1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

ĐỀ CƯƠNG BẢO HIỂM HÀNG KHÔNG

72 431 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các vấn đề về bảo hiểm hàng không và các bên liên quan:Lịch sử của bảo hiểm, các đặc điểm và nguyên tắc của bảo hiểmBảo hiểm cho hành khách, bảo hiểm thân tàu bay, bảo hiểm cho bên thứ ba...Các công ty bảo hiểm ở Việt NamThị trường bảo hiểm Lloyd

Trang 1

CHƯƠNG : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM

1 Khái niệm, đặc điểm ba hình thái phát triển của Bảo hiểm

Luật kinh doanh Bảo hiểm của Việt Nam 09/12/2000 thì kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo

hiểm, trên cơ sở mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Như vậy: Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng

bảo hiểm do một rủi ro đã thỏa thuận gây ra, với một điều kiện là người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm

Các hình thái bảo hiểm:

 Dự trữ thuần túy: hình thức lập ra một quỹ lương thực, đồ dùng, tiền, ) nhằm phòng cho những lúc

rủi ro có thể xảy ra, hay còn gọi là hình thức tự bảo hiểm Xuất hiện từ rất lâu và vẫn còn được sử dụng

hiện nay

 Cho vay nặng lãi: Cùng với sự mở rộng thương mại và buôn bán giữa các quốc gia, các vùng, các châu

lục hệ thống cho vay bắt đầu phát triển hệ thống vay mượn tiền đã ra đời để mua và vận chuyển hàng hóa, nhưng với nhược điểm lớn là lãi xuất rất cao và yêu cầu trả trước, các hội tôn giáo đã ngăn chặn

hoạt động cho vay nặng lãi, nhưng nhu cầu cần tiền và cần sự đảm bảo cho việc vận chuyển hàng hóa,

nhất là khi việc mua bán ngày càng phát triển và mang lại lợi nhuận lớn, hình thái bảo hiểm thứ 3 ra đời

 Thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm: để giải quyết nhu cầu cần tiền và giảm thiểu thiệt hại lớn xảy ra trong quá trình vận chuyển cho các nhà buôn, hình thức bảo hiểm ràng buộc trách nhiệm tồn tại với hai dạng

 Hình thức cổ phần:Mỗi chuyến hàng do nhiều người góp vốn và chịu trách nhiệm theo phần góp, vì vậy

nếu rủi ro xảy ra thiệt hại sẽ được chia đều cho tất cả giảm gánh nặng tổn thất nhưng mất thời gian kêu gọi góp cổ phần, khó khăn khi thỏa thuận chia sẽ trách nhiệm và quyền lợi

 Hình thức bảo hiểm:gắn liền với hoạt động giao lưu buôn bán hàng hóa bằng đường biển bảo hiểm hàng hải là loại bảo hiểm đầu tiên Sau đó nhiều loại bảo hiểm khác lần lượt ra đời

Ngày nay bảo hiểm gắn chặt trong mọi lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội ngành bảo hiểm thương mại đang

giữ vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế nhiều quốc gia đặc biệt là những nước phát triển

2 Bản chất của bảo hiểm

Thực chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu, tức là lấy số đông bù cho số ít người bị thiệt hại nhằm giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế

của từng cá nhân hay đơn vị gặp rủi ro Là mối quan hệ giữa người được bảo hiểm và người bảo hiểm, giữ tổng

thể các mối quan hệ giữ người được bảo hiểm trong cộng đồng xoay quanh việc hình thành và sử dụng quỹ bảo

hiểm

Bảo hiểm là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội dưới hình thái giá trị, nhằm hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm cho mục đích bù đắp tổn thất do rủi ro bất

ngờ xảy ra với người được bảo hiểm quá trình tái sản xuất được thường xuyên liên tục

3 Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm

Nguyên t ắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn: Bảo hiểm sự rủi ro như tai nạn, tai họa xảy

ra 1 cách bất ngờ ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người Không bảo hiểm một điều chắc chắn sẽ xảy ra, đương nhiên sẽ xảy ra, nằm trong ý muốn của con người

Nguyên t ắc trung thực tuyệt đối: tất cả giao dịch kinh doanh đều thực hiện trên cơ sở tin cậy và trung thực,

trong bảo hiểm, điều này thể hiện trên một nguyên tắc chặt chẽ Mỗi bên chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin cung cấp cho bên kia Người bảo hiểm phải công khai những điều kiện nguyên tắc, thể

lệ, giá cả,… cho người được bảo hiểm biết Ngược lại người được bảo hiểm phải khai báo chính xác các chi tiết liên quan đến đối tượng bảo hiểm, thông báo kịp thời những thay đổi về đối tượng bảo hiểm, về rủi ro và

những mối nguy hại làm tăng rủi ro mà mình biết hoặc đáng lẽ phải biết, không được trục lợi bảo hiểm

Nguyên t ắc quyền lợi có thể được bảo hiểm: (hay lợi ích bảo hiểm) lá quyền sở hữu, chiếm hữu, quyền sử

dụng, quyền tài sản: quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm người được bảo

hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm

Trang 2

Nguyên t ắc bồi thường: số tiền bảo hiểm mà một công ty bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm trong một

rủi ro được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm và không được lớn hơn thiệt hại thực tế

Nguyên t ắc thế quyền: người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt

người được bảo hiểm đòi người thứ ba có trách nhiệm bồi thường cho mình, các khoản thu bồi thường thiệt

hại đó đều thuộc về người bảo hiểm số tiền bồi thường càng lớn thì việc áp dụng nguyên tắc thế quyền càng có

ý nghĩa và người bảo hiểm không được phép thu nhiều hơn số tiền họ đã bồi thường cho người được bảo hiểm

Nguyên tắc số đông (nguyên tắc cơ bản nhất) quy luật số lớn là cơ sở khoa học quan trông của bảo hiểm,

quy luật này giúp các công ty bảo hiểm ước tính xác suất rủi ro nhận bảo hiểm, nhằm giúp tính phí vả quản lý các quỹ dự phòng chi trả

4 Các loại hình khác nhau của bảo hiểm

 Căn cứ theo cơ chế hoạt động:

B ảo hiểm xã hội: bh của nhà nước, đoàn thể xã hội cấp cho viên chức, công nhân viên,… trong

trường hợp bị ốm đau, tai nạn, hưu trí Loại hình bh ra đời sớm và thực hiện hầu hết các nước trên TG Có tính chất khác biệt:

o Bắt buộc

o Hoạt động theo quy luật chung

o Không tính đến rủi ro cụ thể

o Không nhằm mục đích kinh doanh

Bảo hiểm xã hội ở nước ta gồm 5 chế độ: Trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và

bệnh nghề nghiệp, trợ cấp hưu trí, trợ cấp tử tuất

Bảo hiểm thương mại:

o mang tính chất kinh doanh kiếm lời

o không bắt buộc, tính đến tường đối tượng

 Căn cứ theo tính chất:

B ảo hiểm nhân thọ: bh những rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc sống, sức khỏe của con

người, bh cho trường hợp sống hoặc chết, bh tính mạng hay sức khỏe cho con người nhằm bù đắp cho người dc bảo hiểm một khoản tiền khi hết thời hạn bảo hiểm hoặc khi người dc bh chết hay bị thương Gồm các nghiệp vụ: bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo

hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ

B ảo hiểm phi nhân thọ: loại nghiệp vụ bh bảo vệ tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ

bh khác không thuộc bh nhân thọ Gồm: bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đưởng biển/sông, đường sắt, đường không, Bảo hiểm hàng không, xe cơ giới, bảo

hiểm cháy nổ, bảo hiểm thân tàu bay và trách nhiệm dân sự của chủ tàu, bảo hiểm trách nhiệm chung, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính, bảo hiểm thiệt hại kinh doanh, bảo hiểm nông nghiệp,…

 Căn cứ theo đối tượng bảo hiểm:

B ảo hiểm con người: đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn của con

người bao gồm các loại bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe và tai nạn, bảo hiểm an sinh giáo

dục,…

B ảo hiểm tài sản: đối tượng bảo hiểm là tài sản cố định hoặc lưu động của người được bảo

hiểm bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ có giá trị bằng tiền và các quyền tài sản có ba loại bảo

hiểm tài sản là hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị, hợp đồng bảo hiểm tài sản dưới giá trị,

hợp đồng bảo hiểm trùng

 Căn cứ theo quy định của pháp luật:

Bảo hiểm bắt buộc: là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, số tiền bảo

hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ

thực hiện, chỉ áp dụng với một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội

B ảo hiểm không bắt buộc: loại không thuộc bảo hiểm bắt buộc

5 Thị trường bảo hiểm Lloyd’soyd’s

Lloyd’s ban đầu là một quán cà phê nhỏ ở Anh, thuộc sở hữu của ông Edward Lloyd’s Các thương nhân, chủ tàu, nhà bảo hiểm đã chọn quán cà phê này để gặp gỡ và tìm hiểu thông tin, làm thủ tục bảo hiểm cho các con tàu và hàng hóa của mình

Trang 3

1774, các thành viên của Lloyd’s chuyển trụ sở về sở giao dịch hoàng gia

1928-1958 Lloyd’s chuyển trụ sở về phố leadenhaLloyd’s

1958-nay Lloyd’s đóng trụ sở tại thành phố Lime London và là một đế chế bảo hiểm hùng mạnh bao

gồm nhiều lĩnh vực như hàng hải, hàng không, thiên tai, tai nạn nghề nghiệp,… các công ty hàng đầu thế giới ở nhiều lĩnh vực đều là khách hàng của Lloyd’s

Lloyd’s là một thị trường bảo hiểm với các thành viên bao gồm cả pháp nhân và thể nhân của mình

Hiệp hội thị trường Lloyd’s được thành lập năm , các thanh viên của Lloyd’s thực hiện giao dịch

bảo hiểm thông qua 93 nghiệp đoàn Ngoài ra còn có công ty môi giới bảo hiểm được Lloyd’s chứng nhận, nhiều công ty chuyên sâu về từng lĩnh vực khác nhau

Với tổng giá trị tài sản hơn 5 tỷ doLloyd’sar hàng năm Lloyd’s nhận bảo hiểm với tổng giá trị của hợp đồng lên tới 25 tỷ doLloyd’sar

Ngày nay Lloyd’s đã trở thành một thị trường bảo hiểm lốn nhất thế giới và hầu như có thể bảo hiểm

mọi thứ

Bảo hiểm hàng không của Lloyd’s

Bảo hiểm hàng không lần đầu tiên được giới thiệu trong những năm đầu của thế kỷ 20 Chính sách bảo

hiểm hàng không đầu tiên được viết bởi Lloyd's of London vào năm 1911 Chiến tranh luôn đóng một vai trò

quan trọng trong sự phát triển của bảo hiểm cũng như về tiến bộ kỹ thuật của nó Chiến tranh thế giới thứ nhất đẩy nhanh sự phát triển của thiết kế máy bay và xây dựng Nhưng mãi cho đến khi kết thúc thế giới thứ hai, ngành hàng không mới thành hiện thực

Trong khi tổ chức hàng hải Lloyd's of London đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp và phát triển bảo hiểm hàng không giữa các cuộc chiến tranh, việc mở rộng ngành công nghiệp hàng không với mức độ công nghệ cao và ngày càng có nhiều tai nạn tốn kém đã dẫn đến sự xuất hiện của một thị trường chuyên về tất

cả các rủi ro hàng không, với ngoại lệ chung của hàng hoá, được bảo hiểm

Hầu hết các chính sách được ban hành trên cơ sở "tất cả các rủi ro" bao gồm máy bay (thân tàu), trách nhiệm của hành khách và trách nhiệm pháp lý đối với người khác, phải tuân theo những hạn chế nhất định

Những người mua các chính sách này bao gồm từ các hãng hàng không thương mại lớn và các chủ sở hữu máy bay công ty hoặc kinh doanh cho chủ sở hữu tư nhân và các câu lạc bộ bay

Trách nhiệm đối với tai nạn cho hành khách được điều chỉnh bởi một số thỏa thuận quốc tế và luật pháp

quốc gia Những điều chính là Công ước Warsaw năm đã làm cho những người ký có thể bị buộc phải

chịu trách nhiệm với hành khách mà không có sự sơ suất nhưng phải tuân thủ một số giới hạn về tiền tệ; và, Nghị định thư Hague mục Chiến tranh đã đưa ra một số giới hạn này Kể từ đó, các hiệp định quốc tế khác

đã được ký Các luật quốc gia riêng lẻ có thể áp đặt các giới hạn cao hơn cho các chuyến bay nội địa

Những nhóm người khác đòi hỏi phải có trách nhiệm về hàng không bao gồm các nhà sản xuất hàng không, các nhà sản xuất máy bay và các cơ quan sân bay

Các hiệp định quốc tế cũng đưa ra các giới hạn về trách nhiệm đối với hàng hoá vận chuyển bằng đường hàng không Nếu không có rủi ro đặc biệt hoặc giá trị, hàng hoá thường được bảo hiểm trong các thị trường

"tất cả rủi ro" trên biển hoặc nói chung chứ không phải trên thị trường hàng không

Chuyến bay Hoa Kỳ năm đã được viết tắt khi rớt xuống dòng nước Hudson

Thị trường bảo hiểm London vẫn là trung tâm bảo hiểm hàng không lớn nhất Thị trường được làm từ tiêu chuẩn Lloyd's of London syndicates và các thị trường bảo hiểm truyền thống đa dạng khác nhau Trong suốt

phần còn lại của thế giới, có nhiều thị trường quốc gia được thành lập ở nhiều nước, mỗi người phụ thuộc vào

hoạt động hàng không ở mỗi quãng đường Hoa Kỳ bao gồm một phần lớn trong đội tàu hàng không chung của

thế giới và bao gồm một thị trường lớn được thành lập Theo báo cáo năm của GAMA, có 362.000 máy bay hàng không tổng hợp trên toàn thế giới, và 199.000 (hoặc khoảng 55%) chủ yếu dựa vào u S

Không một công ty bảo hiểm nào có các nguồn lực để duy trì một nguy cơ về quy mô của một hãng hàng không quan trọng, hoặc thậm chí một tỷ lệ đáng kể rủi ro như vậy Bản chất thảm khốc của bảo hiểm hàng không sẽ được đo lường trong nhiều khoản thua lỗ mà các hãng bảo hiểm có giá trị khác nhau rất nhiều các tổn

thất khác nhau (Tai nạn hàng không và sự cố) Hầu hết các hãng hàng không đều bố trí "chính sách hạm đội" để che đậy tất cả các nghề mà họ sở hữu hoặc vận hành

Trang 4

Vụ gian lận bảo hiểm là hành động tiêu cực của hành khách tự tử để chở hàng không Pacific Air Lines 773, Continental Airlines Flight 11 và hãng hàng không quốc gia 2511

Các tuyên bố về bảo hiểm hàng không đã tăng lên sau chuỗi thảm hoạ, theo Lloyd's

Các tổn thất của các chuyến bay Malaysia Airlines MH và MH đóng góp vào các khoản bồi thường tăng gấp 10 lần phí bảo hiểm

Các công ty bảo hiểm của Lloyd đã trả tiền cho việc mất chuyến bay MH , nhưng trong tháng qua, đã

có nhiều thảm họa hơn

Sự sụp đổ của chuyến bay MH370 của hãng hàng không Malays Airlines và các tổn thất khác trong năm nay đã làm tăng yêu cầu bảo hiểm hàng không gấp 10 lần phí bảo hiểm hàng năm, Lloyd's của London cho biết

Thị trường bảo hiểm lớn nhất thế giới cho biết, phí bảo hiểm toàn cầu để bảo vệ máy bay và các tài sản hàng không khác khoảng 65 triệu đô la một năm nhưng những yêu cầu bồi thường có thể đã lên tới hơn triệu đô la

Chủ tịch Lloyd, John Nelson, và giám đốc điều hành, Inga Beale, nói trong một tuyên bố: "Các tuyên bố đáng chú ý nhất đã xuất hiện từ tỷ lệ cao bất thường của tổn thất hàng không, bất ngờ và bi thảm

Một chiếc Malaysia Airlines Boeing 777-200 biến mất vào tháng 3 với người trên tàu và vẫn chưa được tìm thấy Các công ty bảo hiểm của Lloyd đã trả tiền cho việc mất chiếc máy bay nhưng đã có thêm thiên tai trong sáu tháng qua

Lloyd's cho biết thị trường thiên tai thảm khốc đã trở nên ôn hòa trong nửa đầu năm nay, giúp lợi nhuận trong tháng đầu tháng tăng lên , tỷ bảng từ 1,38 tỷ bảng Anh một năm trước đó Nhưng nó cho biết điều

kiện thị trường đang trở nên khó khăn hơn

Các thảm họa hàng không trong nửa sau của năm bao gồm việc bắn hạ một máy bay khác của Malaysia Airlines, chuyến bay MH , phía đông Ukraine vào tháng 7, các cuộc tấn công vào sân bay quốc tế Tripoli, việc

mất một chuyến bay Air Algérie tới Mali và vụ tai nạn của TransAsia Airways máy bay ở Đài Loan

Nelson và Beale cho biết: "Trong thời kỳ mà mức phí bảo hiểm thường giảm, đặc biệt là trong không gian tái bảo hiểm, đây là một lời nhắc nhở về lý do tại sao giá cả phải phản ánh những rủi ro cơ bản đang được viết ra"

Họ cho biết giá bảo hiểm bị áp lực bởi vì, với lãi suất thấp, các nhà đầu tư đang đặt thêm vốn vào ngành Các công ty bảo hiểm của Lloyd thường chống lại sự cám dỗ viết hợp đồng bảo hiểm quá rẻ, họ nói thêm Lloyd cho biết: "Trong khi thị trường của Lloyd lại được hưởng lợi từ hoạt động tuyên bố chủ quyền ở mức

thấp hơn, điều này sẽ tăng cường sức ép cạnh tranh và triển vọng của một môi trường giá cả vẫn còn yếu" Các cuộc xung đột tại Nga, đông Ukraine, Libya và Trung Đông đã không gây ra tổn thất lớn cho đến nay tại Lloyd nhưng kinh doanh từ các khu vực này đã giảm Các công ty ngày càng tự bảo vệ bản thân trước các cuộc

tấn công trên mạng và đang yêu cầu phạm vi rộng hơn và giới hạn lớn hơn

Lloyd's cho biết những sự cố thời tiết bao gồm thời tiết ở Mỹ và Nhật Bản, cơn bão Ela và lũ lụt ở Anh không gây thiệt hại lớn cho các công ty bảo hiểm

Có hai nhóm khách hàng đang hoạt động tại Lloyd’s là cá nhân và công ty Đầu tiên làcá thành viên, hoặc cá nhàcung cấp vốn Thứ hai là các đại lý, môi giới vàcá chuyên gia khác hỗ trợ cá thành viên, bảo đảm rủi ro và đại diện cho khách hàng bên ngoài (vídụ như những cánhâ vàcông ty tìm kiếm bảo hiểm, hoặc cá công ty bảo

hiểm muốn tái bảo hiểm)

