1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ hướng dẫn học sinh đọc hiểu thơ Xuân Quỳnh trong chương trình trung học phổ thông

114 981 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý niệm về tín hiệu thẩm mỹ dưới cái nhìn của các nhà lý luận văn học Việt Nam, xuất hiện qua sự phân biệt ngôn từ nghệ thuật – yếu tố được “sử dụng với tất cả phẩm chất thẩm mỹ và khả nă

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 9

4.Phạm vi và phương pháp nghiên cứu 9

5.Mẫu khảo sát 12

6.Nhiệm vụ nghiên cứu 12

7.Vấn đề nghiên cứu 12

8.Gỉa thuyết khoa học 12

9 Đóng góp mới của luận văn 12

10 Cấu trúc luận văn 13

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ 14

1.1 Cơ sở lý luận 14

1.1.1 Cơ sở Ngôn ngữ - Văn học 14

1.1.2 Cơ sở Tâm lý học 33

1.1.3 Cơ sở Phương pháp Dạy Văn 35

1.2 Cơ sở thực tế 36

1.2.1 Thực tế chương trình 36

1.2.2 Thực tế đối tượng tiếp nhận 37

1.2.3 Khảo sát thực tế giảng dạy bài thơ 37

Chương 2: KHẢO SÁT VÀ ĐỊNH HƯỚNG KHAI THÁC GIÁ TRỊ THẨM MỸ THƠ XUÂN QUỲNH TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA BÀI SÓNG 40

2.1 Quan điểm vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ vào việc khảo sát và định hướng khai thác giá trị thẩm mỹ trong bài học 40

2.2 Khảo sát và định hướng phát hiện tín hiệu thẩm mỹ ở bài thơ Sóng 41

2.2.1 Khảo sát 41

2.2.2 Định hướng 43

2.3 Khảo sát và định hướng khai thác phương thức cấu tạo tín hiệu thẩm mỹ và giá trị của nó trong bài Sóng 43

2.3.1 Khảo sát 43

2.3.2 Định hướng 44

Trang 4

2.4 Khảo sát và định hướng khai thác tính chất của tín hiệu thẩm mỹ

trong bài Sóng 45

2.4.1 Tính hai mặt 45

2.4.2 Tính nhân loại, lịch sử, dân tộc 48

2.4.3 Tính phi vật thể và phi trực quan 50

2.5 Khảo sát và định hướng khai thác chức năng của tín hiệu thẩm mỹ trong bài thơ Sóng 52

2.5.1 Chức năng biểu hiện 52

2.5.2 Chức năng tác động 56

2.5.3 Chức năng hệ thống 58

Chương 3: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP, THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 62

3.1 Quan điểm triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu 62

3.2 Đề xuất phương pháp 63

3.3 Thiết kế giáo án thực nghiệm 64

3.3.1 Những vấn đề chung 64

3.3.2 Thiết kế giáo án thực nghiệm 64

3.4 Giáo án đối sánh (xin xem phần phụ lục 1) 82

3.5 Kiểm tra kết quả thực nghiệm 82

3.6 Đối chiếu hai cách khai thác 84

3.6.1 Điểm gặp gỡ 84

3.6.2 Nét khác biệt 85

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Khuyến nghị 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi lấy ngôn từ làm chất liệu để sáng tác văn học, người sáng tạo, như

một lẽ hiển nhiên, phải trở thành nghệ sĩ của ngôn từ Anh ta phải trải qua

một quá trình cần lao, tích lũy, chế tạo và sáng tạo đầy nặng nhọc đèo bòng,

như một người “phu chữ” trên hành trình đi tìm “vân chữ” (chữ dùng của Lê

Đạt) Ngay đến phẩm chất công dân của người sáng tạo, có người cho rằng,

nó cũng gắn với việc “cúc cung tận tụy bảo vệ và mở mang bờ cõi chữ của

dân tộc mình” [10; tr8] Tuy nhiên, cái độc đáo của “vân chữ”, cái mênh

mang vô bến nơi “bờ cõi chữ của dân tộc” mà anh ta sáng tạo ra kia không

chỉ là sự độc đáo và phong phú về hình thức lẫn nội dung Sự độc đáo và

phong phú ấy có giá trị khi và chỉ khi nó là hiện thân của những giá trị thẩm

mỹ, mang đến những rung cảm thẩm mỹ có khả năng “thanh lọc” tâm hồn và

làm “bừng tỉnh” nhận thức [11; tr229] nơi người đọc Do đó, trong sự sáng

tạo của anh ta, ngôn ngữ vừa được sử dụng như những tín hiệu thẩm mỹ, vừa

là cái biểu đạt cho các tín hiệu thẩm mỹ Đến lượt mình, tác phẩm văn học

cũng chính là một tín hiệu thẩm mỹ Nghiên cứu tín hiệu thẩm mỹ là một

công việc cần thiết đối với người làm công tác nghiên cứu văn học nói chung

bởi “sẽ không hiểu được đặc trưng của văn học nếu bỏ qua đặc điểm thể hiện

nghệ thuật của ngôn từ” [42; tr183]

