1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chinh sach cong nghiep

22 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 189,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự ra đời của các doanhnghiệp FDI một mặt thúc đẩy công nghiệp phát triển, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nướcđổi mới công nghệ do tính lan truyền của công nghệ nhưng nếu không có sự hỗ

Trang 1

MỤC LỤC

1 Giới thiệu 2

2 Khái niệm về chính sách công nghiệp 3

2.1 Định nghĩa 3

2.2 Mục đích của chính sách công nghiệp 3

2.3 Công cụ của chính sách công nghiệp 4

2.4 Nhà nước và chính sách công nghiệp 5

2.5 Những vấn đề của chính sách công nghiệp 6

3 Chính sách công nghiệp trong giai đoạn hội nhập 7

3.1 Chính sách công nghiệp các nước đang phát triển sau Chiến tranh thế giới thứ 2 7

3.2 Chính sách công nghiệp trong giai đoạn hội nhập 10

4 Chính sách công nghiệp Việt Nam 12

4.1 Chính sách công nghiệp Việt Nam giai đoạn 1986 – 2007 12

4.2 Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 14

4.3 Chính sách giáo dục 15

4.4 Thành lập các tập đoàn lớn của nhà nước 15

4.5 Chính sách cho vay của Ngân hàng 16

4.6 Chính sách thu hút FDI 17

4.7 Các chính sách tạo ra môi trường hoạt động 18

5 Kết luận 20

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 2

1 Giới thiệu

Không một quốc gia nào phát triển mà không thông qua công nghiệp hóa vì người takhông thể gia tăng thu nhập bằng tăng trưởng nông nghiệp Do đó chính sách công nghiệpđúng đắn sẽ thúc đẩy quá trình công nghiệp và đưa đất nước tiến lên như Nhật Bản, HànQuốc, Singapo… ngược lại sẽ kéo lùi nền công nghiệp và cả toàn bộ nền kinh tế

Trong những thập kỷ 60s, 70s các quốc gia phát triển công nghiệp trong sự bảo hộtuyệt đối của chính phủ bằng các chính sách ngoại thương, hỗ trợ phát triển…trong suốt mộtthời gian dài đã mang lại hiệu quả to lớn cho các quốc gia Nhưng trong giai đoạn hội nhậpkinh tế toàn cầu hiện nay, các nước công nghiệp hóa muộn như Việt Nam khó có thể áp dụngchính sách bảo hộ công nghiệp như các nước phát triển đã từng làm Điều này gây khó khăn

và không công bằng cho những nước đang phát triển muốn thúc đẩy nền công nghiệp non trẻcủa mình Do đó buộc các nước này phải thay đổi chính sách để phù hợp với các quy địnhcủa quốc tế

Toàn cầu hóa đang mở ra những cơ hội cho các quốc gia đang phát triển muốn đẩynhanh công nghiệp hóa Tạo ra các chuỗi giá trị toàn cầu và mỗi quốc gia tham sẽ tận dụngđược lợi thế của mình, từ đó có thể nâng cao khoa học công nghệ của đất nước mà không cầnphải tốn chi phí đầu tư cho R&D Toàn cầu hóa cũng bao gồm dòng vốn FDI di chuyển tự dohơn, vốn FDI sẽ mang theo công nghệ, vốn, công ăn việc làm Để có được những dòng vốnnày thì các nước tiếp nhận phải tự đổi mới cả về mặt chính sách và cơ sở hạ tầng Tuy nhiêntoàn cầu hóa cũng tạo ra các thách thức không nhỏ Nếu các quốc gia không thể tham giachuỗi giá trị toàn cầu thì sẽ bị bỏ lại phía sau, tụt hậu so với thế giới Sự ra đời của các doanhnghiệp FDI một mặt thúc đẩy công nghiệp phát triển, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nướcđổi mới công nghệ do tính lan truyền của công nghệ nhưng nếu không có sự hỗ trợ của nhànước sẽ tiêu diệt các ngành công nghiệp trong nước

Khi gia nhập WTO các nước buộc phải bãi bỏ chính sách ngoại thương và các chínhsách khác để bảo trợ cho công nghiệp trong nước, các doanh nghiệp FDI ngày càng khó tínhtrong việc chọn lựa điểm đến, các nước đang phát triển cạnh tranh nhau để thu hút các nguồnvốn này gây nên tình trạng khó khăn cho các nước đang phát triển trong việc lựa chọn chínhsách để phát triển công nghiệp Trong bối cảnh đó, chính sách công nghiệp của các nước pháttriển phải là sự kết hợp của nhiều chính sách Ở mỗi quốc gia sẽ khác nhau tùy thuộc vào lợi

Trang 3

thế cạnh tranh, chiến lược kinh tế và tầm nhìn của chính phủ Có những quốc gia đã thành công(Thái Lan, Malaysia) cũng có những quốc gia thất bại với chính sách công nghiệp của mình.

