Bài làm: a Đứng trên góc độ là người lao động chân tay Xét theo lợi ích của các thành viên công đoàn thì chính sách này là thích hợp Để chứng minh nó là thích hợp ta sẽ sử dụng mô hình t
Trang 1CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN NGOẠI THƯƠNG
I Câu 1:
Sự khác nhau giữa lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh? Gần đây các nhà kinh tế phương tây lo ngại về lợi ích ngoại thương không còn nữa khi mà các nước đang phát triển như Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng cao Hãy bình luận lập luận trên?
Bài Làm
Sự khác nhau giữa lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh?
Lợi thế so sánh - David Ricardo:
- Giả thuyết của mô hình: Công nghệ là hội tụ, điều đó cho thấy tiền lương cũng sẽ có khuynh hướng hội tụ Nhưng thực tế điều này là không xảy ra vì tiền lương còn có khoảng cách vì khoa học, công nghệ, tri thức, phát minh… không thể khi phát minh xong
có thể lan truyền sang nước khác 1 cách nhanh chóng vì rào cản về trình độ, có khi phải mất 10 năm, 20 năm hơn lâu hơn… Chính những điều này tạo ra sự khác biệt về tiền lương Không hội tụ về công nghệ thì khó mà hội tụ về năng suất và tiền lương, bởi suy cho cùng tiền lương có được là từ sự đóng góp của năng suất
- David Ricardo đã triển khai lý thuyết lợi thế tuyệt đối thành lợi thế so sánh, các nước nhường bớt những công đoạn dù đang chiếm lợi thế tuyệt đối cho nước khác để tập trung làm những gì đem lại lợi ích nhiều nhất cho họ, chuyên môn hoá toàn bộ nguồn lực, để sản xuất 1 loại hàng hoá mà thôi, để tận dụng tác động của chi phí cơ hội
- Năng suất giữa các quốc gia, sự khác biệt về công nghệ tạo ra khác biệt về năng suất, từ
đó tạo lợi ích từ ngoại thương 1 nước sẽ dùng nguồn lực bên trong của mình để tạo thế mạnh, chuyên môn
Hạn chế:
- David Ricardo không chỉ ra được ai có lợi, ai bất lợi trong vi mô và cả trong bình diện vĩ
mô từ tự do thương mại Nhưng vấn đề chưa được phù hợp lắm vì thực tế có người được người mất, thương mại rất nhạy cảm về chính trị, khi bị đụng đến sự phân phối lại thu nhập thì các nhóm lợi ích sẽ phản đối và tìm cách ngăn cản tự do thương mại Vì vậy rất khó giải quyết bằng bài toán kinh tế mà phải xem lại thể chế để ràng buộc các nhóm lợi ích hơn Vì trong bình diện KT vĩ mô thì có lợi nhưng chưa chắc tất cả đều có lợi
- Mô hình cố định, tĩnh, chỉ sử dụng 1 yếu tố vốn và lao động
- Khái niệm về lợi thế so sánh rất trừu tượng dẫn đến hiểu không đúng, từ đó dẫn đến làm
sẽ không đúng
- Chuyên môn hoá toàn bộ nguồn lực từ sản xuất nhưng trong thực tế không có điều này
Lợi thế cạnh tranh – Hecksher – Ohlin: Sự khác biệt về nguồn lực là lợi thế của ngoại
thương, sự dồi dào về các yếu tố sản xuất, qua đó sẽ giải thích việc trao đổi hàng hoá là
có lợi Vốn, lao động, kỹ thuật tạo ra lợi thế cạnh tranh, từ đó tạo ra lợi ích ngoại thương Vốn và lao động có thể thay thế nhau, nhưng không tự do dịch chuyển giữa các quốc gia,
nò chỉ dịch chuyển bên trong nền kinh tế theo nguyên tắc “nước chảy về chỗ trũng”
Trang 2 Ưu điểm: Dự đoán tương đối phù hợp hơn so với mô hình Ricardo Các nhà làm chính
sách dễ dàng hơn trong việc tìm ra lợi thế so sánh của nước mình như vấn đề CN và năng suất
Trong mô hình này, việc xác định sự dồi dào về yếu tố sản xuất là không khó và thuận lợi như: so sánh nguồn lực bán kỹ năng so với nguồn lực khác trong nền kinh tế như thế nào,
từ đó dễ dàng hơn trong việc xác định lợi thế so sánh Có thể tiên lượng trong tương lai
để cân nhắc lượng hàng hoá trong tương lai sản xuất ra có đặc trưng gì
Chỉ ra được ai được và ai mất khi tự do hoá ngoại thương, từ đó các chính sách, thể chế
để ràng buộc các nhóm lợi ích
Gần đây các nhà kinh tế phương Tây lo ngại về lợi ích ngoại thương không còn nữa khi mà các nước đang phát triển như Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng cao Hãy bình luận lập luận trên?