Phần lớn cá hoạt động kinh doanh tại Lloyd’s được thông qua cá công ty môi giới nhằm tạo điều kiện thuận

lợi cho quátrình chuyển đổi rủi ro giữa khách hàng vàngười bảo lãnh Khách hàng cóthể thảo luận về nhu cầu

rủi ro của họ với một nhàmôi giới, một người bímật hoặc một công ty dịch vụ Chuyên gia bảo lãnh cho mỗi giácung cấp, bảo lãnh vàxử lýbất kỳ khiếu nại tiếp theo liên quan đến rủi ro Kinh doanh tại Lloyd’s vẫn được

tiến hành trực tiếp, phòng bảo lãnh làtrung tâm cho sự vận hành trơn tru của thị trường Cơ cấu thị trường khuyến khích sự đổi mới, tốc độ vàgiátrị tốt hơn, làm cho nó trở nê hấp dẫn hơn đối với người mua bảo hiểm

và người tham gia bảo hiểm Tiếp cận ngay lập tức với người ra quyết định có nghĩa là những câu trả lời về

Trang 5

việc liệu cóthể đặt một rủi ro được thực hiện nhanh chóng hay không, cho phé nhàmôi giới cung cấp cá giải phá nhanh và giá trị tốt

1 Đại lý quản lý (Managing Agents)

Đại lý quản lý sẽ tài trợ và quản lý các nghiệp đoàn Họ sẽ kiểm tra các thành viên về các cam kết về năng

lực, tạo ra nghiệp đoàn, thuê bảo hiểm, và giám sát tất cả các hoạt động của nhóm thành viên Các đại lý quản lý

có thể điều hành nhiều hơn một nhóm, như được xác định trong thực tế là vào năm , đại lý chỉ được điều hành bởi đại lý quản lý

Lloyd’s cung cấp nhiều công cụ và nguồn lực để quản lý các đại lý Một số yếu tố hữu ích để quản lý các đại

lý làm việc trong thị trường của Lloyd’s:

(i) Quản lý hiệu suất:

- Nhóm khiếu nại: Được thiết kế để làm việc trong mối quan hệ hợp tác với thị trường của Lloyd’s để nâng cao kinh nghiệm của khách hàng Dựa trên các thế mạnh về đổi mới, chuyên môn và truyền thông của Lloyd’s,

sự hợp tác này được trang bị để đạt được mức độ yêu cầu bồi thường mới

2 Các đại lý thành viên (Members’ Agents)

Các đại lý thành viên phối hợp bảo lãnh phát hành và đóng vai trò đệm giữa Lloyd’s, các đại lý quản lý và các thành viên Họ đã được giới thiệu vào giữa những năm và phát triển về số lượng cho đến khi nhiều

đại lý phá sản, nhiều doanh nghiệp đã sáp nhập, và hiện chỉ còn bốn đại lý

3 Thành viên (Members)

Trong lịch sử của Lloyd’s, các cá nhân giàu có được gọi là Names đã ủng hộ chính sách được viết tại Lloyd’s với tất cả tài sản cá nhân của họ và chịu trách nhiệm vô hạn (unlimited liability) Từ năm , Lloyd’s

đã cho phép thành viên của công ty vào thị trường, với trách nhiệm hữu hạn (limited liability) Tổn thất do

bệnh bụi phổi amiang vào đầu những năm đã làm suy sụp tài chính của nhiều Names: 1.500 trong số 34.000 Names (4.4 %) bị tuyên bố phá sản Điều này làm mất đi các Names tiềm năng khác Trong năm , các Names riêng lẻ chỉ cung cấp % năng lực vốn cho Lloyd’s, với các công ty niêm yết tại Anh và các thành viên khác của công ty cung cấp 30% và phần còn lại thông qua ngành bảo hiểm quốc tế

Từ năm , Names với trách nhiệm vô hạn mới không còn được pháp lý thừa nhận và tầm quan trọng

của các cá nhân Names tiếp tục giảm và buộc họ từ từ rút lui, chuyển đổi thường thì họ sẽ trở thành các công

ty trách nhiệm hữu hạn) hoặc chấp nhận biến mất Vào năm , những người có trách nhiệm vô hạn còn lại

chỉ cung cấp 2% tổng công suất vốn cho Lloyd’s

4 Chủ hợp đồng bảo hiểm

Các chủ hợp đồng bảo hiểm bao gồm các doanh nghiệp, tổ chức, các công ty bảo hiểm khác và cá nhân từ

khắp nơi trên thế giới, những người tìm cách giảm nhẹ tác động của những rủi ro tiềm ẩn

Trang 6

Các chủ hợp đồng có thể truy cập vào thị trường của Lloyd’s thông qua một công ty môi giới, bảo hiểm

hoặc dịch vụ

5 Coverholder của Lloyd’s

Một đại lý quản lý cũng có thể ủy quyền cho các bên thứ ba chấp nhận rủi ro bảo hiểm trực tiếp thay mặt cho các tổ chức của nó Các doanh nghiệp này, được gọi là các coverholder, tạo thành một kênh phân phối quan

trọng, cung cấp một tuyến đường địa phương để liên kết Lloyd’s ở nhiều vùng lãnh thổ trên thế giới Vào ngày tháng năm , có địa điểm văn phòng của coverholder đã được phê duyệt

Một công ty dịch vụ hoạt động như một coverholder nhưng là một chi nhánh của một đại lý quản lý hoặc nhóm của nó Không giống như coverholder, một công ty dịch vụ có thể ủy thác bảo lãnh phát hành lại cho bên thuê bảo hiểm khác Vào ngày tháng năm có công ty dịch vụ tại Lloyd’s, với đa số ở Anh và Mỹ

6 Công ty môi giới

Phần lớn các hoạt động kinh doanh tại Lloyd’s được thực hiện thông qua các công ty môi giới nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi rủi ro giữa khách hàng và người bảo hiểm

Môi giới – phân phối kinh doanh Lloyd’s là một thị trường môi giới, trong đó các mối quan hệ mạnh mẽ, được hỗ trợ bởi chuyên môn sâu sắc, đóng một phần quan trọng Các công ty môi giới tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi rủi ro giữa người mua bảo hiểm và người bảo hiểm Phần lớn hoạt động kinh doanh này liên quan đến thương lượng mặt đối mặt giữa các nhà môi giới và người bảo lãnh Vào 31/12/2016, có 258 công ty môi giới tại Lloyd’s

7 Tổng công ty Lloyd’s

Tổng công ty giám sát thị trường của Lloyd’s cung cấp cơ sở hạ tầng cho thị trường, bao gồm các dịch vụ

để hỗ trợ hoạt động hiệu quả của nó, và bảo vệ và duy trì danh tiếng của nó

Vai trò của Tổng công ty bao gồm:

Quản lý và bảo vệ mạng lưới giấy phép quốc tế của Lloyd’s

- Phê chuẩn kế hoạch kinh doanh của các tập đoàn và đánh giá hiệu quả so với kế hoạch đó Các tổ chức tín

dụng phải bảo lãnh theo các kế hoạch kinh doanh đã được thống nhất của họ Nếu họ không làm như vậy, Lloyd’s có thể có tạm dừng các hoạt động bảo lãnh

- Theo dõi sự tuân thủ của các nhà cung cấp với các tiêu chuẩn tối thiểu của Lloyd’s

- Tiếp tục nâng cao tiêu chuẩn và hiệu suất hoạt động trên hai lĩnh vực chính:

+ Quản lý tổng thể rủi ro và hiệu suất của thị trường; và

+ Duy trì và phát triển sự hấp dẫn của thị trường đối với các nhà cung cấp vốn, nhà phân phối và khách hàng, đồng thời duy trì tính đa dạng của nó

Có ba liên kết trong chuỗi: Các khoản tiền trong liên kết thứ nhất và thứ hai được giữ trong lòng tin, chủ

yếu vì lợi ích của người mua bảo hiểm có hợp đồng được bảo lãnh bởi các thành viên có liên quan Các thành viên bảo lãnh cho tài khoản của mình và không chịu trách nhiệm về những mất mát của thành viên khác Liên

kết thứ ba là quỹ trung tâm Lloyd’s, có chứa tài sản chung của Tổng công ty có sẵn, tùy thuộc vào sự chấp thuận của Hội đồng, theo yêu cầu, để đáp ứng các khoản nợ bảo hiểm của bất kỳ thành viên nào

Cơ cấu vốn của Lloyd’s:

- Syndicate tài sản – vốn lưu động của thành viên – liên kết đầu tiên trong chuỗi an ninh Tất cả các phí bảo

hiểm nhận được từ các hợp đồng được giữ trong sự tin tưởng của các đại lý quản lý như tài nguyên đầu tiên

để trả các yêu cầu bồi thường cho người mua bảo hiểm và để tài trợ các khoản tiền gửi theo quy định Cho đến khi tất cả các khoản nợ đã được cung cấp, không có lợi nhuận có thể được giải phóng Hàng năm, mỗi dự trữ

Trang 7

của các nhà cung cấp đối với các khoản nợ phải trả trong tương lai được kiểm toán độc lập và nhận được một

sự đánh giá theo luật

- Các nguồn quỹ tại Lloyd’s – vốn của các thành viên gửi tại Lloyd’s – liên kết thứ hai trong chuỗi an ninh

Mỗi thành viên, cho dù là doanh nghiệp hay cá nhân, đều phải cung cấp đủ vốn để hỗ trợ bảo lãnh phát hành tại Lloyd’s Các đại lý quản lý được yêu cầu đánh giá khả năng khoản vay (SCR) cho mỗi tổ chức mà họ quản lý Điều này chỉ ra bao nhiêu vốn mà hiệp hội yêu cầu để bao gồm các rủi ro kinh doanh cơ bản của nó ở mức độ tin cậy 99,5%

Với sự phối hợp kinh doanh của Lloyd’s, điều quan trọng là đánh giá này vượt quá thời hạn 12 tháng theo yêu cầu của Solvency II và phải bao gồm rủi ro tổn thất nặng nề cho đến khi tất cả các khoản nợ được thanh toán và mở rộng đến cơ sở cuối cùng Tổng công ty xem xét SCR của từng nhà cung cấp để đánh giá sự phù hợp

của mức vốn đề xuất Khi được đồng ý, mỗi SCR sẽ được nâng lên để đảm bảo có đủ vốn để hỗ trợ xếp hạng và

sức mạnh tài chính của Lloyd’s Mức tăng áp dụng cho năm là % SCR nâng cao này được gọi là đánh giá vốn kinh tế của các nhà cung cấp và thúc đẩy mức vốn của các thành viên trên tất cả các tổ hợp mà họ tham gia theo tỷ lệ phần trăm của họ trong các tổ hợp này Vốn của mỗi thành viên được Tổng công ty nắm giữ vì lợi ích của người mua bảo hiểm nhưng không có sẵn cho các khoản nợ của các thành viên khác

BẢO HIỂM HÀNG KHÔNG CỦA LLOYD’S

Ngày nay, máy bay đã trở thành một phương tiện giao thông vận tải dân dụng chuyên nghiệp, được nhiều người tin dùng Mặc dù hàng không là hình thức vận tải ra đời muộn nhất nhưng lại có số lượng hàng khách đông đảo và đa dạng do có nhiều ưu điểm nổi trội: tốc độ vận chuyển cao nhất nên thời gian vận chuyển nhanh

nhất, an toàn, nguy cơ tai nạn thấp hơn hẳn và có các dịch vụ đi kèm chuyên nghiệp, tiêu chuẩn hơn các phương thứ vận tải khác Điểm khác biệt lớn nhất giữa vận tải hàng không với các ngành khác là khách hàng không thể làm chủ được số phận của mình, họ giữ vai trò thụ động trong một chuyến bay

Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, số chuyến bay được các hãng hàng không khai thác gia tăng cũng

tỉ lệ thuận với sự tăng lên của các sự cố máy bay Điều này đồng nghĩa với yếu tố cần được bảo vệ của con người trở thành một trong những tiêu chí được quan tâm hàng đầu Vì vậy, các sản phẩm bảo hiểm hàng không ra đời nhằm đảm bảo tối đa cho sự an toàn của các hãng hàng không và hành khách Với đội ngũ các chuyên gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo hiểm hàng không, Lloyd’s cung cấp đầy đủ các sản phẩm bảo

hiểm hàng không cho các khách hàng tổ chức cũng như cá nhân

1 Các sản phẩm bảo hiểm hàng không mà Lloyd’s đang cung cấp

Bảo hiểm thân tàu bay và bảo hiểm trách nhiệm tàu bay

Bảo hiểm thân tàu bay bao gồm các thiệt hại phát sinh từ sự phá hủy vật lý thân tàu bay do các rủi ro khác nhau, kể cả đối với các rủi ro chiến tranh và khủng bố Bảo hiểm trách nhiệm tàu bay bao gồm trách nhiệm của các nhà khai thác tàu bay đối với bên thứ ba (của chủ nhà để tàu bay, công ty cung ứng xăng dầu hàng không, công ty cung cấp dịch vụ bảo dưỡng tàu bay, dịch vụ hàng hóa, suất ăn và các dịch vụ khác trong lĩnh vực hàng không…

Bảo hiểm trách nhiệm hàng không

Bảo hiểm trách nhiệm hàng không bao gồm một loạt các nghĩa vụ pháp lý liên quan đến cảng hàng không

và các hoạt động khai thác hàng không khác, trừ các hoạt động khai thác tàu bay

9 Trách nhiệm sản phẩm hàng không

Bảo hiểm trách nhiệm về sản phẩm hàng không được đưa ra để cung cấp bảo hiểm cho các linh kiện được

sử dụng trong máy bay hoặc các sản phẩm hàng không khác

Hàng hóa hàng không

Bảo hiểm hàng không bao gồm các khoản lỗ phát sinh từ thiệt hại vật chất đối với hàng hoá trong khi vận chuyển bằng đường hàng không và tối đa ngày trong khi cất giữ

Tai nạn của cá nhân phi hành đoàn

Bảo hiểm tai nạn của phi hành đoàn bao gồm các trường hợp tử vong hoặc xảy ra thương tích cho thành viên của phi hành đoàn Người được bảo hiểm thường là chủ sở hữu hoặc nhà điều hành máy bay

Trang 8

Trường hợp chính sách được viết liên quan đến một loại máy bay cụ thể, vị trí rủi ro được xác định theo cách tương tự như trách nhiệm của máy bay

Trường hợp máy bay không xác định được, vị trí rủi ro là lãnh thổ nơi người được bảo hiểm cư trú hay nơi doanh nghiệp được thành lập

Không gian

Để xác định giới hạn lãnh thổ và thuế rủi ro, phải xem xét:

- Tính chất của bảo hiểm được cung cấp;

- Vị trí thực tế của tài sản; và

- Vị trí của cơ sở kinh doanh được bảo hiểm

(i) Thiệt hại vật chất

Bảo hiểm thiệt hại vật chất bao gồm tổn hại vật chất, hoặc mất mát, một vật thể trong không gian trong

một trong bốn giai đoạn Hợp đồng có thể bao gồm các đối tượng trong quá trình sản xuất, phóng trước, phóng

và khi nó đang ở trong quỹ đạo Người được bảo hiểm có thể là nhà sản xuất vệ tinh, nhà khai thác vệ tinh hoặc nhà cung cấp các dịch vụ phóng Các đối tượng không gian là tài sản di chuyển

Hầu hết các lãnh thổ xem các vật thể không gian như vật chuyển động và vị trí nguy hiểm được xác định

bởi vị trí vật lý của vật Tuy nhiên, đối với các mục đích về thuế và quy định, các quốc gia thành viên EEA xem xét vị trí rủi ro đối với việc phóng tàu và trong quỹ đạo rủi ro là lãnh thổ nơi có trụ sở cơ sở kinh doanh được

(ii) Hậu quả mất mát về tài chính

Bảo hiểm mất mát tài chính bao gồm các sự gián đoạn dịch vụ, mất lợi nhuận, doanh thu hoặc chi phí bổ sung có thể xảy ra nếu không thể sử dụng vật thể không gian sau khi bị hư hỏng về mặt vật chất Vị trí rủi ro thuộc lãnh thổ nơi đặt cơ sở kinh doanh của người được bảo hiểm

(iii) Trách nhiệm của bên thứ ba

Bảo hiểm trách nhiệm đối với bên thứ ba bao gồm trách nhiệm pháp lý của người được bảo hiểm đối với bên thứ ba về thương tật hoặc thiệt hại về tài sản, khi vật thể không gian nằm trên mặt đất, trong khi phóng

hoặc trên quỹ đạo.Vị trí rủi ro là lãnh thổ nơi đặt cơ sở kinh doanh của người được bảo hiểm

2 Một số hợp đồng bảo hiểm hàng không hàng không lớn của Lloyd’s

Sự kiện 11 tháng 9

Sự kiện 11 tháng 9 (còn gọi trong tiếng Anh là 9/11) là một loạt bốn vụ tấn công khủng bố có mục tiêu bởi nhóm khủng bố Hồi giáo al-Qaeda chống lại Hoa Kỳ vào sáng thứ Ba, ngày tháng năm Vụ tấn công làm người chết, hơn người khác bị thương, và gây ra thiệt hại về tài sản và cơ sở hạ tầng ít nhất 10

tỉ USD và gây tổn thất tổng cộng 3 nghìn tỉ USD

Bốn chiếc máy bay dân dụng chở khách được điều hành bởi hai hãng hàng không dân dụng lớn của Hoa Kỳ (United Airlines và American Airlines) Tất cả đều cất cánh từ các sân bay tại Đông Bắc Hoa Kỳ để đi tới California thì bị không tặc bởi 19 tên khủng bố al-Qaeda Hai chiếc máy bay trong số đó, chuyến bay 11 của American Airlines và chuyến bay 175 của United Airlines, lần lượt đâm vào tòa tháp Bắc và Nam của khu phức

hợp Trung tâm Thương mại Thế giới tại thành phố New York Chỉ trong 1 giờ 42 phút, cả hai tòa tháp cao 110

tầng sụp đổ, mang theo mảnh vỡ và gây ra những vụ cháy khiến tất cả các tòa nhà khác trong khu phức hợp Trung tâm Thương mại Thế giới bị sụp đổ một phần hoặc hoàn toàn, bao gồm tòa tháp Trung tâm Thương mại

Thế giới số 7 cao 47 tầng, cũng như gây thiệt hại đáng kể cho mười công trình lớn khác xung quanh Chiếc máy bay thứ ba, chuyến bay 77 của American Airlines, đâm vào Lầu Năm Góc trụ sở của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ) tại

quận Arlington, bang Virginia, gây sụp đổ một phần mặt phía tây của tòa nhà Chiếc máy bay thứ tư, chuyến bay 93 của United Airlines, ban đầu được nhắm vào Washington, D.C., nhưng đã rơi xuống một cánh đồng tại

xã Stonycreek gần Shanksville, Pennsylvania, sau khi các hành khách cố gắng khống chế các tên không tặc Đây

Trang 9

là thảm họa chết người nhất của lực lượng lính cứu hỏa và lực lượng hành pháp trong lịch sử Hoa Kỳ, với 343 lính cứu hỏa và sĩ quan hành pháp thiệt mạng