Bài tiểu luận nhằm mục đích giới thiệu chính sách công nghiệp mà các quốc gia pháttriển chủ yếu ở khu vực Đông Á đã sử dụng và chính sách công nghiệp Việt Nam từ 1986 đếnnay và những kiến nghị chính sách đối với chính phủ

2 Khái niệm về chính sách công nghiệp

2.1 Định nghĩa

Chính sách công nghiệp là những biện pháp của chính phủ nhằm thay đổi phân phốinguồn lực giữa các doanh nghiệp hoặc mức độ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệptrong cùng một ngành để thúc đẩy tăng trưởng [1] Chính sách công nghiệp sẽ thay đổi cấutrúc nền kinh tế Việc xây dựng chính sách công nghiệp liên quan đến mức tự ý thức về lập

kế hoạch kinh tế Chính sách công nghiệp có thể có hoặc không, có tính hệ thống hoặc phùhợp, điều này phụ thuộc vào động cơ của chính sách

2.2 Mục đích của chính sách công nghiệp

Chính sách công nghiệp có mục đích là để lôi kéo, thay đổi cấu trúc nền kinh tế củamột quốc gia Diebold phân loại chính sách công nghiệp thành ba nhóm theo mục đích củachúng, cụ thể là: Chính sách công nghiệp ngăn chặn (phản kháng), chính sách công nghiệpthích ứng, và chính sách công nghiệp để tạo ra thay đổi cơ cấu

Chính sách công nghiệp với mục đích ngăn chặn (phản kháng) là chính sách được sửdụng bởi các quốc gia như Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản trong những thập niên 60s – 70s

để bảo hộ cho các ngành sản xuất công nghiệp trong nước Các quốc gia này đã dựng lênhàng rào thuế quan đối với các hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài để nuôi dưỡng ngành côngnghiệp trong nước Hiện nay, với sự hội nhập kinh tế toàn cầu, các nước tham gia phải tuânthủ luật chơi chung do đó hàng rào thuế quan bị gỡ bỏ điều này gây khó khăn cho các nướccông nghiệp muộn như khu vực Đông Nam Á khi không được bảo hộ cho các ngành côngnghiệp non trẻ của mình Chính sách này giúp phát triển các ngành công nghiệp nói chungcủa quốc gia

Trang 4

Chính sách công nghiệp thích ứng là chính sách chuyển nguồn lực sang khu vực trọngtâm, có khả năng cạnh tranh với thế giới để tạo ra sự thay đổi cơ cấu Chính sách công nghiệpthích ứng dựa vào lợi thế cạnh tranh của quốc gia, dựa vào lợi thế kinh tế theo quy mô, sẽgiúp tái cơ cấu lại các ngành công nghiệp trong nước thông qua việc chuyển nguồn lực chongành ưu tiên Chính phủ sẽ quyết định ngành được ưu tiên tùy thuộc vào mục đích và tư duychiến lược của quốc gia.

Chính sách công nghiệp để tạo ra sự thay đổi cơ cấu là chính sách được sử dụng khichính phủ muốn khuyến khích sản xuất trong khu vực mà trước đây quốc gia không có Chínhphủ sẽ bảo vệ hoặc hỗ trợ cho các nhà sản xuất tại địa phương để nội địa hóa sản phẩm thaycho nhập khẩu Chính sách này hiện nay được nhiều quốc gia sử dụng như Thái Lan, Malaysiatrong ngành công nghiệp ô tô Việt Nam cũng đang thực hiện chính sách công nghiệp này đốivới ngành công nghiệp ô tô, xe máy và đóng tàu Chính sách này sẽ tái cơ cấu lại các doanhnghiệp trong ngành ưu tiên, thông qua việc hỗ trợ về mặt chính sách của nhà nước

Chính phủ có thể sử dụng nhiều loại chính sách công nghiệp trong cùng một thờiđiểm như việc làm suy giảm và làm nổi lên khu vực trong nền kinh tế

