1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

On thi chinh sach ngoai thuong

14 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 40,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

a Đứng trên góc độ là người lao động chân tay Xét theo lợi ích của các thành viên công đoàn thì chính sách này là thích hợp Để chứng minh nó là thích hợp ta sẽ sử dụng mô hình thương mại

Trang 1

CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN NGOẠI THƯƠNG

Câu 1: Sự khác nhau giữa lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh? Gần đây các nhà kinh tế phương Tây lo ngại về lợi ích ngoại thương không còn nữa khi mà các nước đang phát triển như Trung quốc có tốc độ tăng trưởng cao Hãy bình luận lập luận trên?

Bài Làm

Sự khác nhau giữa lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh?

Lợi thế so sánh: Hợp tác để 2 bên cùng có lợi: lợi thế tương đối.

Lợi thế cạnh tranh: Cạnh tranh là 1 bên mất 1 bên còn: lợi thế tuyệt đối.

• Những quan niệm sai lệc về lợi thế cạnh tranh: (Xem thêm)

- Năng suất lao động và khả năng cạnh tranh: Chỉ khi nào nước của bạn có năng suất đủ cao để cạnh tranh quốc tế thì tự do mậu dịch mới có lợi

- Lập luận lao động rẻ mạt: Cạnh tranh của nước ngoài là không công bằng

và có hại cho nước khác khi nó dựa trên tiền công thấp

- Trao đổi không công bằng: Thương mại bốc lột và làm cho 1 nước nghèo đi nếu như nước đó sử dụng số lao động vào việc sản xuất hàng để xuất khẩu nhiều hơn số lao động các nước khác sử dụng để sản xuất hàng mà nó nhập

Gần đây các nhà kinh tế phương Tây lo ngại về lợi ích ngoại thương không còn nữa khi mà các nước đang phát triển như Trung Quốc có tốc

độ tăng trưởng cao Hãy bình luận lập luận trên?

- Một quốc gia tham gia vào thương mại quốc tế chỉ khi họ thu được lợi ích nhất định từ thương mại Lợi ích của ngoại thương là khả năng nâng cao mức sống và thu nhập thực tế của một nước thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hóa với nước khác dựa trên cơ sở chi phí so sánh để sản xuất những hàng hóa

- Góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước: Vốn, việc làm, công nghệ, sử dụng tài nguyên có hiệu quả

- Trung Quốc hiện nay là 1 nhà máy khổng lồ của thế giới do nhân công giá rẻ

và sao chép các phát minh của các nước khác rất tài tình nên giá thành sản phẩm rất cạnh tranh Chính vì vậy hiện nay Trung Quốc đang phải đối mặt với nhiều sự việc như: EU đã quyết định đặt mức mức thuế chống bán phá giá đối với các mặt hàng thép nhập khẩu từ Trung Quốc lên đến 24%, với thời hạn là 5 năm Từ tháng 2/2009, liên minh châu Âu bắt đầu đánh thuế vào các mặt hàng bán phá giá từ Trung Quốc với mức thuế chống bán phá

Trang 2

giá là 24% Được biết, từ tháng 1 – 6/2009, đã có 15 quốc gia và khu vực tiến hành những điều tra nghiêm khắc với các doanh nghiệp Trung Quốc với

số tiền liên quan là 8,276 tỷ USD Trên thực tế, từ năm 2008, các vụ va chạm thương mại của Trung Quốc đã diễn ra mạnh mẽ Hiệp hội thép Trung Quốc cũng chịu những ảnh hưởng nghiêm trọng của chủ nghĩa bảo hộ thương mại, những hiện tượng này đều gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến ngành xuất khẩu của Trung Quốc Cách đây không lâu, Hội đồng Thương mại Quốc tế Hoa kỳ đã đưa ra kiến nghị tiến hành đánh thuế trừng phạt đối với mặt hàng lốp xe của Trung Quốc khoảng 55%, 45% và 35% trong vòng ba năm…

