, Nguyễn Lập Đức (N58) đã hỗ trợ cho nghiên cứu này

Trang 28

GIÁP XÁC, SÁN DÂY VÀ GIUN TRÒN KÝ SINH Ở CÁ DIẾC

(Carassius auratus auratus (Linnaeus, 1758)) THU TẠI PHÚ YÊN

CRUSTACEAN, TAPEWORM AND NEMATODE PARASITIC ON CRUCIAN CARP

(Carasius auratusauratus (Linnaeus, 1758)) COLLECTED IN PHU YEN PROVINCE

Võ Thế Dũng 1 , Võ Thị Dung 1 , Nguyễn Nhất Duy 2

1 Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III

2 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Ngãi

Tác giả liên hệ: Võ Thế Dũng (Email: vothedung2000@gmail.com)

Ngày nhận bài: 09/03/2020; Ngày phản biện thông qua: 23/04/2020; Ngày duyệt đăng: 12/06/2020

TÓM TẮT

Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu một số loài giáp xác, sán dây và giun tròn ký sinh trên các mẫu cá diếc (Carassius auratus auratus thu tại Phú Yên) Tổng cộng 201 mẫu cá, bao gồm 64 mẫu thu từ Đầm Bàu Súng (huyện Tuy An), 55 mẫu thu từ Sông Kỳ Lộ (huyện Tuy An) và 82 mẫu thu từ các ao cá nước ngọt (huyện Đông Hòa) đã được thu thập để nghiên cứu Kết quả cho thấy cá diếc tại Phú Yên bị nhiễm hai loài giáp xác

là Lernacea cyprinacea và Corallana grandiventra; một loài sán dây là Bothriocephalus sp.; hai loài giun tròn là Anisakis sp và Cucullanus cyprini Tính chung trên toàn bộ số mẫu, loài L cyprinacea có tỷ lệ cảm nhiễm cao nhất (7,5%) nhưng cường độ cảm nhiễm trung bình thấp nhất (1,4 trùng/cá); loài Bothriocephalus

sp có tỷ lệ cảm nhiễm thấp nhất (2,0%) nhưng cường độ cảm nhiễm trung bình cao nhất (9,0 trùng/cá); loài

C grandiventra có tỷ lệ cảm nhiễm 7,0% và cường độ cảm nhiễm trung bình 1,6 trùng/cá; hai loài giun tròn đều có tỷ lệ cảm nhiễm 4,0% và cường độ cảm nhiễm trung bình 2,9 trùng/cá Xét theo thủy vực, cá thu từ sông

Kỳ Lộ nhiễm năm loài ký sinh trùng; cá thu ở đầm Bàu Súng nhiễm ba loài ký sinh trùng gồm L cyprinacea, Anisakis sp và C cyprini; cá thu ở ao cá nước ngọt nhiễm hai loài là L cyprinacea và Bothriocephalus sp Xét theo mùa, cá thu trong mùa khô bị nhiễm cả năm loài ký sinh trùng; cá thu trong mùa mưa không bị nhiễm sán dây.

Từ khóa: Cá diếc, giáp xác, giun tròn, sán dây, tỉnh Phú Yên.

ABSTRACT

This paper presents the results of a study on Crustacean, Tapeworm and Nematode parasites in Crucian carp (Carassius auratus auratus) samples collected in Phu Yen province A total of 201 specimens, including

64 from Bau Sung swamp (Tuy An district), 55 from Ky Lo River (Tuy An district) and 82 from freshwater

fi sh ponds (Dong Hoa district) were collected for this study Results showed that crucian carp in Phu Yen was infected with two crustacean species (Lernacea cyprinacea and Corallana grandiventra), one tapeworm species (Bothriocephalus sp.), two nematode species (Anisakis sp and Cucullanus cyprini) Analysing on the whole samples, L cyprinacea Linnaeus, 1758 accounted for the highest prevalence (7.5%), but lowest average intensity (1.4 specimens/fi sh specimen), while Bothriocephalus sp., accounted for the lowest prevalence (2.0%), but highest average intensity (9.0 specimens/fi sh specimen); C grandiventra accounted for a prevalence of 7,0% with an average intensity of 1.6 specimens/fi sh specimen, both nematodes accounted for prevalences

of 4.0% and average intensities of 2.9 specimens/fi sh specimen Analysing for sampling sites, results showed that, fi sh collected from Ky Lo river infected with all fi ve parasitic species; while fi sh collected in Bau Sung swamp infected with 3 parasitic species, including L cyprinacea, Anisakis sp and C cyprini; the fi sh collected from freshwater ponds infected with two parasitic species, including L cyprinacea and Bothriocephalus sp Analysing for dry and rainy seasons, results showed that, fi sh sampled in the dry season infected with fi ve parasitic species, while fi sh collected in rainy season was not infected with cestode

Key words: Crucian carp, crustaceans, nematode, Phu Yen Province, tapeworm.

Trang 29

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Nuôi trồng thủy sản từ lâu đã trở thành ngành

kinh tế mũi nhọn tạo ra nhiều việc làm và thu

nhập chính cho hàng triệu người ở nước ta; nuôi

trồng thủy sản tạo ra lượng hàng hóa lớn với chất

lượng cao và ổn định phục vụ cho xuất khẩu,

mang lại nguồn ngoại tệ lớn, góp phần giảm

nhập siêu cho cả nước Có được thành công đó,

nhờ nghề nuôi thủy sản luôn tạo ra các công

nghệ nuôi các đối tượng mới, đáp ứng nhu cầu

của thị trường; gần đây, cá diếc được một số địa

phương trong đó có tỉnh Phú Yên quan tâm phát

triển nuôi Cá diếc có thịt thơm ngon, bổ dưỡng,

với hàm lượng protein chiếm 17,7%, lipit 1,8%,

nhiều khoáng chất như can xi, phốt pho, sắt,

hay vitamin B1 Ngoài giá trị dinh dưỡng, cá

diếc từ lâu được biết đến như là một loại thuốc

chữa nhiều bệnh khác nhau cho con người Nhờ

những giá trị đó, cá diếc đã và đang trở thành

món ăn ưa thích được nhiều người tiêu dùng

trong và ngoài nước lựa chọn Để đáp ứng nhu

cầu ngày càng tăng, một số địa phương trên cả

nước đã và đang nuôi thương phẩm loài cá này

[3] Mặc dù chưa phải là đối tượng được nuôi

rộng rãi nhưng những nghiên cứu gần đây cho

thấy cá diếc thường nhiễm ký sinh trùng [2;3],

bao gồm cả ký sinh trùng có thể gây bệnh cho

con người [22] Để nghề nuôi cá diếc tiếp tục

phát triển bền vững, trở thành đối tượng nuôi có

hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng yêu cầu thực phẩm

chất lượng - an toàn vệ sinh thực phẩm, nghiên

cứu về ký sinh trùng là điều hết sức cần thiết Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu thành phần

và mức độ nhiễm giáp xác, sán dây và giun tròn

ở cá diếc làm cơ sở cho việc nghiên cứu phòng

- trị bệnh do các nhóm ký sinh trùng này gây ra

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các ký sinh trùng là giáp xác, sán dây và giun tròn ký sinh ở cá diếc

(Carassius auratus auratus Linnaeus, 1758).