2.3 Công cụ của chính sách công nghiệp

Công cụ có tác động trực tiếp bảo hộ cho các ngành sản xuất công nghiệp trong nướctạo dựng rào cản thông qua thuế, hạn ngạch đối với hàng hóa nhập khẩu và kiểm soát ngoạihối Công cụ này được các nước phát triển sử dụng trong giai đoạn đầu của quá trình côngnghiệp hóa Nhưng hiện nay các nước đang phát triển không thể sử dụng chính sách này vìvấp phải sự trả đũa của các nước khác và luật lệ trong thương mại quốc tế Muốn tham giavào thương mại toàn cầu buộc các quốc gia đặc biệt là các quốc gia đang phát triển phải tuânthủ luật chơi, gỡ bỏ hàng rào thuế quan và hạn ngạch nhập khẩu để đổi lại những ưu đãi từcác đối tác là các nước phát triển

Công cụ thứ 2 mà các quốc gia sử dụng là trợ giúp doanh nghiệp thông qua trợ cấp,giảm thuế, tín dụng ưu đãi, phân bổ tín dụng Hiện nay, công cụ này cũng vấp phải sự phảnđối trong thương mại quốc tế Đối với các quốc gia đang phát triển, quy mô doanh nghiệptrong nước chưa đủ lớn để có thể cạnh tranh với thế giới khi hội nhập thì sự hỗ trợ từ chínhphủ là cần thiết để nuôi dưỡng nền sản xuất trong nước, tránh bị thâu tóm bởi tập đoàn nước

Trang 5

ngoài Các quốc gia đang phát triển cần phải có lộ trình để xây dựng và phát triển các doanhnghiệp trong nước có quy mô lớn để tạo ra tính kinh tế theo quy mô.

Các công cụ để hỗ trợ xuất khẩu như tiếp thị, tài trợ, bảo hiểm, thành lập khu chế xuất, tổchức xúc tiến xuất khẩu Từ việc hỗ trợ xuất khẩu sẽ khuyến khích các công ty đầu tư, tậptrung nguồn lực sản xuất từ đó cơ cấu kinh tế trong nước cũng sẽ thay đổi theo ngành được

hỗ trợ xuất khẩu

Cải tiến công nghệ thông qua trợ cấp cho hoạt động R&D, luật về quyên sở hữu trí tuệ.Công nghệ là yếu tố quyết định năng suất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh của ngành.Các yếu tố về vốn và lao động có năng suất biên giảm dần do đó năng suất sẽ bị giới hạn Do

đó để tăng năng suất thì phải có sự đột biến về công nghệ Hiện nay, sức cạnh tranh của các tậpđoàn đa quốc gia ngoài các yếu tố về tính kinh tế theo quy mô thì công nghệ là một yếu tốquyết định Chính phủ hỗ trợ cho hoạt động R&D thường không có hiệu quả, hầu hết các hoạtđộng R&D là ở các công ty đa quốc gia do đó nhà nước chỉ cần bảo trợ cho các phát minh khoahọc, công nghệ thông qua luật sở hữu trí tuệ để tạo động lực cho hoạt động R&D

Để tạo ra chính sách và thực thi chính sách một cách hiệu quả thì năng lực của chínhphủ phải tốt Các nước đang phát triển thường bị hạn chế bởi đội ngũ cán bộ kém chất lượngdẫn đến các chính sách thường không chính xác và việc thực thi cũng bị hạn chế do đó vấn

đề phát triển nguồn nhân lực là công cụ để chính sách công nghiệp được chính xác và đạthiệu quả cao

Các quốc gia đang phát triển thường thiếu vốn để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa.FDI là nguồn vốn rất quan trọng để chính phủ điều tiết đầu tư thông qua việc lựa chọn nguồnFDI của chính phủ từ đó định hướng phát triển ngành, giúp phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật

và pháp lý Là công cụ để chính phủ thực hiện chính sách công nghiệp nhằm tạo ra sự thayđổi cơ cấu, nội địa hóa các sản phẩm nhập khẩu

2.4 Nhà nước và chính sách công nghiệp

Chính sách công nghiệp là sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh tế Sự can thiệpnày khác nhau ở các quốc gia tùy thuộc vào quá trình công nghiệp hóa và chiến lược của quốcgia đó Trong chính sách công nghiệp, vai trò của nhà nước được chia thành hai loại chính:

Trang 6

1 Nhà nước là người điều hành: Nhà nước sẽ tạo ra môi trường và luật lệ thuận lợi để

khuyến khích nền kinh tế phát triển theo một hướng nhất định Đây là sự can thiệp theo chiềungang Chính phủ có thể sử dụng nhiều công cụ để tạo ra môi trường cạnh tranh “ưu thích”như sử dụng thuế và hạn ngạch để hạn chế sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu, đồng thời thúcđẩy lợi thế cạnh tranh của hàng hóa trong nước bằng các khoản trợ cấp Một công cụ nữa màchính phủ có thể thực hiện là ưu đãi đầu tư như giảm thuế và cho thuê đất giá rẻ để thúc đẩysản xuất trong lĩnh vực nhất định

Với vai trò là người điều hành cuộc chơi, chính phủ tạo ra luật lệ và tạo ra môi trườngcạnh tranh theo chiến lược để đưa nền kinh tế đi theo định hướng mà chính phủ mong muốn

2 Các tập đoàn nhà nước: Chính phủ mở rộng quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế thông

qua việc thành lập các tập đoàn kinh tế, các công ty thuộc sở hữu của nhà nước Các công tynày có thể hoàn toàn thuộc sở hữu của nhà nước hoặc liên doanh giữa nhà nước với các tậpđoàn đa quốc gia Đây là sự can thiệp của nhà nước theo chiều dọc

Nhà nước sử dụng các tập đoàn để kiểm soát và định hướng nền kinh tế theo ý muốn và chiếnlược riêng của mình Các tập đoàn kinh tế nhà nước chỉ tập trung vào một số ngành được ưutiên phát triển dựa vào lợi thế cạnh tranh, tiềm năng phát triển và khả năng dẫn dắt nền kinh

tế trong tương lai

Tùy thuộc vào quan điểm của nhà nước về chính sách phát triển công nghiệp mà nhànước có thể lựa chọn các ngành ưu tiên và đầu tư cho các ngành này thông qua các tập đoànnhà nước hoặc nhà nước tạo ra môi trường cạnh tranh để các doanh nghiệp tư nhân tự canhtranh với nhau rồi lựa chọn ra các doanh nghiệp mạnh để đầu tư hoặc để tự thị trường lựachọn doanh nghiệp nhà nước chỉ đóng vai trò là người điều hành cuộc chơi thông qua luậtpháp, thể chế

2.5 Những vấn đề của chính sách công nghiệp

Bất kỳ một quốc gia nào cũng phải trải qua quá trình công nghiệp hóa, một số quốc giathành công với chính sách công nghiệp của mình như Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia… một sốquốc gia thất bại vì nợ công nhưng năng lực cạnh tranh của nền công nghiệp trong nước khôngđược cải thiện như Việt Nam Bất kỳ một chính sách nào cũng phải có giá của nó

Trang 7

1 Tìm kiếm đặc lợi: Chính sách công nghiệp của chính phủ là sự bảo hộ các doanh nghiệp

trong nước khỏi sự cạnh tranh Sự bảo hộ này có thể là thuế, hạn ngạch, trợ cấp… Chính sáchcủa chính phủ chỉ tập trung vào một số ngành ưu tiên, chính phủ sẽ chuyển nguồn lực chongành đó phát triển do đó ngành nào được lựa chọn sẽ có rất nhiều đặc lợi, ưu đãi Vì vậy cácngành và doanh nghiệp trong một ngành của nền kinh tế sẽ làm mọi cách lobby cho chínhphủ để được hưởng các ưu đãi này, điều này sẽ dẫn đến tình trạng tham nhũng Mức độ thamnhũng ở các nước đang phát triển nghiêm trọng hơn do đó việc lựa chọn ngành ưu tiên củachính phủ thường là không chính xác

2 Mất hiệu quả: Khi chính phủ chuyển nguồn lực cho công nghiệp cạnh tranh nhập khẩu để

nuôi dưỡng các ngành công nghiệp non trẻ hoặc đang suy giảm thì sẽ không có cơ hội để đầu

tư một cách hiệu quả vào các ngành khác như mở rộng xuất khẩu, đầu tư cơ sở hạ tầng, giáodục… Sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động kinh tế có mặt trái sẽ làm biến dạng,méo mó nền thị trường, tạo ra sự không công bằng trong việc chia sẻ nguồn lực, phân phốithu nhập

