TS Lê Huy Bắc đã nêu lên định nghĩa về kí hiệu trong cuốn “Ký hiệu và liên ký hiệu” như sau: “ký hiệu là hệ thống khái niệm mang nghĩa về các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và xã hội,
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
1 Khái niệm 2
1.1 Khái niệm kí hiệu 2
1.2 Khái niệm kí hiệu học 3
1.3 Khái niệm kí hiệu học văn học 4
1.4 Khái niệm kí hiệu học văn hóa 8
1.5 Mối quan hệ giữa kí hiệu học văn học và kí hiệu học văn hóa 9
2 Biểu hiện 12
2.1 Lý thuyết kí hiệu học văn học biểu hiện ở biểu tượng 13
2.2 Lý thuyết kí hiệu học văn học biểu hiện ở cổ mẫu 15
2.3 Lý thuyết kí hiệu học văn học biểu hiện ở kết cấu 17
3 Vận dụng lí thuyết kí hiệu học vào một số trường hợp cụ thể 19
3.1 Tìm hiểu bài ca dao “Hôm qua tát nước đầu đình” 19
3.2 “Chí Phèo” dưới góc nhìn kí hiệu học 20
Trang 21 Khái niệm
1.1 Khái niệm kí hiệu
Vạn vật trên đời, khi hiện diện trong tri nhận hoặc giao tiếp của con người, đều ở dạng kýhiệu Mỗi ký hiệu đều phải mang ít nhất một nghĩa (meaning) Không có “nghĩa”, ký hiệu khôngtồn tại Mọi dạng kí hiệu đều mang tính văn hóa, là sản phẩm của một nhóm người hay cộng đồngnhất định Ký hiệu thuộc lĩnh vực ý thức Khi một xã hội phát triển đến mức nào đó thì kí hiệu mới
ra đời Khái niệm về kí hiệu đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu qua các bài viết dưới đây
Charles Sander Peirce (1839 – 1914) đã đưa ra luận điểm có thể xem là thâu tóm được bản
chất của khái niệm kí hiệu: “Chẳng có cái gì là ký hiệu nếu nó không được diễn giải như là kí hiệu
(Nothing is a sign unless it í interpreted as a sign) Peirce khẳng định, con người tư duy bằng ký
hiệu Daniel Chandler cho rằng “Ký hiệu là một vật mang nghĩa được diễn giải như là “đại diện” cho cái gì đó ngoài nó Ký hiệu được tìm thấy trong hình thức vật chất của từ ngữ, hình ảnh, âm thanh, hành động hay vật thể (hình thức vật chất này đôi khi được xem như là lớp vỏ hình thức của
ký hiệu) Ký hiệu không có nghĩa tự thân (intrinsic meaning) và trở thành ký hiệu chỉ khi người dùng ký hiệu cấp cho chúng nghĩa thông qua việc quy chiếu dựa vòa mã đã được thừa nhận”.
Từ cái nhìn của khoa học xã hội, ký hiệu được hình thành trong giao tiếp, được “mã hóa” vàgiải mã “nghĩa” từ một hệ thống, ngữ cảnh nhất định
(1) Ký hiệu là cái mà con người dùng để giao tiếp (nói hoặc viết) – lý thuyết Saussure thiên vềđịnh nghĩa này Như thế, ký hiệu là quy ước của con người về sự vật hiện tượng, dùng làm phươngtiện giao tiếp Theo quan điểm này, ký hiệu là một trạng thái tinh thần thuần túy và được nhấn mạnh
đến tính cấu trúc nội tại của ký hiệu.
(2) Ký hiệu là cái mà con người dùng để tri nhận thế giới – lý thuyết của Peirce thiên về định
nghĩa này, nhấn mạnh đến tính quy chiếu khách thể của kí hiệu Theo đó, ký hiệu là cái quy chiếu đến sự vật hiện tượng tồn tại khách quan với nhận thức con người, được “gán” cho nghĩa và được giải mã theo một cách nào đó Chẳng hạn “ngôi nhà” là một ký hiệu, “nghĩa” của nó là nơi ở (nhìn
từ mã xã hội), là cái đẹp (nhìn từ mã kiến trúc), là pháo đài tình yêu (nhìn từ mã của kẻ đang yêu),
là ngục tù (mã bạo hành gia đình)… Qủa vậy, mọi sự vật hiện tượng đều có trước ký hiệu Khi chúng hiện diện nhờ lao động và khám phá khoa học của con người thì ký hiệu về chúng mới ra đời PGS TS Lê Huy Bắc đã nêu lên định nghĩa về kí hiệu trong cuốn “Ký hiệu và liên ký hiệu” như sau: “ký hiệu là hệ thống khái niệm mang nghĩa về các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, được con người sáng tạo, mã hóa, để chuyển tải thông điệp, phục vụ giao tiếp thông qua một
“hệ nghĩa” nhất định trong từng bối cảnh cụ thể.”