Địa điểm thu mẫu cá: Đầm Bàu Súng (huyện Tuy An), Sông Kỳ Lộ (đoạn qua Chí Thạnh - Tuy An) và ao nuôi cá nước ngọt (xã Hòa Xuân Đông - huyện Đông Hòa), tỉnh Phú Yên

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Thu mẫu nghiên cứu: Các mẫu cá diếc được

thu từ các ngư dân khai thác tự nhiên tại Đầm Bàu Súng và Sông Kỳ Lộ, và từ các hộ nuôi cá diếc tại xã Hòa Xuân Đông Nghiên cứu tiến hành thu thập ngẫu nhiên các cá thể còn sống, mỗi lần thu 15 - 30 cá thể với các kích cỡ khác nhau Mẫu cá của từng thủy vực được giữ trong các thùng xốp khác nhau chứa nước ngọt có sục khí, vận chuyển về Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III để phân tích ký sinh trùng Trong thời gian nghiên cứu, cá của từng thủy vực được lưu giữ riêng trong các bể composite chứa nước ngọt có sục khí Tổng số mẫu cá thu

là 201 con, chi tiết được thống kê tại Bảng 1

(60,0 – 200,0)

27,6 ± 31,7(2,9 – 155,2)Sông Kỳ Lộ (Tuy An) 55 (95,0 – 155,0)128,6 ± 12,4 (11,9 – 119,2)40,2 ± 17,2

(80,0 – 195,0)

31,7 ± 20,3(7,4 – 94,2)

Số liệu trình bày là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn; trong ngoặc đơn là giá trị nhỏ nhất và lớn nhất.

Giáp xác chỉ ký sinh ở da, vây và mang cá;

do đó, chúng tôi tiến hành cạo nhớt da, nhớt

vây hay mang cá làm tiêu bản tươi, phết lên

lam kính, và soi dưới kính hiển vi vật kính từ

10 đến 40; hoặc cắt cả vây, tơ mang quan sát

dưới kính soi nổi để tìm; sau đó, mới làm tiêu bản tươi trên lam kính để quan sát Mẫu được

cố định bằng cồn loãng, hút khô nước và quan sát dưới kính hiển vi; tách riêng từng phần phụ như chân hàm, chân bơi để vẽ, chụp hình làm

Trang 30

cơ sở cho việc phân loại (Theo phương pháp

được mô tả trong [1])

Giun tròn và sán dây thường ký sinh ở hệ

tiêu hóa như dạ dày, ruột, gan; một số ký sinh

trong cơ, trong vây cá Do đó, chúng tôi tiến

hành quan sát kỹ các bộ phận này Các mẫu sán hoặc giun được tách, quan sát tiêu bản tươi trên kính hiển vi, kính soi nổi Phương pháp thu thập ký sinh trùng, làm tiêu bản và nghiên cứu theo mô tả trong Võ Thế Dũng và cộng sự [1]

C (cường độ cảm nhiễm trung bình) được

tính cho số ký sinh trùng trung bình trên một

cá thể cá bị nhiễm P là tổng số trùng trên tất cả các cá thể bị nhiễm N 1 là tổng số cá

bị nhiễm

- Xác định mùa khô và mùa mưa: Mùa khô:

từ tháng 1 đến tháng 8; mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1 Thành phần ký sinh trùng trên cá diếc

2.2 Phương pháp xử lý số liệu:

- Tính tỷ lệ cảm nhiễm (TLCN):

Trong đó: A(%) là TLCN, N 1 là số cá bị

nhiễm, N là số cá kiểm tra.

- Cường độ cảm nhiễm trung bình

Bảng 2: Thành phần loài và mức độ nhiễm các loài ký sinh trùng trên cá diếc ở Phú Yên

Trang 31

Cá diếc ở Phú Yên bị nhiễm hai loài giáp

xác (Lernacea cyprinacea và Corallana

grandiventra), một loài sán dây (Bothriocephalus

sp.) và hai loài giun tròn (Anisakis sp và

Cucullanus cyprini) Nhìn chung, TLCN của

các loài này trên cá không cao, dao động từ 2,0%

(Bothriocephalus sp.) đến 7,5% (L cyprinacea)

Bảng 3: Mức độ cảm nhiễm KST trên cá diếc theo mùa ở Phú Yên

Hình 2: L cyprinacea 1a - 1b; C grandiventra 2a - 2b;

Bothriocephalus sp 3a - 3b; Anisakis sp 4a - 4b; C cyprini 5a - 5b

Cường độ cảm nhiễm trung bình dao động từ

1,4 trùng/cá (L cyprinacea) đến 9,0 trùng/cá (Bothriocephalus sp.) Loài C grandiventra có

tỷ lệ cảm nhiễm 7,0% và cường độ cảm nhiễm trung bình 1,6 trùng/cá Cả hai loài giun tròn đều có tỷ lệ cảm nhiễm 4,0% và cường độ cảm nhiễm trung bình 2,9 trùng/cá (Bảng 2)

Cá diếc thu trong mùa mưa (Tháng 9 - 12) ở Phú

Yên bị nhiễm 4 loài KST, bao gồm L cyprinacea,

C grandiventra, Anisakis sp và C cyprini; Tỷ lệ

cảm nhiễm tương ứng là 7,4, 11,1, 3,7 và 3,7%;

cường độ cảm nhiễm trung bình tương ứng là 1,0,

1,7, 2,0 và 2,0 trùng/cá Các mẫu thu trong mùa

khô (Tháng 1 - 8) nhiễm 5 loài ký sinh trùng gồm

L cyprinacea, C grandiventra, Bothrio cephalus sp., Anisakis sp và C cyprini; tỷ lệ cảm nhiễm

tương ứng là 7,5, 6,3, 2,0, 4,0 và 4,4%; cường độ cảm nhiễm trung bình tương ứng là 1,5, 1,6, 9,0, 3,0 và 3,0 trùng/cá (Bảng 3)