3 Nhóm lợi ích: Việc chuyển giao nguồn lực cho ngành này mà không phải ngành khác sẽ tạo

nên các nhóm lợi ích trong nội bộ nền kinh tế để gây sức ép chính trị lên chính phủ Các nhómnày sẽ tranh giành với nhau để có được sự bảo hộ từ phía chính phủ Chính phủ sẽ rất khó lòngđạt được hiệu quả xã hội và lợi ích từ ngoại thương nếu vẫn bị các nhóm lợi ích chi phối

3 Chính sách công nghiệp trong giai đoạn hội nhập

3.1 Chính sách công nghiệp các nước đang phát triển sau Chiến tranh thế giới thứ 2

1 Phát triển khoa học công nghệ

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, các nước đang phát triển đã sử dụng chính sách côngnghiệp nhằm tăng khả năng công nghệ trong nước Đây là điều kiện cần thiết để thúc đẩytăng trưởng khi nền kinh tế bị tàn phá bởi chiến tranh Trong giai đoạn đầu các nước chủ yếunhập khẩu công nghệ, sau đó các quốc gia đã thực hiện nỗ lực để tự sản xuất trong nước vềkhoa học công nghệ Các quốc gia đã thúc đẩy hoạt động R&D thông qua các công ty nhànước, các tổ chức khoa học công nghệ công cộng và hội đồng khoa học quốc gia nhằm mụcđích: tài trợ khoa học công nghệ, hợp tác các chương trình R&D, lan truyền thông tin khoahọc công nghệ, quản trị hệ thống quyền sở hữu

Trang 8

Hệ thống thể chế cũng được thay đổi để hỗ trợ cho các phát minh và thay đổi côngnghệ, các kế hoạch phát triển quốc gia gắn với các chương trình khoa học và công nghệ, nhànước thiết lập các ưu tiên cho hoạt động R&D, gắn kết viện nghiên cứu với khu vực tư nhân.Chính phủ sử dụng luật pháp để thúc đẩy sự tích lũy kiến thức trong nước Một công cụ quantrọng mà chính phủ các nước sử dụng là cho vay vốn phát triển công nghệ thông qua cácNgân hàng phát triển.

Một chính sách được sử dụng thành công trong ngành công nghiệp ô tô Brazil là việcthu hút vốn và công nghệ của nước ngoài thông qua ưu đãi, xem đây như là ngành dẫn dắtnền kinh tế Kèm theo đó là chính sách hạn chế nhập khẩu và buộc các công ty đa quốc giachấp nhận bán thị trường trong nước

Việc phát triển công nghệ cũng được thúc đẩy mạnh mẽ ở các quốc gia khu vực Đông

Á Chính phủ các nước hỗ trợ và khuyến khích nhập khẩu công nghệ như chi phí chuyển giaoquyền sáng chế và lệ phí nhập khẩu công nghệ được khấu trừ thuế, thu nhập từ tư vấn côngnghệ được miễn thuế và kỹ sư nước ngoài được miễn thuế thu nhập

2 Chính sách giáo dục và đào tạo kỹ năng

Để làm chủ và vận hành một cách hiệu quả các công ty cần phải được hỗ trợ bởi một

hệ thống giáo dục và đào tạo cho phép họ tiếp cận được với lao động đủ trình độ và có những

kỹ năng cần thiết

Vai trò của giáo dục và đào tạo được chứng minh lịch sử phát triển của các nước pháttriển và các nước công nghiệp mới Việc can thiệp của chính phủ vào chính sách giáo dụcđược xem là một phần quan trọng của chính sách công nghiệp Việc chú trọng phát triểnnguồn nhân lực hợp lý đã tạo ra động lực mạnh để đẩy nhanh tăng trưởng của đất nước Ngàynay, nhân lực ở các quốc gia phát triển và đang phát triển có khoảng cách rất xa về trình độ

Trang 9

3 Thay thế nhập khẩu, chính sách ngoại thương và mở cửa

Chính sách ngoại thương góp phần xác định mức độ cạnh tranh quốc tế của các công

ty Chính phủ sử dụng chính sách ngoại thương để hỗ trợ cho quá trình công nghiệp hóa Cácnước phát triển hiện nay đều có quá trình bảo hộ bằng chính sách ngoại thương để nền côngnghiệp của quốc gia đuổi kịp các nước khác