Trang 3Ký hiệu có mối quan hệ gần gũi với tín hiệu và dấu hiệu Do đó, cần phân biệt các định nghĩa
này để có cái nhìn chính xác hơn về ký hiệu Trong công trình nghiên cứu “Ký hiệu và liên ký hiệu”
PGS TS Lê Huy Bắc đã chỉ ra những đặc điểm của tín hiệu Theo ông, tín hiệu là những biểu hiệnnhư hình ảnh, cử chỉ, âm thanh,… được phát ra mà con người có thể tri nhận nhưng chưa hiểu, kýhiệu thì ngược lại là những biểu hiện được hiểu trong cộng đồng người Tín hiệu là những biểu hiện
tự nhiên và xã hội tự thân chưa được con người mã hóa để dùng giao tiếp Tín hiệu bao gồm mọi âmthanh, mùi vị, hình dáng của các đối tượng tự nhiên và xã hội (ngôn ngữ của dân tộc này đối vớimột dân tộc khác), tự khẳng định sự tồn tại của chính nó, nhưng chưa được con người trao “nghĩa”,chưa có chức năng giao tiếp xã hội Tín hiệu đa phần quy chiếu đến chính chúng Trong trường hợpnày, các tín hiệu đó có thể gọi là “dấu hiệu” Dấu hiệu dùng trong phạm vi hẹp hơn tín hiệu lẫn kýhiệu Đó là những biểu hiện có tính quy ước trong một phạm vi tri nhận đặc thù nhất định Theo đó,mỗi sự vật, hiện tượng đều có dấu hiệu riêng Dấu hiệu là sự tự thể hiện bên ngoài, là cấu trúc tựthân, để tự khẳng định sự tồn tại, để phân biệt “nó” với “cái khác”
1.2 Khái niệm kí hiệu học
Ký hiệu học có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp semeion có nghĩa là sign và ký hiệu học là ngành
nghiên cứu ký hiệu Rộng hơn là phương pháp nghiên cứu văn bản, ở cả hai khía cạnh: lý thuyết vàcách tiếp cận phân tích ký hiệu, mã và nghĩa thực tế của ký hiệu Rộng hơn nữa, theo Umbeto Eco
thì ký hiệu học “nghiên cứu mọi thứ được xem là kí hiệu” Lịch sử của ngành này bắt đầu từ thế kỉ
17 Triết gia John Locke, người nổi tiếng với triết lý về quyền con người, đã đưa ra khái niệm
semiotika và xác định đó là “lý thuyết ký hiệu” có nội dung “quan tâm đến bản chất của ký hiệu, tư
duy hướng đến việc hiểu sự vật hoặc truyền đạt kiến thức về nó cho người khác
Ký hiệu học thực sự phát triển trong vòng ba thập niên cuối thế kỉ XX Bao gồm nhiều trườngphái khác nhau, điển hình có thể kể là trường phái Mỹ (đứng đầu là C.S Peirce mạnh về logic, ngữnghĩa và mối quan hệ giữa ngôn ngữ học và triết học), trường phái Nga (đứng đầu là Yuri Lotman,
thiên sang ký hiệu học văn hóa, đề xuất khái niệm ký hiệu quyển xem xét ký hiệu trong toàn bộ
không gian văn hóa có liên quan đến nó
Nghiên cứu về cách hiểu thế nào là kí hiệu học, theo nhà nghiên cứu Lã Nguyên trong bài viết
“Một số vấn đề về kí hiệu học văn hóa”, hiện nay trên thế giới đã có ba cách định nghĩa khác nhau:
(1) Cách định nghĩa mẫu mực và phổ biến nhất về ký hiệu học là định nghĩa dựa vào đối
tượng: Ký hiệu học là khoa học về các ký hiệu và/hoặc về các hệ thống ký hiệu Định nghĩa theo
cách thứ nhất có thể thấy ở công trình của U Eco (Một lí thuyết về kí hiệu học, 1976) và phổ biến
trong định nghĩa của các từ điển en.m.wikipedia.org, Oxford advanced learner’s dictionary 7th
Trang 4edition, Microsoft student with Encarta Premium 2008 DVD… Dù được chấp nhận rộng rãi nhưngcách định nghĩa này lại quá chung chung.