Trang 32

Kết quả khảo sát cho thấy có sự khác nhau

về thành phần loài KST trên cá diếc thu từ các

địa phương Cá thu ở Đầm Bàu Súng nhiễm ba

loài ký sinh trùng là L cyprinacea, Anisakis

sp và C cyprini; với tỷ lệ cảm nhiễm tương

ứng là 1,6, 3,1 và 3,1%;cường độ cảm nhiễm

trung bình tương ứng là 3,0, 5,5 và 5,5 trùng/

cá Cá thu ở Sông Kỳ Lộ nhiễm cả năm loài ký

sinh trùng là L cyprinacea, C grandiventra,

Bothriocephalus sp., Anisakis sp và C

cyprini; tỷ lệ cảm nhiễm tương ứng là 7,3,

25,5, 1,8, 10,9 và 10,9%; cường độ cảm nhiễm

trung bình tương ứng là 2,0, 1,6, 30,0, 2,0 và

2,0 trùng/cá Cá thu ở ao cá nước ngọt - Hòa

Xuân Đông nhiễm hai loài ký sinh trùng là L

cyprinacea và Bothriocephalus sp.; tỷ lệ cảm

nhiễm tương ứng là 12,2 và 3,7%; cường độ

cảm nhiễm trung bình tương ứng là 1,2 và 2,0

trùng/cá (Bảng 4)

2 Thảo luận

2.1 Loài L cyprinacea

Loài L cyprinacea đã được phát hiện

ký sinh trên nhiều loài cá nước ngọt khác

nhau ở nhiều khu vực trên thế giới Dogiel

and Akhmerov đã thông báo bắt gặp L

cyprinacea ký sinh trên hai loài cá Cyprinus

sp và Perccottus sp thu ở sông Amur -

Viễn Đông Nga [9] Ở Hàn Quốc, loài này

được báo cáo là lây nhiễm trên chín loài cá

(Misgurnus anguillicaudatus, Carassius

auratus, Pseudorasbora parva, Zacco

platypus, Lepomis macrochirus, Channa

argus (C arga), Cyprinus carpio, Micropterus

salmoides và Hemiculter eigermanni) [15]

Tại Đài Loan, Chien thông báo bắt gặp ở cá

et al cho biết, 100% cá Puntius pulchellus

nuôi ao bị nhiễm với ký sinh trùng này và tác hại đối với cá là không thể tính hết được [13] Hassan đã tìm thấy sự ký sinh và gây

tác hại nghiêm trọng của L cyprinacea trên 4 loài cá bản địa (Galaxias occidentalis, Edelia vittata, Bostockia porosa, Tadanus bostocki)

và ba loài cá nhập nội khác (Carassius auratus, Gambusia holbrooki, Phalloceros caudimaculatus) tại hai địa phương dọc

bờ sông Canning, phía Tây Úc [12] Ở Việt Nam, Hà Ký và Bùi Quang Tề bắt gặp loài

này trên cá chép, cá diếc (C auratus), cá mè trắng (Hypophthalmichthys harmandi), cà

mè hoa (Aristichthys nobilisi), cá lăng chấm (Hemibagrus guttatus) [5]

Kết quả của nghiên cứu này cho thấy L cyprinacea được bắt gặp ở cả hai mùa mưa

và khô, ở cả ba loại thủy vực nghiên cứu (bao gồm cả trong ao nuôi), chứng tỏ rằng đây là loài ký sinh trùng khá phổ biến trên cá diếc, và

có phân bố rộng ở Phú Yên Tỷ lệ cảm nhiễm loài ký sinh trùng này cao hơn so với các loài

ký sinh trùng khác; điều đó chứng tỏ nguy cơ

cá bị bệnh do loài ký sinh trùng này cũng khá cao, đòi hỏi người nuôi cá phải chú ý phòng bệnh triệt để

2.2 Loài C grandiventra

C grandiventra lần đầu được phát hiện

và mô tả từ các mẫu thu được trên một số loài cá nước ngọt ở Thái Lan [14] Ký sinh

Bảng 4: Thành phần loài và mức độ cảm nhiễm KST trên cá diếc theo thủy vực

Trang 33

trùng này có kích thước khá lớn, có thể ký

sinh trên da hay trong khoang mang, miệng

cá, với khả năng gây hại rất cao Ở Việt

Nam, Hà Ký và Bùi Quang Tề đã bắt gặp

C grandiventra trên cá thát lát (Notopterus

Trong nghiên cứu này chỉ bắt gặp C

grandiventra ký sinh trên thân cá diếc thu từ

Sông Kỳ Lộ với TLCN 25,5% và CĐCNTB 1,6

trùng/cá Cá có thể bị nhiễm cả trong mùa mưa

và mùa khô, xuất hiện nhiều vết thương, viêm

tấy trên cơ thể So với các nghiên cứu trước

đây, TLCN và CĐCN loài ký sinh trùng này

trên cá diếc tại Phú Yên thấp hơn; tuy nhiên,

vì sự nguy hiểm loài ký sinh trùng này đối với

cá, người nuôi cá diếc cũng cần phải quan tâm

2.3 Loài Bothriocephalus sp.

Giống Bothriocephalus được bắt gặp ký sinh

trên cá ở nhiều nơi trên thế giới như ở Úc [10],

ở Mehico [20], ở Nauy [11] Một số loài thuộc

giống này được biết đến như là ký sinh trùng

nguy hiểm nhất đối với cá nước ngọt, đặc biệt

là các loài thuộc họ cá chép [16], đã gây chết

nghiêm trọng đối với cá trắm cỏ (C idellus) ở

Trung Quốc [21] Tại Việt Nam, Đỗ Thị Hòa và

cộng sự thông báo bắt gặp loài Bothriocephalus

gowkongensis ký sinh trên cá chép, cá trê, cá

quả, cá măng, lươn và cả trên cá biển [4] Hà Ký

và Bùi Quang Tề bắt gặp B opsarichthydis trên

cá diếc [5] Các loài này ký sinh trong ruột cá;

ở CĐCN thấp, chúng hút chất dinh dưỡng, làm

giảm sinh trưởng; ở CĐCN cao, chúng gây phình

ruột, phá huỷ và bào mòn thành ruột [4], có thể

gây chết hàng loạt [18]

Phân tích theo mùa cho thấy chỉ bắt gặp

Bothriocephalus sp trong mùa khô (Tháng

1 -8) Sheikh et al cho biết TLCN và CĐCN

trên cá chép vào mùa Hè (Tháng 6) đến mùa

Thu (Tháng 10) cao hơn so với mùa Xuân

(Tháng 4) và mùa Đông (Tháng 1) [21]