Theo hồ sơ, các hãng bảo hiểm, trong đó có thị trường Lloyd’s sẽ chi trả khoản tiền đền bù nói trên cho Công ty bất động sản WTC Properties, thuộc sở hữu của ông Larry Silverstein Sáu tuần trước khi xảy ra vụ

khủng bố nhằm vào tòa tháp đôi WTC ở thành phố New York, ông Silverstein đã ký hợp đồng thuê địa điểm này trong năm

Sau sự kiện / , ông Silverstein được các công ty bảo hiểm mà ông có hợp đồng chi trả tổng cộng 4,55 tỉ USD qua nhiều năm thương lượng Đồng thời, ông cũng đấu tranh để đòi tiền bồi thường từ hai hãng hàng không American Airlines và United Airlines – những chiếc máy bay bị không tặc khống chế, lao vào tòa tháp đôi thuộc hai hãng này

Ban đầu, ông Silverstein định đòi , tỉ USD từ hai hãng hàng không Mỹ cũng như các công ty an ninh sân bay Sau năm tranh chấp, ngày / / , hai hãng hàng không American Airlines và United Airlines đã

chấp nhận bồi thường 95,1 triệu USD

MH370/MAS370

Chuyến bay 370 của Malaysia Airlines (MH370/MAS370) là một chuyến bay thường lệ của Malaysia Airlines từ Kuala Lumpur đi Bắc Kinh, là chuyến bay liên danh với China Southern Airlines Khởi hành từ Kuala Lumpur vào ngày tháng năm bằng máy bay Boeing 777-200ER với hành khách, trong đó có hai

trẻ sơ sinh, cùng với thành viên phi hành đoàn Máy bay đã mất liên lạc phút trước khi vào Vùng thông báo bay thành phố Hồ Chí Minh thuộc không phận Việt Nam Chiếc máy bay chưa được tìm thấy, và chỉ có bằng

chứng chắc chắn từ máy bay phản lực đó là một bộ phận cánh đã tràn vào bờ vào tháng Bảy trên đảo Reunion ngoài khơi bờ biển Australia Công ước Montreal quốc tế đã hạn chế khoản thanh toán trách nhiệm pháp lý từ các hãng hàng không với giá 175.000 USD cho mỗi hành khách bất kể hãng hàng không có lỗi hay không Các công ty bảo hiểm của hãng hàng không Malaysia Airlines – Allianz Global Corporate & Speciality và đơn vị Atria của Lloyd’s of London – đã trả hơn triệu USD cho các yêu cầu liên quan đến vụ tai nạn

MH17/MAS17

Chuyến bay 17 của Malaysia Airlines (MH17/MAS17) là chuyến bay quốc tế thường lệ từ Amsterdam đến Kuala Lumpur bị bắn rơi vào ngày tháng năm , sau đó đã đâm xuống biên giới Ukraina – Nga Các báo cáo tình báo của Mỹ chỉ ra rằng chiếc máy bay đã bị bắn hạ bởi tên lửa đất đối không bắn ra khỏi lãnh thổ do

những người ly khai ủng hộ Nga Có hành khách và phi hành đoàn trên máy bay, phần lớn là công dân của

Hà Lan Không còn ai sống sót sau khi máy bay rơi Tổng tổn thất bảo hiểm bao gồm các yêu cầu trách nhiệm

bồi thường cho hành khách và thiệt hại vật chất cho máy bay Theo báo cáo vào năm thì chiếc máy bay có giá trị khoảng 97 triệu USD Theo Công ước Montreal, hãng Malaysia Airlines phải bồi thường 145.000USD cho

mỗi nạn nhân, không cần biết đến nguyên nhân tai nạn và khoản bồi thường chính xác có thể cao hơn tùy thuộc vào nguyên nhân tai nạn Tuy nhiên cho đến hiện nay thì vẫn chưa xác định được quốc gia đã bắn tên lửa đất đối không gây ra tai nạn này nên vẫn chưa có được một con số chính xác cho tổng tổn thất bảo hiểm từ thị trường Lloyd’s và các công ty bảo hiểm/tái bảo hiểm có liên quan

Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000): Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo

hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên

cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng

hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Bảo hiểm là 1 chế độ cam kết bồi thường bằng tiền về kinh tế, trong đó người được bảo hiểm phải đóng khoản gọi là phí bảo hiểm cho người bảo hiểm theo các điều khoản quy định, còn người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho đối tượng bảo hiểm do các rủi ro đã bảo hiểm gây ra Tuy với nhiều hình thức kinh doanh, nhiều cách hoạt động, nhưng bảo hiểm vẫn luôn duy trì sự linh hoạt của mình thông qua những nguyên

tắc cơ bản gồm:

 Nguyên tắc Bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn

 Nguyên tắc trung thực tuyệt đối

 Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm

 Nguyên tắc bồi thường

 Nguyên tắc thế quyền

 Nguyên tắc quy luật số đông

Trang 10

Tất cả những nguyên tắc này xây dựng một hệ thống vững chắc và bổ trợ cho nhau, bài tiểu luận ngắn gọn này sẽ xoay quanh vấn đề nội dung của những nguyên tắc và giải thích với các ví dụ thực tiễn dễ hiểu

1 Bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn

Nội dung:

Nguyên tắc này chỉ ra rằng người bảo hiểm chỉ bảo hiểm một rủi ro, tức là bảo hiểm một sự cố, một tai nạn, tai hoạ, xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một cái chắc

chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra, cũng như chỉ bồi thường những thiệt hại, mất mát do rủi ro gây ra chứ không

bồi thường cho những thiệt hại chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra Vì đương nhiên hay chắn chắn xảy ra là không có yếu tổ rủi ro mà là tất yếu, không có rủi ro sẽ không có bảo hiểm

Ý nghĩa

Nhằm bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm và tránh tình trạng trục lợi bất chính từ bên mua bảo

hiểm

Một rủi ro có thể được bảo hiểm phải hội đủ những đặc tính sau đây:

 Tổn thất phải mang tính chất ngẫu nhiên

Một sự kiện có thể được bảo hiểm phải là hoàn toàn ngẫu nhiên đứng trên góc độ của người được bảo

hiểm Không thể nào bảo hiểm một sự kiện chắc chắn sẽ xảy ra bởi vì nó không mang tính chất ngẫu nhiên và

do đó việc chuyển giao rủi ro sẽ không xảy ra Có một điểm nằm ngoài quy tắc này, đó là rủi ro chết Rủi ro này

chắc chắn sẽ xảy ra nhưng vẫn là rủi ro có thể được bảo hiểm Tuy nhiên thời điểm xảy ra cái chết phải là bất

ngờ

 Phải đo được, định lượng được về tài chính

Ý nghĩa của bảo hiểm chính là ở chỗ nó phát huy tác dụng như một cơ chế chuyển giao rủi ro và bù đắp về tài chính cho những rủi ro xảy ra Bảo hiểm không thể loại bỏ được rủi ro, nhưng nó có trách nhiệm bảo vệ về

mặt tài chính để đối phó với hậu quả của những tổn thất xảy ra Nếu như vậy thì rủi ro được bảo hiểm phải có

thể dẫn đến một tổn thất có thể đo được bằng các công cụ tài chính (tiền Điều đó có thể dễ thấy trong các trường hợp tổn thất tài sản Giá trị chính xác của tổn thất sẽ không thể biết được ngay từ đầu khi ký hợp đồng

bảo hiểm, nhưng sẽ xác định được sau khi tổn thất đã xảy ra

 Không trái với chuẩn mực đạo đức của xã hội

Nguyên tắc không trái với chuẩn mực đạo đức cũng được áp dụng với các hợp đồng bảo hiểm Không thể

chấp nhận các hợp đồng cố ý huỷ hoại hoặc lấy cắp tài sản của người khác Không thể chấp nhận bảo hiểm rủi

ro của một vụ phạm pháp không thành Một người có thể lái xe vào đường cấm và bị phạt Người đó đúng là có quan hệ tài chính với khoản tiền phạt và lập luận rằng tổn thất này cũng là bất ngờ đối với anh ta Tuy nhiên xã

hội không thể chấp nhận một người tránh được hình phạt bằng cách ký hợp đồng bảo hiểm

Ví dụ:

Hãng hàng không quốc gia Hà Lan KLM - thảm họa sân bay Tenerife

Ngày / / được coi là một trong những ngày đen tối nhất trong lịch sử hàng không thế giới Tại sân bay Tenerife (Tây Ban Nha), hai chiếc Boeing KLM Flight và Pan Am Flight đã lao vào nhau trên đường băng tại sân bay này trong màn sương mù dày đặc

Hậu quả là người tử nạn ngay lập tức, hai chiếc máy bay hư hại hoàn toàn và đây trở thành một trong

những tai nạn thảm khốc nhất trong lịch sử hàng không

Qua quá trình điều tra, người ta kết luận lỗi chính thuộc về cơ trưởng của chuyến bay KLM đã điều khiển máy bay cất cánh khi chưa được sự cho phép của đài kiểm soát không lưu

Giới chức Hà Lan sau đó cũng đã thừa nhận trách nhiệm của KLM trong vụ tai nạn này KLM đã bồi thường cho nạn nhân hoặc gia đình họ các khoản phí từ 58.000 - 600.000 USD (khoảng 1,2 - 12,6 tỷ VND) Toàn bộ chi phí cho hàng hóa và hư hại gây ra ước tính 110 triệu USD tương đương tỷ VND), tức là trung bình mỗi

nạn nhân được hưởng 189.000 USD (khoảng 3,96 tỷ đồng)

Trang 11

6 Nguyên tắc trung thực tuyệt đối

Đặc thù của các sản phẩm bảo hiểm, lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm đòi hỏi các bên phải có độ trung thực, tín nhiệm cao trong ký kết hợp đồng Hợp đồng chỉ có giá trị pháp lý khi việc xác lập được tiến hành trên cơ sở các thông tin trung thực của các bên Cả người được bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm đều phải trung thực trong tất cả các vấn đề Hợp đồng bảo hiểm buộc phải chấm dứt vì những hành vi gian lận, ý đồ trục lợi từ các bên trong hợp đồng bảo hiểm

Nội dung:

Người bảo hiểm phải công khai tuyên bố những điều kiện, nguyên tắc, thể lệ, giá cả bảo hiểm… cho người được bảo hiểm biết Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo

hiểm Người bảo hiểm cũng không được nhận bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đã đến nơi an toàn Người được bảo hiểm phải khai báo chính xác các chi tiết liên quan đến đối tượng bảo hiểm Họ cũng phải thông báo kịp thời những thay đổi về đối tượng bảo hiểm, về rủi ro, về những mối đe dọa nguy hiểm hay làm tăng thêm rủi ro…mà mình biết được hoặc đáng lẽ phải biết Người được bảo hiểm cũng không được mua bảo

hiểm cho đối tượng bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đó đã bị tổn thất

Ý nghĩa

 Nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên khi xảy ra sự kiện bảo hiểm bởi thông tin được cung cấp chính xác, trung thực thì khi xảy ra sự kiện bảo hiểm bên mua bảo hiểm sẽ được trả tiền bảo hiểm hoặc được

bồi thường theo quy định của pháp luật

 Bên mua bảo hiểm là bên yếu thế trong quan hệ bảo hiểm về cả địa vị cũng như hiểu biết về bảo hiểm

so với doanh nghiệp bảo hiểm Vì vậy, pháp luật quy định doanh nghiệp bảo hiểm phải trung thực tuyệt đối để tránh các doanh nghiệp bảo hiểm vì mục đích lợi nhuận mà xâm phạm quyền của bên mua

bảo hiểm

 Đảm bảo cho doanh nghiệp bảo hiểm không bị xâm phạm quyền lợi trên thực tế khi có trường hợp bên mua lợi dụng sơ hở của pháp luật để gian dối nhằm trục lợi

 Đảm bảo hạn chế tranh chấp phát sinh của các bên trong hợp đồng bảo hiểm và đảm bảo an toàn, trật

tự xã hội được đảm bảo

Ví dụ:

 Một người mua bảo hiểm thiệt hại do hoả hoạn, lụt lội, trộm cắp cho một ngôi nhà và biết rằng vùng đó thưòng có nguy cơ xảy ra bão lụt nhưng khi mua bảo hiểm lại không khai báo gì về điều đó Khi bão đến gây ra thiệt hại cho ngôi nhà, người đó cũng không được bảo hiểm bồi thường

 Khi tàu, xe đã gặp tai nạn, chủ tàu, chủ xe mới tham gia bảo hiểm để được bồi thường, bằng cách mua

bảo hiểm ghi lùi lại ngày tháng trước tai nạn, hoặc tìm cách để có hồ sơ tai nạn ghi ngày tháng xảy ra sau ngày mua bảo hiểm Trong trường hợp đó, người bảo hiểm sau khi biết người được bảo hiểm không khai báo thật, có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm hoặc không bồi thường tổn thất xảy ra

 Theo quy định chung, khi tham gia bảo hiểm, người tham gia có bổn phận khai báo đầy đủ và chính xác

tất cả các yếu tố quan trọng có liên quan, dù được yêu cầu hay không được yêu cầu khai báo.Yếu tố quan trọng cần phải khai báo trong bảo hiểm nhân thọ: tiền sử bệnh tật của người được bảo hiểm, hồ

sơ sức khoẻ của người trong gia đình…Thời gian khai báo:Thông thường, Người yêu cầu bảo hiểm

phải khai báo các yếu tố quan trọng khi có yêu cầu bảo hiểm Việc khai báo phải hoàn thành trước khi

hợp đồng bảo hiểm được ký kết Ngược lại, các công ty bảo hiểm đều phải công khai những thông tin liên quan đến phạm vi hoạt động, điều khoản và khả năng tài chính của đơn vị mình

7 Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm

Nội dung

Quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự

an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm Nguyên tắc này chỉ ra rằng người được bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm Quyền lợi có thể được bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm Người nào có quyền lợi có

thể được bảo hiểm ở một đối tượng bảo hiểm nào đó có nghĩa là quyền lợi của người đó sẽ được đảm bảo nếu đối tượng đó được an toàn, và ngược lại, quyền lợi của người đó sẽ bị phương hại nếu đối tượng bảo hiểm đó

gặp rủi ro Nói khác đi, người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người bị thiệt hại về tài chính khi đối tượng

Trang 12

bảo hiểm gặp rủi ro Người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người có một số quan hệ với đối tượng bảo

hiểm được pháp luật công nhận Đó có thể là người chủ sở hữu của đối tượng bảo hiểm đó, người chịu trách nhiệm quản lý tài sản hoặc người nhận cầm cố tài sản Quyền lợi có thể được bảo hiểm có ý nghĩa rất to lớn trong bảo hiểm, có quyền lợi có thể được bảo hiểm thì mới được ký kết hợp đồng bảo hiểm Khi xảy ra tổn thất, người được bảo hiểm đã phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm rồi mới được bồi thường Cụ thể:

Đối với bảo hiểm phi nhân thọ:

- Trong bảo hiểm tài sản, Người mua bảo hiểm có một số liên hệ với đối tượng bảo hiểm được pháp luật công nhận Mối liên hệ đầu tiên được pháp luật công nhận là: chủ sở hữu Mối liên hệ thứ hai là quyền lợi và trách nhiệm trước tài sản đó Ví dụ, một người có quyền lợi bảo hiểm đối với đồ vật người đó mượn bởi vì nếu chúng bị mất hoặc bị hư hại, người đó sẽ phải thực hiện thay thế, sửa chữa, đền tiền hay khôi phục lại

- Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự: quyền lợi bảo hiểm phải căn cứ theo quy định của luật pháp về ràng buộc trách nhiệm dân sự

Đối với bảo hiểm nhân thọ:

Theo quan điểm mới về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ, có thể hiểu một cách chung nhất: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm Trong đó, rủi ro xảy ra với người được bảo hiểm sẽ gây tổn thất, thiệt hại về tài chính hoặc tinh thần đối với bên mua bảo hiểm Theo đó có thể thấy: Mọi cá nhân đều có quyền lợi bảo hiểm không giới hạn đối với tính

mạng của chính mình, do vậy họ có thể bảo hiểm tính mạng của mình với bất cứ giá trị nào mong muốn, miễn

là có đủ tiền đóng phí bảo hiểm Quyền lợi bảo hiểm cũng tồn tại đối với cha/mẹ, vợ/chồng, con cái, anh/chị/em của người đó hoặc những người có trách nhiệm nuôi dưỡng hoặc giám hộ hợp pháp của người đó Quyền lợi có thể được bảo hiểm cũng tồn tại đối với Bên mua bảo hiểm là tổ chức trong các trường hợp: Một tổ

chức mua bảo hiểm cho người lao động đang làm việc cho tổ chức đó; các tổ chức tín dụng, ngân hàng mua bảo

hiểm cho những khách hàng vay tiền của ngân hàng, tổ chức tín dụng đó

Để đảm bảo nguyên tắc này, trước khi phát hành hợp đồng bảo hiểm, công ty bảo hiểm phải kiểm tra giữa người tham gia bảo hiểm và đối tượng bảo hiểm có tồn tại quyền lợi có thể được bảo hiểm theo nguyên tắc và theo quy định của hợp đồng bảo hiểm đó hay không

Ý nghĩa

Quyền lợi có thể được bảo hiểm có ý nghĩa rất to lớn trong bảo hiểm,có quyền lợi có thể được bảo hiểm thì

mới được ký kết hợp đồng bảo hiểm.Khi xảy ra tổnn thất,người được bảo hiểm đã phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm rồi mới được bồi thường

Nguyên tắc này chỉ ra rằng, người bảo hiểm muốn mua phải có lợi ích bảohiểm.Quyền lợi có thể được bảo

hiểm là quyền đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm.Trong bro bhieerm hàng hải,quyền này không nhất thiết phải có trong ký kết hợp đồng,nhưng nhất thiết phải có khi xảy ra tổn thất

Ví dụ

Từng có trường hợp một phụ nữ ở Phú Thọ biết chồng bị bệnh khó qua khỏi liền mua bảo hiểm của 5 công

ty bảo hiểm khác nhau, chỉ tháng sau đó, người chồng qua đời thì người vợ liền tới các công ty bảo hiểm đòi

tiền bồi thường

Trong quá khứ, ở Vũng Tàu từng có chuyện người nhà của một người bảo hiểm đã mất yêu cầu công ty bảo

hiểm xử lý bồi thường, thời gian tử vong xảy ra sau đúng tuần tham gia hợp đồng Vụ việc chỉ được làm sáng

tỏ khi nhân viên công ty bảo hiểm đến tận nghĩa trang để tìm đọc thông tin trên ngôi mộ xác minh ngày giờ mất

và phát hiện gia đình người đã mất móc nối với chính quyền địa phương đẩy lùi ngày làm giấy chứng tử, rồi

tiền hành mua bảo hiểm cho người đã chết.Thậm chí, khoảng năm trước cũng từng có vụ trục lợi bảo hiểm dưới dạng cấu kết với chính quyền xã cung cấp giấy chứng tử cho người thân bị mất tích, rồi làm đám ma, làm

mồ giả Qua đó cho thấy, trục lợi bảo hiểm diễn ra phổ biến và chỉ là 1 trong hàng nghìn vụ việc mỗi năm