- Một quốc gia tham gia vào thương mại quốc tế chỉ khi họ thu được lợi ích nhất định từ thương mại Lợi ích của ngoại thương là khả năng nâng cao mức sống và thu nhập thực tế của một nước thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hóa với nước khác dựa trên cơ sở chi phí so sánh để sản xuất những hàng hóa
- Góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước: Vốn, việc làm, công nghệ, sử dụng tài nguyên có hiệu quả
- Trung Quốc hiện nay là 1 nhà máy khổng lồ của thế giới do nhân công giá rẻ và sao chép các phát minh của các nước khác rất tài tình nên giá thành sản phẩm rất cạnh tranh Chính
vì vậy hiện nay Trung Quốc đang phải đối mặt với nhiều sự việc như: EU đã quyết định đặt mức mức thuế chống bán phá giá đối với các mặt hàng thép nhập khẩu từ Trung Quốc lên đến 24%, với thời hạn là 5 năm Từ tháng 2/2009, liên minh châu Âu bắt đầu đánh thuế vào các mặt hàng bán phá giá từ Trung Quốc với mức thuế chống bán phá giá là 24% Được biết, từ tháng 1 – 6/2009, đã có 15 quốc gia và khu vực tiến hành những điều tra nghiêm khắc với các doanh nghiệp Trung Quốc với số tiền liên quan là 8,276 tỷ USD Trên thực tế, từ năm 2008, các vụ va chạm thương mại của Trung Quốc đã diễn ra mạnh
mẽ Hiệp hội thép Trung Quốc cũng chịu những ảnh hưởng nghiêm trọng của chủ nghĩa bảo hộ thương mại, những hiện tượng này đều gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến ngành xuất khẩu của Trung Quốc Cách đây không lâu, Hội đồng Thương mại Quốc tế Hoa kỳ đã đưa ra kiến nghị tiến hành đánh thuế trừng phạt đối với mặt hàng lốp xe của Trung Quốc khoảng 55%, 45% và 35% trong vòng ba năm…
Trang 3II Câu 2:
Phong trào công đoàn của Mỹ-phần lớn đại diện cho công nhân lao động chân tay hơn là công nhân có kỹ năng-có truyền thống ủng hộ việc hạn chế nhập khẩu từ nước nghèo Hãy
sử dụng mô hình thương mại thích hợp để chỉ ra chính sách này là thích hợp hay thiển cận xét theo lợi ích của thành viên công đoàn?