Câu 2: Phong trào công đoàn của Mỹ-phần lớn đại diện cho công nhân lao động chân tay hơn là công nhân có kỹ năng-có truyền thống ủng hộ việc hạn chế nhập khẩu từ nước nghèo Hãy sử dụng mô hình thương mại thích hợp để chỉ ra chính sách này là thích hợp hay thiển cận xét theo lợi ích của thành viên công đoàn?

a) Đứng trên góc độ là người lao động chân tay

Xét theo lợi ích của các thành viên công đoàn thì chính sách này là thích hợp

Để chứng minh nó là thích hợp ta sẽ sử dụng mô hình thương mại Heckscher – Ohlin

Thương mại quốc tế xu hướng làm cho những người công nhân có tay nghề thấp ở Mỹ lâm vào tình trạng tồi tệ hơn – không chỉ tạm thời mà trên một cơ sở lâu dài vì mô hình Heckscher – Ohlin nói rằng khi nội địa và nước ngoài buôn bán với nhau , các mức giá tương đối của chúng sẽ hội tụ lại Ở các nước nghèo do có lợi thế tương đối về lao động ( giá lao động thấp, lực lượng lao động dồi dào) điều này giúp cho giá cả của các mặt hàng sử dụng nhiều lao động chân tay của các nước này thấp hơn so với nước Mỹ, khi các mặt hàng này được phép vào Mỹ nó khiến cho các mặt hàng này ở Mỹ sản xuất khó có thể cạnh tranh được ( do giá lao động

ở Mỹ cao dẫn đến chi phí cao ), muốn cạnh tranh chỉ có cách giảm giá điều này khiến cho lợi nhuận giảm và thu nhập của lao động chân tay giảm theo, thậm chí không cạnh tranh được phải đóng cửa dẫn đến lao động ở đây thất nghiệp

• Mô hình Heckscher – Ohlin cũng nói rằng một nước sẽ chuyên môn hóa trong sản xuất và xuất khẩu hàng hóa thâm dụng yếu sản xuất mà nước đó có lợi, khi hàng hóa của các nước nghèo vào Mỹ làm cho các sản phẩm cùng loại của Mỹ khó có thể cạnh tranh được vì Mỹ không có lợi thế lao động bằng các nước này do đó nước Mỹ sẽ chuyển hướng sang phát triển các ngành mà mình có lợi thế hơn so với các nước nghèo, đó là phát triển các

Trang 3

sản phẩm sử dụng lao động kỹ năng điều này gây ra tình trạng thất nghiệp cho lao động chân tay (lao động bán kỹ năng của Mỹ)

Sẽ có sự phân phối lại trong thu nhập vì công nhân bán kỹ năng bị thất nghiệp hoặc thu nhập giảm do các sản phẩm làm ra không cạnh tranh được, phần còn lại thì nhận được lợi ích nhiều hơn do giá cả của các mặt hàng nhập khẩu từ nước nghèo thấp hơn

b) Đứng trên góc độ là người lao động có kỹ năng

Xét theo lợi ích của các thành viên công đoàn thì chính sách này là thiển cận

Để chứng minh nó là thiển cận ta sẽ sử dụng mô hình thương mại Heckscher – Ohlin

Các mặt hàng nhập khẩu từ các nước nghèo chủ yếu là các mặt hàng sử dụng nhiều lao động và ít công nghệ, những người lao động có kỹ năng là người làm việc trong môi trường công nghệ cao do vậy các sản phẩm của nước nghèo không cạnh tranh được các sản phẩm do lao động này làm ra, Mô hình Heckscher – Ohlin nói rằng khi nội địa và nước ngoài buôn bán với nhau, các mức giá tương đối của chúng sẽ hôi tụ lại điều này cho thấy rằng giá cả các mặt hàng do lao động kỹ năng làm ra không thay đổi nhưng giá cả do lao động bán kỹ năng lại giảm xuống do vậy lao động kỹ năng được hưởng lợi từ việc giá thấp này và đương nhiên cuộc sống của họ sẽ dễ chịu hơn do vậy việc hạn chế trên là thiển cận