Tại AIA, các nhân viên và khách hàng thường được nghe tới một trường hợp điển hình: Khách hàng P tham gia bảo hiểm Căn cứ vào các thông tin mà khách hàng cung cấp trên hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, doanh nghiệp bảo

hiểm đã chấp thuận bảo hiểm cho khách hàng này theo đúng trình tự thủ tục

Chỉ một thời gian ngắn sau khi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có hiệu lực thì khách hàng yêu cầu thanh toán quyền lợi bảo hiểm bênh hiểm nghèo – bệnh phổi mạn tính Tuy nhiên, khi doanh nghiệp bảo hiểm tìm hiểu thêm thông tin và thu thập được bằng chứng: trước khi tham gia bảo hiểm khoảng tháng, khách hàng đã

Trang 13

nhập viện với chẩn đoán viêm phổi/hở van 2 lá , trong tiền sử bệnh có ghi đã điều trị lao phổi cách đây năm Trường hợp này bị từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm

8 Nguyên tắc bồi thường

Nội dung

Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tái chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi Mục đích của nguyên tắc bồi thường là khôi phục lại một

phần hoặc toàn bộ tình trạng tài chính như trước khi xảy ra tổn thất cho người được bảo hiểm Nguyên tắc bồi thường đảm bảo người được bảo hiểm không thể nhận được số tiền chi trả nhiều hơn giá trị tổn thất mà họ gánh chịu Trách nhiệm bồi thường của công ty bảo hiểm cũng chỉ phát sinh khi có thiệt hại do rủi ro được bảo

hiểm gây ra Nguyên tắc bồi thường chỉ áp dụng cho hai loại bảo hiểm là bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự, không áp dụng cho bảo hiểm nhân thọ và các nghiệp vụ bảo hiểm con người

Một số trường hợp cần lưu ý:

- Theo nguyên tắc này, trong trường hợp người được bảo hiểm được nhận tiền bồi thường từ nhiều hợp đồng bảo hiểm khác nhau, có thể từ các công ty bảo hiểm khác nhau hoặc của cùng một công ty bảo hiểm, tổng

số tiền bồi thường của tất cả các hợp đồng bảo hiểm sẽ không vượt quá giá trị tổn thất

- Trường hợp người được bảo hiểm cũng được một bên thứ ba có trách nhiệm chi trả thiệt hại Ví dụ như

nhận tiền bồi thường từ người điều khiển ô tô đã đâm phải mình Khi đó, tổng số tiền bồi thường của bên thứ

ba và công ty bảo hiểm cũng không vượt quá giá trị tổn thất mà người được bảo hiểm phải gánh chịu Nếu người được bảo hiểm đã nhận tiền bồi thường của công ty bảo hiểm, người được bảo hiểm phải có trách nhiệm

bảo lưu và chuyển quyền đòi bồi thường người thứ ba cho công ty bảo hiểm

Ý NGHĨA:

• Bù đắp một phần chi phí,tổn thất cho người nhận được bảo hiểm

• Nói tới bảo bảo hiểm là nói tới chia sẻ lợi ích của cộng đồng vì một người(một phần nhỏ trong cộng đồng)

Ví dụ

• Năm , Anh và nhiều nước khác bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cuộc khủnghoảng tài chính Hậu

quả, nhiều công ty phá sản, đẩy tỷ lệ thất nghiệp lên mức cao Khủng hoảng cũng khiến các công ty bảo hiểm điêu đứng Họ bị buộc phải bồi thường bảo hiểm lên tới khoảng 14.000 tỷ bảng

• chuyến bay Air France 447 gặp nạn ngoài khơi Đại Tây Dương ngày -6- , tòa án Pháp đã buộc hãng hàng không phải trả 126.000 euro cho mỗi gia đình nạn nhân trên chuyến bay có 216 hành khách (và thành viên phi hành đoàn …….bù đắp tổn thất tinh thần cho gia đình nạn nhân

9 Thế quyền

Nội dung

Đây là một nguyên tắc trong bảo hiểm mà người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ 3 có trách nhiệm bồi thường cho mình

Để thực hiện nguyên tắc này, người được bảo hiểm phải cung cấp các biên bản, giấy tờ, chứng từ, thư từ,

cần thiết cho người bảo hiểm

Đôi khi người được bảo hiểm có thể được bồi thường từ một nguồn khác ngoài nguồn bồi thường từ công

ty bảo hiểm nhưng trong trường hợp đó, bất cứ số tiền nào mà người đưọc bảo hiểm thu được cũng phải đặt dưới danh nghĩa của công ty bảo hiểm đã thực hiện bồi thường

Do mối quan hệ chặt chẽ giữa thế quyền và bồi thường, một công ty bảo hiểm không được phép thu nhiều hơn số tiền họ đã bồi thường Điều này cũng có nghĩa là không chỉ người được bảo hiểm mà cả công ty bảo

hiểm đều không được phép thu lời từ việc thực hiện quyền của mình

Ý nghĩa

Nguyên tắc thế quyền chỉ được áp dụng khi nguyên nhân được xác định có người thứ 3 chịu trách nhiệm thiệt hại

Trang 14

Công ty bảo hiểm chỉ nhận tương đương số tiền đã hoặc sẽ bồi thường cho người được bồi thường, đặc

biệt là không được thu lợi cho bản thân

Ưu điểm: Giảm số lượng các vụ kiện ( vì người được bảo hiểm đã được bồi thường và giảm mong muốn đi

kiện) explain help gà

Nhược điểm: Khi người thứ 3 không có khả năng trả , người bảo hiểm hoặc công ty bảo hiểm sẽ chịu lỗ

Người được bảo hiểm chỉ được đòi bồi thường trong giới hạn quyền lợi của của người được bảo hiểm Nguyên tắc này chỉ vận dụng trong bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Ví dụ

Ô tô du lịch 4 chỗ được bảo hiểm đúng giá trị, bị xe tải đâm va gây thiệt hại phải sửa chữa, thay thế như trước lúc xảy ra tai nạn và được công ty bảo hiểm bồi thường với số tiền bảo hiểm đồng Lỗi cảnh sát giao thông xác định xe tải 70%, xe con 30% Ở đây, công ty bảo hiểm đã hoàn thành cam kết của mình với người được bảo hiểm là bồi thường đúng giá trị tổn thất Sau khi đã nhận đủ tiền bồi thường, người được bảo

hiểm phải bảo lưu quyền đòi lại phần trách nhiệm của bên thứ ba (ở ví dụ trên là phía xe tải) cho công ty bảo

hiểm

Vụ cháy một tòa nhà văn phòng đã làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của HĐBH TNDS của chủ sử dụng lao động (doanh nghiệp X đối với người lao động (một số nhân viên của doanh nghiệp X bị thương trong vụ cháy) Xác định được lỗi của vụ cháy thuộc về một chủ xưởng hàn Trong trường hợp này sau khi bồi thường cho doanh nghiệp X theo thỏa thuận của HĐBH trách nhiệm dân sự của chủ sử dụng lao động, DNBH sẽ thế quyền doanh nghiệp X để đòi chủ xưởng hàn một phần hoặc toàn bộ số tiền mà chủ xưởng hàn phải bồi thường theo quy định về trách nhiệm dân sự của pháp luật

với các đặc trưng thống kê của quần thể

Chỉ áp dụng được quy luật số lớn khi:

Số lượng lớn các rủi ro và tổn thất tương tự: Việc quan sát phải tiến hành trên một số lượng lớn, đồng thời phải trên cơ sở phân nhóm rủi ro, phân nhóm đối tượng bảo hiểm theo những tiêu thức thích hợp Ví

dụ: để tính toán thiệt hại về thương tật thân thể con người do tai nạn, người ta quan sát trên một số lượng lớn các vụ tai nạn xảy ra, gây thiệt hại cho sức khoẻ con người và trong một khoảng thời gian thường là một năm

Các rủi ro tổn thất phải độc lập: Việc xảy ra hay không xảy ra của một biến cố không làm thay đổi

khả năng xảy ra của biến cố khác

Ý nghĩa

Quy luật này giúp các Công ty bảo hiểm ước tính xác suất rủi ro nhận bảo hiểm, nhằm giúp tính phí và

quản lý các quỹ dự phòng chi trả, bởi: Công ty bảo hiểm chỉ bảo đảm cho các sự cố ngẫu nhiên, nếu tính riêng

từng trường hợp đơn lẻ, việc bảo hiểm có thể giống như một trò chơi may rủi; Song tính trên một số lớn đối tượng được bảo hiểm, Công ty bảo hiểm có thể dự đoán được về khả năng xảy ra sự cố ở mức độ tương đối chính xác có thể chấp nhận được

Ví dụ

A và B đều có thể bị tai nạn trong năm với xác suất là %, tương ứng thiệt hại là 5 triệu đồng mỗi người Như vậy,

Tổn thất kì vọng mỗi người là:

Trang 15

Như vậy, việc tham gia vào quỹ và chia sẻ đã làm thay đổi tổn thất mà mỗi người gánh chịu

Tổn thất kì vọng mỗi người vẫn là 1 triệu đồng:

64% x 0 + 2x16%x2.5+4%x5 = 1 (triệu đồng)

Độ lệch chuẩn tổn thất của mỗi người là:

=√ % -1)^2+2x16%(2.5-1)^2+4%ࠟ(5-1)ࠠ^2 )=1.414< 2

Càng nhiều người tham gia vào quỹ này thì độ lệch chuẩn tổn thất của mỗi người sẽ càng tiến về như vậy

tổn thất trung bình của mỗi người sẽ càng tiến đến giá trị tổn thất kì vọng là 1 triệu đồng

Kết luận: Việc tham gia vào quỹ bảo hiểm sẽ:

Tính bấp bênh trong dự báo tổn thất của mỗi thành viên không còn lớn nữa

Thông qua Quỹ, mỗi thành viên không chỉ chia sẻ tổn thất với nhau mà rủi rui (tổn thất) của từng thành viên cũng giảm đi

Trang 16

CHƯƠNG : TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM HÀNG KHÔNG

1 Bảo hiểm hàng không là gì? Vì sao trong ngành hàng không lại cần bảo hiểm?

Bảo hiểm hàng không là biện pháp chia sẻ bớt rủi ro, tổn thất cho người chuyên chở/nhà vận chuyển hành khách/ hành lý và hàng hóa bằng đường hàng không

Trong những năm gần đây, các sự cố tàu bay xảy ra nhiều ở mọi nơi, những sự cố, rủi ro, thiệt hại, tổn thất nghiêm trọng liên tục xảy ra, khiến nhiều nhà điều hành của các nhà vận chuyển, nhà chuyên chở phải cùng

ngồi lại, bàn bạc về những phương pháp bảo hiểm tốt hơn cho từng loại dịch vụ của họ, ở Việt Nam hiện nay có các công ty bảo hiểm cung ứng dịch vụ bảo hiểm hàng không như:

o Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt

o Tổng công ty bảo hiểm dầu khí PVI

o Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện PTI

o Tổng công ty bảo hiểm Toàn cầu GIC

o Tổng công ty bảo hiểm BIDV

o Tổng công ty bảo hiểm quân đội

Đối tượng bảo hiểm trong bảo hiểm hàng không bao gồm cả tài sản và sinh mạng của con người và cung

cấp bảo hiểm cho các hãng hàng không, hãng sản xuất tàu bay, các sân bay, đơn vị cung ứng xăng dầu, đơn vị cung cấp các sản phẩm dùng trong ngành hàng không, bảo hiểm vệ tinh… và có các loại hình bảo hiểm đặc thù

áp dụng cho mỗi đơn vị mua bảo hiểm như trên

Đặc điểm ưu việt của ngành hàng không là tốc độ và an toàn, tuy nhiên khi xảy ra tai nạn hàng không thì

kết quả lại vô cùng khốc liệt thiệt hại về tài sản và con người là vô cùng lớn, vẫn thường xảy ra mà con người không thể tiên liệu được đền bù cho những tổn thất này thuộc về trách nhiệm của nhà vận chuyển để đảm bảo cho hãng hàng không được bình thường khi rủi ro xảy ra và bù đắp phần nào cho hành khách gặp nạn, người chuyên chở/hãng vận chuyển bắt buộc phải mua bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại với bên thứ , đối

với tính mạng, sức khỏe của hành khách, cũng như việc mất mát, thiếu hụt, hư hỏng hàng hóa, hành lý của hành khách hoặc thực hiện các biện pháp bảo đảm khác đến mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển quy định Bảo hiểm bắt buộc này bảo vệ quyền lợi cho cả người vận chuyển hàng không và hành khách cũng như các bên liên quan khác

Tổng lượng đền bù tổn thất rất là lớn, chính vì vậy để chia sẻ bớt rủi ro cũng như tổn thất cho hoạt động hàng không, hoạt động bảo hiểm hàng không là rất cần thiết, điều đó xuất phát từ những nguyên nhân sau:

o Giá trị bảo hiểm của các đối tuộng trong ngành hàng không là rất lớn

o Đảm bảo an toàn xã hội

o Đảm bảo ổn định kinh doanh của hãng hàng không

2 Các đối tượng chính của Bảo hiểm hàng không

Đối tượng của ngành hàng không là tàu bay; cơ sở hạ tầng và trang thiết bị hàng không; hành khách, hàng hóa; nhân viên tổ bay

 Tàu bay: từ loại tàu bay có động cơ, chỉ chở tối đa hành khách với những cự li ngắn đã thay thế

bằng các loại tàu bay bốn động cơ, tùa bay phản lực và các loại tàu bay phản lực khổng lồ với tốc độ siêu âm chuyên chở hàng trăm khách Chẳng hạn như tàu bay B hay A Giá tàu bay cũng tăng lên không ngừng, các hãng hàng không cần một lượng vốn rất lớn để đầu tư mua, thuê tàu bay

 Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị: đường cất hạ cánh, đường lăn, sân đỗ, thiết bị phục vụ cất hạ cánh, thiết

bị đảm bảo an toàn của sân bay, hệ thống điều hành chỉ huy bay, hệ thống cung cấp nhiên liệu cho tàu bay, hệ thống kho tàng cung cấp phụ tùng cho tàu bay… những cơ sở hạ tầng và các trang thiết bị này

cần đầu tư một lượng tiền rất lớn

 Hành khách: mức bồi thường cho hành khách phụ thuộc vào nhiều yếu tố: quy định trong hệ thống

luật có liên quan, nhân thân, quốc tịch hành khách, mức độ lỗi của hãng hàng không,… hệ thống pháp

luật quy định các mức giới hạn bồi thường càng ngày càng tăng thể hiện chi phí bồi thường càng ngày càng tăng thể hiện chi phí bồi thường hành khách ngày càng lớn của các hãng

Do giá trị bảo hiểm của các đối tuông trong ngành hàng không lớn như vậy, năng lực tài chính của một công ty bảo hiểm duy nhất khó có thể đủ để thanh toán, bồi thường trong trường hợp xảy ra tổn thất vì lý do

Trang 17

này, các công ty kinh doanh bảo hiểm hàng không thường phải sử dụng đến biện pháp tái bảo hiệm để tăng năng lực nhận bảo hiểm của mình và đảm bảo khả năng thanh toán trong trường hợp xày ra sự cố lớn

3 Những quy định để tiết chế bảo hiểm hàng không

Các quy định của Việt Nam

 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 đc bổ sung chỉnh sửa năm có những quy định chung về quản lý nhà nước trong kinh doanh bảo hiểm tóm tắt những nội dung chính các quy định như sau:

 Luật kinh doanh bảo hiểm, pháp luật có liên quan, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế

Tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm trên lãnh thổ CHXHCNVN phải tuân thủ những quy định của

luật này và các quy định khách của pháp luật có liên quan Trong trường hợp điều ước quốc tế mà CHXHCNVN

ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của luật này thì áp dụng điều ước quốc tế đó Các bên tham gia bảo hiểm có thể thỏa thuận áp dụng tập quán quốc tế, nếu tập quán đó không trái với pháp luật Việt Nam

 Các loại nghiệp vụ bảo hiểm

Bảo hiểm nhân thọ

Bảo hiểm phi nhân thọ

Bảo hiểm sức khỏe

Các nghiệp vụ bảo hiểm khác do chính phủ quy định

Bột tài chính quy định danh mục sản phẩm bảo hiểm

 Cơ quan quản lý nhà nước

Chính ph ủ thống nhất quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm

B ộ tài chính chịu trách nhiệm trước chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm Các b ộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách

nhiệm quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật

Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi quyền hạn và nhiệm vụ của mình thực hiện QLNN về kinh doanh

bảo hiểm tại địa phương theo quy định của pháp luật

 Luật hàng không dân dụng Việt Nam (2006)

Chương VII luật HKDDVN quy định trách nhiệm dân sự của người vận chuyển với các nội dung về:

 Quyền và trách nhiệm dân sự của người vận chuyển

 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người thứ ba ở mặt đất

 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi tàu bay va chạm hoặc gây cản trở lẫn nhau

Các quy định quốc tế về trách nhiệm của nhà vận chuyển trong hoạt động hàng không

Tính chất quốc tế của ngành vận chuyển hàng không ->xây dựng 1 hệ thống các quy tắc thống nhất cho

việc vận chuyển hk quốc tế

Thuyết chủ quyền quốc gia được ghi nhận vào công ước Paris về việc quy định giao thông hàng không (13/10/1919) sau Thế chiến I

Thế chiến II sắp kết thúc, sự phát triển của ngành hàng không dân dụng quốc tế có thể giúp cho việc gìn

giữ tình hữu nghị và giao lưu giữa các quốc gia, song việc lạm dụng có thể trở thành mối đe dọa an ninh chung, công ước Chicago 1944 về ngành HKDD ra đời hệ thống công ước Warsaw ra đời bao gồm các điều ước quốc

tế bổ sung cho nhau trên cơ sở cái sau bổ sung cho cái trước trên nền tảng công ước Warsaw Đưa ra các quy tắc, quy định thống nhất mang tính chất quốc tế về quyền hạn và trách nhiệm của các bên trong việc khai thác vận chuyển hành khách, hành lý và hàng hóa bằng đường hàng không

 Công ước Warsaw 1929

 Công ước Rome 1952

Trang 18

 Nghị định thư Hangue năm

 Thỏa ước Montreal năm

 Nghị định thư Guatemala năm

 Các nghị định thư Montreal năm

 Công ước Montreal 1999

Trang 19

CHƯƠNG : CÁC LOẠI BẢO HIỂM CỦA NHÀ VC HK

1 Bảo hiểm thân tàu bay

 Đối tượng bảo hiểm

Người sở hữu/điều hành tàu bay mua bảo hiểm thân tàu bay là để bồi thường tổn thất hoặc thiệt hại đối

với thân tàu bay do tai nạn bất ngờ gây nên

Tùy vào yêu cầu của người tham gia bảo hiểm, các nhà bảo hiểm cam kết bồi thường, thay thế hay sửa

chữa tổn thất hoặc thiệt hại do các rủi ro được bảo hiểm gây nên cho tàu bay của khi nó đang bay, lăn/đỗ trên

mặt đất (sở dĩ có sự tách biệt theo các pha hoạt động là do có một số những loại trừ bảo hiểm và mức miễn thường được áp dụng khi tàu bay đang bay, đang chạy/ đậu trên mặt đất là khác nhau)