Chính sách bảo hộ và thay thế nhập khẩu nhằm mục đích bảo vệ thị trường trongnước để dễ dàng hơn cho các công ty trong nước để tìm hiểu, đổi mới và tăng trưởng Khicác công ty đủ lớn, tạo ra lợi thế kinh tế theo quy mô thì chính phủ chuyển bảo hộ cho nhữngngười xuất khẩu Hai yếu tố cơ bản tạo ra sự thành công là: sự cam kết cao của chính phủ đểxuất khẩu thành công và chính phủ ban hành một loạt các chính sách, thành lập các tổ chức

để hỗ trợ xuất khẩu Chính sách công nghiệp thay thế nhập khẩu thường đi kèm với chínhsách hỗ trợ xuất khẩu Tăng trưởng xuất khẩu cũng đã được ưa chuộng bởi việc cung cấp vốnđầu tư dài hạn cho những người mà các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu dự kiến sẽ trởthành nước xuất khẩu Các cam kết của Chính phủ để tăng xuất khẩu cũng thể hiện qua việctạo ra các trung tâm xúc tiến thương mại có tay nghề cao và chuyên nghiệp Các tổ chức nàyđóng một vai trò quan trọng trong gia tăng xuất khẩu vì tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏtrong việc liên lạc với khách hàng nước ngoài và thâm nhập thị trường mới (Lall, 2003).Thực tế cho thấy rằng, chính sách ngoại thương một mình nó không thể mang lại hiệu quả,thậm chí nếu chính sách ngoại thương không tốt còn làm trì trệ thêm nền kinh tế Do đó,chính sách công nghiệp đi kèm là cơ sở để thúc đẩy công nghiệp hóa đi lên

4 Thành lập các Ngân hàng phát triển, phân bổ tín dụng và các ưu đãi tài chính

Để thực hiện các khoản ưu đãi tín dụng cho các ngành công nghiệp, chính phủ cácnước đã thành lập các Ngân hàng phát triển Các ngân hàng phát triển là đại diện của Nhànước để tài trợ cho đầu tư tư nhân và công cộng và là nguồn quan trọng nhất của việc chovay dài hạn cho ngành công nghiệp Ngân hàng phát triển huy động vốn trong và ngoài nước,

sử dụng vốn để mua cổ phần trong các công ty tư nhân và công cộng và để cho vay đối vớidoanh nghiệp trong nước với lãi suất thấp hơn thị trường Các ngân hàng phát triển năm 1950bắt đầu tài trợ cho các ngành công nghiệp thâm dụng lao động và công nghiệp nặng (kim loại

Trang 10

cơ bản, các sản phẩm thực phẩm và dệt may) Khoảng những năm 70, các mục tiêu là cácngành sử dụng nhiều vốn, tức là hóa chất, máy móc, thiết bị giao thông vận tải.

Các Ngân hàng phát triển khu vực Đông Á sử dụng các điều kiện đối với các khoản vay,trong đó điều kiện sử dụng các yếu tố đầu vào nội địa (Shapiro, 1989) Điều kiện này nhằmvào mục đích: lôi kéo các công ty trong nước phát triển công nghệ và đội ngũ kỹ sư và máymóc; tạo điều kiện để xây dựng các công ty quốc gia; làm phong phú công nghệ sản xuấttrong nước và tiết kiệm ngoại tệ

3.2 Chính sách công nghiệp trong giai đoạn hội nhập

Từ những năm 1970s chính sách công nghiệp của các nước phát triển bị chỉ tríchnghiêm trọng do chính sách công nghiệp đã bộc lộ những ảnh hưởng bất lợi khi thực hiện ởcác nước đang phát triển Mặt khác, hai sự kiện “thế giới thực” đã buộc chính phủ các nướcphải thay đổi mạnh chính sách là: sự bùng phát của nợ nước ngoài và cuộc khủng hoảng nợnăm 1982; thứ hai là sự gia tăng của các hiệp định thương mại song phương, khu vực và đaphương và vượt quá giới hạn kiểm soát của chính phủ Đặc biệt, các hiệp định đa phươngbuộc các nước phải giảm dần thuế quan và các rào cản phi thuế quan đối với thương mại Đểgiải quyết nợ nước ngoài thì thương mại là con đường tốt nhất, vừa để thúc đẩy sản xuấttrong nước vừa để tìm lối thoát cho sản phẩm dư thừa