• Mô hình Heckscher – Ohlin cũng nói rằng một nước sẽ chuyên môn hóa trong sản xuất và xuất khẩu hàng hóa thâm dụng yếu sản xuất mà nước đó có lợi do vậy các ngành, các sản phẩm sử dụng lao động có kỹ năng sẽ được tập trung phát triển, lao động có kỹ năng có nhiều cơ hội hơn về việc làm và thu nhập do có nhiều doanh nghiệp muốn thu hút họ đến đây làm việc hơn

Câu 3: Một số nhà kinh tế Mỹ cho rằng thu nhập lao động của Trung Quốc

khoảng 7,5 đô la một giờ Nếu Mỹ cho phép nhập hàng từ Trung Quốc thì thu nhập của công nhân Mỹ cũng sẽ giảm ở mức này Anh không thể nhập một cái

áo sơ mi 10 đô la từ Trung Quốc mà không nhập khẩu 7,5 đô la tiền lương gắn liền với áo sơ mi Dựa vào lý thuyết thương mại hãy bình luận lập luận trên?

- Trước hết, do giá yếu tố lao động tại Trung Quốc là thấp hơn Mỹ hay nói cách khác lao động tại Trung Quốc dồi dào tương đối hơn tại Mỹ và sự thâm dụng lao động của việc sản xuất áo tại Trung Quốc cũng hơn Mỹ Điều này cho thấy có sự khác biệt về nguồn lực lao động giữa 2 quốc gia Vậy nên

Trang 4

theo mô hình H-O (Hechsher-Ohlin) ta xác định rằng đây là cơ sở và nguồn gốc xảy ra ngoại thương giữa 2 quốc gia

- Vấn đề tiếp theo khi đã nhập 1 cái áo với giá lao động là 7.5USD/giờ thì thu nhập của công nhân sản xuất áo tại Mỹ thế nào? Việc nhập áo từ Trung Quốc với giá lao động rẻ hơn thì sẽ ảnh hưởng đến lao động của ngành đó tại Mỹ hay chính xác hơn theo định lý Stolper – Samuelson khi có ngoại thương thì chủ sở hữu yếu tố sản xuất mà hàng hóa nhập khẩu vào sẽ bị tổ thất Trong trường hợp này chủ sở hữu yếu tố sản xuất là người lao động trong ngành sản xuất áo tại Mỹ (họ là chủ nguồn lực lao động của họ) và áo đối với Trung Quốc là hàng hóa xuất khẩu nhưng với Mỹ là hàng hóa nhập khẩu Tóm lại thu nhập của người lao động sản xuất áo tại Mỹ sẽ giảm nhưng định

lý này không giải thích được liệu rằng có giảm đúng bằng giá lao động tại nước xuất khẩu không (7.5USD/giờ)?

- Vấn đề còn lại ta xem xét đến mức giảm của thu nhập tại Mỹ thế nào? Theo

lý thuyết ngang bằng giá yếu tố sản xuất thì khi ngoại thương xảy ra thì sự khác biệt giữa giá các yếu tố sản xuất sẽ dẫn đến sự hội tụ về giá điều đó có nghĩa là với trường hợp cụ thể như trên thì giá lao động của người lao động sản xuất áo tại Mỹ sẽ giảm xuống bằng với giá tại Trung Quốc tức 7.5USD/giờ

- Các lý thuyết bên trên đưa đã khẳng định điều đó thế nhưng trong thực tế ta thấy không xảy ra đúng như thế tức giá lao động công nhân sản xuất áo không giảm đến mức bằng công nhân tại Trung Quốc Vậy điều này có nghĩa

là đã có sự khác biệt dẫn đến khi xảy ra ngoại thương thì giá không hoàn toàn đi theo lý thuyết ngang bằng giá yếu tố sản xuất và sự khác biệt ở đây

đó là sự khác biệt về công nghệ theo lý thuyết hố cách công nghệ hay lý thuyết vòng đời sản phẩm Chính các điều này đã làm cho giá lao động tại

Mỹ sẽ không giảm xuống đến 7.5USD/giờ nhưng khi ngoại thương xảy ra nhưng một điều chắc chắn rằng nó sẽ làm giảm sự chênh lệch về giá lao động công nhân sản xuất áo tại TQ và Mỹ

Câu 4: Ngày hôm nay 60% nút và dây kéo làm phụ kiện cho ngành may mặc thế giới được sản xuất từ một làng nông nghiệp nghèo trước đây của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Hãy sử dụng lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy

mô để giải thích tại sao làng này lại có lợi thế trong ngành phụ trợ sản xuất nút và dây kéo cho ngành may mặc? Tại sao Việt Nam với lợi thế nhân công giá rẻ lại không phát triển được ngành phụ trợ này như Trung Quốc?