Bài làm:
a) Đứng trên góc độ là người lao động chân tay
Xét theo lợi ích của các thành viên công đoàn thì chính sách này là thích hợp
Để chứng minh nó là thích hợp ta sẽ sử dụng mô hình thương mại Heckscher – Ohlin
Thương mại quốc tế xu hướng làm cho những người công nhân có tay nghề thấp ở Mỹ lâm vào tình trạng tồi tệ hơn – không chỉ tạm thời mà trên một cơ sở lâu dài vì mô hình Heckscher – Ohlin nói rằng khi nội địa và nước ngoài buôn bán với nhau , các mức giá tương đối của chúng
sẽ hội tụ lại Ở các nước nghèo do có lợi thế tương đối về lao động ( giá lao động thấp, lực lượng lao động dồi dào) điều này giúp cho giá cả của các mặt hàng sử dụng nhiều lao động chân tay của các nước này thấp hơn so với nước Mỹ, khi các mặt hàng này được phép vào Mỹ nó khiến cho các mặt hàng này ở Mỹ sản xuất khó có thể cạnh tranh được ( do giá lao động ở Mỹ cao dẫn đến chi phí cao ), muốn cạnh tranh chỉ có cách giảm giá điều này khiến cho lợi nhuận giảm và thu nhập của lao động chân tay giảm theo, thậm chí không cạnh tranh được phải đóng cửa dẫn đến lao động ở đây thất nghiệp
Mô hình Heckscher – Ohlin cũng nói rằng một nước sẽ chuyên môn hóa trong sản xuất
và xuất khẩu hàng hóa thâm dụng yếu sản xuất mà nước đó có lợi, khi hàng hóa của các nước nghèo vào Mỹ làm cho các sản phẩm cùng loại của Mỹ khó có thể cạnh tranh được
vì Mỹ không có lợi thế lao động bằng các nước này do đó nước Mỹ sẽ chuyển hướng sang phát triển các ngành mà mình có lợi thế hơn so với các nước nghèo, đó là phát triển các sản phẩm sử dụng lao động kỹ năng điều này gây ra tình trạng thất nghiệp cho lao động chân tay (lao động bán kỹ năng của Mỹ)
Sẽ có sự phân phối lại trong thu nhập vì công nhân bán kỹ năng bị thất nghiệp hoặc thu nhập giảm do các sản phẩm làm ra không cạnh tranh được, phần còn lại thì nhận được lợi ích nhiều hơn do giá cả của các mặt hàng nhập khẩu từ nước nghèo thấp hơn
b) Đứng trên góc độ là người lao động có kỹ năng
Xét theo lợi ích của các thành viên công đoàn thì chính sách này là thiển cận
Để chứng minh nó là thiển cận ta sẽ sử dụng mô hình thương mại Heckscher – Ohlin Các mặt hàng nhập khẩu từ các nước nghèo chủ yếu là các mặt hàng sử dụng nhiều lao động và ít công nghệ, những người lao động có kỹ năng là người làm việc trong môi trường công nghệ cao do vậy các sản phẩm của nước nghèo không cạnh tranh được các sản phẩm do lao động này làm ra, Mô hình Heckscher – Ohlin nói rằng khi nội địa và nước ngoài buôn bán với nhau, các mức giá tương đối của chúng sẽ hôi tụ lại điều này cho thấy rằng giá cả các mặt hàng do lao động kỹ năng làm ra không thay đổi nhưng giá cả do lao động bán kỹ năng lại giảm xuống do vậy lao động kỹ năng được hưởng lợi từ việc giá thấp này và đương nhiên cuộc sống của họ sẽ
dễ chịu hơn do vậy việc hạn chế trên là thiển cận
Trang 4 Mô hình Heckscher – Ohlin cũng nói rằng một nước sẽ chuyên môn hóa trong sản xuất
và xuất khẩu hàng hóa thâm dụng yếu sản xuất mà nước đó có lợi do vậy các ngành, các sản phẩm sử dụng lao động có kỹ năng sẽ được tập trung phát triển, lao động có kỹ năng
có nhiều cơ hội hơn về việc làm và thu nhập do có nhiều doanh nghiệp muốn thu hút họ đến đây làm việc hơn
III Câu 3:
Một số nhà kinh tế Mỹ cho rằng thu nhập lao động của Trung Quốc khoảng 7,5 đô la một giờ Nếu Mỹ cho phép nhập hàng từ Trung Quốc thì thu nhập của công nhân Mỹ cũng sẽ giảm ở mức này Anh không thể nhập một cái áo sơ mi 10 đô la từ Trung Quốc mà không nhập khẩu 7,5 đô la tiền lương gắn liền với áo sơ mi Dựa vào lý thuyết thương mại hãy bình luận lập luận trên?