Trong nghiên cứu hiện tại, loài ký sinh trùng

này bắt gặp trên cá diếc ở Sông Kỳ Lộ và ao

cá nước ngọt xã Hòa Xuân Đông Như vậy,

mặc dù TLCN ở ngoài tự nhiên thấp (1,8%) trên cá thu từ Sông Kỳ Lộ nhưng đã bắt gặp trên cá diếc trong ao nuôi Điều này cho thấy nguy cơ nhiễm ký sinh trùng này trên diện rộng đối với các loài cá nuôi là không nhỏ

2.4 Loài Anisakis sp.

Giun tròn Anisakis có có nhiều loài và vòng

đời phức tạp, ấu trùng có thể phát triển trên các loài giáp xác, sau đó chuyển sang cá, chủ yếu trên các loài cá nước ngọt nhưng cũng có khi người ta bắt gặp chúng ở cá nước lợ-mặn

[1] Khi trưởng thành, giun tròn Anisakis ký

sinh trên các động vật thuộc lớp Thú Nhiều loài thuộc giống giun này có giai đoạn trưởng thành ký sinh ở người và có thể gây bệnh nguy hiểm cho người bị nhiễm [1; 6] Rodrigues et

al nghiên cứu ký sinh trùng trên cá ở Brazil cho biết có 50% và 49% số cá thu từ hai khu

vực Colares và Vigia nhiễm Anisakis [19] Trong nghiên cứu này, Anisakis sp có TLCN

và CĐCN chung trên cá diếc thu tại Phú Yên

là 4,0% và 2,9 trùng/cá Kết quả phân tích theo

mùa, bắt gặp Anisakis sp trong cả mùa khô và

mùa mưa với TLCN và CĐCN tương đương

nhau Phân tích theo thủy vực, loài Anisakis sp

được tìm thấy ký sinh ở cá diếc thu tại Đầm Bàu Súng và Sông Kỳ Lộ, không bắt gặp trong

ao cá nước ngọt Mặc dù TLCN Anisakis sp ở

cá diếc thấp nhưng do nhiều loài thuộc giống Anisakis có thể gây bệnh cho người và động vật trên cạn, cần chú ý phòng ngừa loài ký sinh trùng này khi nuôi

2.5 Loài Cucullanus cyprini Loài giun tròn C cyprini bắt gặp trên nhiều

loài cá khác nhau Tại Iraq, Ali et al ghi nhận

trên 14 loài cá khác nhau như Carasobarbus luteus, Cyprinus carpio, Leuciscus vorax, Mystus pelusius, S triostegus [7] Tại Việt

Nam, Hà Ký và Bùi Quang Tề bắt gặp ký sinh

trong ruột cá chép, cá he đỏ (Barbodes altus),

cá ba sa (Pangasius bocourti), cá bống cát (Glossogobius giuris) [5] Đỗ Thị Hòa và cộng

sự cũng bắt gặp trên cá chép, cá tra, cá ba sa, cá bống cát nhưng TLCN thấp, chỉ ảnh hưởng nhẹ đến sinh trưởng của cá [4]

Trong nghiên cứu hiện tại, loài C cyprini có

TLCN và CĐCN chung trên cá diếc là 4,0% và 2,9 trùng/cá, bắt gặp trong cả mùa khô và mùa

Trang 34

mưa với TLCN và CĐCN khá tương đồng

Cá diếc ở Đầm Bàu Súng và Sông Kỳ Lộ bị

nhiễm với tỷ lệ tương ứng là 3,1% và 10,9%

và CĐCN là 5,5 trùng/cá và 2,0 trùng/cá Cũng

như Anisakis sp., không bắt gặp giun tròn C

cyprini trên cá diếc thu từ ao nuôi, mặc dù cả

hai loài giun đều đã được tìm thấy trên mẫu cá

thu từ Sông Kỳ Lộ và Đầm Bàu Súng Có thể

các biện pháp cải tạo ao nuôi, chăm sóc cá, và

cá giống không nhiễm giun đã loại bỏ nhóm ký

sinh này khỏi cá nuôi

IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Võ Thế Dũng, Glenn Allan Bristow, Nguyễn Hữu Dũng, Võ Thị Dung, Nguyễn Nguyễn Thành Nhơn, (2012) “Ký sinh trùng cá mú và cá chẽm ở Việt Nam” Nhà xuất bản Nông nghiệp, 180 trang ISBN: 978-604-60-0543-8

2 Võ Thế Dũng, Nguyễn Nhất Duy, Võ Thị Dung, Nguyễn Nguyễn Thành Nhơn, (2016) “Nguyên sinh

động vật ký sinh trên cá diếc (Carassius auratus auratus (Linnaeus, 1758)) thu tại Phú Yên” Kỷ yếu

Hội nghị Ký sinh trùng học toàn Quốc lần thứ 43 năm 2016, Tp Ban Mê Thuột, Đắk Lắc, 31/3-1/4/2016, trang: 43-51

3 Võ Thế Dũng, Võ Thị Dung, Nguyễn Nhất Duy, (2019) “Thành phần và mức độ nhiễm sán lá đơn chủ

(Monogenea) ký sinh ở cá diếc (Carassius auratus auratus Linnaeus, 1758) thu tại Phú Yên” Tạp chí Khoa

7 Ali A.H., Mhaisen F.T., Khamees N.R., (2014) “Checklists of nematodes of freshwater and marine fi shes of

Basrah Province, Iraq” Mesopotamian Journal of Marine Science, 29(2): 71 - 96.

8 Chien C.-Y., (1994) “Lernaea cyprinacea (L.) infection of gold fi sh in Taiwan” COA Fisheries Serries No

47, Reports on Fish Disease Research, 15: 81 - 84.

9 Dogiel V.A., Akhmerov A.K., (1952) “Parasitic Crustacea of Amur River fi shes” Uchenie Zapiski Leningradskogo Ordena Gosudarstevennogo Univerrsiteta, Seria Biologiia Nauka, 141(28): 268 - 294

10 Dove A.D.M., Cribb T.H., Mockler S.P., Lintermans M., (1997) “The Asian fi sh tapeworm, Bothriocephalus

acheilognathi, in Australian freshwater fi shes” Marine and Freshwater Research, 48: 181 - 183

11 Hansen H., Alarcón M., (2019) “First record of the Asian fi sh tapeworm Schyzocotyle (Bothriocephalus)

acheilognathi (Yamaguti, 1934) in Scandinavia” BioInvasions Records (2019), 8(2): 437 - 441

12 Hassan M., (2008) “Parasites of native and exotic freshwater fi shes in the South - West of Western Australia”, Murdoch University, 2008

Trang 35

13 Hemaprasanth K.P., Sridhar N., Raghuanth M.R., (2017) “Lernaea cyprinacea infection in a new

host Puntius pulchellus in intensive culture system and its control by doramectin” Journal of Parasitic

Diseases, 41(1):120 - 127.