Khai thác tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm văn học là một trong những

điểm thể hiện sự đổi mới trong việc giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở nhà trường

phổ thông Sau nhiều lần cải cách, bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ

thông hiện nay có những đổi mới về: quan điểm, chương trình, sách giáo

khoa và phương pháp giảng dạy Đổi mới về quan điểm là sự đổi mới mang

tính tiên quyết, trong đó có đổi mới từ quan điểm về người dạy – việc dạy,

người học – việc học, về bản chất của tác phẩm văn học trong nhà

trường… Ở những giai đoạn trước, do chưa có một quan niệm đúng đắn về

bản chất tác phẩm văn chương nên việc dạy có xu hướng xã hội học dung tục,

Trang 6

xu hướng tách rời kiến thức với phương pháp, nội dung và hình thức văn bản……Dưới ánh sáng của lý luận và phương pháp dạy học hiện đại, lý thuyết thông tin, lý thuyết tiếp nhận….bên cạnh quan niệm về người học và việc học, người dạy và việc dạy, quan niệm về văn bản văn chương cũng có nhiều đổi mới Một trong những điểm đổi mới trong quan niệm về tác phẩm văn chương cho rằng, chúng tồn tại với “tư cách là một hệ thống tín hiệu” [8; tr3] đòi hỏi phải có phương pháp giảng dạy phù hợp Nhận thức được vai trò của tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm văn học và chú ý khai thác nó trong quá trình giảng dạy, chúng tôi hi vọng đó là một trong những việc làm đáp ứng những yêu cầu đổi mới về quan điểm và phương pháp dạy học bộ môn

Sinh năm 1942, mất năm 1988, cuộc đời tuy không dài nhưng Xuân

Quỳnh có cách nối dài sự sống bằng sáng tạo nghệ thuật Không chỉ là một nhà thơ tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ chống Mỹ, Xuân Quỳnh còn là một gương mặt thơ rất đáng chú ý của nền thơ Việt Nam hiện đại Đọc thơ chị, nhà phê bình Lại Nguyên Ân nhận thấy: “Có lẽ là từ thời Hồ Xuân Hương qua các chặng đường phát triển, phải đến Xuân Quỳnh, nền thơ ấy mới thấy lại một

nữ thi sĩ mà tài năng và sự đa dạng của tâm hồn được thể hiện ở một tầm cỡ đáng kể như vậy, dồi dào, phong phú như vậy” [2; tr8] Thống nhất với ý kiến trên, nhiều người chung một nhận xét khi đến với thơ Xuân Quỳnh “ Thơ Xuân Quỳnh bộc lộ một cái tôi trữ tình đam mê sống, đam mê yêu, đam

mê trong thiên chức làm vợ làm mẹ” [33; tr2103]

Với một tâm hồn “dồi dào, phong phú”, một cái tôi trữ tình hết mình trong những thiên chức khác nhau của một người phụ nữ, dễ hiểu vì sao thơ Xuân Quỳnh có sự gần gũi, gắn bó đặc biệt với tuổi thơ và tuổi trẻ, với học sinh phổ thông từ Tiểu học qua Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông Qua nhiều lần thay sách giáo khoa, đổi mới chương trình, sáng tác của Xuân Quỳnh vẫn có mặt, gắn bó, để lại những ấn tượng đẹp cho lứa tuổi đẹp nhất

đời người – tuổi học trò Ấy là Sắc màu em yêu, Ngày em vào đội trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học; là Chuyện cổ tích loài người, Tiếng gà

Trang 7

trưa trong chương trình Ngữ văn THCS Sóng là bài thơ đặc sắc của Xuân

Quỳnh, là tác phẩm hấp dẫn trong chương trình Ngữ văn THPT, cho học sinh thêm một cơ hội để hiểu hơn chân dung trái tim và tâm hồn người nghệ sĩ ấy Cùng với Thuyền và biển, Sóng là một trong hai “ bài thơ tình vào loại hay

nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và của thơ Việt Nam hiện đại nói chung” [39; tr228] nên bài thơ không chỉ chiếm được tình cảm yêu mến của độc giả, của người học mà còn thu hút cả người nghiên cứu, giảng dạy trong việc tìm ra

con đường chiếm lĩnh Nhìn từ góc độ tín hiệu thẩm mỹ, Sóng là bài thơ thể

hiện rõ nét, sinh động bản chất tín hiệu nghệ thuật Khai thác tác phẩm từ việc vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ theo chúng tôi, là một trong những hướng tiếp cận phù hợp