Ôn lại 1 số kiến thức cơ bản về lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô:

Trang 5

Lợi thế kinh tế theo quy mô hay còn gọi là lợi nhuận tăng dần theo quy mô được bộc lộ khi chi phí bình quân dài hạn giảm theo đà tăng lên của sản lượng

Những ngành sản xuất càng hiệu quả với quy mô càng lớn gọi là ngành có lợi thế kinh tế theo quy mô, khi đó xuất lượng tăng lên với 1 tỷ lệ lớn hơn sự gia tăng của tất cả các nhập lượng

Có 2 loại lợi thế kinh tế theo quy mô:

Lợi thế kinh tế theo quy mô bên trong: chi phí trung bình phụ thuộc vào quy

mô của doanh nghiệp nhưng không nhất thiết phụ thuộc vào quy mô ngành

=> cấu trúc thị trường thường là cạnh tranh không hoàn hảo với các doanh nghiệp lớn có lợi thế chi phí so với các doanh nghiệp nhỏ

Lợi thế kinh tế theo quy mô bên ngoài: chi phí trung bình phụ thuộc vào quy

mô ngành nhưng không nhất thiết phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp

=> ngành có thể bao gồm các doanh nghiệp nhỏ và cấu trúc thị trường thường là cạnh tranh hoàn hảo

Ngày hôm nay 60% nút và dây kéo làm phụ kiện cho ngành may mặc thế giới được sản xuất từ một làng nông nghiệp nghèo trước đây của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Hãy sử dụng lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô để giải thích tại sao làng này lại có lợi thế trong ngành phụ trợ sản xuất nút và dây kéo cho ngành may mặc?

Bởi vì khi 1 ngành tập trung (nhiều doanh nghiệp) thì sẽ có hiệu quả hơn so với hoạt động của 1 doanh nghiệp cô lập, khi đó ngành sẽ có được lợi thế kinh tế theo quy mô

Thị trường lao động tập trung: tỉnh Vân Nam Trung Quốc là 1 tỉnh nông

nghiệp nghèo nên tình trạng thất nghiệp trong giai đoạn “nông nhàn” sẽ rất cao, đây sẽ là 1 thị trường lao động phong phú để phát triển ngành phụ trợ sản xuất nút

và dây kéo đòi hỏi sự thâm dụng lao động lớn

Hiệu quả chuyên môn hoá : khi sản lượng lớn hơn, người ta có điều kiện sử

dụng lao động chuyên môn và máy móc chuyên dụng

Mỗi người công nhân có thể tập trung vào 1 công việc cụ thể và giải quyết công việc hiệu quả hơn, góp phần làm giảm chi phí bình quân

Do tính không chia nhỏ được của quy trình sản xuất cũng như dây chuyến máy móc và thiết bị, đây chính là chi phí cố định, nó không phụ thuộc vào việc có sản xuất hay không Khi sản lượng tăng lên (quy mô sản xuất tăng) doanh nghiệp

sẽ đạt được lợi thế kinh tế nhờ quy mô vì các chi phí cố định này có thể được chia cho 1 số lượng nhiều hơn các đơn vị sản lượng và nó làm giảm chi phí bình quân

Trang 6

cho 1 đơn vị sản phẩm Kỹ thuật và tổ chức sản xuất ưu việt khi quy mô tăng lên người ta có thể sử dụng máy tự động thay cho thiết bị vận hành thủ công hoặc thay thế sản xuất đơn chiếc bằng dây chuyền hàng loạt một cách liên tục