Bài Làm
- Trước hết, do giá yếu tố lao động tại Trung Quốc là thấp hơn Mỹ hay nói cách khác lao động tại Trung Quốc dồi dào tương đối hơn tại Mỹ và sự thâm dụng lao động của việc sản xuất áo tại Trung Quốc cũng hơn Mỹ Điều này cho thấy có sự khác biệt về nguồn lực lao động giữa 2 quốc gia Vậy nên theo mô hình H-O (Hechsher-Ohlin) ta xác định rằng đây là cơ sở và nguồn gốc xảy ra ngoại thương giữa 2 quốc gia
- Vấn đề tiếp theo khi đã nhập 1 cái áo với giá lao động là 7.5USD/giờ thì thu nhập của công nhân sản xuất áo tại Mỹ thế nào? Việc nhập áo từ Trung Quốc với giá lao động rẻ hơn thì sẽ ảnh hưởng đến lao động của ngành đó tại Mỹ hay chính xác hơn theo định lý Stolper – Samuelson khi có ngoại thương thì chủ sở hữu yếu tố sản xuất mà hàng hóa nhập khẩu vào sẽ bị tổ thất Trong trường hợp này chủ sở hữu yếu tố sản xuất là người lao động trong ngành sản xuất áo tại Mỹ (họ là chủ nguồn lực lao động của họ) và áo đối với Trung Quốc là hàng hóa xuất khẩu nhưng với Mỹ là hàng hóa nhập khẩu Tóm lại thu nhập của người lao động sản xuất áo tại Mỹ sẽ giảm nhưng định lý này không giải thích được liệu rằng có giảm đúng bằng giá lao động tại nước xuất khẩu không (7.5USD/giờ)?
- Vấn đề còn lại ta xem xét đến mức giảm của thu nhập tại Mỹ thế nào? Theo lý thuyết ngang bằng giá yếu tố sản xuất thì khi ngoại thương xảy ra thì sự khác biệt giữa giá các yếu tố sản xuất sẽ dẫn đến sự hội tụ về giá điều đó có nghĩa là với trường hợp cụ thể như trên thì giá lao động của người lao động sản xuất áo tại Mỹ sẽ giảm xuống bằng với giá tại Trung Quốc tức 7.5USD/giờ
- Các lý thuyết bên trên đưa đã khẳng định điều đó thế nhưng trong thực tế ta thấy không xảy ra đúng như thế tức giá lao động công nhân sản xuất áo không giảm đến mức bằng công nhân tại Trung Quốc Vậy điều này có nghĩa là đã có sự khác biệt dẫn đến khi xảy
ra ngoại thương thì giá không hoàn toàn đi theo lý thuyết ngang bằng giá yếu tố sản xuất
Trang 5và sự khác biệt ở đây đó là sự khác biệt về công nghệ theo lý thuyết hố cách công nghệ hay lý thuyết vòng đời sản phẩm Chính các điều này đã làm cho giá lao động tại Mỹ sẽ không giảm xuống đến 7.5USD/giờ nhưng khi ngoại thương xảy ra nhưng một điều chắc chắn rằng nó sẽ làm giảm sự chênh lệch về giá lao động công nhân sản xuất áo tại TQ và Mỹ
IV Câu 4:
Ngày hôm nay 60% nút và dây kéo làm phụ kiện cho ngành may mặc thế giới được sản xuất từ một làng nông nghiệp nghèo trước đây của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Hãy sử dụng lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô để giải thích tại sao làng này lại có lợi thế trong ngành phụ trợ sản xuất nút và dây kéo cho ngành may mặc? Tại sao Việt Nam với lợi thế nhân công giá rẻ lại không phát triển được ngành phụ trợ này như Trung Quốc?
Bài Làm
Ôn lại 1 số kiến thức cơ bản về lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô:
Lợi thế kinh tế theo quy mô hay còn gọi là lợi nhuận tăng dần theo quy mô được bộc lộ khi chi phí bình quân dài hạn giảm theo đà tăng lên của sản lượng
Những ngành sản xuất càng hiệu quả với quy mô càng lớn gọi là ngành có lợi thế kinh tế theo quy mô, khi đó xuất lượng tăng lên với 1 tỷ lệ lớn hơn sự gia tăng của tất cả các nhập lượng
Có 2 loại lợi thế kinh tế theo quy mô:
Lợi thế kinh tế theo quy mô bên trong: chi phí trung bình phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp nhưng không nhất thiết phụ thuộc vào quy mô ngành
=> cấu trúc thị trường thường là cạnh tranh không hoàn hảo với các doanh nghiệp lớn có lợi thế chi phí so với các doanh nghiệp nhỏ
Lợi thế kinh tế theo quy mô bên ngoài: chi phí trung bình phụ thuộc vào quy mô ngành nhưng không nhất thiết phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp
=> ngành có thể bao gồm các doanh nghiệp nhỏ và cấu trúc thị trường thường là cạnh tranh hoàn hảo
Ngày hôm nay 60% nút và dây kéo làm phụ kiện cho ngành may mặc thế giới được sản xuất từ một làng nông nghiệp nghèo trước đây của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Hãy
sử dụng lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô để giải thích tại sao làng này lại có lợi thế trong ngành phụ trợ sản xuất nút và dây kéo cho ngành may mặc?