 Giá trị và miễn thường bảo hiểm

Giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế của chiếc tàu bay tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo hiểm người mua bảo

hiểm tự quyết định giá mua bảo hiểm thân tàu bay với giá trị bao nhiêu căn cứ vào nhiều yếu tố (giá trị trước/sau khấu hao, giá trị để đủ chi phí mua 1 chiếc tb mới, giá tàu mua mới cộng thêm %,… công ty bảo

hiểm xét bồi thường theo giá trị được mua bảo hiểm

Người bảo hiểm có quyền lựa chọn chi trả hoặc thay thế tàu bay trong trường hợp tổn thất và quyền lựa

chọn này được thể hiện trong đơn bảo hiểm trên cơ sở này nếu tàu bay bị tổn thất toàn bộ thực tế hoặc tổn

thất toàn bộ ước tính, người bảo hiểm có quyền thanh toán số tiền được bảo hiểm nêu trong đơn bảo hiểm

hoặc cung cấp cho người được bảo hiểm một tàu bay thay thế miễn là tau bay thay thế có thể được mua với số

tiền không vượt quá giá trị được bảo hiểm trong một số trường hợp do việc s73 dụng tàu bay mới nên chi phí

để sửa chữa các bộ phận bị hư hại của tàu cũ có thể cao hơn nhiều do việc khó tìm bộ phận thay thế

Thuật ngữ miễn thường trong bảo hiểm có nghịa là người được bảo hiểm phải tự chịu số tiền tổn thất đầu tiên hoặc một phần của khiếu nại bồi thường hiện nay mức miễn thường của tàu bay thân rộng là 1.000.000$ cho một tai nạn, tàu bay thân hẹp là 500.000$ cho một tai nạn

 Phí bảo hiểm

Phương pháp tính phí:

Đối với bảo hiểm thân (loại hình bảo hiểm tài sản) từ trước đến nay cách tính là % giá trị tài sản, được xác định bằng tỷ lệ phần trăm của giá trị được bảo hiểm của động cơ và tỷ lệ phó tahy đổi theo tuyến đường bay, kinh nghiệm trong quá khứ

Hoạt động trong môi trường cạnh tranh nên các công ty bảo hiểm thường áp dụng các điều khoản ưu đãi,

biện pháp giảm phí để thu hút và giữ khách hàng

Người được bảo hiểm có thể được giảm phí thông qua việc dc hoàn lại 1 phần phí bảo hiểm đã

đóng nếu họ không có khiếu nại trong thời hạn của bảo hiểm

 Hoàn phí kinh nghiệm tốt: một hình thức giảm phí khác, mức hoàn phí cố định X sẽ được thực

hiện nếu tổng khiếu nại theo một đơn nhỏ hơn Y % của phí bảo hiểm thường Y=50%)

 Giảm phí đôi khi lại dưới dạng không khiếu nại: tức là thưởng khi không có khiếu nại trong thời gian bảo hiểm

 Hoa hồng lợi nhuận: tính trên cơ sở dư giữa phí bảo hiểm và số tiền khiếu nại

2 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với hàng hóa, hành khách và bên thứ 3

 Đối tượng và phạm vi của bảo hiểm trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển

Loại hình bảo hiểm trách nhiệm pháp lý=> người được bảo hiểm teho hdbh là người vận chuyển người có trách nhiệm đóng phí bh cho ctbh

Đối tượng được bảo hiểm chính là trách nhiệm pháp lý theo luật định của người dc bh, có thể là:

 Trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển đối với hành khách, hành lý và hàng hóa

 Trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển đối với bên thứ ba

Hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp này là hợp đồng bảo hiểm giới hạn mức trách nhiệm

Phạm vi bảo hiểm:

Trang 20

Thiệt hại trong tai nạn hàng không:

 Thiệt hại về vật chất tàu bay

 Thiệt hại về hành lý, hàng hóa

 Thương tổn cho hành khách được vận chuyển và người thứ 3 trên mặt đất

Bảo hiểm trách nhiệm của người vận chuyển đối với hành khách, hành lý, hàng hóa

Người bảo hiểm thay mặt nhà vận chuyển ng đc bh thanh toán số tiền mà nhà vc có trách nhiệm bồi thường thiệt hai khi:

 Thương tật về con người (chết hoặc bị thương khi đang ở trong tb hoặc lên xuống tb)

 Mất hoặc hư hỏng hành lý kí gửi, hàng hóa trong quá trình vc, bảo quản theo phiếu hành lý hoặc không

vận đơn

 Mất hoặc hư hỏng tư trang, hành lý xách tay do hành khách tự bảo quản trong quá trình vc (trong trường hợp tàu bay bị tổn thất toàn bộ)

Ngoài ra

 Án phí và chi phí khác như thỏa thuận

 Chỉ bồ thường đến mức giới hạn trách nhiệm đã quy định trong hdbh sau khi trừ mức miễn thường Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm với:

 Tổn thất về người và tài sản hoặc đối tác kinh doanh của người được bảo hiểm

 Nhân viên của người dcbh khi đối tượng này đang thực hiện nhiệm vụ

 Trách nhiệm phát sinh từ việc hoạt động tổ chức du lịch, khách sạn, nơi giải trí, các hoạt động phạm pháp và phạm tội

 Tổn thất về người và tài sản của nhân viên tổ lái khi họ đang làm nhiệm vụ

Bảo hiểm trách nhiệm của người vận chuyển đối với bên thứ 3

Trong phạm vi bảo hiểm về trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển đối với người thứ 3, bảo hiểm sẽ

bồi thường các thiệt hại về trách nhiệm pháp lý phát sinh do:

 Thương tật về con người (chết hoặc bị thương của ng thứ 3

 Hư hỏng, thiệt hại tài sản của ng thứ 3 do tàu bay hoặc bất kỳ một người hoặc một vật thể nào từ tàu bay rơi xuống gây ra

Ngoài ra

 Án phí dân sự và các chi phí khác đã được thỏa thuận

Trách nhiệm bồi thường của người bh sẽ không phát sinh trong các trường hợp sau:

 Tổn thất về người và tài sản xảy ra đói vs người đc bảo hiểm hoặc bên cùng tham gia kinh doanh vs ng

dc bảo hiểm khi người này đang làm nhiệm vụ của họ đối vs ng dc bảo hiểm

 Tổn thất về ng và tài sản xảy ra đối với hành khách khi họ đang ở trong tàu bay hoặc đang lên xuống tàu bay

 Tổn thất về người và tài sản thuộc quyền quản lý và sở hữu của người dc bảo hiểm

Ngoài ra người bảo hiểm cũng không có trách nhiệm bồi thường với các khiếu nại phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp do:

 Chiến tranh, không tặc

 Tiếng ồn, ô nhiêm

 Rủi ro hạt nhân

 Các rủi ro tương tự

 Mức giới hạn trách nhiệm bảo hiểm:

Căn cứ vào giới hạn trách nhiệm theo các công ước quốc tế mà các nước tham gia ký kết công ước phải

thực hiện, theo hợp đồng thương mại giữa hãng hàng không và các đối tác như hd thuê mua tàu bay, hd khia thác thương mại giữa các hãng hàng không) và các yêu cầu của nhà chức trách địa phương mà hãng hàng không đó đang khai thác

Tuy nhiên công ty bảo hiểm thường giới hạn mức trách nhiệm tối đa của mình trong từng đơn bảo hiểm cụ

thể

Trang 21

Ngoài các mức giới hạn trách nhiệm, ng bh còn quy định mức giới hạn tổng cộng cho một vụ sự cố các mức

giới hạn tổng cộng này có thể khác nhau đối với mỗi loại tàu bay

 Thời hạn bảo hiểm

Thường rất ngắn tuy nhiên hiện nay do sự biến động của thị trường hàng không cũng như thị trường bảo

hiểm hàng không, các hợp đồng bảo hiểm thường có thời hạn năm

3 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với tổ bay

Nhân viên tổ bay bao gồm: (được ng khai thác bay chỉ định để thực hiện nhiệm vụ trong chuyến bay)

 Tổ lái

 Tiếp viên hàng không

 Các nhân viên hàng không khác theo yêu cầu thực hiện chuyến bay

 Có nghĩa vụ tuân thủ mệnh lệnh của ng chỉ huy tàu bay và không dc rời tàu bay khi chưa có lệnh của người chỉ huy tb

Là loại bảo hiểm tay nạn tự nguyện đối với đối tượng là nhân viên tổ bay

Thường được kí kết trực tiếp giữa người dc bảo hiểm vs công ty bảo hiểm hoặc ký kết thông qua cơ quan

chủ qau3n hoặc cơ quan vận chuyển trong đó thỏa thuận số tiền bảo hiểm

Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường cho người dc bảo hiểm toàn bộ số tiền bảo hiểm trong trường hợp chết và

bồi thường theo tỷ lệ thương tật và các chi phí khác trong trường hợp bị thương

BẢO HIỂM TAI NẠN NHÂN VIÊN TỔ LÁI

1 Khái niệm về Bảo hiểm tai nạn nhân viên tổ lái

Bảo hiểm tai nạn nhân viên tổ lái là bảo hiểm tai nạn đối với hành khách hoặc nhân viên tổ bay Đây là bảo

hiểm tự nguyện, ký trực tiếp giữa người được bảo hiểm được công ty bảo hiểm hoặc ký thông qua cơ quan chủ

quản hoặc cơ quan vận chuyển có thỏa thuận số tiền bảo hiểm Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường toàn bộ số tiền

bảo hiểm trong trường hợp chết và theo tỉ lệ thương tật cùng các chi phí khác trong trường hợp bị thương

2 Ví dụ về Bảo hiểm tai nạn nhân viên tổ lái

Ngày 28/10, một hãng bảo hiểm của Việt Nam đã hoàn tất các thủ tục giải quyết bồi thường bảo hiểm tổn

thất toàn bộ thân máy bay cho máy bay trực thăng EC T số đăng ký VN-8632 bị tai nạn trong quá trình bay tập tại Vũng Tàu vào ngày / / vừa qua, với số tiền bồi thường 3,5 triệu đô la Mỹ

Máy bay trực thăng của Trung tâm Huấn luyện bay (Công ty Trực thăng Miền Nam) thuộc Tổng công ty

trực thăng Việt Nam (VNH) bị rơi tại núi Dinh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sau khoảng 15 phút bay huấn luyện Tại

thời điểm xảy ra sự cố, trên máy bay có 3 phi công gồm 1 phi công giáo viên và 2 học viên.Ngày 19/10/2016, xác chiếc máy bay bị rơi và phi công hy sinh đã được tìm thấy Máy bay gặp sự cố là loại máy bay EC 130T2

sản xuất tại Pháp năm , được sử dụng cho nhiều mục đích như huấn luyện, chở khách du lịch, tham quan

từ trên cao, bay thám sát địa bàn, khảo sát các chương trình kinh tế, tìm kiếm cứu nạn với tầm bay xa nhất 606

km

Bảo hiểm PVI là nhà bảo hiểm gốc cho toàn bộ đội bay của VNH từ năm bao gồm các loại hình bảo

hiểm thân máy bay, trách nhiệm đối với người ngồi trên máy bay và phi hành đoàn Trong ngày xảy ra tổn thất, hãng bảo hiểm này đã thành lập Tổ giải quyết sự cố khẩn cấp có mặt tại Vũng Tàu phối hợp với Công ty Trực thăng Miền Nam và các cơ quan chức năng tham gia công tác tìm kiếm cứu nạn, giám định sự cố cũng như tư

vấn cho khách hàng các vấn đề liên quan đến bảo hiểm Hãng đã tiến hành tạm ứng hỗ trợ cho VNH số tiền 500 triệu đồng/gia đình phi công hy sinh

B ẢO HIỂM RỦI RO CHIẾN TRANH

1 Khái niệm về Bảo hiểm rủi ro chiến tranh – War Risk Insurance

Bảo hiểm rủi ro chiến tranh là một loại hình bảo hiểm khi xảy ra các thiệt hại nguyên nhân từ chiến tranh

Bảo hiểm rủi ro chiến tranh thường được sử dụng trong ngành công nghiệp vận tải và hàng không

Trang 22

Mức phí bảo hiểm thay đổi dựa trên sự ổn định mong đợi của các quốc gia mà máy bay đi qua trong hành trình

2 Đối tượng bảo hiểm:

Bảo hiểm rủi ro chiến tranh có hai thành phần:

- Rủi ro hàng hoá và con người, bao gồm mọi người và vật dụng bên trong;

- Rủi ro Thân tàu, bao gồm các thành phần và chi tiết cấu tạo nên thân tàu

Giá trị bảo hiểm được xác định dựa trên giá trị ước tính cho mỗi thành phần được bên thứ Ba thẩm định và đánh giá

3 Phạm vi bảo hiểm

Bảo hiểm rủi ro chiến tranh bảo hiểm cho các tổn thất và thiệt hại xảy ra cho đối tượng bảo hiểm gây ra

bởi:

• Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, nổi loạn khởi nghĩa hoặc xung đột dân sự phát sinh từ những

biến cố đó, hoặc, bất kỳ hành động thù địch nào gây ra bởi hoặc chống lại một thế lực tham chiến

• Chiếm, bắt giữ, kiềm chế hay cầm giữ và hậu quả của những việc đó hoặc bất kỳ mưu toan nào vì thế

mà có

• Mìn, thuỷ lôi, bom trôi dạt hoặc những vũ khí chiến tranh trôi dạt khác

• Một số chính sách tại các quốc gia cũng bao gồm thiệt hại do vũ khí gây hủy diệt hàng loạt

4 Thực tiễn về Bảo hiểm rủi ro chiến tranh

Vụ tai nạn máy bay mang số hiệu MH17 – Malaysia Airlines

Ngày 17/7/2014, máy bay mang số hiệu MH17 của hãng hàng không Malaysia Airlines bị tên lửa đất đối không bắn rơi khi đang trên hành trình từ Amsterdam tới Kuala Lumpur

Tất cả hành khách và thành viên phi hành đoàn trên máy bay đều thiệt mạng Việc xác định trách nhiệm pháp lý rất căng thẳng và có thể kéo dài, nhưng Căn cứ vào thỏa thuận về hàng không quốc tế thuộc Công ước Montreal, Malaysia Airlines phải có trách nhiệm chi trả những khoản tiền bồi thường ban đầu cho gia đình các nạn nhân, cho dù tai nạn có thuộc lỗi của họ hay không Mức chi trả tối đa khoảng 170.000 USD/hành khách

B ẢO HIỂM RỦI RO BẮT CÓC VÀ CHIẾM ĐOẠT

1 Khái niệm về Bảo hiểm rủi ro bắt cóc và chiếm đoạt

Cũng như rủi ro chiến tranh ,rủi ro bắt cóc và chiếm đoạt máy bay cũng bị loại trừ ra khỏi hợp đồng bảo

hiểm thông thường và được bảo hiểm riêng với điều kiện đặc biệt Hợp đồng này chỉ hiệu lực trong một khoảng thời gian nhất định có thể khẳng định rằng : máy bay sẽ không được hoàn trả cho người được bảo

hiểm

Ví dụ : Bảo hiểm trong trường hợp Không tặc với công ty BH PVI

Trong trường hợp người được bảo hiểm, trong suốt chuyến đi và đang trên máy bay, là nạn nhân của một

vụ không tặc, và vụ không tặc này diễn ra trong khoảng thời gian là số giờ liên tục được quy định tại Bảng tóm

tắt quyền lợi bảo hiểm, Bảo hiểm PVI sẽ thanh toán cho người được bảo hiểm một khoản tiền cho mỗi khoảng

thời gian là số giờ liên tục được nêu trên và lên đến hạn mức tối đa quy định tại Bảng tóm tắt quyền lợi bảo

hiểm

2 Đối tượng của bảo hiểm rủi ro bắt cóc chiếm đoạt

Người bảo hiểm : Công ty bảo hiểm

Người được bảo hiểm : Hãng HàngKhông

Đối tượng bảo hiểm : những tổn thất do bắt cóc , cưỡng đoạt ,khống chế,…

3 Ví dụ của Bảo hiểm rủi ro bắt cóc chiếm đoạt

Trang 23

Từng có giả thiết cho rằng sự mất tích của máy bay MH370 của hãng hàng không Malaysia Airlines là do bị

bắt cóc

Hình ảnh đường bay trước khi mất tích của MH370

Trong trường hợp đó ,công ty bảo hiểm sẽ tiêu tốn một số tiền không nhỏ để bồi thường Chi phí bồi thường trung bình là 2,13 triệu USD cho mỗi hành khách Do hầu hết cách hành khách người TQ trên máy bay

có mua bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm nhân thọ Cả Malaysia và Trung Quốc có nhiều công dân nhất trên chuyến bay đều là những nước đã kí hiệp định về thống nhất các luật lệ cho việc vận tải quốc tế bằng hàng không

CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM KHÁC

1 Bảo hiểm mất khả năng sử dụng

Công ty Bảo hiểm sẽ bồi thường cho Hãng Hàng Không một khoản thu nhập bị mất thường là 1 phần nhỏ khoản thu nhập bị mất) do máy bay bị tai nạn bất ngờ phải dừng hoạt động để sửa chữa Loại bảo hiểm này chỉ

áp dụng với trường hợp máy bay bị tổn thất bộ phận Bảo hiểm chỉ có hiệu lực trong một khoảng thời gian nhất định (10-15 tuần) Công ty bảo hiểm sẽ thanh toán mọi chi phí liên quan đến việc bảo dưỡng máy bay trừ

những khoản buộc phải chi trong mọi trường hợp Theo nguyên tắc bảo hiểm này, số tiền bảo hiểm có thể gần

đủ để thuê một tàu bay khác trong ngắn hạn

Ví dụ: Ngày 1-10-2017, chuyến bay AF066 của Air France đi từ Paris, Pháp đến Los Angeles, Mỹ đã phải chuyển hướng, hạ cánh xuống sân bay Goose Bay, Canada sau khi " trong động cơ bị hư hỏng nghiêm trọng" Hàng trăm hành khách trên máy bay Airbus A vô cùng hoảng sợ khi động cơ của nó "tróc vỏ", phát ra âm thanh lớn và rung lắc Nguyên nhân chính của sự cố hiện chưa được tiết lộ Theo trang airfleets.net, chiếc A380

của Air France vận hành đã được năm; các động cơ của nó được sản xuất bởi Engine Alliance - một liên doanh của General Electric Corp và bộ phận Pratt & Whitney của United Technologies Corp Air France hiện đang vận hành đội bay 10 chiếc A380 - máy bay chở khách lớn nhất thế giới do Airbus sản xuất

Sự cố liên quan tới chiếc A380 của Air France đã nhắc lại một sự kiện tương tự khác xảy ra cách đây năm