(2) Định nghĩa theo kiểu thứ hai là định nghĩa dựa vào phương pháp: Ký hiệu học là khoa
học đem các phương pháp ngôn ngữ học áp vào những đối tượng khác, không phải là ngôn ngữ tự nhiên Định nghĩa thứ hai cho thấy một khuynh hướng tiếp cận mà người ta gọi là truyền thống Saussure Quan điểm sau đây của I.I.Revzin thể hiện rõ nhất điều này: “Đối tượng của kí hiệu học
là mọi khách thể có thể miêu tả bằng các phương tiện ngôn ngữ học” Những nhà nghiên cứu theo
khuynh hướng này lấy ngôn ngữ học làm trung tâm, ngôn ngữ là trục quy chiếu để xem xét các hệthống kí hiệu khác
(3) Định nghĩa theo kiểu thứ ba là định nghĩa của Iu.M.Lotman Theo Lotman, ký hiệu học
là khoa học về các hệ thống giao tiếp và các ký hiệu được sử dụng trong quá trình thông tin Định
nghĩa thứ ba của Lotman gắn chặt với vấn đề giao tiếp và thông tin trong giao tiếp
Những ý kiến được đưa ra trên đây là cái nhìn khái quát về kí hiệu học Định nghĩa kí hiệuhọc chúng tôi đưa ra thảo luận trong bài viết này dựa vào định nghĩa của Iu.M.Lotman vì chúng tôicho rằng quan điểm này của Lotman đã chỉ ra đặc trưng cốt lõi nhất của kí hiệu và kí hiệu học Bởikhông thể có kí hiệu nào tồn tại ngoài giao tiếp, ngược lại cũng không thể giao tiếp nếu không có kíhiệu Hơn nữa, cấu trúc của kí hiệu, nghĩa của kí hiệu chỉ có thể hình thành và sản sinh trong giaotiếp
1.3 Khái niệm kí hiệu học văn học
Nhà ngôn ngữ học Sausure trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” đã làm sáng tỏ bản
chất kí hiệu của ngôn ngữ Trong nghiên cứu của Saussure, ngôn ngữ trở thành hệ thống kí hiệu tiêubiểu nhất Tuy nhiên, đó mới là ngôn ngữ tự nhiên Khi đi vào tác phẩm văn học, kí hiệu ngôn ngữ
đã được tái mã hóa để trở thành ngôn ngữ nghệ thuật
Trong các công trình ban đầu của mình Roland Barthes “một diễn giả quan trọng của phê bình cấu trúc” ghi nhận văn bản văn học như là “một hệ thống ký hiệu thứ hai” Quan điểm này
xem văn chương như là sự vận dụng hệ thống ký hiệu ngôn từ thứ nhất để hình thành nên cấu trúc
kí hiệu thứ hai, phù hợp với hệ thống quy ước và mã văn chương đặc biệt Đến lượt người đọc, hệ
thống ngôn từ đó trở thành “hệ thống ký hiệu thứ ba”, một hệ thống tùy thuộc rất nhiều vào năng
lực giải mã của người tiếp nhận
Cùng quan điểm với Roland Barthes, Yuri Lotman (1922 – 1993 ), nhà ký hiệu học người Ngaxem ngôn ngữ văn chương là “ngôn ngữ phái sinh” từ ngôn ngữ tự nhiên Đấy là dạng ngôn ngữtinh túy của ngôn ngữ Ký hiệu ngôn ngữ văn chương ít nhất bao gồm hai thuộc tính, nó vừa là kýhiệu giao tiếp thường nhật, vừa là ký hiệu giao tiếp thẩm mỹ Nghiên cứu ngôn ngữ văn chương nếu
Trang 5bỏ qua một trong hai phương diện thì sẽ không thấy được hết chiều sâu của loại ký hiệu đặc thù này.
Lotman khi trình bày khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật ngôn từ đã viết: “Nói văn học có ngôn ngữ
riêng, không trùng với ngôn ngữ tự nhiên, dẫu được kiến tạo trên ngôn ngữ ấy, tức là nói văn học
có một hệ thống kí hiệu riêng, chỉ thuộc về nó và những quy tắc tổ chức các kí hiệu ấy để chuyển tải những thông tin đặc biệt, những thông tin không thể chuyển tải bằng những phương tiện khác” Như vậy, mặc dù có cơ sở là ngôn ngữ tự nhiên (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Ý hay bất
kì một thứ tiếng nào khác), nhưng nghệ thuật ngôn từ chỉ dựa vào đó để sáng tạo ra ngôn ngữ của
riêng mình, “ngôn ngữ thứ sinh” hay còn gọi là ngôn ngữ nghệ thuật
Cùng cách nhìn nhận, Edward Quinn cho rằng “Ký hiệu học văn học tập trung vào ký hiệu ngôn từ (verbal signs), mặc dù nó cũng thừa nhận sự hiện diện nghĩa phi ngôn từ trong văn học.
Có hai truyền thống ký hiệu học văn học, một bắt nguồn từ Saussere và được phát triển trong cấu trúc luận và hậu cấu trúc luận, nguồn khác xuất phát từ Peirce Nhóm Peirce không chỉ quan tâm đến cấu trúc ký hiệu mà còn đến cả sự tác động của chúng đến độc giả lẫn mối quan hệ của chúng đến xã hội được hướng đến Hướng nghiên cứu được gọi là ngữ dụng này khám phá mối quan hệ của ký hiệu với ý nghĩa xã hội, chính trị và tầm quan trọng của chúng trong những lĩnh vực như quảng cáo và văn hóa đại chúng.”