Bởi vì khi 1 ngành tập trung (nhiều doanh nghiệp) thì sẽ có hiệu quả hơn so với hoạt động của 1 doanh nghiệp cô lập, khi đó ngành sẽ có được lợi thế kinh tế theo quy mô
Trang 6Thị trường lao động tập trung: tỉnh Vân Nam Trung Quốc là 1 tỉnh nông nghiệp nghèo
nên tình trạng thất nghiệp trong giai đoạn “nông nhàn” sẽ rất cao, đây sẽ là 1 thị trường lao động phong phú để phát triển ngành phụ trợ sản xuất nút và dây kéo đòi hỏi sự thâm dụng lao động lớn
Hiệu quả chuyên môn hoá: khi sản lượng lớn hơn, người ta có điều kiện sử dụng lao
động chuyên môn và máy móc chuyên dụng
Mỗi người công nhân có thể tập trung vào 1 công việc cụ thể và giải quyết công việc hiệu quả hơn, góp phần làm giảm chi phí bình quân
Do tính không chia nhỏ được của quy trình sản xuất cũng như dây chuyến máy móc và thiết bị, đây chính là chi phí cố định, nó không phụ thuộc vào việc có sản xuất hay không Khi sản lượng tăng lên (quy mô sản xuất tăng) doanh nghiệp sẽ đạt được lợi thế kinh tế nhờ quy mô
vì các chi phí cố định này có thể được chia cho 1 số lượng nhiều hơn các đơn vị sản lượng và nó làm giảm chi phí bình quân cho 1 đơn vị sản phẩm Kỹ thuật và tổ chức sản xuất ưu việt khi quy
mô tăng lên người ta có thể sử dụng máy tự động thay cho thiết bị vận hành thủ công hoặc thay thế sản xuất đơn chiếc bằng dây chuyền hàng loạt một cách liên tục
Lợi thế của việc mua nguyên vật liệu và phụ tùng với khối lượng lớn: khi các doanh
nghiệp đặt hàng với số lượng lớn hơn các yếu tố đầu vào sản xuất, họ có quyền mặc cả nhiều hơn với các nhà cung cấp Qua đó, có thể được giảm giá hoặc hưởng chiết khấu, hoa hồng cao hơn
Lợi thế về tài chính: Những doanh nghiệp nhỏ thường gặp nhiều khó khăn để có được
tài chính và khi làm được điều đó thì chi phí tài chính thường là khá cao, do các doanh nghiệp nhỏ được xem là rủi ra cao hơn các doanh nghiệp lớn Các công ty lớn thường có khả năng gọi vốn với điều kiện thuận lợi hơn (lãi suất, chi phí đi vay thấp hơn)
Lợi thế Marketing (hiệu quả tiêu thụ): thu được nhờ việc sử dụng phương tiện quảng
cáo đại chúng và mật độ sử dụng lực lượng bán hàng lớn hơn
Lợi thế quản lý: Khi một doanh nghiệp phát triển sẽ tạo điều kiện cho các nhà quản lý
chuyên nghiệp hơn trong các nhiệm vụ công việc cụ thể (ví dụ như tiếp thị, quản lý nhân sự, tài chính…)
Giao thông vận tải và các liên kết truyền thông được nâng cao Khi 1 ngành hình
thành và phát triển ở 1 vùng nào đó thì chính phủ sẽ cung cấp hạ tầng giao thông vận chuyển tốt hơn và liên kết truyền thông để tăng khả năng tiếp cận của khu vực Khi đó sẽ giảm được chi phí vận chuyển và thu hút thêm nhiều khách hàng tiềm năng
Đào tạo và giáo dục trở nên tập trung, có được nguồn nhân lực lớn có tay nghề phù
hợp
Tại sao Việt Nam với lợi thế nhân công giá rẻ lại không phát triển được ngành phụ trợ này như Trung Quốc?