Việc cảm hiểu tác phẩm văn học nói chung và giảng dạy nói riêng chỉ thực sự hiệu quả khi người dạy thấy được mối quan hệ có tính liên ngành giữa nó với các khoa học khác, mà gần gũi và trực tiếp hơn cả là Lý luận văn

học, Phương pháp dạy học, đặc biệt là Ngôn ngữ học Khai thác bài Sóng từ

góc độ lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ chính là sự cụ thể hóa một trong những mối liên hệ đó

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu tín hiệu thẩm mỹ

Là một vấn đề liên quan đến rất nhiều ngành nghệ thuật, tín hiệu thẩm mỹ từ lâu đã được các ngành nghiên cứu nghệ thuật khác nhau, trong đó

có nghiên cứu ngôn ngữ và văn học đề cập đến Trong giới hạn phạm vi tư liệu mà chúng tôi bao quát được, tạm thời có thể nêu một vài cách hiểu và quan niệm của một số tác giả từ những lĩnh vực nghiên cứu khác nhau có đề cập đến

2.1.1 Từ góc độ lý luận văn học

Khi nghiên cứu về ngôn từ với tư cách là chất liệu của văn học, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng, là một trong những đặc trưng của văn học, ngôn từ phải có “ đặc điểm thể hiện nghệ thuật” riêng Đặc điểm đó,

Trang 8

theo tác giả, là cái “mã”, là “hệ thống các phương thức, phương tiện tạo hình, biểu hiện, hệ thống các quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mỹ” [42; tr185] Ý niệm về tín hiệu thẩm mỹ dưới cái nhìn của các nhà lý luận văn học Việt Nam, xuất hiện qua sự phân biệt ngôn từ nghệ thuật – yếu tố được “sử dụng với tất cả phẩm chất thẩm mỹ và khả năng nghệ thuật”, nó có khả năng

“đưa ta thâm nhập vào thế giới của những cảm xúc, ấn tượng, suy tưởng” với

“ngôn ngữ thông thường” – những yếu tố không có phẩm chất và khả năng

đó [Trần Đình Sử, Sđd] Cùng quan điểm với tác giả, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức cũng chỉ ra một trong những phương thức, phương tiện làm nên phẩm chất thẩm mỹ và khả năng nghệ thuật của ngôn từ trong tác phẩm “Tác phẩm nghệ thuật là một chỉnh thể thẩm mỹ, lấy ngôn từ làm chất liệu…….Ngôn từ trong tác phẩm càng giàu có thêm nhờ các biện pháp khai thác ngữ nghĩa… trong đó có phương thức chuyển nghĩa Thuộc về phương thức này có ẩn dụ, hoán dụ” [12; tr152]

Tuy vậy, do sự chi phối của mục đích nghiên cứu, lý luận văn học vẫn chưa đi đến một khái niệm chặt chẽ về tín hiệu thẩm mỹ

Chúng tôi tìm thấy sự đồng cảm với quan điểm của các nhà nghiên cứu thi pháp, thi học khi các tác giả cho rằng nghiên cứu thi pháp là “nghiên cứu cấu tạo của tác phẩm văn học với các nguyên tắc, phương thức, phương tiện của nó” [33; tr1667] Làm rõ hơn nữa quan điểm trên, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân chỉ rõ “Mục đích của thi học là xác lập một hệ thống thủ pháp (các yếu tố có tác động thẩm mỹ) bao quát ngữ âm, từ vựng, hình tượng của văn bản” [1; tr297] Tuy nhiên, “ do chỗ mọi phương tiện biểu hiện trong văn học rốt cuộc đều quy được về ngôn ngữ, cho nên có thể định nghĩa thi pháp như khoa học về nghệ thuật sử dụng các phương tiện ngôn ngữ” [Sđd; tr296] Nghệ thuật sử dụng các phương tiện ngôn ngữ theo cách hiểu của chúng tôi cũng là nghệ thuật tạo ra các tín hiệu thẩm mỹ

Trang 9

2.1.2 Từ góc độ Ngôn ngữ học

Do mọi phương tiện biểu hiện trong văn học rốt cuộc đều quy được về ngôn ngữ cho nên tín hiệu thẩm mỹ là vấn đề được các chuyên ngành nghiên cứu ngôn ngữ cùng quan tâm Và nhìn ở góc độ nào của khoa học ngôn ngữ, chúng tôi cũng thấy có những điểm gặp gỡ khi đề cập đến vấn đề này