Lợi thế của việc mua nguyên vật liệu và phụ tùng với khối lượng lớn:

khi các doanh nghiệp đặt hàng với số lượng lớn hơn các yếu tố đầu vào sản xuất,

họ có quyền mặc cả nhiều hơn với các nhà cung cấp Qua đó, có thể được giảm giá hoặc hưởng chiết khấu, hoa hồng cao hơn

Lợi thế về tài chính: Những doanh nghiệp nhỏ thường gặp nhiều khó khăn

để có được tài chính và khi làm được điều đó thì chi phí tài chính thường là khá cao, do các doanh nghiệp nhỏ được xem là rủi ra cao hơn các doanh nghiệp lớn Các công ty lớn thường có khả năng gọi vốn với điều kiện thuận lợi hơn (lãi suất, chi phí đi vay thấp hơn)

Lợi thế Marketing (hiệu quả tiêu thụ): thu được nhờ việc sử dụng phương

tiện quảng cáo đại chúng và mật độ sử dụng lực lượng bán hàng lớn hơn

Lợi thế quản lý: Khi một doanh nghiệp phát triển sẽ tạo điều kiện cho các

nhà quản lý chuyên nghiệp hơn trong các nhiệm vụ công việc cụ thể (ví dụ như tiếp thị, quản lý nhân sự, tài chính…)

Giao thông vận tải và các liên kết truyền thông được nâng cao Khi 1

ngành hình thành và phát triển ở 1 vùng nào đó thì chính phủ sẽ cung cấp hạ tầng giao thông vận chuyển tốt hơn và liên kết truyền thông để tăng khả năng tiếp cận của khu vực Khi đó sẽ giảm được chi phí vận chuyển và thu hút thêm nhiều khách hàng tiềm năng

Đào tạo và giáo dục trở nên tập trung, có được nguồn nhân lực lớn có tay

nghề phù hợp

Tại sao Việt Nam với lợi thế nhân công giá rẻ lại không phát triển được ngành phụ trợ này như Trung Quốc?

Trung Quốc với lợi thế là những người đi trước đã chiếm lĩnh thị trường và tích lũy kinh nghiệm, Việt Nam sẽ rất khó phát triển được khi là người đi sau, còn non trẻ và gặp rất nhiều trở ngại

Việc gia nhập WTO sau 148 nước, trong đó có những nước tiềm năng xuất khẩu lớn như Thái Lan, Trung Quốc… càng làm tăng sự bất lợi của Việt Nam Việc Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của WTO từ năm 2001 đã khiến Việt Nam khó khăn hơn trong việc cạnh tranh với hàng hóa Trung Quốc vốn đang tràn ngập thị trường thế giới với giá rẻ

Trang 7

Các ngành phụ trợ của Việt Nam chủ yếu cung cấp những sản phẩm có chất lượng kém và giá thành cao vì công nghệ lạc hậu, vì quản lý kém nên chỉ tiêu thụ được trong nội bộ Các doanh nghiệp trong nước không đủ niềm tin và ý thức tích lũy kỹ năng như: yêu cầu nâng cao chất lượng, giá thành, thời gian giao hàng, dịch

vụ, tốc độ… Các cán bộ quản lý bậc trung, cán bộ quản lý kỹ thuật, công nhân tay nghề cao đều bị thiếu hụt và không ổn định

=> các ngành phụ trợ quá yếu không hấp dẫn các công ty đa quốc gia đầu tư trực tiếp sản xuất tại Việt Nam

Một nguyên nhân nữa là các doanh nghiệp Việt Nam thường có thói quen cái

gì cũng muốn làm từ A đến Z, ít chịu hợp tác, liên kết với các đối tác nước ngoài

Hiện nay, công nghệ dễ lan nhanh từ nước này sang nước khác nên những nước có nguồn lực lao động dồi dào, khéo tay và tiền lương rẻ sẽ dễ trở thành những cứ điểm sản xuất các sản phẩm phụ có sức cạnh tranh lớn Việt Nam rất có triển vọng cạnh tranh được trong lĩnh vực này nhưng vì những lý do nói ở trên, Việt Nam chưa trở thành một trong những nơi sản xuất chính tại châu Á

Câu 5: Lý thuyết ngoại thương cho rằng tự do ngoại thương là tốt nhất và chính sách ngoại thương tốt nhất là không có chính sách gì Tuy nhiên trong thực tế hầu hết các quốc gia đều có rào cản ngoại thương Hãy giải thích tại sao các quốc gia lại làm như vậy?