Một chiếc A380 của hãng Qantas khi đó đã bị hư động cơ nghiêm trọng sau khi cất cánh từ Singapore Sau sự

cố, phía Qantas đã phải ngừng bay toàn bộ 6 chiếc A đang có vào thời điểm đó trong vòng tuần Được

biết, chiếc Airbus A380 nêu trên sử dụng động cơ GP do hãng Engine Alliance sản xuất Theo Engine Alliance, động cơ GP "được sản xuất nhằm mang lại độ tin cậy cao hơn với chi phí bảo trì ít tốn kém hơn

2 Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm

Hợp đồng này thường được ký với các nhà sản xuất máy bay ( chẳng hạn như nhà sản xuất máy bay Boeing

hoặc Airbus để bảo vệ cho những rủi ro do lỗi của người được bảo hiểm trong quá trình thiết kế, sửa chữa, thay thế phụ tùng sản xuất gây ra Vậy công ty bảo hiểm có trách nhiệm phải trả do hậu quả của lỗi tay nghề

hoặc lỗi của nhà sản xuất gây ra: Chết hoặc bị thương đối với hành khách, thiệt hại về người và tài sản đối với người/bên thứ ba và mất khả năng sử dụng máy Ví dụ: Chiếc máy bay Boeing 777 của hãng hàng không Asiana Airlines (Hàn Quốc) gặp tai nạn khi hạ cánh tại sân bay San Francisco (Hoa Kỳ) vừa qua được bảo hiểm trị giá 2,3 tỷ USD Tin tức cập nhật cho biết đến nay đã có hành khách bị chết và hơn người bị thương Theo hãng tin Bloomberg, AIG là nhà bảo hiểm chính trong vụ tai nạn nói trên Cụ thể hơn, tạp chí Canadian Underwriter cho biết 10 hãng bảo hiểm của Hàn Quốc đồng bảo hiểm 4% giá trị hợp đồng, phần trách nhiệm

bảo hiểm còn lại thuộc về 30 công ty bảo hiểm nước ngoài Đồng thời, một nguồn tin giấu tên tiết lộ với Bloomberg rằng Willis là nhà môi giới chính trong giao dịch bảo hiểm này Mặc dù vậy, AIG từ chối bình luận

do các quy định trong chính sách khách hàng của hãng còn Willis chưa đưa ra nhận xét gì Đại diện của một công ty bảo hiểm Hàn Quốc cho biết giá trị bảo hiểm nói trên (2,3 tỷ USD) là mức bồi thường tối đa căn cứ vào các điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm, tuy nhiên sẽ cần tới vài tháng để có thể tính toán chính xác số tiền

bồi thường

3 Bảo hiểm rủi ro vỏ tàu trong khi chuyển động

Bảo hiểm này tương tự như bảo hiểm rủi ro thân tàu tại mặt đất khi không chuyển động, nhưng cung cấp

phạm vi bảo hiểm trong khi máy bay đang lăn bánh, nhưng không phải trong khi cất cánh hoặc hạ cánh Thông thường, phạm vi bảo hiểm sẽ dừng lại ở đầu cuộn cất cánh và chỉ có hiệu lực khi máy bay đã hoàn thành hạ cánh tiếp theo Do tranh chấp giữa các chủ sở hữu máy bay và các công ty bảo hiểm về việc liệu máy bay tai

nạn đang bay hoặc cố gắng cất cánh, loại bảo hiểm này đã bị ngắt bởi nhiều công ty bảo hiểm

Trang 24

CHƯƠNG 4: TÁI BẢO HIỂM HÀNG KHÔNG

1 Tái bảo hiểm là gì? Tầm quan trọng của tái bảo hiểm đối với công ty bảo hiểm và với người chuyên chở/nhà vận chuyển 97

Tái bào hiểm là sự bảo hiểm cho những rủi ro mà công ty bảo hiểm này gánh chịu cho công ty bảo hiểm khác, là một phương thức mà trong đó các công ty bảo hiểm (cty bảo hiểm gốc) chuyển một hoặc nhiều phần

rủi ro cho một hoặc nhiều công ty bảo hiểm khác (cty bảo hiểm nhận tái bảo hiểm)

Tái bảo hiểm hay nói cách khác chính là sự phân tán rủi ro và giảm trách nhiệm bồi thường của các cty bảo

hiểm gốc trong trường hợp có tổn thất xảy ra trong quá trình hoạt động gây ra, đảm bảo số tiền bồi thường không vượt quá khả năng tài chính cảu công ty bảo hiểm chính vì thế ta nói tái bảo hiểm là bảo hiểm lại cho nhà bảo hiểm, nhận tái bảo hiểm là nhận lại một phần hoặc toàn bộ trách nhiệm mà doanh nghiệp bảo hiểm khác đã nhận bảo hiểm

Mỗi công ty bảo hiểm khi thành lập đều có một số vốn nhất định, do vậy khả năng nhận bảo hiểm cho một

rủi ro nào đó hoàn toàn bị giới hạn trong số vốn của công ty Nhưng trong quá trình hoạt động kinh doanh, công ty có thể nhận được những yêu cầu bảo hiểm lớn hơn khả năng tài chính của mình Nếu công ty từ chối

nhận bảo hiểm thì sẽ mất khách hàng cũng như cơ hội kinh doanh để phát triển doanh nghiệp của mình trong tương lai Chính vì thế tái bảo hiểm là công cụ đắc lực trợ giúp công ty bảo hiểm có thể nhận được những yêu

cầu dịch vụ bảo hiểm vượt quá khả năng tài chính của của mình, đồng thời lại phát triển/khai thác những lĩnh

vực mới

Đặc trung của nghiệp vụ bảo hiểm hàng không là các đối tượng được bảo hiểm thường có giá trị rất lớn, vượt quá khả năng tài chính của các công ty bảo hiểm gốc Chính vì cậy tái bảo hiểm chính là một công cụ đắc

lực giúp người chuyên chở, nhà vận chuyển cũng như các công ty bảo hiểm tránh được nguy cơ phá sản trước

những rủi ro hay tổn thất có thể xảy ra Một đặc điểm nữa của bảo hiểm hàng không dẫn đến việc cần thiết phải tái bảo hiểm là đối tượng tham gia bảo hiểm rất khác nhau, chẳng hạn như đối tượng bảo hiểm có thể là thân tàu bay, con người, hàng hóa, vì vậy định phí không chính xác sẽ dẫn đến việc thu không bù được chi

2 Ba hình thức của tái bảo hiểm, đặc điểm 104

Ba hình thức của tái bảo hiểm:

Tái b ảo hiểm tự nguyện (tái bảo hiểm nhiệm ý): là hình thức tái bảo hiểm cơ bản và cổ điển nhất

 công ty nhượng toàn bộ quyền lựa chọn rủi ro cần phải tái bảo hiểm v

 công ty nhận (nhà tái bảo hiểm) có quyền nhận hay từ chối rủi ro

Ưu điểm: Giúp công ty nhượng có thể hoàn thành việc nhận bảo hiểm cho những đơn vị rủi ro mà có giá trị

bảo hiểm lớn, vượt quá khả năng tài chính thông thường của mình bằng việc sử dụng chuyên môn và khả năng

của thị trường tái bảo hiểm quốc tế, có thể loại bỏ được những rủi ro đặc biệt lớn hoặc nguy hiểm mà một khi

tổn thất thuộc đơn vị rủi ro này xảy ra có thể làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của mình

Nhược điểm: Công ty nhượng phải thông báo đầy đủ chi tiết của nghiệp vụ bảo hiểm gốc, không đảm bảo

thời gian tính trong việc phân tán rủi ro tái bảo hiểm, tức là công ty nhượng không có sự đảm bảo chắc chắn

của thị trường tái bảo hiểm khi họ nhận bảo hiểm một rủi ro nào đó, Chi phí hành chính, thủ tục giấy tờ tốn kém làm giảm thu nhập kinh doanh, ít lãi Thường xuyên phải đàm phán tái lập hợp đồng tái bảo hiểm trước khi ký kết bảo hiểm gốc với khách hàng

Tái b ảo hiểm bắt buộc (tái bảo hiểm khế ước): là sự thỏa thuận giữa công ty nhượng và nhà tái bảo

hiểm trong đó

 Công ty nhượng bắt buộc phải nhượng cho nhà tái bảo hiểm tất cả các đơn vị rủi ro bảo hiểm mà hai bên đã thỏa thuận từ trước

 Nhà tái bảo hiểm cũng bắt buộc chấp nhận toàn bộ rủi ro này

 Công ty nhượng toàn quyền trong việc chấp nhận bảo hiểm gốc, định phí mà không phải tham khảo

ý kiến của nhà tái bảo hiểm công ty nhượng cũng đơn phương thanh toán các vụ tổn thất có liên quan đến rủi ro được bảo hiểm với mục đích bảo vệ quyền lợi chung của công ty nhượng và nhà tái

bảo hiểm

 Ngược lại nhà tái bảo hiểm sẽ phải chia sẻ những vận may rủi với công ty nhượng và sẽ chấp nhận thanh toán tổn thất thược phạm vi hợp đồng tái bảo hiểm để thỏa thuận

Trang 25

Ưu điểm:

 Giúp công ty nhượng chủ động chấp nhận, định phí bảo hiểm cho rủi ro bảo hiểm gốc mà không phải

mất thời gian tham khảo ý kiến của của nhà tái bảo hiểm, do đó hợp đồng bảo hiểm sẽ nhanh chóng được ký kết

 Công ty nhượng được nhà tái bảo hiểm bảo vệ cho mọi rủi ro thuộc phạm vi hợp đồng, do đó khả năng an toàn của công ty bảo hiểm được đảm bảo

 Việc nhận tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định cho phép công ty tái bảo hiểm nhận được nhiều dịch

vụ hơn so với việc nhận từng hợp đồng tạm thời đơn lẻ Nhà tái bảo hiểm có điều kiện thu được phí

lớn, phù hợp với nguyên tắc "quy luật số đông" giúp nhà tái bảo hiểm có điều kiện đẩy mạnh tiến bộ

kỹ thuật của ngành bảo hiểm bằng việc chấp nhận rủi ro mới

Nhược điểm:

 Thông thường nó có tính ổn định cho một giai đoạn nhất định, do đó thiếu tính linh hoạt trước

những thay đổi của công ty chuyển nhượng

 Vì mọi rủi ro phải đem tái đi cho nên đứng về phía công ty nhượng những đơn vị rủi ro có số tiền

bảo hiểm nhỏ vẫn phải đem tái đi trong khi khả năng tài chính của họ vẫn có khả năng đảm đương được

 Nếu công ty nhượng thiếu kinh nghiệm, đặc biệt sơ suất việc ký kết hợp đồng bảo hiểm gốc thì hậu

quả đối với các nhà tái bảo hiểm rất khó lường trước được

Với hình thức này, nhà tái bảo hiểm có điều kiện thu được số phí lớn nhất, phù hợp với nguyên tắc Quy

luật số đông (law of large numbers) giúp cho nhà tái bảo hiểm thực hiện được tốt vai trò kinh tế quốc dân của

họ về đẩy mạnh những tiến bộ kỹ thuật của ngành bảo hiểm bằng việc chấp nhận những rủi ro mới và các dạng

bảo hiểm mới

Tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn và bắt buộc kết hợp (tái bảo hiểm mở sẵn):

 công ty nhượng không bắt buộc phải nhượng tất cả các rủi ro bảo hiểm đã nhận

 ngược lại nhà tái bảo hiểm ở buộc phải chấp nhận các dịch vụ mà công ty nhượng chuyển giao Nhà tái bảo hiểm ở hình thức này bất lợi hơn so với hình thức tùy ý lựa chọn (tự nguyện) vì không có quyền từ chối những rủi ro mà công ty nhượng đưa ra dù họ không muốn)

Ưu điểm:

 Công ty nhượng tái bảo hiểm không bắt buộc phải nhượng tất cả những dịch vụ mà mình nhận bảo

hiểm Họ có lựa chọn dịch vụ để chào tái bảo hiểm từng phần trách nhiệm vượt quá khả năng giữ lại

của mình cho một hoặc một số nhà tái bảo hiểm mà họ lựa chọn, thay vì đem phân chia toàn bộ các

phần vượt quá khả năng ấy cho các nhà tái bảo hiểm

 Tuy nhiên, công ty nhượng không được lợi dụng hình thức tái bảo hiểm này để lựa chọn những rủi

ro xảy ra tổn thất đưa vào hợp đồng và giữ lại những rủi ro có độ an toàn cao hơn Để phòng ngừa trường hợp này xảy ra, nhà tái bảo hiểm phải nắm được ý đồ của công ty nhượng, xem xét kỹ các rủi

ro mà công ty nhượng đem tái bảo hiểm và thường xuyên canh chừng diễn biến của thoả ước mà mình đã ký kết

 Người nhận tái bảo hiểm có điều kiện thu được một nguồn phí tái bảo hiểm lớn hơn và có phần thăng bằng hơn so với các hình thức tái bảo hiểm tạm thời

 Công ty nhượng tái bảo hiểm có điều kiện đem chào tái bảo hiểm bảo hiểm từng phần trách nhiệm

thặng dư so với khả năng tự giữ lại của mình cho một nhà tái bảo hiểm duy nhất hay cho một số nhà tái bảo hiểm mà họ lựa chọn thay cho việc phải đem phân chia tất cả phần thặng dư so với khả năng

tự giữ lại của mình cho các nhà tái bảo hiểm Tuy nhiên, cách tái bảo hiểm như thế này thường chỉ có

thể thực hiện được bằng cách chào cho các nhà tái bảo hiểm có tiềm lực thật lớn vì chỉ có họ mới có

thể nhận các giá trị bảo hiểm cao

Trang 26

 Trường hợp công ty nhượng có nhiều đơn vị rủi ro cần đem tái bảo hiểm thì chi phí hành chính cho

việc áp dụng hình thức này rất tốn kém

3 Đặc điểm chính của các phương pháp tái bảo hiểm

 Tái bảo hiểm tỷ lệ (theo số tiền bảo hiểm):

Là phương pháp phân bổ trách nhiệm giữa công ty nhượng và nhà tái bảo hiểm đối với đơn vị rủi ro đượ

bảo hiểm theo tỷ lệ tham gia của mỗi bên trên cơ sở số tiền được bảo hiểm

 Tái BH số thành (quoto share): là phương thức TBH mà theo đó trách nhiệm của công ty nhượng

và công ty tái đối với mỗi đơn vị rủi ro được BH được phân bổ theo tỷ lệ tham gia của mỗi bên trên

cơ sở số tiền BH

Đặc điểm:

 Đơn vị rủi ro nào cũng phải đem tái đi theo đúng hạn mức trách nhiệm mà mỗi bên đảm nhận

 Dạng tái bh này rất đơn giản về việc phân bổ phí và STBH dễ hiểu,dễ thấy,chi phí quản lí ít tốn kém

 Các nhà tái cũng dễ chấp nhận,phân tán rủi ro nhanh,vận may rủi là rất khách quan

 Dạng tái này thường có hoa hồng tái bh cao,đặc biệt phí tạm giữ lớn

 Phù hợp với công ty bh mới thành lập

 Tái BH mức dôi (surphus): công ty nhượng giữ lại cho mình STBH nhất định, phần còn lại đem đi tái Vì vậy phí bh và STBT nếu có cũng đc phân bổ theo tỷ lệ mỗi bên đảm nhận

Đặc điểm:

 Ko phải đơn vị rr nào cũng đem tái mà chỉ đem những đơn vị rr có STBH vượt quá mức giữ lại của công ty nhượng

 Nếu STBH tái đi quá nhiều mà các nhà TBH ko đảm đương hết thì số còn lại thường đc xử lý như sau:

 Đàm phám lại để phân bổ đến khi hết thì thôi (nếu tất cả các bên cùng chấp nhận)

 Nếu các bên ko chấp nhận thì quay về công ty nhượng gánh vác hoàn toàn

 Ngay từ đầu năm công ty nhượng có thể thiết lập hợp đồng tạm thời để đảm bảo ổn định kinh doanh cho mình+

 Tỷ lệ mức giữ lại và mức tái đi của từng đơn vị rr có thể ko bằng nhau là do vấn để thỏa thuận

 Đây cũng là pp đơn giản, dễ phân bổ, dễ áp dụng

Tái BH k ết hợp số thành-mức dôi: Vì cả 2 dạng đều là TBH theo tỷ lệ nên sự kết hợp giữa chúng cũng

rất đơn giản và phù hợp với thực tế, đặc biệt là công ty bh mới thành lập tự bh lẫn nhau Thông thường khi áp dụng pp kết hợp này cty nhượng cùng tái đi cho số nhà TBH và lấy HĐ số thành làm HĐ cơ sở, còn HĐ mức dôi bổ sung mang tính tự động Bản chất:+Trước hết phân bổ cho hđ số thành sau mới

tiến hành phân bổ hđ mức dôi Phí bh và STBT cũng phân bổ theo tỷ lệ mỗi bên đảm nhiệm

Ưu điểm:

 Giúp cty nhượng nâng cao năng lực khai thác bh

 Vì hđ cơ sở là hđ số thànhà giúp công ty nhượng ổn định, phân tán rr nhanh

 Dù sao TBH kết hợp này đều là TBH tỷ lệ cty nhượng cũng đc hưởng mức hoa hồng nhất định Nhược điểm:

 Thủ tục và chi phí hành chính tốn kém

 Phần TBH cho các hđ mức dôi cần phải có bản thông báo TBH Nếu ko cẩn thận dễ bị tiết lộ thông tin

Trang 27

Tái bảo hiểm phi tỷ lệ (TBH theo mức bồi thường):

Là phương pháp dựa trên số tiền bồi thường việc phân chia trách nhiệm theo số tiền bảo hiểm không

được quan tâm, phí bảo hiểm và phân bổ số tiền bồi thường không bị ràng buộc tỷ lệ

Đặc điểm:

 Trách nhiệm của các bên đối với các vụ tổn thất không chia sẻ theo tỉ lệ phí và STBH vì thế nó được gọi

là tái bh phi tỉ lệ

 Tiêu chuẩn cơ bản để phân định trách nhiệm giữa các bên chính là STBT

 Công ty nhượng phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những tổn thất bằng mức tự bồi thường trở

xuống

 Nhà tái bh chỉ bồi thường thuộc hạn mức trách nhiệm mà họ cam kết gánh chịu ngay từ đầu.Nó gọi là

hạn mức trách nhiệm của nhà tái bảo hiểm

4 Vì sao có tái bảo hiểm

Đối tượng BH có STBH quá lớn mà khả năng tài chính của công ty có hạn, đặc biệt hiện nay đối tượng tham gia BH ngày càng có GT càng lớn bởi vậy nếu gặp rủi ro thì gây thiệt hại rất lớn mang tính thảm họa với các công ty bảo hiểm gốc => cảnh báo với các cty BH gốc nhất là những công ty mới thành lập,năng lực tài chính chưa mạnh

 Do các tổn thất xảy ra liên tục trong thời gian ngắn, cho dù khả năng tài chính của công ty Bh có mạnh đến đâu cũng bị ảnh hưởng rất lớn,có thể dẫn tới phá sản

 Do xác định phí Bh ko chính xác dẫn tới thu< chi=> khó khăn về mặt tài chính có thể phá sản+