Trang 7Trung Quốc với lợi thế là những người đi trước đã chiếm lĩnh thị trường và tích lũy kinh nghiệm, Việt Nam sẽ rất khó phát triển được khi là người đi sau, còn non trẻ và gặp rất nhiều trở ngại
Việc gia nhập WTO sau 148 nước, trong đó có những nước tiềm năng xuất khẩu lớn như Thái Lan, Trung Quốc… càng làm tăng sự bất lợi của Việt Nam Việc Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của WTO từ năm 2001 đã khiến Việt Nam khó khăn hơn trong việc cạnh tranh với hàng hóa Trung Quốc vốn đang tràn ngập thị trường thế giới với giá rẻ
Các ngành phụ trợ của Việt Nam chủ yếu cung cấp những sản phẩm có chất lượng kém
và giá thành cao vì công nghệ lạc hậu, vì quản lý kém nên chỉ tiêu thụ được trong nội bộ Các doanh nghiệp trong nước không đủ niềm tin và ý thức tích lũy kỹ năng như: yêu cầu nâng cao chất lượng, giá thành, thời gian giao hàng, dịch vụ, tốc độ… Các cán bộ quản lý bậc trung, cán
bộ quản lý kỹ thuật, công nhân tay nghề cao đều bị thiếu hụt và không ổn định
=> các ngành phụ trợ quá yếu không hấp dẫn các công ty đa quốc gia đầu tư trực tiếp sản xuất tại Việt Nam
Một nguyên nhân nữa là các doanh nghiệp Việt Nam thường có thói quen cái gì cũng muốn làm từ A đến Z, ít chịu hợp tác, liên kết với các đối tác nước ngoài
Hiện nay, công nghệ dễ lan nhanh từ nước này sang nước khác nên những nước có nguồn lực lao động dồi dào, khéo tay và tiền lương rẻ sẽ dễ trở thành những cứ điểm sản xuất các sản phẩm phụ có sức cạnh tranh lớn Việt Nam rất có triển vọng cạnh tranh được trong lĩnh vực này nhưng vì những lý do nói ở trên, Việt Nam chưa trở thành một trong những nơi sản xuất chính tại châu Á
V Câu 5:
Lý thuyết ngoại thương cho rằng tự do ngoại thương là tốt nhất và chính sách ngoại thương tốt nhất là không có chính sách gì Tuy nhiên trong thực tế hầu hết các quốc gia đều có rào cản ngoại thương Hãy giải thích tại sao các quốc gia lại làm như vậy?
Bài Làm
Trong thực tế hều hết các quốc gia đều có rào cản ngoại thương bởi vì:
- Hàng rào thương mại nhằm khuyến khích sản xuất trong nước thay thế nhập khẩu & thúc đẩy xuất khẩu
- Bảo vệ các doanh nghiệp trong nước trước sức ép cạnh tranh bởi các doanh nghiệp nước ngoài
- Bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ trong nước vừa mới hình thành
- Giảm sự tin cậy & lệ thuộc vào những nhà cung cấp nước ngoài
- Giảm bớt những vấn đề về cán cân thanh toán
Trang 8- Ngăn cản những công ty nước ngoài phá giá, nghĩa là bán hàng hóa với giá thấp hơn chi phí để chiếm thị phần
- Thúc đẩy những mục tiêu chính trị như là từ chối giao dịch với những quốc gia theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc hoặc phủ nhận quyền tự do nhân quyền
- Khuyến khích đầu tư trực tiếp trong nước & nước ngoài
Là công cụ trừng phạt nhằm gây thiệt hại kinh tế, mà các nước có ưu thế gây ra cho nước khác (trừng phạt kinh tế mang màu sắc chính trị)
VI Câu 6
Thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu là những công cụ để bảo hộ sản xuất trong nước Hãy giải thích tại sao trong các hiệp định thương mại người ta chấp nhận thuế như công cụ bảo hộ tạm thời nhưng hạn ngạch thì không?