14 Ho J.-S, Tonguthai K., (1992) “Flabelliferan isopods (Crustacea) parasitic on freshwater fi shes of Thailand”

Systematic Parasitology, 21(3): 203 - 210.

15 Kim I.-H., Choi S.-K., (2003) “Copepod parasites (Crustacea) of freshwater fi shes in Korea” Korean

Journal of Systematic Zoology, 19: 57 - 93

16 Kuchta R., Choudhury A., Scholz T., (2018) “Asian Fish Tapeworm: The Most Successful Invasive Parasite

in Freshwaters” Trends in Parasitology, 34(6): 511 - 523

17 Nagasawa K., Inoue A., Myat S.M and Umino T., (2007) “New Host Records for Lernaea cyprinacea

(Copepoda), a Parasite of Freshwater Fishes, with a Checklist of the Lernaeidae in Japan (1915 - 2007)”,

Journal of the Graduate School of Biosphere Science Hiroshima University (2007), 46: 21 - 33.

18 Nie P., Wang G.T., Yao W.J., Zhang Y.A., Gao Q., (2000) “Occurrence of Bothriocephalus acheilognathi

in cyprinid fi sh from three lakes in the fl ood plain of the Yangtze River, China” Diseases of Aquatic

Organisms, 41: 81 - 82.

19 Rodrigues M.V., Figueiredo Pantoja J.C., Oliveira Guimarães C.D., Moraes Benigno R.N., Correia Palha

M das D., Biondi G.F., (2015) “Prevalence for nematodes of hygiene-sanitary importance in fi sh from Colares

Island and Vigia, Pará, Brasil” Revista Brasileira de Ciência Veterinária, 22(2): 124 - 128.

20 Salgado-Maldonado G., Pineda-López R.F., (2003) “The Asian Fish tapeworm Bothriocephalus

acheilognathi: a Potential Threat to Native Freshwater Fish Species in Mexico” Biological Invasions,

September 2003, 5(3): 261 - 268

21 Sheikh B.A., Sofi T.A., Ahmad F., (2014) “Ecology of the Asian tapeworm, Bothriocephalus acheilognathi Yamaguti, 1934 of fi shes in the Dal lake of Srinagar, Kashmir” International Journal of Fisheries and Aquatic

Studies 2014, 2(1): 164 - 171

22 Vo The Dung, Jitra Wikagu, Bui Ngoc Thanh, Dung Thi Vo, Duy Nhat Nguyen, Darwin Murrell K., (2014)

“Endemicity of Opisthorchis viverrini Liver Flukes, Vietnam, 2011 - 2012” Journal of Emerging Infectious

Diseases, 20(1): 152 - 153.

Trang 36

TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

NUÔI TÔM TRÊN CÁT Ở TỈNH HÀ TĨNH POTENTIALS, CURRENT STATUS AND SOLUTIONS TO DEVELOP ON-SAND SHRIMP FARMING IN HA TINH PROVINCE

Trương Thị Mỹ Hạnh 1 , Nguyễn Hữu Nghĩa 1 , Nguyễn Thị Nguyện 1 , Tống Trần Huy 1 , Chu Chí Thiết 1 , Lê Thị Mây 1 và Phan Thị Vân 1

1Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I

Tác giả liên hệ: Chu Chi Thiết (Email: chithiet@ria1.org)

Ngày nhận bài: 05/03/2020; Ngày phản biện thông qua: 05/05/2020; Ngày duyệt đăng: 13/06/2020

TÓM TẮT

Hà Tĩnh có lợi thế và tiềm năng lớn trong phát triển nghề nuôi tôm trên cát, với diện tích đất cát có thể đưa vào phát triển nuôi tôm thâm canh từ nay đến 2030 là 1.244 ha Hơn nữa, nguồn nước cấp lấy vào nuôi tôm không phụ thuộc vào chế độ thủy triều mà có thể lấy trực tiếp từ biển, đồng thời nước biển có độ trong và sạch Với những lợi thế có được thì mô hình nuôi tôm trên cát đã thành công và phù hợp tại địa phương, sản lượng đạt từ 7 - 20 tấn/ha Mô hình nuôi tôm trên cát bắt đầu từ 2005 và đến 2018 diện tích nuôi đạt 38,4 - 50% so với kế hoạch tổng thể quy hoạch giai đoạn 2015 - 2020 Trong quá trình triển khai cũng đã nhận thấy một số tác động xấu từ hoạt động nuôi tôm trên cát đến môi trường như ô nhiễm môi trường (biển và nước ngầm) do chất thải từ nuôi tôm trên cát, mặn hoá đất, nước ngầm và cạn kiệt nguồn nước ngọt và nước ngầm Để đảm bảo phát triển bền vững nghề nuôi tôm trên cát ở Hà Tĩnh trước hết cần tiến hành đồng bộ một số nhóm giải pháp trong đó ưu tiên quan tâm đến giải pháp quản lý và kỹ thuật Quản lý đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng đồng bộ, hợp lý, hiệu quả kinh tế, an sinh xã hội và an toàn môi trường Áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, mô hình ít thay nước vào nuôi tôm; quản lý môi trường và kiểm soát dịch bệnh.

Từ khóa: nuôi tôm trên cát, Hà Tĩnh

ABSTRACT

Owning 1,244 hectares of sandy land that can be used for intensive shrimp farming, until 2030, Ha Tinh has great advantages and potentials to develop on-sand shrimp farming Additionally, the water supply for shrimp farming is clear and clean, which can be taken directly from the sea regardless of the tidal range’s magnitude With these advantages, the model of on-sand shrimp farming has been proved to be successful and suitable for local fi shermen with the output reached 7 - 20 tons/ha The model of on-sand shrimp farming started from

2005 Until 2018, the farming area reached 38.4 - 50% compared to the master plan for the period of 2015 -

2020 In the shrimp farming process, some negative impacts on environment caused by shrimp farming have been recorded (sea water and groundwater) due to waste from on-sand shrimp including soil salinization and depletion of fresh and groundwater resources To promote the sustainable development of on - land shrimp in Ha Tinh, some synchronous technical solutions and management were required Investment in infrastructure must be synchronous, economic, social security and environmental safety In addition, it is required to apply eco - shrimp farming model which requires less water, energy saving, environmental management and disease control.