 Do đối tượng BH hoạt động ở địa bàn quá xa, cty Bh ko đủ khả năng quản lý rủi ro (ví dụ BH hàng hải)

 Các phương pháp phân tán rủi ro với cty Bh gốc:

Đồng bảo hiểm: nhiều cty cùng 1 lúc nhận bảo hiểm cho đối tượng tham gia.Khi tổn thất xảy ra liên quan đến đối tượng BH các công ty BH phải bồi thường cho khách hàng theo mức trách nhiệm đảm nhiệm

u: phương thức phân tán rủi ro đơn giản,dễ hiểu đặc biệt giúp phân tán rr rất nhanh= > giúp các bên tham gia ổn định dc kinh doanh,tạo lập quan hệ với đối tác

Nh ợc: việc kí kết HĐ khó kahwn,phức tạp.Khi xảy ra tổn thất thông thường việc bồi thường cho khách hàng ko đc tập trung cùng lúc gây ảnh hưởng xấu tới việc khôi phục tài sản của khác hàng,làm

mất uy tín

Tái bảo hiểm: thực chất là bảo hiểm lại.Các nhà Bh này nhận bảo hiểm cho nhà bảo hiểm khác nhằm mục đích phân tán rr+

Ưu:

 phân tán rủi ro nhanh

 Giúp công ty BH gốc nâng cao năng lực khai thác, uy tín cho cty Bh gốc

 Các cty Bh gốc còn nhận được hoa hồng từ các nhà nhận TBh => giúp ty bh gốc nâng cao năng lực khai thác,thiết lập các mối quan hệ lâu dài

 TBH góp phần thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của quốc gia,hội nhập kinh tế quốc tế

 Về bản chất đều là sự phân tán rủi ro+

 Đều là những nội dung trong hoạt động kinh doanh của mỗi DNBH,2 ND này gắn liền với nhau

 Đều góp phần ổn định kinh doanh cho khách hàng và cty Bh

Khác nhau:

 Về mối quan hệ:BH có quan hệ,hoạt động kí kết, bồi thường chỉ diễn ra giữa 2 bên.Tái bh có mối QH

giữa các nhà Bh với nhau hoặc BH với TBH

Trang 28

 Khi tổn thất xảy ra cho đối tượng Bh:đối tượngBH chỉ có quyền yêu cầu bồi thường từ nhà bảo hiểm

gốc mà không có quyền yêu cầu nhà tái bồi thường.Quan hệ bồi thường tổn thấtgiữa cty ngượng và nhà tái chỉ diễn ra trong nội bộ giữa họ

 Bảo hiểm là cơ sở của Tái Bảo Hiểm

 Về quan hệ quốc tế : các nhà tái bảo hiểm có quan hệ quốc tế rộng hơn các nhà BH gốc

5 Các phương pháp tái bảo hiểm

 Tái bảo hiểm theo tỉ lệ

Khái niệm: là 1 trog những phương pháp tái rất phổ biến đặc biệt với những công ty mới thành lập.Theo phương pháp này cty nhượng và các nhà tái bh phân chia các đvi rủi ro và trách nhiệm của mỗi bên theo STBH,

có thể là số tương đối hoặc có thể bằng số tuyệt đối

Đặc điểm:+

 Trách nhiệm của từng bên đc xác định theo 1 tỉ lệ tương ứng sau khi đã thỏa thuận+

 Phí bh và STBH nếu có cũng đc phân bổ theo tỉ lệ và trách nhiệm của mỗi bên đảm nhận

 Tái bh theo tỉ lệ nói chung đc áp dụng phổ biến ở hầu hết các nghiệp vụ bh vì phương pháp này đơn

Đặc điểm:+

 Đơn vị rủi ro nào cũng phải đem tái đi theo đúng hạn mức trách nhiệm mà mỗi bên đảm nhận

 Dạng tái bh này rất đơn giản về việc phân bổ phí và STBH dễ hiểu,dễ thấy,chi phí quản lí ít tốn kém

 Các nhà tái cũng dễ chấp nhận,phân tán rủi ro nhanh,vận may rủi là rất khách quan

 Dạng tái này thường có hoa hồng tái bh cao,đặc biệt phí tạm giữ lớn

 Phù hợp với công ty bh mới thành lập

 Trong điều kiện đa dạng hóa các nghiệp vụ bh, sản phẩm bh phi nhân thọ như ngày nay, nếu các bên

chỉ thuần túy quan hệ bằng hợp đồng TBH số thành thì việc kí kết hợp đồng thường khó khăn

Trường hợp áp dụng: +

 Công ty nhượng bắt đầu triển khai nghiệp vụ mới mà họ chưa có kinh nghiệm, thiếu tài liệu thống

kê Bởi vậy nếu ký hợp đồng số thành, thông thường họ sẽ đc các nhà TBH tư vấn về quản trị rr, xác định phí bh và các thông tin cần thiết khác

 Khi công ty nhượng có ý đồ trao đổi nghiệp vụ với nhau

 Khi công ty nhượng gặp khó khăn về việc phân định rr phân định rr thành các đơn vị rr khác nhau) Vd: bh nông nghiệp

 Giúp công ty nhượng giảm nhẹ trách nhiệm trong các hợp đồng về thiên tai, lũ lụt

Tái bảo hiểm mức dôi

Bản chất: công ty nhượng giữ lại cho mình STBH nhất định, phần còn lại đem đi tái Vì vậy phí bh và STBT

nếu có cũng đc phân bổ theo tỷ lệ mỗi bên đảm nhận

Đặc điểm:

Trang 29

 Ko phải đơn vị rr nào cũng đem tái mà chỉ đem những đơn vị rr có STBH vượt quá mức giữ lại của công ty nhượng

 Nếu STBH tái đi quá nhiều mà các nhà TBH ko đảm đương hết thì số còn lại thường đc xử lý như sau:

 Đàm phám lại để phân bổ đến khi hết thì thôi (nếu tất cả các bên cùng chấp nhận)

 Nếu các bên ko chấp nhận thì quay về công ty nhượng gánh vác hoàn toàn

 Ngay từ đầu năm công ty nhượng có thể thiết lập hợp đồng tạm thời để đảm bảo ổn định kinh doanh cho mình

 Tỷ lệ mức giữ lại và mức tái đi của từng đơn vị rr có thể ko bằng nhau là do vấn để thỏa thuận+

 Đây cũng là pp đơn giản, dễ phân bổ, dễ áp dụng

Trường hợp áp dụng:

- Vì TBH mức dôi cũng là TBH tỷ lệ nên nó phù hợp với các nghiệp vụ bh có STBH biến thiên quá lớn

- Giúp công ty nhượng ổn định kinh doanh, chi phí hành chính ít tốn kém

- Phù hợp với nghiệp vụ bh cháy, XNK, trộm cắp…

Cơ sở để xác định mức giữ lại của TBH mức dôi:

- Khả năng tài chính

- Lãi về nghiệp vụ đó trong số năm trc đó

- Tình hình tổn thất về nghiệp vụ đó của bản thân cty nhượng cũng như trên thế giới trong 1 số năm trc

đó+

- Pham vi hđ của đối tượng đc bh

Tái bảo hiểm kết hợp số thành- mức dôi

Vì cả 2 dạng đều là TBH theo tỷ lệ nên sự kết hợp giữa chúng cũng rất đơn giản và phù hợp với thực

tế, đặc biệt là công ty bh mới thành lập tự bh lẫn nhau Thông thường khi áp dụng pp kết hợp này cty nhượng cùng tái đi cho số nhà TBH và lấy HĐ số thành làm HĐ cơ sở, còn HĐ mức dôi bổ sung mang tính tự động Bản

chất:

- Trước hết phân bổ cho hđ số thành sau mới tiến hành phân bổ hđ mức dôi Phí bh và STBT cũng phân

bổ theo tỷ lệ mỗi bên đảm nhiệm

Ưu điểm:

- Giúp cty nhượng nâng cao năng lực khai thác bh

- Vì hđ cơ sở là hđ số thànhà giúp công ty nhượng ổn định, phân tán rr nhanh

- Dù sao TBH kết hợp này đều là TBH tỷ lệ cty nhượng cũng đc hưởng mức hoa hồng nhất định Nhược điểm:

- Thủ tục và chi phí hành chính tốn kém

- Phần TBH cho các hđ mức dôi cần phải có bản thông báo TBH Nếu ko cẩn thận dễ bị tiết lộ thông tin

Tái bảo hiểm phi tỉ lệ

Khái quát - Tái bh phi tỉ lệ cũng là phương pháp tái mà trong đó công ty nhượng ấn định bằng một giới

hạn bồi thường mà họ tự gánh chịu,phần vượt quá sẽ đem tái đi cho cty khác theo đúng cam kết và đúng luật

Đặc điểm

 Trách nhiệm của các bên đối với các vụ tổn thất không chia sẻ theo tỉ lệ phí và STBH vì thế nó được

gọi là tái bh phi tỉ lệ

 Tiêu chuẩn cơ bản để phân định trách nhiệm giữa các bên chính là STBT

 Công ty nhượng phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những tổn thất bằng mức tự bồi thường trở

xuống

Trang 30

 Nhà tái bh chỉ bồi thường thuộc hạn mức trách nhiệm mà họ cam kết gánh chịu ngay từ đầu.Nó gọi

là hạn mức trách nhiệm của nhà tái bảo hiểm

 Phương thức tái bảo hiểm phi tỉ lệ có 1 số vấn đề cần phải đặt ra và thống nhất từ trước

 Tổn thất thực tế cuối cùng bao gồm 3 yếu tố hợp lại:

 Tổn thất: khoản tiền bồi thường mà công ty nhượng phải trả cho người được bảo hiểm theo đúng trách nhiệm mà hợp đồng cam kết

 Thực tế : đây là STBT phải khấu trừ đi tất cả những khoản bồi hoàn có liên quan mà công ty nhượng có quyền quyết định bồi thường có những khoản sau: tiền bồi hoàn cứu vãn tổn

thất,tiền đòi lại của các nhà tái bh theo những hợp đồng bh riêng giữa cty nhượng với họ( nếu

có ),tiền đòi người thứ 3 bồi hoàn (nếu có )

 Cuối cùng: tổn thất thực tế mà sau khi tất cả các loại tổn thất và chi phí thực tế có liên quan đã

đc thanh toán và mọi khoản bồi hoàn liên quan đã đc thực hiện xong

 Mỗi một sự cố:đây là khả năng phát sinh rất nhiều trong tái bh phi tỉ lệ.Thuật ngữ này được áp dụng

xuất phát từ: công ty nhượng luôn mong muốn đc bảo vệ đối với hậu quả của 1 sự cố bất chợt xảy ra

và có giới hạn nhất định.Tuy nhiên hiện nay cách hiểu thuật ngữ này còn đc diễn đạt rõ hơn vì thực

tế đã có nhiều tranh chấp.Cụ thể người ta có thể diễn đạt nó như sau: Mỗi một tai nạn,mỗi một nguyên nhân trong tất cả các hợp đồng tái bh cần đc quy định cụ thể tránh tranh chấp xảy ra.Về mặt

thời gian người ta còn áp dụng điều kiện thế nào là một sự cố có thể h, h,…nhưng phải thống

nhất ngay từ đầu để tránh tranh chấp

 Vấn đề tính toán tổn thất trong tái bh phi tỉ lệ có 2 cách:

 Tính theo năm nghiệp vụ bh năm phát hành hợp đồng bh).Theo cách này nhà tái bh phải chịu trách nhiệm bồi thường cho tất cả tổn thất xảy ra thuộc các đơn vị rủi ro đc cấp đơn bh.Vì vậy

mà nhà tái vẫn phải tiếp tục có trách nhiệm với những tổn thất có thể xảy ra trong năm nghiệp

vụ đó mặc dù tổn thất còn có thể xảy ra ở năm kế tiếp.Trong trường hợp này 2 bên phải thỏa thuận với nhau về mức phí của năm nghiệp vụ

 Tính theo năm tài chính: nhà TBH chịu trách nhiệm bồi thường cho những tổn thất xảy ra vào năm tài chính bất kể tổn thất đó thuộc đơn cấp bh năm nào

Uu điểm

- Đây là hình thức tái bh bảo vệ cho những tổn thất lớn vì vậy công ty nhượng có điều kiện tự khống chế

mức bồi thường của mình bằng 1 số tiền nhất định từ đó giúp họ chủ động ổn định kinh doanh,đặc biệt trong điều kiện các lọa hình bh hiện nay có STBH rất lớn.=> nếu chỉ thuần túy áp dụng các phương pháp tái bh số thahf và mức dôi thì sự biến thiên về số tiền này ko ai lường trước được Bởi vậy mức tự bồi thường là 1 mức

giới hạn hoàn toàn có thể chủ động được trong mọi tình huống dù tổn thất có mang tính thảm họa đi chăng

nữa

- Vì nhà tái bh không có trách nhiệm bồi thường cho những vụ tổn thất có số tiền bồi thường thấp hơn mức

tự bồi thường vì thế cty nhượng thường có thu nhập ổn định theo đúng kế hoạch mà mình đề ra cho từng năm nghiệp vụ

- Chi phí quản lí đỡ tốn kém,nếu có chăng cty nhượng chỉ phải bỏ ra những khoản chi phí như chi phí xác định,phí gôc,phí tái,chi phí thanh toán bổ sung khi áp dụng hệ số an toàn,chi phí xác định lại phí điều chỉnh,…

Nhược điểm

- Phương pháp tính phí phức tạp,khó chính xác vì thế đòi hỏi công ty nhượng phải có kinh nghiệm đặc biệt trong điều kiện các tài sản tham gia bh kinh tế đa dạng như hiện nay

- Nếu cty nhượng xác định mức tự bồi thường quá cao hoặc quá thấp sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả kd đặc

biệt có 1 số trường hợp do xác định và lựa chọn các lớp tái bh ko chuẩn xác,thiếu cân nhắc công ty nhượng sẽ

phải chi ra những khoản phí đặt cọc không cần thiết=> ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh doanh

- Tái bh phi tỉ lệ ít có tác dụng trong việc hỗ trợ cty nhượng dàn mỏng rủi ro,hơn nữa phí tái bh(phí đặt cọc ) phải nộp trước

- Công ty nhượng có thể phải trả thêm phí táibh trong những trường hợp xuất hiện số tiền bồi thường thuộc trách nhiệm hợp đồng tái bh có điều khoản tái tục trách nhiệm bảo vệ

 Tái bh vượt mức bồi thường

Bản chất: theo pp này công ty nhượng giữ lại cho mình một số tiền bồi thường nhất định,phần vượt quá đem tái đi cho các công ty khác.Mức giữ lại của công ty nhượng gọi là mức tự bồi thường Điều đó có nghĩa nếu

Trang 31

tai nạn xảy ra có STBT bằng mức tự bồi thường của công ty nhượng trở xuống thì công ty nhượng phải gánh vác toàn bộ.Phần vượt quá các nhà tái bh vượt mức phải gánh chịu nhưngmhọ chỉ gánh chịu trong phạm vi giới

hạn về STBT của họ.Số còn lại không gánh vác hết lại quay về công ty nhượng đảm nhận toàn bộ

Để thực hiện được điều này cứ đầu năm nghiệp vụ bh cty nhượng phải đặt cọc cho các nhà tái bh một số

tiền nhất định gọi là phí đặt cọc.Nếu năm đó tổn thất không xảy ra thì công ty nhượng cũng không đòi lại được

số phí đặt cọc này

Vì STBT có thể rất lớn nếu như hậu quả của rủi ro mang tính thảm họa cho nên công ty nhượng phải thu

xếp nhiều hợp đồng tái bh vượt mức bồi thường cùng 1 lúc,mỗi hợp đồng đc gọi là 1 lớp.Các lớp đc sắp xếp theo một trật tự ưu tiên rất nghiêm ngặt

Đặc điểm

 Việc xác định phí đặt cọc là khó khăn

 Có những nhà tái giới hạn trách nhiệm bằng 1 số tiền bồi thường nhất định nhưng cũng có số nhà tái bh giới hạn số tiền bồi thường là vô hạn( ko hạn mức)

 Vì các lớp giữ lại cho mình 1 số tiền bồi thường nhất định theo hạn mức nên việc sắp xếp trật tự các

lớp phải tuân thủ và đương nhiên tổn thất sẽ xảy ra với lớp trước rồi mới đến các lớp khác.Bởi vây phí đặt cọc lớp cũng đc hưởng trách nhiệm nhiều hơn nếu hạn mức trách nhiệm bằng nhau

 Nếu áp dụng thuần túy phương pháp tái này các bên thường thỏa thuận với nhau về 1 tỉ lệ phí điều

chỉnh khi tổn thất lớn hoặc tổn thất mang tính thảm họa xảy ra

 Từng sự cố tức là 2 bên thỏa thuận với nhau ,khi tái bh theo phương pháp này chỉ gắn với từng sự cố

bh (hẹp hơn từng nghiệp vụ bh)

 üTừng nghiệp vụ có nghĩa là mọi sự cố xảy ra liên quan đến từng nghiệp vụ đó

Tái bh kết hợp giữa pp số thành với vượt mức bồi thường

Theo phương pháp này công ty nhượng giữ lại cho mình 1 tỉ lệ % nhất đihj so với số tiền bh,phần còn lại đem tái đi cho nhà tái bh số thành còn nhà tái bh vượt mức bồi thường sẽ bảo vệ cho công ty nhượng

hoặc công ty nhận tái bh số thành.Nó bảo vệ cho công ty nào thì đầu năm công ty đó phải đặt cọc cho nó 1 số

tiền nhất định gọi là phí đặt cọc.Nếu năm đó tổn thất không xảy ra thì công ty đc nó bảo vệ cũng không đòi đc

phần phí đặt cọc này

Tái bh kết hợp giữa pp mức dôi với phương pháp vượt mưc bồi thường.