Trước hết là phong cách văn bản Đứng từ góc độ phong cách văn bản, các nhà nghiên cứu từ Đinh Trọng Lạc đến Nguyễn Thái Hòa, từ Nguyễn Văn Dân đến Mai Ngọc Chừ, nhìn chung, đều thống nhất quan điểm “ Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học như là một chỉnh thể thẩm mỹ được cấu tạo lại từ ngôn ngữ chung Nếu coi hệ thống tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên là hệ thống cơ

sở thì hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật là hệ thống thứ hai được xây dựng trên

cơ sở hệ thống thứ nhất có sự biến đổi về bản chất tín hiệu: hệ thống thứ nhất

là hệ thống vật biểu (biểu nghĩa trực tiếp), hệ thống thứ hai là hệ thống hàm nghĩa (biểu nghĩa gián tiếp) [9; tr441]

Xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn học, giáo sư Đỗ Hữu Châu cho rằng tín hiệu thẩm mỹ là “ tất cả các yếu tố hiện thực được đưa vào trong tác phẩm văn học, kể cả những yếu tố hiện thực được xây dựng lại trong tác phẩm khi nó mang một ý nghĩa khái quát nào đó” [7; tr18] Cái “ ý nghĩa khái quát” trong quan niệm của tác giả Đỗ Hữu Châu, chúng tôi hiểu đó là sự tổng hợp của hai hệ thống: vật biểu (biểu nghĩa trực tiếp) và hàm nghĩa (biểu nghĩa gián tiếp) như cách diễn đạt của tác giả Mai Ngọc Chừ nêu trên Trong

công trình Phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học (Ngôn từ

- Tác giả - Hình tượng), hai tác giả Đỗ Việt Hùng và Nguyễn Thị Ngân Hoa

đã có cái nhìn bao quát, hệ thống khá sâu về tín hiệu thẩm mỹ Xuất phát từ những vấn đề chung về tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nghệ thuật (nhận diện ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nghệ thuật, nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật trong hoạt động giao tiếp, nghiên cứu chức năng của ngôn ngữ,

đề ra phương pháp phân tích tu từ học và phân tích ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật), các tác giả đã có những khảo sát toàn diện về: nguồn gốc,

Trang 10

phương thức cấu tạo, tính chất, đặc trưng và các biến thể của tín hiệu thẩm

mỹ Đây là công trình công phu, không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt phương pháp luận đối với việc nghiên cứu tác phẩm văn học từ góc độ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn học Đây cũng là tài liệu quan trọng mà chúng tôi tiếp thu, vận dụng làm cơ sở lý luận cho đề tài luận văn Quán triệt quan điểm lý thuyết giao tiếp vận dụng vào ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, xét ngôn ngữ không chỉ như một hệ thống cấu trúc mà còn

là một hệ thống hành chức, giáo sư Hoàng Phê và nhiều nhà nghiên cứu ngữ nghĩa học khác cùng thống nhất khi phát hiện ra sự khác biệt giữa ý và nghĩa

Dù cùng là nội dung tinh thần trong lớp vỏ vật chất tín hiệu song ý và nghĩa

có nhiều khác biệt Nghĩa có trong từ điển, ý không có trong từ điển Nghĩa được xác định trong cấu trúc, trong khi ý phải đặt trong chu cảnh, tức hoàn cảnh giao tiếp hẹp và rộng Nghĩa có tính ổn định trong khi ý chỉ có tính lâm thời, linh hoạt và khả biến Sự phát hiện đó cho phép các tác giả khám phá ra cấu trúc ngữ nghĩa của lời, từ đó tiến tới những suy ý, hàm ý đằng sau lớp

nghĩa hiển ngôn Trong tác phẩm văn chương, nhiều khi cái hàm ý sau hiển

ngôn, cái vô hình sau cái hữu hình, cái diện đằng sau cái điểm kia mới là

thông điệp thẩm mỹ mà người nghệ sĩ muốn trao gửi Cái suy ý, hàm ý mà các tác giả nói đến gần với tín hiệu thẩm mỹ trong cách hiểu của chúng tôi

2.1.3 Từ góc độ Phương pháp giảng dạy Văn

Bộ môn Phương pháp giảng dạy Văn học tuy chưa có quan niệm riêng

có tính lý luận về tín hiệu thẩm mỹ nhưng trong khi lưu ý người dạy, các nhà khoa học Phương pháp cũng rất quan tâm đến vấn đề này, xem nó như một biểu hiện của sự đổi mới về quan điểm và phương pháp giảng dạy

Tác giả Phan Trọng Luận trong công trình Đổi mới giờ học tác phẩm

văn chương ở trường Trung học phổ thông cùng quan điểm với lý thuyết

thông tin, lý thuyết tiếp nhận văn học, coi tác phẩm như một loại thông điệp đặc biệt, nhấn mạnh đặc trưng biểu cảm của văn học và nguyên tắc phân tích tác phẩm chính là “mở nếp gấp”, phải bám sát vào các yếu tố giàu giá trị

Trang 11

thẩm mỹ như “ các ký hiệu thẩm mỹ” , “những hình thức có tính nội dung” [26; tr106 – 107]