Key words: On - sand shrimp farming, Ha Tinh province

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Phát triển đa dạng hóa thủy vực, phương

thức và loại hình nuôi thủy sản là một trong

những hướng đi của ngành nuôi trồng thủy sản

nói chung và nghề nuôi tôm nước lợ nói riêng,

nhằm tạo ra sản lượng đáp ứng nhu cầu ngày

càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu Mở rộng, phát triển phương thức loại hình nuôi thủy sản không thể không nhắc đến loại hình nuôi tôm trên cát đã được chú trọng, quan tâm triển khai ở các tỉnh miền Trung Nuôi tôm trên cát còn mở ra một hướng đi

Trang 37

mới trong nuôi trồng thuỷ sản đối với các tỉnh

nghèo tiềm năng đất đai, giúp tận dụng tốt các

diện tích cát hoang hoá ven biển để phát triển

nuôi trồng thuỷ sản, nâng cao thu nhập và cải

thiện đời sống nhân dân Chỉ tính riêng một số

tỉnh miền Trung (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa

Thiên Huế và Nghệ An) thì diện tích nuôi tôm

trên cát giai đoạn 2010 - 2017 tăng trưởng

trung bình khoảng 7,5%/năm từ 2.381 ha lên

đến 3.734 ha Sản lượng tôm nuôi trong giai

đoạn này tăng trung bình 5,0%/năm từ 30.844

tấn lên đến 41.705 tấn năm [3]

Hà Tĩnh là một trong số 13 tỉnh miền Trung

đã và đang triển khai, phát triển mô hình nuôi

tôm trên cát Địa phương đã có quyết định phê

duyệt về Quy hoạch nuôi tôm trên cát của tỉnh

giai đoạn 2012 - 2020, định hướng đến năm 2030

với mục tiêu khai thác tiềm năng, lợi thế, tận

dụng tối đa quỹ đất cát ven biển để đầu tư phát

triển nuôi tôm nhằm đạt quy mô, khối lượng sản

phẩm và giá trị hàng hóa lớn Mô hình nuôi tôm

trên cát tại mỗi địa phương ban đầu đều mang lại

hiệu quả kinh tế cao, đã và đang góp phần quan

trọng vào đời sống kinh tế - xã hội, đem lại việc

làm, thu nhập cho một bộ phận lớn người dân

ven biển Hà Tĩnh Tuy nhiên, ở các năm nuôi

tiếp diễn sau, xuất hiện dịch bệnh ở tôm nuôi, sự

ô nhiễm môi trường do bùn thải…, trong diễn

biến đó phần lớn người nuôi tôm vẫn còn chạy

theo lợi nhuận, chưa quan tâm đến chất lượng

sản phẩm và các vấn đề môi trường vùng nuôi,

đặc biệt tính bền vững của nghề

Qua đó, cần thiết phải có những phân tích

đánh giá về điều kiện tự nhiên, tiềm năng, cơ

hội, thách thức và hiện trạng phát triển nuôi

tôm trên cát ở khu vực Hà Tĩnh trong thời gian

qua để đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm

giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đảm bảo phát

triển bền vững nuôi tôm trên cát ở khu vực Hà

Tĩnh trong thời gian tới

II THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian thực hiện: tháng 9 đến tháng 12

năm 2019

Địa điểm thực hiện: Vùng nuôi tôm trên cát

tại 7 xã bao gồm Thạch Trì, Thạch Hải thuộc

huyện Thạch Hà, Cẩm Hòa, Cẩm Hải thuộc huyện Cẩm Xuyên và Xuân Đan, Xuân Phổ, Xuân Liên thuộc huyện Nghi Xuân

2 Phương pháp nghiên cứu

Thu thập số liệu thứ cấp từ nguồn số liệu thống kê về tự nhiên, kinh tế-xã hội, hiện trạng nghề nuôi tôm trên cát của tỉnh Hà Tĩnh từ các cơ quan quản lý Nhà nước và các cơ quan chuyên môn, bao gồm: Tổng cục Thủy sản, Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Tài Nguyên Môi trường tỉnh

Hà Tĩnh, các Viện Nghiên cứu, các Sở ban ngành liên quan Thu thập số liệu sơ cấp bằng cách phối hợp với địa phương (Chi cục Thủy sản Hà Tĩnh, phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Thạch Hà

và huyện Cẩm Xuyên) tổ chức điều tra, khảo sát quan sát tại các vùng nuôi đồng thời phỏng vấn

Bộ số liệu được phân tích thống kê mô tả

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1 Điều kiện tự nhiên và tiềm năng phát triển nuôi tôm trên cát tại Hà Tĩnh

1.1 Điều kiện tự nhiên

Hà Tĩnh có đường bờ biển dài 137 km với diện tích mặt nước là 18.400 km2, đây là một trong những tỉnh có tiềm năng nuôi tôm trên cát lớn ở Việt Nam Một số xã thuộc huyện Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên và huyện Kỳ Anh nằm tiếp giáp dọc theo bờ biển, đây cũng là những huyện có lợi thế về áp dụng

mô hình nuôi tôm trên cát

Hà Tĩnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Bắc Trung bộ, tương đối khắc nghiệt Nhiệt độ cao tập trung vào mùa nóng ở các tháng

4 - 9, nhiệt độ trung bình 32,50C Đặc biệt trong khoảng từ tháng 5 đến tháng 7 thường xuất hiện gió Lào (gió Tây Nam nóng, khô, nhiệt độ có khi lên tới 400C và độ ẩm thấp dưới 55% làm cho lượng nước bốc hơi nhanh, mức nước trong các ao hồ giảm nhanh, nhiệt độ nước tăng cao hơn nhiệt độ không khí rất nhiều) Trong khi

đó mùa lạnh/mùa đông kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình 20,30C, gió thịnh hành là gió Đông, Đông Bắc và Tây Bắc

và thường có mưa nhiều, giá rét nên ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển của tôm, người nuôi cần thiết kế hệ thống nhà trú đông vào khoảng thời gian này Vì vậy, không chỉ