Ký hiệu không đơn thuần chỉ là “cái gì đó” được mã hóa và biểu đạt cho một “cái gì đó” màquan trọng hơn là cách sử dụng và quy ước của ký hiệu luôn được đề xuất trong quá trình sử dụng
Ký hiệu vì thế vừa có sức sống nội tại, vừa có năng lực sản sinh nghĩa vô cùng Vậy nên, khi tiếpcận một văn bản văn chương, cho dù chỉ bấy nhiêu chữ nghĩa thôi, nhưng cứ mỗi người đọc lại cónhững cách hiểu khác nhau Thậm chí đối với một người, mỗi lần đọc, đọc kỹ cũng sẽ khám phá rađược nhiều nét nghĩa khác nhau trong cùng một văn bản
Trong quyển “Ký hiệu và liên lý hiệu” PGS TS Lê Huy Bắc đã chỉ ra các cấp độ của ký
hiệu văn học
Hình tượng (Image): Là một nhân vật (Chí Phèo, Xuân Tóc Đỏ) hoặc một khái niệm trừu
tượng (như Phép thắng lợi tinh thần của Aesop), một hình ảnh tự nhiên (liễu, khóm trúc, cánh chim,
…), thậm chí là một chữ trong thơ (“át cơ”, “trắng” trong thơ Lê Đạt),… có khả năng tạo nghĩa vàbiểu lộ cảm xúc trong tác phẩm
Biểu tượng (Symbol): Là cấp độ biểu nghĩa cao hơn hình tượng Biểu tượng luôn mangtính khái quát cao và gắn với nét đặc thù của thời đại Thời đại sản sinh ra biểu tượng Thời đại nào
có biểu tượng đó Khái niệm “nhân vật điển hình” được dùng khi nghiên cứu văn học hiện thựccũng là một dạng biểu tượng Kiều của Nguyễn Du là biểu tượng cho thân phận người phụ nữ trong
xã hội phong kiến Đồng thời đó còn là biểu tượng cho sự tài hoa bị vùi dập bởi những kẻ xấu…
Trang 6Như thế, tính biểu tượng của hình tượng không chỉ dừng lại ở một nét nghĩa Có những hình tượngmang tính khái quát cao có thể là một biểu tượng cho một tổ hợp nghĩa.
Cổ mẫu (Archetype): là những hình ảnh, mô hình, cấu trúc, phép ứng xử, luân lý, đạo đức,
… được hình thành từ xưa và được sử dụng lại trong tiến trình văn học Có thể chia cổ mẫu thành
cổ mẫu sáng thế (nước, lửa, đất, ), cổ mẫu luân lí (thiện ác, tốt xấu) Cổ mẫu là cấp độ khái quátcao nhất của kí hiệu văn học Mọi sáng tạo văn học không thể đi ra ngoài những quy ước mã của cổmẫu
Cơ sở kí hiệu học của ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn học chính là hình tượng vănhọc Hình tượng văn học có mối liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ văn học bởi vì nó được xây dựngtrên cơ sở kí hiệu ngôn ngữ nghệ thuật Điều đó cũng có nghĩa là đặc điểm của ngôn ngữ sẽ chi phốimạnh mẽ đến đặc điểm của hình tượng văn học Vì thế, trong tác phẩm văn học lãng mạn, khi nhân
vật được gọi là “chàng”, “nàng”, với những cái tên như Loan, Dũng, Mai, Tuyết, Lan… thì hình
tượng cũng hiện lên trẻ trung, mềm mại, non tơ Nó khác với tác phẩm hiện thực, nhân vật được gọi
là “y”, “thị”, “gã”, “hắn”, với những cái tên như “Chí Phèo, Thị Nở, Dần, Lang Rận, Quýt, Dậu”… khiến hình tượng cũng hiện lên thô ráp, xấu xí Ngược lại, đặc điểm của hình tượng văn
học cũng chi phối đến đặc điểm của ngôn ngữ văn học Trong tác phẩm, hình tượng như thế nào thìnhà văn phải dùng ngôn ngữ tương ứng Viết về một người đẹp, một bậc hảo hán thì phải dùng ngôn
từ đẹp, xây dựng một người điên thì ngôn ngữ của nhân vật đó cũng không thể mạch lạc mà phải rốirắm, thiếu logic… Hình tượng văn học và ngôn ngữ không thể tách rời nhau Chỉ khi hình tượng tồntại như một ngôn ngữ thì nó mới trở thành hình tượng như một kí hiệu
Những vấn đề, khái niệm đã được nêu trên giúp định hướng về cách hiểu kí hiệu học văn họctrong tác phẩm văn học Tuy nhiên, chưa có cách định nghĩa rõ ràng và chính xác thế nào là kí hiệuhọc văn học Dựa trên những vấn đề nghiên cứu, chúng tôi cho rằng kí hiệu học văn học có mốiquan hệ mật thiệt với văn bản văn học Văn bản văn học là một hệ thống siêu kí hiệu do đó tácphẩm văn học luôn chứa đựng các kí hiệu riêng mà bạn đọc phải khám phá, suy ngẫm và tìm ra lớpnghĩa ẩn sâu các kí hiệu đó Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nhận ra rằng hình tượng văn học chính làbiểu hiện rõ ràng nhất của kí hiệu học văn học Có thể coi hình tượng chính là kí hiệu trong văn bảnvăn học
Một số nghiên cứu cho rằng văn bản văn học như một ngôn ngữ, tác phẩm văn học như mộtsiêu kí hiệu Ngày nay, văn bản được nhiều nhà kí hiệu học xem là đối tượng nghiên cứu trung tâm.Các nhà ngôn ngữ học định nghĩa văn bản như là chuỗi kí hiệu trên câu, là một chỉnh thể thống nhất
có tính trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức Tác phẩm văn học là một siêu kí hiệu Cóthể coi tác phẩm văn học là một dạng kí hiệu học văn học bởi những lí do chủ yếu sau:
Trang 7 Văn bản văn học không chỉ đơn giản là các kí hiệu ngôn từ mà văn bản văn học hay tácphẩm văn học đã thực sự tham gia vào đời sống giao tiếp Bởi vì chỉ khi được người đọc tiếp nhận,hình dung về thế giới nghệ thuật về các ý nghĩa của kí hiệu hàm ẩn trong văn bản, người đọc nhận
ra tầng nghĩa ẩn sâu của các kí hiệu cũng như thông điệp tác phẩm thì văn bản văn học đã là mộtsiêu kí hiệu
Về mặt cấu tạo, tác phẩm văn học là một siêu kí hiệu vì đó là một kí hiệu lớn, do những kíhiệu nhỏ hơn kết dệt tạo thành Đó là các từ, các cụm từ, đó là những hình ảnh, những nhân vật, đó
là cốt truyện… Tất cả nằm trong một hệ thống, gắn bó với nhau tạo thành một thực thể duy nhấtbiểu nghĩa Do được cấu tạo như vậy, tác phẩm văn học có khả năng biểu hiện ý nghĩa một cáchtoàn vẹn
Tác phẩm văn học là một siêu kí hiệu vì nó là kí hiệu của một cá nhân độc đáo, là kí hiệuđời sống văn hóa Tác phẩm là tiếng nói riêng của từng người với chất giọng riêng, ngữ điệu riêng
Sự độc đáo được thể hiện ở cách dùng từ đặc biệt, cách đặt câu đặc biệt, cách kết cấu đặc biệt… vàđặc biệt là cách xây dựng những hình tượng nhân vật
Bên cạnh đó, tác phẩm văn học cũng là siêu kí hiệu của đời sống văn hóa vì mỗi tác phẩmđều được cấu thành từ chất liệu và tâm thức văn hóa của một thời đại nhất định
Cùng lựa chọn một đối tượng để thể hiện tác phẩm nhưng mỗi nhà văn lại có một sự sáng tạoriêng dựa trên tâm thức văn hóa của cá nhân Cũng viết về chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh nhưng ba
tác phẩm “truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh”, “bài thơ Sơn Tinh, Thủy Tinh” của Nguyễn Nhược Pháp và “Sự tích những ngày đẹp trời” của Hòa Vang mang những dấu ấn người sáng tạo và thời
đại khác nhau Trong truyền thuyết, không có dấu ấn của cá nhân vì đó là sản phẩm của sáng tạo tậpthể Dấu ấn thời đại biểu hiện rõ rệt nhất ở việc xây dựng nhân vật lịch sử Hùng Vương, nhữngphong tục tập quán một thời cùng với việc đắp đê chống lũ Đến bài thơ của Nguyễn Nhược Pháp,chúng ta đã nhận ra “giọng” riêng của một hồn thơ “anh nhi” và đặc biệt thấy tâm trạng của cácnhân vật kể cả Hùng Vương và Mỵ Nương Dưới đôi mắt của một thi sĩ Thơ mới, câu chuyện lũ lụttrở thành câu chuyện tình yêu Viết Sơn Tinh - Thủy Tinh một mặt, Nguyễn Nhược Pháp giữ lại mộtcách chọn lọc các yếu tố sử thi để cho các nhân vật vốn đã tồn tại lâu dài và vững chãi trong kí ứccộng đồng (vua Hùng Vương thứ 18, Thủy Thần, Sơn Thần) vẫn giữ được phong cốt anh hùng lịch
sử, truyền thuyết của họ Mặt khác, ông cũng mạnh dạn tiểu thuyết hóa hành động, tính cách các
nhân vật này khiến cho họ bỗng trở nên gần gũi như người thường (thần cũng “đi lấy vợ”, cũng
“yêu” , cũng giận hờn, buồn vui theo kiểu con người) Viết Sơn Tinh, Thủy Tinh, hẳn là Nguyễn
Nhược Pháp không chỉ ca ngợi cách “kén rể” sáng suốt, công minh của vua Hùng Vương thứ 18,hay biểu dương tài năng xuất chúng của hai vị thần, mà còn ca ngợi tình yêu, khát vọng chinh phụcngười đẹp, khát vọng chiến thắng trong tình yêu của hai vị trong tư cách những chàng trai cầu hôn
Trang 8Nhà thơ dường như đã nắn thiên sử thi anh hùng truyền thống thành một câu chuyện tình yêu kì thú.Nói cách khác, trung tâm hứng thú nghệ thuật của tác phẩm này không còn là câu chuyện về người
anh hùng trị thủy mà là chuyện “yêu” và “đi lấy vợ” cũng như những nỗ lực bảo vệ tình yêu, hạnh
phúc gia đình của các vị thần Xu hướng tiểu thuyết hóa sử thi hay tổng hợp tiểu thuyết vào sử thi
và vào thơ này bộc lộ qua cách nhìn cuộc sống hoàng cung và các vị thần đậm sắc thái thế tục củatác giả ; qua sự thay đổi, điều chỉnh cảm hứng chủ đạo của tác phẩm Trong khi đó, truyện ngắn của
Hòa Vang lại được xem là một hiện tượng “giả truyền thuyết”, “giả cổ tích” Bởi vì nó lấy chuyện
cũ để nói những vấn đề đương đại, thể hiện đôi mắt nhìn của con người thời đại này Nó lật lạinhững tín điều tưởng như đã trở thành đương nhiên trong tâm thức con người những thời đạitrước… Một ví dụ nhỏ như vậy đã phần nào cho thấy tác phẩm văn học chính là một siêu kí hiệu cóquan hệ mật thiết giữa kí hiệu văn học và kí hiệu văn hóa
1.4 Khái niệm kí hiệu học văn hóa
Lotman cho rằng: “kí hiệu học văn hóa là bộ môn khoa học có nhiệm vụ khảo sát sự tương tác giữa các hệ thống kí hiệu có cấu trúc khác nhau, khám phá sự vênh lệch, không đồng bộ tự bên trong của không gian kí hiệu học, nghiên cứu sự cần thiết phải hiểu biết nhiều ngôn ngữ văn hóa và kí hiệu học” Vì thế, kí hiệu học có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó hữu cơ với văn hóa.