Chia sẻ với quan niệm trên, tác giả Nguyễn Viết Chữ khi nói đến phương pháp giảng dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường cũng cho rằng: tác phẩm văn chương là một cấu trúc nhiều tầng nghĩa “Tầng thứ nhất

là ngữ nghĩa do hệ thống ngôn ngữ trực tiếp đưa lại Tầng thứ hai là tầng hình dung tưởng tượng Tầng này từ hình ảnh, hình tượng của tác phẩm tạo nên sự lung linh trong tâm trí người đọc Sứ mệnh của tác phẩm nghệ thuật là ở tầng này, cái hay cái đẹp cũng ở tầng này mà ra Tầng thứ ba là tầng ý được suy ra

từ hai tầng trên” [8; tr.9] Theo đó, hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản văn chương phải chú ý không chỉ đọc “theo dòng”, “trên dòng”, “trong dòng” mà còn phải đọc “giữa dòng” như quan niệm của các nhà khoa học phương pháp Chú ý tới điều đó, theo giáo sư Trần Đình Sử cũng chính là phải “ khám phá cái mã văn hóa đa dạng đằng sau các hình tượng nghệ thuật” Có như thế, “bộ môn giảng văn trong nhà trường mới khắc phục phương pháp suy diễn giản đơn dễ dãi” [43; tr18 – 26]

Tất cả những lưu tâm trên đây của các nhà khoa học, theo chúng tôi hiểu, đều liên quan gần gũi và trực tiếp tới vấn đề mà đề tài quan tâm: tín hiệu thẩm mỹ

2.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu thuộc đề tài hẹp của luận văn

Do tín hiệu thẩm mỹ là một trong những vấn đề quan trọng của tác phẩm nghệ thuật ở cả hai mức độ cấu trúc bộ phận và chỉnh thể nên đó cũng

là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều người khi đến với tác phẩm văn học Những đề tài tốt nghiệp Đại học, sau Đại học bảo vệ ở khoa Ngôn ngữ, trường ĐHSP những năm gần đây đã khai thác tương đối phong phú và sâu sắc tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm văn học

Luận văn tốt nghiệp Đại học K42 của Nguyễn Thị Hạnh “ Hoa trong thơ Xuân Quỳnh” đã khảo sát tương đối đầy đặn hình tượng hoa cũng như ý nghĩa biểu trưng của nó trong thế giới nghệ thuật Xuân Quỳnh Tuy nhiên,

Trang 12

chỉ ra được đặc trưng cũng như giá trị của yếu tố đó một cách hệ thống với tư cách là một tín hiệu thẩm mỹ thì luận văn này chưa bao quát được

Luận văn sau Đại học “Một số vấn đề tín hiệu thẩm mỹ và giá trị thẩm

mỹ của một số từ chỉ vật thể nhân tạo trong ca dao Việt Nam” của Trương Thị Nhàn và “Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ tình của Xuân Quỳnh” của

Lê Thị Tuyết Hạnh đều là những luận văn có giá trị trong việc tìm hiểu về tín hiệu thẩm mỹ Hai tác giả đã tiến tới một cách hiểu khá rõ ràng về khái niệm tín hiệu thẩm mỹ bằng cách phân biệt nó với tín hiệu ngôn ngữ thông thường trong tác phẩm văn học, chỉ ra những đặc trưng tiêu biểu của tín hiệu thẩm

mỹ, vận dụng phương pháp hệ thống và lý thuyết về tín hiệu thẩm mỹ vào việc phân tích các tín hiệu thẩm mỹ khá sâu sắc Đặc biệt, tác giả Lê Thị Tuyết Hạnh đã tìm hiểu hệ thống tín hiệu thẩm mỹ trong thơ tình Xuân Quỳnh và phát hiện ra: thơ tình Xuân Quỳnh có “những tín hiệu chung cho cả một thể loại (thuyền, biển, sóng, mận, đào); cho cả một trào lưu (mùa thu, buổi chiều, đảo hồn, sầu) và tín hiệu đặc trưng cho một tác giả” [13; tr74] Luận văn đã đi sâu khảo sát một số tín hiệu đặc trưng trong thơ Xuân Quỳnh như “bàn tay”, “bầu trời”, “trái tim” và cả những từ chỉ hiện tượng thiên nhiên thể hiện cảm quan về thời gian cũng hiện lên như những tín hiệu thẩm mỹ: “màu”, “mùa”, “buổi chiều” Qua đó, tác giả đã “nắm bắt được một vài phương diện trong bản sắc nhà thơ” [13; tr72]