Ngoài ra, các quy định mới của WTO cũng đã hạn chế việc sử dụng chính sách côngnghiệp cho bảo hộ Những cam kết của các thành viên WTO là cắt giảm hàng rào thuế quan,hạn ngạch và cấm trợ cấp xuất khẩu Khuyến khích xuất khẩu là công cụ của chính sách côngnghiệp trong một vài trường hợp các quy tắc của WTO vẫn cho phép can thiệp bằng chínhsách thương mại theo hình thức trợ cấp chọn lọc nhằm mục đích: thúc đẩy R&D trong nước;thúc đẩy phát triển khu vực và thúc đẩy các hoạt động thân thiện môi trường

WTO cho phép thành viên được sử dụng các biện pháp bảo vệ trong hai trường hợp sau: (1)khi nhập khẩu có thể làm mất ổn định cán cân thanh toán; (2) khi đối thủ nước ngoài đe dọamột ngành công nghiệp cụ thể hoặc có hành động thương mại không công bằng

Các quy định của WTO cũng hạn chế việc cấm xuất khẩu tự nguyện Các quy định mới củaWTO vẫn cho một số quốc gia có thể lựa chọn và thúc đẩy các ngành chiến lược như hỗ trợcho hoạt động R&D và thúc đẩy các hoạt động khoa học và công nghệ Để bảo vệ các nước

Trang 11

phát triển, hiệp định TRIPs đã được thiết kế để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Điều này đã ngăncản sự đuổi kịp của các nước đang phát triển.

Trong bối cảnh hội nhập, mỗi nhà sản xuất hay mỗi quốc gia là một công đoạn trongdây chuyền sản xuất toàn cầu do đó mỗi quốc gia phải xác định cho mình một vị trí trongchuỗi giá đó và chính sách công nghiệp cũng phải tập trung hỗ trợ để tận dụng tối đa lợi thếcạnh tranh, công nghệ và vốn của các công ty đa quốc gia để phát triển ngành công nghiệp,đội ngũ kỹ sư trong nước và cơ sở hạ tầng Để tham gia được chuỗi giá trị toàn cầu này thìmỗi quốc gia phải xác định được lợi thế của mình và có chính sách hỗ trợ, kêu gọi đầu tư vàtuân thủ các quy định quốc tế

Kinh nghiệm sử dụng chính sách công nghiệp mới của các nước NICs Đông Á nhằmhai mục tiêu: mở rộng quy mô các công ty trong nước nhằm tạo lợi thế kinh tế theo quy mô;thúc đẩy đổi mới và tích lũy kiến thức Các quốc gia đã sử dụng các ưu đãi và pháp luật để

mở rộng quy mô các công ty trong nước như trợ cấp tài chính và ưu đãi thuế để các công tysáp nhập với nhau Chính phủ hỗ trợ các công ty nhỏ công nghệ cao bằng cách tạo ra cácdòng tài dụng riêng và hình thành một liên doanh vốn công nghiệp

Chính phủ các nước đã nỗ lực để tăng kiến thức trong nước bằng các chính sách: hỗ trợcho các hoạt động R&D của các công ty trong nước bằng các nguồn vốn vay ưu đãi lãi suất từcác ngân hàng phát triển Một chính sách quan trọng khác để nâng cao kiến thức và đào tạo kỹnăng là đầu tư và đổi mới giáo dục trong các trường đại học, thành lập các Viện nghiên cứu vàkhoa học Tài trợ cho các khóa đào tạo công nghiệp, hợp tác với các công ty đa quốc gia và hợptác với chính phủ nước ngoài Thành lập các quỹ phát triển kỹ năng để tài trợ cho việc đào tạocác công ty nhỏ và các chương trình hỗ trợ cho các công ty lớn để cung cấp đào tạo cho laođộng có tay nghề thấp; chính sách hỗ trợ thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng

Trong giai đoạn mới, không phải từ bỏ tất cả các chính sách công nghiệp và mục tiêuđịnh hướng phát triển kinh tế Chính phủ tiến hành các nghiên cứu khả năng cạnh tranh định

kỳ để biểu đồ hóa và nâng cấp nền công nghiệp và thiết kế chiến lược nhằm nâng cao tínhcạnh tranh của đất nước Chính phủ vẫn đóng vai trò xúc tác bằng cách thiết lập các phòngthí nghiệm R & D Hợp tác chặt chẽ với khu vực tư nhân và các công ty đa quốc tích cựctham gia vào quá trình xây dựng chiến lược

Ngày đăng: 23/05/2020, 11:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w