Trang 38

nuôi tôm trên cát mà nhìn chung nghề nuôi tôm

nước lợ, mặn ở Hà Tĩnh tập trung 2 vụ chính từ

tháng 4 đến tháng 10, một số hộ nuôi giữ tôm

qua đông có thiết kế mái che bạt/ni lông

Bên cạnh đó, một số chỉ tiêu môi trường khác

như độ mặn, pH thuộc vùng nước ven biển cũng

được xác định, cụ thể độ mặn thay đổi theo mùa

và vị trí của từng vùng Từ tháng 4 đến tháng 8

độ mặn ở các vùng ven biển khoảng 32 - 35‰

và từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau độ mặn dao

động trong khoảng 25 - 30‰ thuận lợi cho nuôi

tôm thẻ chân trắng trên cát Song tháng 9 đến

tháng 10, độ mặn giảm từ 0 - 6‰, độ mặn thay

đổi giữa các tháng trong năm cũng phần nào gây

khó khăn cho hoạt động nuôi tôm Trong khi đó

chỉ số pH của nước vùng ven biển tương đối ổn

định giữa các mùa trong năm, giao động từ 6,8 -

8,2 rất thuận lợi cho nuôi tôm

1.2 Tiềm năng diện tích phát triển nuôi tôm

trên cát

Tổng diện tích đất tự nhiên các xã ven biển

Hà Tĩnh là 26.267 ha, trong đó diện tích đất

cát có thể đưa vào phát triển nuôi tôm thâm

canh từ nay đến 2030 là: 1.244 ha, đây là vùng

có thế mạnh và tiềm năng tốt cho phát triển

nuôi tôm thâm canh tạo sản phẩm xuất khẩu có

giá trị cao cho tỉnh Với tiềm năng lớn về diện

tích nuôi tôm trên cát thì UBND tỉnh Hà Tĩnh

đã đưa ra hướng phát triển đối với mô hình

này thông qua quyết định số 1910/QĐ-UBND

ngày 05/7/2012, theo đó diện tích nuôi tôm trên

cát tăng dần tỷ lệ thuận theo thời gian 700ha

(2015), 900ha (2020) và 980,2ha (2030) [4]

2 Đánh giá hiện trạng phát triển và tác động

từ nuôi tôm trên cát

2.1 Hiện trạng phát triển nuôi tôm trên cát

Năm 2005 là thời điểm bắt đầu xuất hiện

mô hình nuôi tôm trên cát đầu tiên tại Hà Tĩnh với tổng diện tích 50 ha, đến năm 2011 diện tích nuôi tăng lên 80 ha Ở những giai đoạn đầu này các hộ nuôi tôm trên cát thu hoạch sản lượng bình quân 14 - 20 tấn/ha hàng năm Diện tích nuôi tôm trên cát thực sự phát triển khi quy hoạch nuôi tôm trên cát của tỉnh được phê duyệt năm 2012 Minh chứng được thể hiện qua các con số về diện tích và sản lượng tăng

tỷ lệ thuận theo thời gian Năm 2015 diệ n tí ch nuôi tôm trên cá t đã tăng lên đế n 267 ha và 386,2 ha năm 2016; 418,2 ha năm 2017 và 450

ha năm 2018 (Hình 1) Diện tích nuôi tôm trên cát tại Hà Tĩnh tập trung ở một số huyện như Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên,

Kỳ Anh, đặc biệt diện tích nuôi tăng nhanh nhấ t tại xã Cẩm Hòa thuộc huyện Cẩm Xuyên Nếu xét về khía cạnh sản lượng thì vào thời điểm đầu 2005 - 2011 sản lượng trung bình đạt

14 - 20 tấn/ha, song đến giai đoạn 2015 - 2018 sản lượng đạt trung bình 7 - 12,5 tấn/ha, như vậy sản lượng giảm tỷ lệ thuận theo thời gian 12,5 tấn/ha (2014), 11,3 tấn/ha (2015), 10 tấn/

ha (2016) và 7 tấn/ha (2017 và 2018) (Hình 1) Nguyên nhân dẫn đến năng xuất và sản lượng nuôi giảm được xác định là do xuất hiện bệnh (đốm trắng, hoại tử gan tụy cấp, phân trắng, đục cơ), đặc biệt diễn biến bệnh phức tạp không lường trước, khó khống chế và khó kiểm soát

Hình 1: Diện tích nuôi tôm trên cát và sản lượng đạt được từ 2015-2018 tại Hà Tĩnh

Trang 39

Mặc dù diện tích nuôi tôm trên cát tăng đáng

kể sau khi có quyết định về quy hoạch của tỉnh

đưa ra, song so với kế hoạch đề ra còn nhiều

hạn chế, ví như năm 2015 diện tích nuôi tôm

trên cát là 267 ha đạt 38,4% mục tiêu giai đoạn

2012-2015, năm 2018 (450 ha) đạt 50% mục

tiêu giai đoạn 2015-2020 Mặc dù, nhu cầu phát

triển nuôi tôm trên cát rất cao, song phát triển

chậm so với mục tiêu đề ra là do gặp những khó

khăn trong việc giao đất, giải phóng mặt bằng,

vướng mắc chí phí đầu tư xây dựng hạ tầng lớn,

giá thành sản xuất cao và xuất hiện dịch bệnh

2.2 Những tác động từ hoạt động nuôi tôm

trên cát

Nuôi tôm trên cát đã và đang giúp tăng đa

dạng mô hình nuôi, sử dụng tiềm năng vùng

cát hoang hóa của địa phương đồng thời mang

lại hiệu quả kinh tế cao Nhưng trong quá trình

triển khai cũng đã nhận thấy một số nguy cơ,

rủi ro, thách thức lớn đối với môi trường do

hoạt động nuôi tôm trên cát Một số tác động

chính dễ nhận thấy tại vùng nuôi tôm trên cát

ở Hà Tĩnh bao gồm: ô nhiễm môi trường (biển

và nước ngầm) do chất thải từ nuôi tôm trên

cát, mặn hoá đất, nước ngầm và cạn kiệt nguồn

nước ngọt và nước ngầm

Ô nhiễm môi trường biển và nước ngầm

do tác động từ hoạt động xả thải sau khi thu

hoạch và trong quá trình nuôi Nước trong ao nuôi tôm được xả thải trực tiếp ra biển bằng đường ống hoặc kênh/mương thoát Do lượng bùn, mùn bã hữu cơ sau mỗi vụ nuôi tồn dư lớn, đồng thời không được xử lý trước khi thải ra nên màu nước nơi được xả thải luôn

có màu đen và mùi hôi nồng (Hình 2) Một

số nghiên cứu đã chỉ ra ước tính có khoảng 1,5-2 tấn bùn thải/ha/vụ nuôi tôm, bùn thải bao gồm vỏ tôm lột, thức ăn thừa, phân tôm, xác tảo chết, các hóa chất xử lý ao nuôi như vôi, thuốc tím, chlorine, kháng sinh tan trong nước, tích tụ dưới đáy ao [1], [2] Thực trạng cho thấy lượng chất thải này không được xử

lý mà được xả thải đi vào hệ sinh thái sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ động thực vật, gây mất cân bằng sinh thái và suy thoái khu sinh thái vùng ven biển thậm chí có thể ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của nguồn lợi hải sản tự nhiên Bên cạnh đó, nguồn nước bùn thải còn gây ô nhiễm và mặn hoá nguồn nước ngầm thông qua việc xả thải bằng đường mương hay hệ thống ống kém chất lượng (vỡ, rò rỉ) Dịch bệnh có thể lây lan sang các đầm nuôi khác do sử dụng nước ngầm đã bị nhiễm bệnh, tạo cơ hội bùng phát dịch bệnh, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất trước mắt và lâu dài