Riêng bài thơ Sóng, có rất nhiều người, trong đó có người là độc giả

yêu thích bài thơ, có người làm công việc nghiên cứu phê bình, có người làm công tác nghiên cứu giảng dạy, đã quan tâm khám phá Tác giả Trần Nho Thìn, nhận thấy “sóng là biểu tượng tình yêu người phụ nữ, một tình yêu đậm chất nữ quyền” [37; tr76 - 78] PGS.TS Nguyễn Thị Bình trong khi hướng dẫn đọc hiểu tác phẩm văn học thuộc chương trình nâng cao, một mặt cho rằng nét đặc sắc của bài thơ “không phải ở cách lấy sóng để nói chuyện tình yêu, vì điều này các cụ đã làm từ đời nào”, mặt khác, tác giả khẳng định “ cái khác biệt đáng kể nhất ở đây là tác giả đã mượn sóng để bộc bạch tình yêu của người phụ nữ thành công nhất: thi sĩ đã tạo hình một con sóng mang tính

Trang 13

nữ” [3; tr67] Chia sẻ với ý kiến nêu trên, hai tác giả Nguyễn Xuân Lạc và

Nguyễn Mai Hiền trong bài viết Đối diện với sóng và Song hành: sóng và em

cũng khẳng định “ Xuân Quỳnh có một trái tim khao khát yêu đương, mong muốn được yêu và được sống trong tình yêu vĩnh viễn Rất tự nhiên, chị đã bắt gặp sóng như gặp chính mình, đã tìm ra trong hình ảnh sóng những âm vang của nhịp đập trái tim mình” [40; tr316]; “Chị nhận thấy tất cả những đặc tính tự nhiên cua sóng đều mang những nét tương đồng với mình đến kì lạ Nghĩa là trong muôn trùng sóng bể, cũng có một “ngọn sóng Xuân Quỳnh” [ 40; tr319] Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hoàn đã khái quát “ Sóng vừa được chọn làm đối tượng, nội dung miêu tả, vừa là phương thức thể hiện nỗi khát vọng tình yêu” [34; tr172] Tất cả các tác giả trên, ở mức độ khác nhau, tuy không trực tiếp chỉ ra, song trong sự cảm hiểu của họ, chúng tôi nhận thấy giữa họ có sự thống nhất ở sự ngầm hiểu “sóng” là một tín hiệu mang giá trị thẩm mỹ Tuy vậy, khai thác tín hiệu thẩm mỹ ấy từ góc độ lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ thì hầu như chưa được chú ý trọn vẹn

3 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ hướng dẫn học sinh đọc hiểu thơ

Xuân Quỳnh ở THPT qua bài Sóng, trước hết, người viết hướng tới mục đích

tìm hiểu về tín hiệu thẩm mỹ; thử nghiệm một hướng tiếp cận mới Bởi lẽ, như trên đã nói, có thể thấy sự đồng thuận hoàn toàn khi cho sóng là một tín hiệu thẩm mỹ ở tất cả những người đã tìm hiểu bài thơ nhưng phân tích tín hiệu ấy từ góc độ lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ là một hướng tiếp cận chưa được chú ý Từ hướng tiếp cận đó, chúng tôi hi vọng có điều kiện thực hành đổi mới phương pháp và trong một chừng mực nào đó, có thể vận dụng cho các đơn vị bài học khác, nhằm tăng hiệu quả giảng dạy

4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phạm vi

Là một hồn thơ “dồi dào, phong phú” (Lại Nguyên Ân, Sđd), là người

đam mê sống, đam mê yêu, đam mê trong thiên chức làm vợ, làm mẹ, dễ hiểu

vì sao thơ Xuân Quỳnh đã thành tiếng hát tâm hồn chung của nhiều lứa tuổi,

Trang 14

gắn với học trò từ những năm phấp phới khăn quàng đỏ đến khi gắn trên ngực áo chiếc huy hiệu Đoàn viên Tuy nhiên, khi đưa những tác phẩm của Xuân Quỳnh vào từng cấp học là soạn giả đã tính đếm đến sự phù hợp giữa trình độ nhận thức, tâm lý lứa tuổi của học sinh với văn bản văn chương Mặt khác, chúng tôi nhận thức rằng: trong dạy học nói chung, trong dạy Văn nói riêng, không có phương pháp độc tôn cho nhiều đơn vị bài học cũng như cho từng lứa tuổi Người dạy phải chú ý đến “tính vừa sức” cũng như “tầm đón nhận” mà lý luận dạy học cũng như lý luận văn học đã chỉ ra Tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm là vấn đề giáo viên có thể hướng dẫn học sinh phát hiện trong cảm thụ văn chương từ cấp Tiểu học Song, vận dụng lý thuyết về tín hiệu thẩm

mỹ như một hướng khai thác bài học có hệ thống thì khó có thể tiến hành với học sinh khi chưa bước vào bậc THPT Bởi lẽ đó, ở phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ đi vào thử nghiệm với đối tượng thuộc trách nhiệm giảng dạy của chúng

tôi là học sinh lớp 12 và đối tượng bài học là bài thơ Sóng

Lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ là vấn đề tính liên ngành Trong phạm vi