Bài Làm
Hàng rào Thuế quan: Đây là một loại thuế đánh vào hàng mậu dịch, phi mậu dịch khi hàng hóa đi qua khu vực hải quan của một nước Hiện nay, khi hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì các quốc gia tìm cách giảm dần và tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan
Hàng rào phi thuế quan: Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lí, khoa học hoặc bình đẳng Hàng rào phi thuế quan thường được áp dụng đối với hàng nhập khẩu Hình thức của hàng rào phi thuế quan rất phong phú, gồm: Các biện pháp hạn chế định lượng, các biện pháp tương đương thuế quan, các rào cản kỹ thuật, các biện pháp liên quan đến đầu
tư nước ngoài, các biện pháp quản lý hành chính, các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời Trong đó, hạn ngạch nhập khẩu thuộc các biện pháp hạn chế định lượng
Wto và các đinh chế thương mại khu vực thường thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp pháp bởi tính rõ ràng và minh bạch của nó Mức thuế đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh qua lãnh thổ hải quan của một quốc gia được quy định bởi một con số cụ thể rõ ràng Do đó người ta có thể dễ dàng ước tính được mức độ bảo hộ của nó và từ đó gây sự ép để điều chỉnh
Các biện pháp hạn chế định lượng nói chung và hạn ngạch nói riêng là biện pháp dùng để hạn chế về số lượng hoặc giá trị hàng hóa xuất khẩu, nhậu khẩu trong một thời gian nhất định (thông thường là 1 năm) Biện pháp này bị quy đinh nghiêm ngặt và không được chấp nhận như thuế quan vì:
Trang 9 Thứ nhất, nó không thể hiện tính minh bạch như thuế quan do tính pháp lý không cao bằng thuế và thời gian quy định thông thường chỉ một năm
Thứ hai, hạn ngạch và các biện pháp hạn chế định lượng dễ bị biến tướng hơn thế quan Nhiều khi chỉ thay đổi cách gọi tên biện pháp nhưng nội dung chủ yếu vẫn
là hạn ngạch
Thứ ba, hạn ngạch khác thuế quan ở điểm chính phủ sẽ không có thu nhập từ hạn ngạch Khi một hạn ngạch được dùng để hạn chế nhập khẩu thay cho thuế quan thì lượng tiền đáng ra là thu nhập của chính phủ từ thuế quan sẽ rơi vào túi bất kỳ người nào có giấy phép nhập khẩu
VII Câu 7:
Khi các nước trong EU trợ cấp xuất khẩu vào Mỹ, trên bình diện chung nước Mỹ sẽ có lợi vì người tiêu dùng Mỹ được mua hàng hóa có giá rẻ hơn Hãy giải thích tại sao Mỹ lại sử dụng biệp pháp thuế đối kháng thay vì cám ơn EU đã trợ cấp?
Bài Làm
Theo quan điểm của Tổ chức Thương mại Thế giới, thuế đối kháng là khoản thuế đặc biệt áp dụng nhằm mục đích triệt tiêu mọi khoản ưu đãi hay trợ cấp dành trực tiếp hay gián tiếp cho công đoạn chế biến, sản xuất hay xuất khẩu bất cứ hàng hóa nào Mục đích áp dụng thuế đối kháng là nhằm loại bỏ lợi ích do trợ cấp “bất hợp pháp” mang lại
Khi trợ cấp xuất khẩu thì giá cả hàng hóa xuất khẩu các nước trong EU sẽ giảm, lúc đó giá nhập khẩu hàng hóa tại Mỹ cũng sẽ giảm Giá nhập khẩu giảm thì hàng hóa trong nước kém sức cạnh tranh so với hàng xuất khẩu, gây thiệt hại đến lợi ích và ngành sản xuất nội địa của Mỹ Chính phủ Mỹ không đặt mục tiêu để cho người tiêu dùng mua hàng giá rẻ Mà vì mục tiêu trợ cấp sản xuất cho hàng hóa trong nước
VIII CÂU 8:
Hãy giải thích nguyên tắc đối xử bình đẳng trong thương mại hàng hóa của GATT/ WTO? Hãy cho một ví dụ trong thực tế vi phạm nguyên tắc này?