Nền tảng của văn hóa được tạo thành các cơ chế kí hiệu học gắn chặt với: “thứ nhất, sự bảo tồn các
kí hiệu và các văn bản, thứ hai, sự luân chuyển và tái tạo của chúng và, thứ ba, với sự sản sinh các
kí hiệu mới và thông tin mới” Các chức năng của văn hóa luôn xuất phát từ các cơ chế kí hiệu này.
Cụ thể, cơ chế thứ nhất gắn với chức năng quyết định kí ức văn hóa, mối liên hệ giữa văn hóa vớitruyền thống Cơ chế thứ hai gắn với chức năng quyết định sự phiên dịch, hoạt động giao tiếp nội
bộ và liên văn hóa Cơ chế thứ ba gắn với chức năng đảm bảo khả năng đổi mới, sáng tạo đa dạng.Nằm ở trung tâm của kí hiệu học văn hóa là khái niệm văn bản Trong ngôn ngữ học cấu trúccủa Saussure, ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu, là trung tâm của mọi mô tả kí hiệu học Còn với kíhiệu học văn hóa, văn bản là trung tâm trong quan niệm kí hiệu học của nó Kí hiệu học văn hóanghiên cứu các văn bản Vấn đề cốt lõi là nó đã cấp cho văn bản một nội hàm khái niệm mới, có sựkhác biệt với khái niệm văn bản truyền thống
R Jakobson, K Taranovski, Lesvi- Strauss, R Barthes, J Kristeva, Tz Todorov, K Bremond,
U Eco, B Egorov, Y Lotman, Z Mintz, A Tzernov, B Uspenski, V Toporov, V Ivanov, Y.Lekomsev và nhiều học giả lỗi lạc khác đã nghiên cứu văn học nghệ thuật như là nơi lưu giữ, truyềnđạt và sáng tạo thông tin Với họ, văn hóa là hệ thống kí hiệu, là cấu trúc biểu nghĩa được sử dụng
trong giao tiếp, tồn tại giữa những mạng lưới kí hiệu quyển hết sức phức tạp Cho nên, “văn hóa học chính là kí hiệu học và kí hiệu học là con đường duy nhất giúp tiếp cận hữu hiệu các hiện
Trang 9tượng văn hóa, bao gồm cả văn học nghệ thuật” Với ý nghĩa như thế, bước ngoặt mang tính cách mạng diễn ra trong khoa học xã hội – nhân văn ở nửa sau thế kỉ XX được gọi là “bước ngoặt ngôn ngữ học”
Trần Nho Thìn đã đề cập đến kí hiệu học văn hóa trong quyển “Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu giảng dạy văn học” đã đề cập đến vấn đề kí hiệu văn hóa được thể hiện dưới
dạng các biểu tượng Biểu tượng không có giá trị tự thân mà bao giờ cũng chuyển tải một nghĩa vănhóa nhất định và chịu sự chi phối của quan niệm về giá trị trong một nền văn hóa nào đó Biểutượng tuy là một dạng kí hiệu nhưng cũng có những điểm riêng, vì nó là một dạng ký hiệu văn hóa.Biểu tượng gắn liền với hiện thực đời sống Kí hiệu trong văn hóa do những quy định mà con ngườithuộc nền văn hóa đó hiểu nghĩa của một hiện tượng, sự vật và từ việc hiểu nghĩa đó, con người sẽ
có hành động tương ứng Không thể hiểu được một biểu tượng khi tách rời nó khỏi cuộc sống hiệnthực Chẳng hạn như chủ thể mang một giá trị văn hóa nào đó sẽ tìm đến nghĩa của biểu tượng củamột đối tượng, sự vật theo cách riêng Nhà nho – nhà hoạt động chính trị - mang quan niệm giá trị
về người quân tử cao khiết, bất khuất, kiên cường thường tìm đến những đối tượng như “tùng, cúc, trúc, mai” Nhưng đối với những người không sáng tác theo quan niệm này thì “tùng, cúc, trúc, mai” chỉ là những loài thực vật hoặc mang một ý nghĩa khác thể hiện tình yêu lứa đôi
Dựa trên những khái niệm đã tìm hiểu được về kí hiệu học văn hóa, chúng tôi dựa vào ý kiếncủa PGS TS Trần Nho Thìn để làm tiền đề nghiên cứu về kí hiệu học văn hóa Kí hiệu học văn hóa
có thể hiểu là các biểu tượng gắn liền với hiện thực đời sống Những biểu tượng này do những quyđịnh mà con người thuộc nền văn hóa đó hiểu nghĩa, và con người có hành động tương ứng phùhợp
1.5 Mối quan hệ giữa kí hiệu học văn học và kí hiệu học văn hóa
Trần Lê Bảo đề cập đến đến sự cần thiết “giải mã văn hóa” trong tác phẩm văn học trong cuốn “ Giải mã văn học từ mã văn hóa” và sự giải mã văn hóa này thực chất theo ông là tập trung vòa những ký hiệu và biểu tượng văn hóa để phân tích nội hàm của chúng: “xét từ góc độ phù hiệu văn bản, tập trung chủ yếu ở ngôn ngữ, những kí hiệu, biểu tượng văn hóa, từ đó mở rộng phân tích