BÀI LÀM

Trong thực tế hều hết các quốc gia đều có rào cản ngoại thương bởi vì:

- Hàng rào thương mại nhằm khuyến khích sản xuất trong nước thay thế nhập khẩu & thúc đẩy xuất khẩu

- Bảo vệ các doanh nghiệp trong nước trước sức ép cạnh tranh bởi các doanh nghiệp nước ngoài

- Bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ trong nước vừa mới hình thành

- Giảm sự tin cậy & lệ thuộc vào những nhà cung cấp nước ngoài

- Giảm bớt những vấn đề về cán cân thanh toán

- Ngăn cản những công ty nước ngoài phá giá, nghĩa là bán hàng hóa với giá thấp hơn chi phí để chiếm thị phần

Trang 8

- Thúc đẩy những mục tiêu chính trị như là từ chối giao dịch với những quốc gia theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc hoặc phủ nhận quyền tự do nhân quyền

- Khuyến khích đầu tư trực tiếp trong nước & nước ngoài

Là công cụ trừng phạt nhằm gây thiệt hại kinh tế, mà các nước có ưu thế gây ra cho nước khác (trừng phạt kinh tế mang màu sắc chính trị)

Câu 6: Thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu là những công cụ để bảo hộ sản xuất trong nước Hãy giải thích tại sao trong các hiệp định thương mại người ta chấp nhận thuế như công cụ bảo hộ tạm thời nhưng hạn ngạch thì không?

• Hàng rào Thuế quan: Đây là một loại thuế đánh vào hàng mậu dịch, phi mậu dịch khi hàng hóa đi qua khu vực hải quan của một nước Hiện nay, khi hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì các quốc gia tìm cách giảm dần

và tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan

• Hàng rào phi thuế quan: Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lí, khoa học hoặc bình đẳng Hàng rào phi thuế quan thường được áp dụng đối với hàng nhập khẩu Hình thức của hàng rào phi thuế quan rất phong phú, gồm: Các biện pháp hạn chế định lượng, các biện pháp tương đương thuế quan, các rào cản kỹ thuật, các biện pháp liên quan đến đầu tư nước ngoài, các biện pháp quản lý hành chính, các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời Trong đó, hạn ngạch nhập khẩu thuộc các biện pháp hạn chế định lượng

• Wto và các đinh chế thương mại khu vực thường thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp pháp bởi tính rõ ràng và minh bạch của nó Mức thuế đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh qua lãnh thổ hải quan của một quốc gia được quy định bởi một con số cụ thể rõ ràng Do đó người ta có thể

dễ dàng ước tính được mức độ bảo hộ của nó và từ đó gây sự ép để điều chỉnh

• Các biện pháp hạn chế định lượng nói chung và hạn ngạch nói riêng là biện pháp dùng để hạn chế về số lượng hoặc giá trị hàng hóa xuất khẩu, nhậu

Trang 9

khẩu trong một thời gian nhất định (thông thường là 1 năm) Biện pháp này

bị quy đinh nghiêm ngặt và không được chấp nhận như thuế quan vì:

• Thứ nhất, nó không thể hiện tính minh bạch như thuế quan do tính pháp lý không cao bằng thuế và thời gian quy định thông thường chỉ một năm

• Thứ hai, hạn ngạch và các biện pháp hạn chế định lượng dễ bị biến tướng hơn thế quan Nhiều khi chỉ thay đổi cách gọi tên biện pháp nhưng nội dung chủ yếu vẫn là hạn ngạch