Theo phương pháp này các công ty nhượng giữ lại cho mình một số tiền bh nhất định còn nhà tái bh vượt mức bồi thường bảo vệ công ty nhượng hoặc công ty nhận tái bh mức dôi.Nó bảo vệ cho công ty nào thì đầu năm nghiệp vụ công ty đó phải nộp cho nó 1 khoản tiền gọi là phí đặt cọc.kết thúc năm tổn thất ko xảy ra ,công ty đc nó bảo vệ không đòi lại đc phí đặt cọc này

Cả 3 phương pháp trên có ưu,nhược điểm sau:

- Việc kết hợp này giúp các bên trong hợp đồng số thành và hợp đồng mức dôi dễ dàng chào tái bh hơn

vì tính chất của nó rất đa dạng ,nhu cầu thỏa mãn cho các DNBH nhận tái bh đc đáp ứng đa dạng hơn

Nhược điểm:

- Nếu STBh vượt quá hạn mức trách nhiệm của các bên trong các hợp đồng số thành và mức dôi thì gánh nặng lại đè lên vai công ty nhượng là chủ yếu

- Muốn tái bh kết hợp cách đa dạng,đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng,đòi hỏi phải có nguồn tài

liệu thống kê quá khứ chuẩn xác,đồng bộ.Có như vậy việc tính phí bh mới chính xác

- Nếu tái bh theo những phương pháp kết hợp này đòi hỏi các bên của hợp đồng số thành,hợp đồng

mức dôi,đặc biệt là công ti nhượng phải có những đối tác chiến lược,tin cậy,mang tính lâu dài

 Tái bh vượt quá tỉ lệ bồi thường

Trang 32

Đây cũng là dạng tái bh phi tỉ lệ mà trong đó nhà tái bh chỉ chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp kết quả bồi thường của cty nhượng có tỉ lệ bồi thường vượt quá tỉ lệ hoặc vượt quá một mức tiền

đã ấn định trước.Nếu vượt mức trên nhà tái bh mới chịu trách nhiệm bồi thường

Mục đích: bảo vệ cho công ty nhượng chống lại sự gia tăng đột biến của tỉ lệ bồi thường ở số nghiệp vụ

bh trong khoảng thời gian nào đó bất luận là do những nguyên nhân nào.Khoảng thời gian này có thể là năm tài chính hoặc năm nghiệp vụ bh

vi rộng, hẹp ra sao?trong khi đó họ rất muốn giữu quan hệ bạn hàng lâu dài

- Khi áp dụng phương pháp này trong bhnn thường áp dụng cho mọi rủi ro

Đây là dạng tái bh đc áp dụng để chặn đứng tổn thất bởi vậy đương nhiên nó rất phù hợp với những nghiệp vụ bh mà rủi ro mang tính thảm họa.Bởi vậy các nhà tái bh tham gia trong loại hợp đồng này thường ngầm định với nhau sao cho không bjo để công ty nhượng có lãi.Chính vì vậy công ty nhượng vẫn có thể chấp nhận đưa ra giới hạn tự bồi thường lên tới %

Hiện nay ở Việt Nam hầu như các công ty bh gốc không áp dụng phương pháp này bởi vì:

 Việc tính phí,xác định phí phức tạp,khó đi đến thống nhất khi thỏa thuận

 Việc chào tái kể cả trong và ngoài nước đều gặp khó khăn

 Phần lớn các nghiệp vụ bh của Việt Nam có đối tượng tương đối rõ ràng,mạch lạc,số tiền bh không đến mức quá lớn và tổn thất thiệt hại xảy ra mang tính thảm họa cũng rất hiếm và nếu có xảy ra thì tổn thất cũng không phải quá lớn.+

6 Hợp đồng tái bảo hiểm

 Khái niệm, bản chất:

 Hdtbh là 1 bản cam kết quy định trách nhiệm và quyền lợi giữa cty Ng vs nhà tbh nhằm đản bảo cho

hd tbh và bh diễn ra theo đúng pháp luật

 Hdtbh có đặc điểm:

 nhà tbh cam kết bthg cho cty nhg mà cty nhg cũng là một bên trong hd

 nó có thể cung cấp 1 số tiền bthg toàn bộ hay chỉ một phần dv những trách nhiệm mà cty nhg có

thể phải chịu trong hd bh gốc

 hdtbh là một hd riêng biệt giữa nhà tbh vs cty nhg trong đó ng dc bh k phải là bên tham gia hd, điều này phải kdinh ngay từ đầu mag tính ng tắc

 Để ký kết hd tbh các nhà chuyên môn cần phải thống nhất 3 phạm trù rất phổ biến sau:

 tbh để ngỏ: chỉ một thỏa thuận để thực hiện các dv tbh và bh trong tương lai

 tbh bắt buộc mức dôi: cty nhg cần phải có hành động nhất định trước khi một phần trách nhiệm được đem tái đi, cũng có ngĩa là cty nhượng cần phải đem tái đi phần dôi ra bằng việc ghi vào trong các bản thông báo tbh

 dạng tbh số thành và dạng tbh phi tỷ lệ là những hd mà các rr được cty nhg chấp nhận đều dc đem tbh một cách tự động vs các dk của hợp đồng mà cty nhg k cần phải có thêm động tác nào khác

 chủ thể của hd tbh:

 là những dtg chịu tác động nguy hiểm về tổn thất hoặc thiệt hại hoặc những trách nhiệm mà cty nhượng cũng như các nhà tbh đều phải có nghĩa vụ gánh vác

 các chủ thể của hd tbh có mqh chặt chẽ trên nền tảng pháp luật kdbh của từng nước và mgh

thực tế của họ trong những năm trước đây.( mqh này tự họ thiết lập hoặc thông qua môi giới

Trang 33

tbh) mỗi chủ thể đểu là 1 thể nhân hoạt động theo quy định của pháp luật kd bh của từng nc, trong đó, pháp luật kd của nc sở tại mọi sự thay đổi về pháp luật kd bh của nước sở tại, các nhà tbh đều phải tuân thủ trên nền tảng mà cty nhượng đã chấp nhận bh gốc nhưng phải thông báo

Để thiết lập hd tbh cần thuân thủ các ngtắc sau:

 phân tán rr phải dc tiến hành kịp thời, phù hợp hd bh gốc: phải tính đến khả năng thanh toán của cty nhượng và các nhà tbh

 Đảm bảo lợi ích giữa các bên tham gia hd

 Đơn giản hóa về mặt thủ tục hành chính nhằm tiết kiệm tối đa những chi phí k cần thiết chỉ có như vậy, các bên mới quan hệ với nhau được chặt chẽ, lâu dài

 Đảm bảo chính sách mở rộng quan hệ, hợp tác ktế của nnc

 ngoài ra các ngtắc về trung thực tuyệt đối , luật số lớn cũng phải đặc biệt lưu ý

Nếu tăng cường nhận và nhg trong tất cả nghiệp vụ cần phải vận dụng triệt để ngtắc phân tán rr

Hình thức hd: một hd tbh khi dc kí kết cũng giống như một hd bh gốc thông thường nhưng phải tuân thủ

một số ycầu cơ bản sau:

 thể hiện rõ mối quan hệ pháp lý giữa các bên

 các bên có khả năng tham gia hd theo luật định

 phải có sự chào bán, chấp nhận

 tất cả các sự thỏa thuận, xem xét, nc coi như đã được thông qua bởi các bên tham gia

 ở vn hiện nay cơ quan qlýnn về bh cũng tuân thủ những yc này và đây là những yc dựa trên luật kdbh

của Anh và Đức

 Quyền lợi và trách nhiệm các bên:

Xuất phát từ hd bh gốc những nhà tbh đầu tiên trên tgioi ở nc anh đã vấp phải một sự lừa đảo liên quan đến qloi bh gốc vì họ không xd rõ quyền lợi có thể dc bh trong hd bh gốc nên thời gian đầu bh gốc đã mang tính

cá cược và ngay lập tức, cphủ a ban hành đạo luật quy định rất nghiêm túc quyền lợi dc bh trong bh gốc và ql

dc bh trong tbh+

Qloi dc tbh cũng gắn vs qloi dc bh nên trc hết phải kd, cty nhượng chỉ dc tái đi những dvi rr gắn vs quyền

lợi bh cụ thể Sau khi hdtbh dc thiết lập thì qlợi và trak nhiệm các bên cũng bd phát huy tác dụng

 Ql và trách nhiệm của cty nhg:

 Thanh toán đầy đủ phí tbh và những khoản bồi hoàn nếu có cho các nhà tbh theo đúng hd đã ký

 Việc thực hiện tn và ql dvới từng nhà tbh mang tính độc lập

 Cty nhg phải thực hiện đúng lpháp của ncs sở tại

 Nếu cso sự tranh chấp giữa các bên cty nhượng phải là những chủ trì đứng ra giải quyết

Vì:

 cty nhượng hiểu rõ hơn ai hết lpháp của nc sở tại

Trang 34

 trong những trg hợp ký hd thông qua môi giới cty nhg vẫn phải là ng đứng ra giải quyết

 cty nhượng còn là ng trung gian giữa dtg dc bh, ng tham gia bh và nhà tái

b Quyền lợi:

 Tùy theo từng hình thức tbh mà cty nhượng có thể có toàn quyền đánh giá và quản lý rr bh gốc

 Đòi bồi thường từ các nhà tbh khi dtg bh gặp rr tổn thất

 Có toàn quyền nêu các vdề khi thỏa thuận vs các bên trc khi hd tbh dc ký(xd mức giữ lại, mức tái đi,

thủ tục thanh toán phí, hoa hồng…

 Có quyền khiếu naij, khiếu tố đến tòa án khi có sự tranh chấp giữa các bên

 Có quyền đơn phương hủy bỏ hd nếu các nhà tbh có hành vi trục lợi, mờ ám

 Trách nhiệm và qlợi của các nhà tbh:

 Thực hiện đúng luật của nc sở tại

 Có trách nhiệm cùng vs cty nhg đánh giá qlý rr , tính phí bh tùy theo từng hình thức tbh

b Quyèn lợi:

 Đòi phí tbh và các khoản bồi hoàn nếu có từ phí cty nhg theo hd đã ký

 Ycầu cty nhg cung cấp các thông tin liên quan đến dtg bh tùy theo từng hình thức tbh

 Khiếu tổ, khiếu nại lên tòa án nc sở tại khi có tranh chấp

 Đơn phương hủy bỏ hd tbh khi phát hiện cty nhg có hành vi trục lợi

Chú ý:

Tín nhiệm tuyệt đối là dk quan trọng nhât khi kí kết hd tbh Vđề này cũng xuất phát từ hd bh gốc vì tín nhiệm tuyệt đối cũng là một ng tắc k thể thiếu trong hd bh gốc vì:

 spbh là lời hứa

 trong bh gốc hay trong tbh quan hệ quốc tế rất rộng

 đảm bảo ng tắc này tiết kiệm rất nhiều khoản chi phí có lquan

nd ngtắc tín nhiệm tuyệt đối: sự ngăn cản các bên tham gia hd k dc che giấu điều j mà từng bên đã biết

nhằm mục đích đẩy bên kia vào thế bị động khi thảo hd Thậm chí, hd sẽ vô giá trị nếu 1 trg 2 bên che giấu điều

j đã biết mà k đưa ra thg thảo

 Những tình trạng thực tế phát sinh làm giảm thiểu rr

 Những vấn đề mà bản thân ng tham gia bh k biết hoặc trong quá trính kd bthg a ta k buộc

giới hạn trách nhiệm của cty nhượng về vd bthường:

 cty nhượng buộc phải cminh dc tổn thất xảy ra thuộc trách nhiệm của mình đến đâu và từng nhà tbh đến đâu

 trong 1số hdtbh có những điều khoản riêng nhưng những điều khoản này lại k nằm trong hd bh gốc cty nhượng sẽ rất khó cm vs các nhà tbh(nhà tbh có thể từ chối bh)

Trang 35

 nhà tbh có thể phải bthg trên cơ sở thỏa hiệp giữa các bên về số tiền và trách nhiệm mà họ đảm nhiệm

miễn sau việc giải quyết này là trung thực khách quan

thời hạn và mức độ trách nhiệm của các nhà tbh trong hd tbh:ngtắc bthg trong hdtbh thg k qdinh rõ ràng

về thời hạn bthg, thậm chí cả mức độ trách nhiệm của nhà tbh.điều này có thể do hdtbh có 3 tính chất sau:

 là hd bthg cho những khoản thanh toán thực tế các cty nhượng.trog trg hợp này đôi khi cty nhg k ycầu nhà tbh phải bồi thường ngay

 nếu là hdbt với ý nghĩa trách nhiệm đó là stiền cuối cùng mà cty nhg giải quyết cho ng dc bh Đương nhiên, cty nhg muốn đòi ngay stbt từ nhà tbh nhưng nếu họ gặp khó khăn về tài chính cty nhg k có cách nào khác phải chấp nhận.tg hợp này đôi khi phải giải quyết thông qua tòa

 là hd thanh toán trên cơ sở xảy ra sự cố rr vì vậy nhà tbh phải có trak nhiệm ngay sau khi tt.nhưng bản thân cty nhg phần trách nhiệm của mình lalị k bthg ngay cho ng dc bh->khiếu kiện có lquan tr hợp này nhà tbh vô can

 Môi giới tbh:

ngày nay để ký kết dc một hd tái bh dbiệt là tbh cho các cty nc ngoài thg phải qua môi giới

quan niệm môi giới tbh là phải có lợi cho cả 2 bên chứ k dc nghiêng về 1 bên môi giới mang lại 4 lợi ích cơ

bản sau:

 san bằng mọi khó khăn ddể các bên ký kết hd vì nếu k ký mg k dc j

 mg đứng về phía cty nhg để tạo lập các mqh đb là các mqh quốc tế để cty nhg có dk xâm nhập ttrg bh

và tbh quốc tế.mg có thế tư vấn cho cty nhg nên tái ở tt bh nào lquan đến từng nghiệp vụ bh gốc, tư

vấn về đánh giá rr.dbiet mg cũng có thể ccấp cho cty nhg nhiều tt về từng ttrg bh từng nhà tbh để lựa

Căn cứ để phân bổ trách nhiệm giữa các bên là stbh ghi trên hd đã thỏa thuận

đặc điểm:

 các cty nhận và nhg cùng chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi trg mọi tình huống

 cty nhg có toàn quyền giải quyết tranh chấp khiếu nại bên nhận buộc phải tuân thủ( giải quyết tranh chấp dv ng tham gia bh gốc)

 Nếu cty nhượng thu xếp hd tbh vmbthg bvệ cho mình thì quyền lợi của cty Nhg đương nhiên thay đổi qlợi các nhà tbh mức dôi k đổi

 nếu ký kết theo loại hd này thì quyền lợi chủ yếu của cty nhg lquan nhiều đến hhồng tbh->hh tbh là một trong những nội dung chủ yếu của loại hd này.loại hh áp dụng: hh cố định và hh theo thang lũy tiến,cả 2 loại hh này đều đc áp dụng linh hoạt dv các cty bh vn

Thời kỳ đầu hh cố định là phổ biến bd sau năm hh theo thang lũy tiến dc sd nhiều

hd tbh vượt mức bthg

loại này quy định cty nhg bh vmbt chịu trách nhiệm bthg cho cty mà nó bvệ stbt vượt quá mức giữ lại của

họ khi rr tthất xảy ra, cty nhận tbh vmbt phải chịu trách nhiệm đối vs mọi tthất dc xem là 1 vụ tt để phân chia trách nhiệm bthường

đặc điểm:

Trang 36

 trách nhiệm của cty nhận tbh bắt đầu từ thời điểm xảy ra tthất

 thời hạn hd là thời hạn tính cho tthất xảy ra

 trc mỗi vụ tổn thất nhà tbh chịu trách nhiệm dvs mỗi và mọi tthất do cùng một nguyên nhân gây

ra điều đó có nghĩa là mỗi nguyên nhân gây ra là một vụ tthất để phân chia trách nhiệm

 stbt là số tiền tổn thất thực tế cuối cùng và số tiền này bằng số tiền tthất mà họ phải trả theo tính toán trừ đi các khoản thu hồi

khi kí kết loại hd này cần lưu ý:

 Trách nhiệm của nhà tbh vmbt k tăng thêm khi cty nhượng k có khả năng thu lại toàn bộ stbt do các bên tham gia đóng góp

 loại này chấp nhận trách nhiệm bh cho chiến tranh đình công bạo loạn những rr này thường các

hd khác k chấp nhận

7 Câu hỏi

Câu 1: một DNBH gốc vừa tăng cường nhận tái và nhượng tái có ảnh hưởng ntn tới việc phân tán rủi ro? Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay 1 DNBH gốc vừa tăg cường nhận và nhượng tái có tác dụng tích cực

tới phân tán rủi ro

 Rủi ro sẽ được dàn mỏng không chỉ ở phạm vi thị trường bh và tái bh trong nước mà còn cả ở thị trường nước ngoài

 Về lâu dài cũng giúp doanh nghệp đánh giá và quản lí rủi ro tốt hơn

 Giúp DNBH gốc trao đổi dịch vụ bh với nhau,kể cả sử dụng phương pháp đồng bh.Hơn nữa nếu hợp đồng theo cơ chế trao đổi dịch vụ trong 1 phạm vi nhất định còn giúp phối hợp giữa các bên đánh giá

và quản lí rủi ro tốt hơn từ đó làm công tác phân tán rủi ro cũng tốt hơn

 Việc tăg cường nhận và nhượng tái với 1 công ty bh hiện nay đang là trào lưu, xu thế nhưng để thực

hiện đc chiến lược này đòi hỏi bản thân mỗi công ty bh gốc trước hết phải đào tạo đc đội ngũ chuyên gia giỏi về tái bh

Câu 2: Vì sao trong lĩnh vực bhnn việc tái bh là rất khó khăn với cty bh gốc?

 Sản xuất nông nghiệp có đôi tượng rất rộng,đối tượng bh gặp nhiều rủi ro khác nhau và hậu quả của

mỗi rủi ro mang tính thảm họa

 Việc quản lí rủi ro là khó khăn nhất so với hầu hết các loại hình bh khác đặc biệt nguuy cơ trục lợi bh là khó tránh khỏi

 Khó khăn ở cả công tác giám định bồi thường bổi lẽ đối tượng đc bh thường trải trên địa bàn rất

rộng,khó kiểm tra,kiểm soát,khó đảm bảo tính kịp thời.Hiện trường mỗi vụ tổn thất đôi khi không xác định được rõ

 Đặc biệt ở Viêt Nam sản xuất nn có trình độ thâm canh,chuyên canh thấp,mức độ tập trung rất hạn chế cho nên tái bh trong nn đã khó thì ở VN lại càng khó hơn

Câu 3: Tái bh hỏa hoạn,tái bh thiết bị điện tử,Tái bh dầu khí,Tái bh kĩ thuật có những đặc điểm gì giống nhau?

 Đều là loại hình tái bh tài sản và có STBH rất lớn nên hầu hết các công ty tái bh phi nhân thọ đều phải tái đi

 Những nghiệp vụ bh này hầu hết đều mang tính chất kĩ thuật khi đánh giá,quản lí rủi ro,khi tiến hành giám định bồi thường

 Khi rủi ro tổn thất xảy ra công tác giám định đòi hỏi mang tính kĩ thuật cao cho nên các công ty bh thường phải thuê công ty giám định độc lập,còn nếu muốn tự giám định công ty phải có đội ngũ cán

bộ,nhân viên giỏi tay nghề,am hiểu cả kĩ thuật và nghiệp vụ bh

 Khi rủi ro tổn thất xảy ra việc giải quyết bồi thường rất dễ phát sinh khiếu kiện( vì nhiều lí do khác nhau như: am hiểu về mặt kĩ thuật không chính xác,đầy đủ,hiện trường bị xáo trộn,luật pháp hiểu không đúng,liên quan đến ng thứ 3 nếu có,…)

Câu 4: Xác định mức tự bồi thường của công ty nhượng dựa vào đâu? tái bh vượt mức bồi thường)

 Khả năng tài chính của công ty nhượng

 Tình hình bồi thường trong 2 số năm trước đó chủ yếu là tỉ lệ bồi thường)

 Nghiệp vụ bh đem tái đi và cách thức phân chia đơn vị rủi ro trong nghiệp vụ đó

 Triển vọng phát triển nghiệp vụ đó trên thị trường của công ty nhượng

Ngày đăng: 25/05/2020, 17:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w