lý giải những nội hàm văn hóa của chúng – như mọi người thường gọi là giải mã văn hóa – đây là công việc đầu tiên vô cùng quan trọng trong quá trình tìm hiểu, phân tích văn hóa trong tác phẩm văn học cụ thể” Có thể thấy rằng giữa văn học và văn hóa có một mối quan hệ mật thiết với nhau.
Kí hiệu học văn học có sự liên quan mật thiết đến các kí hiệu văn hóa đã hình thành từ lâu đời tronglịch sử dân tộc và là nét truyền thống của dân tộc
Nguồn gốc của bất kỳ ký hiều mang nghĩa nào trong giao tiếp cũng đều có “tính xã hội” Kýhiệu là sản phẩm của văn hóa và lưu giữ trong nó đặc thù văn hóa khi được “mã hóa” và mặc định
Trang 10Để “giải mã” ký hiệu, ai đó đếu phải dựa trên những quy ước văn hóa nhất định Như thế, ký hiệuluôn được bao quanh bởi “trường văn hóa” Nhắc đến mối quan hệ của ký hiệu học văn học và ký
hiệu học văn hóa thì PGS TS Lê Huy Bắc đã đề ra lý thuyết liên kí hiệu Khái niệm “liên ký hiệu”
được PGS TS Lê Huy Bắc dựa trên quan niệm “liên chủ thể” của Mikhail Bakhtin trong “tính đối
thoại” của “lời văn”, Julia Kristeva xác lập “liên văn bản”.Liên ký hiệu (intersignality) là thuật ngữ
phê bình được PGS TS Lê Huy Bắc xác lập nhằm chỉ trong văn chương và cả trong đời sống giaotiếp mọi ký hiệu đều là liên ký hiệu Đặc biệt, trong lĩnh vực văn chương, không có ký hiệu ngôn từnào lại tồn tại tự thân mà bao giờ cũng mang trong nó vô vàn lớp lớp ký hiệu và hướng đến nhiều
ký hiệu khác Một từ “trắng” trong câu thơ Hàn Mặc Tử “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”
là một dạng “liên ký hiệu” Nó không chỉ là “trắng” của nét nghĩa đơn nhất xét trong tương tác với
“sông” hay “nắng” mà còn tương tác rộng hơn, tạo nên hình ảnh ẩn dụ của hư vô, của nỗi nhọc
nhằn, mất mát,
Bàn về mối quan hệ giữa ký hiệu học văn học và ký hiệu học văn hóa nhà thơ Nguyễn Khoa
Điềm rất thành công trong việc khơi gợi cội nguồn văn hóa từ tác phẩm văn học qua tác phẩm “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm:
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa ” mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó ”
Những ký hiệu trong tác phẩm văn học gợi về những nét truyền thống văn hóa của dân tộc –
những ký hiệu văn hóa Đó là những câu chuyện “ngày xửa ngày xưa” gợi nhớ đến các câu chuyện dân gian với cô Tấm hiền lành, nhân hậu… Hình ảnh “miếng trầu” gợi câu chuyện cổ tích “Sự tích
trầu cau”, khẳng định tình cảm thuỷ chung, nồng hậu của con người Việt Nam: trầu, cau, vôi hoà
quyện vào nhau thắm đỏ nghĩa tình “Miếng trầu” còn gợi nét đẹp trong văn hoá giao tiếp Hình
ảnh này gợi cho chúng ta nhớ đến câu tục ngữ thể hiện vẻ đẹp trong văn hóa truyền thống của dân
tộc: “Miếng trầu là đầu câu chuyện” Không những thế, miếng trầu còn gắn với những giây phút
hạnh phúc trong tình yêu lứa đôi, là kết tinh đẹp đẽ của tình yêu, tình cảm vợ chồng thủy chung trọn
vẹn Điều đó được đúc kết trong câu tục ngữ: “Miếng trầu nên dâu nhà người” Hình ảnh cây tre trong câu thơ “Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” gắn liền truyền thống
Trang 11đấu tranh chống giặc ngoại xâm anh hùng mà cây tre đã trở thành vũ khí kháng chiến chống quân
xâm lược Hình ảnh “Tóc mẹ thì bới sau đầu” thể hiện nét đẹp truyền thống thẳm sâu của người
mẹ Đây là một hình ảnh quen thuộc trong vẻ đẹp thuần phong mĩ tục của con người Việt Nam, đấtnước Việt Nam Đó là vẻ đẹp biểu trưng cho những giá trị bền chặt được tôn vinh của người phụ nữ.Trong hình ảnh mái tóc bới gọn gàng sau gáy chất chứa biết bao nét đẹp tâm hồn của những conngười hiền hậu, đảm đang, thủy chung son sắt Hình ảnh ấy cũng đã đi vào thi ca thật trữ tình, thậtđẹp:
“Tóc ngang lưng vừa chừng em bới
Để chi dài bối rối lòng anh”.