đề tài này, chúng tôi chỉ khảo sát lý thuyết đó ở góc độ ngôn ngữ học là chủ yếu để làm cơ sở lý luận cho việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu bài thơ Mặt khác, đây là vấn đề phong phú và có tính chuyên sâu, trong khi thời gian quy

định cho việc giảng dạy bài thơ Sóng chỉ có 2 tiết học, học sinh lớp 12 không

phải là sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ học hay văn học nên chúng tôi cũng chỉ vận dụng có chừng mực lý thuyết này sao cho phù hợp đối tượng và đạt hiệu quả giảng dạy bài thơ

4.2 Phương pháp

Phương pháp phân tích Phân tích là thao tác của tư duy đồng thời cũng là phương pháp nhận thức, lấy việc chia nhỏ đối tượng ra thành nhiều khía cạnh, nhiều bình diện để xem xét và nhận thức về đối tượng Muốn tìm hiểu tín hiệu thẩm mỹ và vận dụng nó vào việc đọc hiểu một văn bản văn chương, nhất thiết phải xem xét bản chất tín hiệu thẩm mỹ trong văn bản đó nên không thể không dùng thao tác này Dưới ánh sáng của lý thuyết về tín

Trang 15

hiệu thẩm mỹ, chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích tín hiệu thẩm mỹ trong

bài thơ Sóng Từ đó, có những định hướng cụ thể cho việc hướng dẫn học

sinh khai thác tác phẩm này (chương 2) Phương pháp phân tích còn được chúng tôi tiếp tục sử dụng trong quá trình thiết kế giáo án thực nghiệm, cụ thể

hóa việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu bài thơ Sóng (chương 3) Các bước

nêu trên chỉ có thể tiến hành sau khi phân tích cơ sở thực tế (chương trình, đối tượng và thực tế giảng dạy bài thơ) Sau khi đã có hai giờ thực nghiệm trên hai cách khai thác cũ và mới, chúng tôi tiến hành phân tích đối sánh để rút ra những kết luận cần thiết

Phương pháp hệ thống Phân tích là chia nhỏ đối tượng để khảo sát Điều đó không có nghĩa là làm nát vụn đối tượng ra thành từng mảnh tách rời, biệt lập Tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng là một chỉnh thể thống nhất, nên việc phân tích chỉ có ý nghĩa khi nó gắn liền với việc tổng hợp và hệ thống lại vấn đề Do đó, sau khi phân tích xong những vấn đề ở chương 2, chúng tôi sẽ tiến hành tổng hợp, hệ thống lại những khía cạnh của lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ sẽ được vận dụng vào việc phân tích bài thơ Chỉ trên cơ sở

đó, chúng tôi mới có thể thiết kế các câu hỏi, các bước lên lớp cũng như các phương pháp một cách có hệ thống, đảm bảo tính khoa học, có hiệu quả trong

việc hướng dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức và rèn kỹ năng, rèn tư duy

Phương pháp thực nghiệm Sau khi thiết kế giáo án, chúng tôi sẽ tiến hành thực nghiệm bằng cách tiến hành hướng dẫn học sinh đọc hiểu bài thơ

Sóng theo hai hướng khai thác (một hướng cũ, có giáo án đi kèm) và một

hướng chúng tôi đề xuất ở hai lớp học khác nhau, cùng đối tượng và tương đương về trình độ Sau mỗi giờ học, chúng tôi tiến hành kiểm tra kết quả thực nghiệm bằng cách cho hai lớp làm một bài kiểm tra bằng hình thức trắc nghiệm khách quan trong thời gian 15 phút Kết quả thực nghiệm sẽ được thể

hiện cụ thể bằng những con số sau khi chúng tôi chấm bài

Phương pháp đối chiếu Qua hai hướng thực nghiệm, chúng tôi sẽ tiến hành đối chiếu và rút ra những kết luận cần thiết

Trang 16

Phương pháp nghiên cứu theo hướng thi pháp học

5 Mẫu khảo sát

Học sinh lớp 12, trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (Nam Định)

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chọn đề tài này, chúng tôi nhận thức nhiệm vụ nghiên cứu của mình gồm những vấn đề sau

Trước hết là tìm hiểu tín hiệu và tín hiệu thẩm mỹ Ở phần này, luận văn phải giải quyết được những vấn đề có tính lý thuyết làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu bằng việc phải chỉ ra được bản chất của: khái niệm tín hiệu (tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ, tín hiệu thẩm mỹ, tín hiệu thẩm mỹ trong ngữ cảnh tu từ cụ thể); nguồn gốc, tính chất, chức năng của tín hiệu thẩm mỹ Nhiệm vụ tiếp theo là khảo sát tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Xuân