Bài Làm
Nguyên tắc đối xử bình đẳng trong thương mại hàng hóa của GATT/WTO:
Nguyên tắc tối huệ quốc (Most favoured nation - MFN): được hiểu là nếu một nước dành
cho một nước thành viên một sự đối xử ưu đãi nào đó thì nước này cũng sẽ phải dành sự ưu đãi
đó cho tất cả các nước thành viên khác
Trang 10Theo nguyên tắc này, các quốc gia không phân biệt đối xử với các đối tác thương mại của mình, cho dù đối tác đó giàu hay nghèo, mạnh hay yếu Mỗi thành viên phải đối xử với các thành viên khác trong tổ chức một cách công bằng, như những đối tác thương mại “ưu tiên nhất” Nếu một nước dành cho một đối tác thương mại của mình một số ưu đãi thì nước đó phải đối xử tương tự như vậy với tất cả các thành viên còn lại của WTO để tất cả các quốc gia đều “được ưu tiên nhất”
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment - NT): được hiểu là hàng hóa nhập khẩu
nước ngoài phải được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hoá cùng loại trong nước
Theo nguyên tắc này, khi áp dụng những qui chế trong nước và thuế nội địa đối với hàng nhập khẩu, thì cũng phải cung cấp các điều kiện tương tự đối với sản phẩm trong nước Vì thế các thành viên của WTO không được áp dụng thuế nội địa để bảo vệ hàng sản xuất trong nước
và không được phân biệt đối xử với hàng nhập khẩu từ các nước thành viên WTO
Ví dụ thực tế việc các nước vi phạm nguyên tắc này:
Trong vụ Mỹ kiện Thái Lan về những hạn chế số lượng và tăng thuế tiêu thụ đánh vào thuốc
lá điếu nhập khẩu, nhóm chuyên gia của GATT đã quyết định rằng chính phủ Thái Lan có quyền thành lập "Thai Tobacco Monopoly" là công ty của nhà nước độc quyền trong lĩnh vực nhập khẩu và phân phối thuốc lá ở Thái lan và có quyền sử dụng công ty này để điều chỉnh giá và hệ thống bán lẻ thuốc lá Tuy nhiên, ngựoc lại,Thái Lan cũng có nghĩa vụ theo đãi ngộ quốc gia không được đối xử với thuốc lá nhập khẩu kém ưu đãi hơn so với thuốc lá sản xuất trong nước
Vì vậy, việc Thái lan hạn chế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thuốc lá ngoại và tăng thuế tiêu thụ nội điạ căn cứ vào tỷ lệ "nội hoá" trong thuốc lá là vi phạm Điều III của GATT về đãi ngộ quốc gia Bồi thẩm đoàn của GATT đồng thời cũng bác bỏ lập luận của Thái lan viện dẫn điều khoản cho phép hạn chế số lượng vì lý do sức khoẻ vì cho rằng mục tiêu thực sự của chính phủ Thái lan không phải là để hạn chế việc tiêu thụ thuốc lá nói chung (việc hạn chế nhập khẩu và tăng thuế không áp dụng đối với sợi và giấy để sản xuất thuốc lá nội địa) mà thực chất là nhằm bảo hộ ngành sản xuất thuốc lá của Thái lan
IX Câu 9:
Trong chiến lược kinh doanh toàn cầu, hầu hết các công ty torng ngành thâm dụng lao động- may mặc và giầy dép sử dụng các hợp đồng thuê ngoài đối với những nước dồi dào lao động như Việt Nam, nhưng các ngành thâm dụng vốn các công ty thường đầu tư trực tiếp thay vì hợp đồng gia công Hãy giải thích tại sao có sự khác biệt về chiến lược này?
Bài Làm
Ngày nay, các công ty FDI sẽ đầu tư vào những ngành thâm dụng lao động bằng những hợp đồng gia công hay thuê ngoài tại các nước nghèo, đang phát triển với lí do chính là do giá nhân công rẻ, đây là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam, và những tập đoàn đa quốc gia này sẽ dành vốn , nguồn lực để phát triển nhiều hơn về công nghệ, đối vối những ngành thâm dụng lao động không đòi hỏi kỹ năng, công nghệ kỹ thuật của người lao động cao Đây cũng là thực trạng đối vối nguồn lao động của Việt Nam không có tay nghề chuyên môn cao, chủ yếu vẫn là lao động phổ