Văn học và văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau Các ký hiệu trong tác phẩm văn học luôn ẩn chứa những mã văn hóa mà bạn đọc cần khám phá để tìm ra, giải mã theo cách riêng của mình Bên cạnh đó, kí hiệu trong văn bản này có thể khiến bạn đọc liên tưởng đến hệ thống kí hiệu trong văn bản khác tạo nên hệ thống “liên văn bản” làm phong phú sự liên tưởng của bạn đọc Các
kí hiệu trong văn học gắn với một mã thời đại, mã văn hóa nhất định Do đó, khi đọc một tác phẩm văn học cần chú ý đến văn hóa của thời đại mà tác phẩm sản sinh
Trang 122 Biểu hiện
Nếu nói tác phẩm văn học là phương tiện quan trọng trong giao tiếp giữa người với người, thìtín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học là vấn đề then chốt để quá trình giao tiếp được thành công.Muốn hiểu được tác phẩm, một trong những điều cơ bản đầu tiên và cũng là quan trọng nhất đó là
sự thấu hiểu các biểu tượng, các tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm Như Ju Lotman trong “Các nghiên cứu kí hiệu học mới nhất” cho thấy rằng “Văn bản có chức năng thẩm mĩ là văn bản có dung
lượng ngữ nghĩa cao hơn, chứ không phải thấp hơn so với các văn bản phi nghệ thuật.” Và “Khiđược giải mã theo các cơ chế thông thường của ngôn ngữ tự nhiên, văn bản mở ra một cấp độ ýnghĩa nhất định, nhưng vẫn không được mở ra đến tận cùng Khi người nhận thông tin biết đượcrằng trước mặt anh ta là một thông báo nghệ thuật, anh ta lập tức sẽ tiếp cận nó theo một phươngthức hoàn toàn khác Văn bản trước mặt anh ta là văn bản được mã hóa ít nhất hai lần; mã hóa thứnhất là hệ thống mã hóa của ngôn ngữ tự nhiên” “Trong điều kiện hoạt động thẩm mĩ, muốn hiểuvăn bản đòi hỏi phải có hiểu biết sơ bộ về cái mã kép này và sự không biết (đúng hơn là không biếtđầy đủ) về cái mã thứ hai được vận dụng ở đây thì không hiểu được văn học” Mã kép hay mã thứhai được nhắc đến ở đây chính là tầng ý nghĩa sâu của văn bản Khi văn bản được tìm hiểu ở những
“mã kép” tức người đọc đang vận dụng lí thuyết về kí hiệu học văn học và kí hiệu học văn hóa đểgiải mã chúng Vậy lí thuyết kí hiệu học biểu hiện cụ thể như thế nào trong văn học, văn hóa? Trongphạm vi bài viết tìm hiểu lí thuyết kí hiệu học liên quan đến mối quan hệ văn hóa – văn học, nhómchúng tôi chủ yếu khảo sát một số biểu hiện cụ thể của lí thuyết kí hiệu học trong văn học trên cơ sở
đó rút ra điểm gặp gỡ cũng như khác biệt khi vận dụng lí thuyết kí hiệu học vào nghiên cứu vănhóa
Lý thuyết kí hiệu học văn học được biểu hiện rất phong phú, đa dạng trong văn bản Tùy vàoquan điểm, ý đồ của người nghiên cứu để có thể chia ra những nhóm biểu hiện khác nhau nhằm
khám phá được tầng sâu ý nghĩa văn bản Ví dụ nếu căn cứ vào các thành tố cấu thành tác phẩm
có thể thấy kí hiệu học văn học biểu hiện ở mã chất liệu, mã hình tượng, mã ngôn từ, mã giọng điệu còn nếu căn cứ vào cách thức tạo nên văn bản có thể thấy nó biểu hiện ở biểu tượng, ở cổ mẫu, ở kết cấu hoặc căn cứ vào những yếu tố tác động đến sự hình thành văn bản
có thể thấy nó biểu hiện ở mã thời đại, mã thể loại, mã phong cách…Ở bài viết này chúng tôi xin chọn phân tích biểu hiện kí hiệu học văn học ở các khía cạnh biểu tượng, cổ mẫu, kết cấu
để làm sáng tỏ vấn đề