Hình 2: Hình thức thải nước trong ao nuôi tôm trên cát ra biển

(A: bằng đường mương, B: bằng đường ống)

Bên cạnh đó, vấn đề sử dụng nguồn nước

ngọt/nước ngầm tại vùng nuôi trên cát tại Hà

Tĩnh cũng được quan tâm đề cập đến Nước

ngọt thường được sử dụng để bổ sung vào

ao trong vụ nuôi nhằm giảm độ mặn xuống ngưỡng phù hợp cho tôm phát triển (20-25‰) Hoạt động bơm nước ngọt vào ao nuôi phổ biến ở hai thời điểm là trước khi bắt đầu

Trang 40

vụ tôm nuôi và vào mùa hè (từ tháng 6 đến

tháng 8) những lúc này độ mặn đạt ngưỡng

cao (35‰), ước tính lượng nước ngọt sử dụng

trong nuôi tôm trên cát tại vùng nghiên cứu là

1.600m3/ha/vụ nuôi Như vậy, có thể thấy khi

hoạt động nuôi tôm trên cát tại địa phương

thực hiện đạt đúng quy hoạch đề ra 700 ha

Hà Tĩnh có tiềm năng lớn về diện tích

đất cát để phát triển nuôi tôm nước lợ

(900-980,2 ha trong giai đoạn 2020-2030) Hoạt

động sản xuất nuôi tôm được xác định là

ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược

phát triển của tỉnh, do đó luôn nhận được sự

quan tâm của UBND tỉnh và các cấp chính

quyền Hơn nữa, mô hình nuôi tôm trên cát

đã được chứng minh có thành công tại Hà

Tĩnh và mang lại hiệu quả kinh tế cao, là

tiền đề cơ bản cho sự phát triển nuôi tôm

trên cát tại địa phương ngay từ những năm

bắt đầu triển khai (15-20 tấn/ha năm 2005)

Trữ lượng nước mặn phục vụ nuôi hiện

nay là vô hạn, việc lấy nước vào hệ thống nuôi

không phụ thuộc vào thủy triều mà lấy trực tiếp

từ biển, nước biển có độ trong sạch cao, đồng

thời vùng nuôi thuộc cao triều nên thuận lợi

cho việc xử lý làm sạch ao trước cũng như sau

vụ nuôi

3.2 Khó khăn thách thức

Bên cạnh những cơ hội có được nêu trên

thì hoạt động nuôi tôm trên cát tại Hà Tĩnh

cũng đang đối mặt với không ít thách thức

khó khăn Môi trường bị thay đổi theo chiều

hướng xấu, ngày càng nhiều chất thải không

qua xử lý từ các lưu vực sông và vùng ven

biển đổ ra biển, một số khu biển ven bờ bị ô

nhiễm, trong đó có phần đóng góp của hoạt

động nuôi tôm trên cát hiện nay đang và đã

triển khai

Điều kiện khí hậu khắc nghiệt với biên

độ giao động lớn giữa các mùa trong năm,

với mùa hè nhiệt độ cao thuận lợi cho tôm

sinh trưởng song lại ảnh hưởng đến độ mặn,

độ bốc hơi nước cao vì vậy luôn cần có giải pháp hỗ trợ là nguồn nước ngọt Trong khi đó, nguồn nước ngọt, đặc biệt nguồn nước ngầm ngọt khu vực ven biển nói chung và vùng Hà Tĩnh nói riêng đang có xu hướng suy giảm về trữ lượng, nhiều nơi đã bị nhiễm mặn, sẽ là những thách thức rất lớn trong phát triển tôm trên cát

Biến đổi môi trường kết hợp với suy thoái

ô nhiễm môi trường là điều kiện thuận lợi cho xuất hiện bệnh, dịch bệnh Hiện nay, thực tế cho thấy tôm nuôi đã xuất hiện bệnh

và diễn biến bệnh phức tạp khó lường, gây rủi ro lớn cho người nuôi ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế

4 Giải pháp phát triển nuôi tôm trên cát tại

Hà Tĩnh

4.1 Giải pháp về quản lý

Rà soát các vùng/hộ/doanh nghiệp nuôi tôm trên cát hiện tại, đồng thời ưu tiên quan tâm đến thiết kế và đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng đồng bộ, hợp lý, hiệu quả kinh tế, an sinh

xã hội và an toàn môi trường

Ưu tiên đầu tư cho công tác quan trắc, cảnh báo môi trường và dịch bệnh cho các vùng nuôi tôm trên cát tập trung, thông báo kịp thời cho các cơ sở nuôi tôm về môi trường

và tình hình dịch bệnh, hướng dẫn các giải pháp kỹ thuật phù hợp Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra và xử phạt nghiêm các hành vi vi phạm về môi trường; đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức của người nuôi và các tổ chức tham gia nuôi tôm trên cát về công tác bảo vệ môi trường

và giữ gìn cảnh quan xung quanh vùng nuôi tôm trên cát

Yêu cầu bắt buộc tất cả các cơ sở nuôi tôm trên cát phải có khu vực xử lý nước thải Nước

từ ao nuôi trước khi thải ra môi trường phải lưu và được xử lý theo đúng yêu cầu quy định Nước chỉ được thải ra ngoài khi đạt tiêu chuẩn nước thải theo quy chuẩn Quốc gia

Xây dựng và phát triển mô hình quản lý bảo

vệ môi trường dựa vào cộng đồng theo cơ chế đồng quản lý; tăng cường sức mạnh của cộng đồng trong bảo vệ môi trường thông qua việc quản lý khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi

và trao quyền chủ động cho cộng đồng Phổ

Ngày đăng: 23/07/2020, 02:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w