• Thứ ba, hạn ngạch khác thuế quan ở điểm chính phủ sẽ không có thu nhập từ hạn ngạch Khi một hạn ngạch được dùng để hạn chế nhập khẩu thay cho thuế quan thì lượng tiền đáng ra là thu nhập của chính phủ từ thuế quan sẽ rơi vào túi bất kỳ người nào có giấy phép nhập khẩu

Câu 7: Khi các nước trong EU trợ cấp xuất khẩu vào Mỹ, trên bình diện chung nước Mỹ sẽ có lợi vì người tiêu dùng Mỹ được mua hàng hóa có giá rẻ hơn Hãy giải thích tại sao Mỹ lại sử dụng biệp pháp thuế đối kháng thay vì cám ơn EU đã trợ cấp?

Trả lời:

Theo quan điểm của Tổ chức Thương mại Thế giới, thuế đối kháng là khoản thuế đặc biệt áp dụng nhằm mục đích triệt tiêu mọi khoản ưu đãi hay trợ cấp dành trực tiếp hay gián tiếp cho công đoạn chế biến, sản xuất hay xuất khẩu bất cứ hàng hóa nào Mục đích áp dụng thuế đối kháng là nhằm loại bỏ lợi ích do trợ cấp “bất hợp pháp” mang lại

Khi trợ cấp xuất khẩu thì giá cả hàng hóa xuất khẩu các nước trong EU sẽ giảm, lúc đó giá nhập khẩu hàng hóa tại Mỹ cũng sẽ giảm Giá nhập khẩu giảm thì hàng hóa trong nước kém sức cạnh tranh so với hàng xuất khẩu, gây thiệt hại đến lợi ích

và ngành sản xuất nội địa của Mỹ Chính phủ Mỹ không đặt mục tiêu để cho người tiêu dùng mua hàng giá rẻ Mà vì mục tiêu trợ cấp sản xuất cho hàng hóa trong nước

Theo quy định của WTO thì việc áp dụng các biện pháp đối kháng (mà chủ yếu là thuế đối kháng) chỉ có thể thực hiện nếu cơ quan có thẩm quyền của nước nhập

khẩu, sau khi đã tiến hành điều tra chống trợ cấp, ra kết luận khẳng định sự tồn tại đồng thời của cả 03 điều kiện sau:

Trang 10

Hàng hoá nhập khẩu được trợ cấp (với biên độ trợ cấp - tức là trị giá phần

trợ cấp trên trị giá hàng hoá liên quan - không thấp hơn 1%);

Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu bị thiệt hại đáng kể

hoặc bị đe doạ thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành của ngành sản xuất trong nước (gọi chung là yếu tố “thiệt hại”);

Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu được trợ cấp và thiệt

hại nói trên

CÂU 8: Hãy giải thích nguyên tắc đối xử bình đẳng trong thương mại hàng hóa của GATT/ WTO? Hãy cho một ví dụ trong thực tế vi phạm nguyên tắc này?

Nguyên tắc đối xử bình đẳng trong thương mại hàng hóa của GATT/WTO:

Nguyên tắc tối huệ quốc (Most favoured nation - MFN): được hiểu là nếu một

nước dành cho một nước thành viên một sự đối xử ưu đãi nào đó thì nước này cũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các nước thành viên khác

Theo nguyên tắc này, các quốc gia không phân biệt đối xử với các đối tác thương mại của mình, cho dù đối tác đó giàu hay nghèo, mạnh hay yếu Mỗi thành viên phải đối xử với các thành viên khác trong tổ chức một cách công bằng, như những đối tác thương mại “ưu tiên nhất” Nếu một nước dành cho một đối tác thương mại của mình một số ưu đãi thì nước đó phải đối xử tương tự như vậy với tất cả các thành viên còn lại của WTO để tất cả các quốc gia đều “được ưu tiên nhất”

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment - NT): được hiểu là hàng hóa

nhập khẩu nước ngoài phải được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hoá cùng loại trong nước

Theo nguyên tắc này, khi áp dụng những qui chế trong nước và thuế nội địa đối với hàng nhập khẩu, thì cũng phải cung cấp các điều kiện tương tự đối với sản

Ngày đăng: 23/05/2020, 11:28

w