Quỳnh ở THPT (bài thơ Sóng) Từ đó, chúng tôi định hướng khai thác bài

thơ từ góc độ lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ trên tinh thần phù hợp với đối tượng tiếp nhận

Sau khi khảo sát và có những định hướng cụ thể, nhiệm vụ tiếp theo của luận văn là đề xuất phương pháp, thiết kế giáo án và thực nghiệm

Nhiệm vụ cuối cùng là phân tích kết quả và rút ra kết luận

7 Vấn đề nghiên cứu

Tín hiệu thẩm mỹ là gì? Tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Xuân Quỳnh ở THPT

(bài Sóng ) và vận dụng nó vào việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu bài thơ

như thế nào?

8 Gỉa thuyết khoa học

Vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ vào việc hướng dẫn học sinh đọc

hiểu bài thơ Sóng là một hướng tiếp cận có hiệu quả

9 Đóng góp mới của luận văn

Với nhận thức rằng, phương pháp là con đường, cách thức, mà trên thực

tế, để chiếm lĩnh một đối tượng, có rất nhiều con đường, phương hướng khác nhau, vận dụng lý thuyết tín hiệu vào việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu bài

Trang 17

thơ, chúng tôi không có tham vọng rằng đó là hướng tiếp cận duy nhất có giá trị Trong khả năng của mình, chúng tôi chỉ hi vọng đưa ra một hướng tiếp

cận mới, có hiệu quả mới đối với việc giảng dạy bài thơ Sóng trong chương

trình Ngữ văn 12

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục nôi dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tế

Chương 2: Khảo sát và định hướng khai thác giá trị thẩm mỹ thơ Xuân

Quỳnh trong chương trình Trung học phổ thông qua bài Sóng

Chương 3: Đề xuất phương pháp, thiết kế giáo án thực nghiệm

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Cơ sở Ngôn ngữ - Văn học

Là một vấn đề có tính liên ngành, những năm gần đây, việc nghiên cứu tín hiệu thẩm mỹ được nhiều nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành khác nhau của khoa học về nghệ thuật ngôn từ quan tâm Trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, chúng tôi trình bày tóm tắt các quan điểm về tín hiệu thẩm mỹ để làm cơ sở cho việc khảo sát của luận văn

1.1.1.1 Tín hiệu

Điều kiện đầu tiên đảm bảo cho sự tồn tại khái niệm tín hiệu thẩm mỹ

là những điều kiện tín hiệu học

“Tín hiệu là những dấu hiệu có thuộc tính vật chất có khả năng kích thích vào giác quan con người, làm con người cảm nhận được và liên tưởng đến một điều gì đó” [19; tr270]

Pier Guiraud cho rằng “ một tín hiệu….là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác” [Dẫn theo

Đỗ Hữu Châu 7; tr51] Theo cách hiểu này, mọi hình thức vật chất không phân biệt tự nhiên hay nhân tạo, có chức năng giao tiếp hay không…đều được coi là tín hiệu, nếu nó gợi ra trong kí ức con người một hình ảnh nào đó Các nhà nghiên cứu về lý thuyết thông tin gọi đó là yếu tố mang tin, còn các nhà nghiên cứu ngữ nghĩa học gọi đó là những yếu tố mang nghĩa Nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu cũng chỉ ra những điều kiện cần cho một sự vật (hay thuộc tính vật chất, hiện tượng) trở thành tín hiệu Thứ nhất, nó phải được cảm nhận bới các cảm giác (phải có một hình thức cảm tính – cái biểu hiện) Thứ hai, nó phải gợi ra, đại diện cho cái gì đó khác với chính nó (phải

có một “ý nghĩa” – cái được biểu hiện) Thứ ba, nó phải được thừa nhận, lĩnh hội bởi một chủ thể và cuối cùng, nó phải được nằm trong một hệ thống nhất định [6; tr52 – 53]

Trang 19

Tín hiệu rất phong phú, đa dạng nên các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều cách phân loại khác nhau dựa vào tiêu chí khác nhau Peirce chia các tín hiệu thành 10 loại lớn, mỗi loại chia thành nhiều loại nhỏ trong đó quy về

3 loại chính: biểu trưng (symboles), hình hiệu (icones) và dấu hiệu (indices) Morris lại chia thành hai loại: chỉ hiệu (signe index) và định hiệu (signes caracterisant) dựa vào quan hệ giữa tín hiệu và các loại sự vật mà nó biểu thị A.Schaff do chỉ xem tín hiệu là những yếu tố có chức năng giao tiếp nên đã phân ra hai loại lớn: tín hiệu tự nhiên và tín hiệu nhân tạo Còn P Guiraud có

sự phân biệt tín hiệu tự nhiên với tín hiệu nhân tạo, tín hiệu biểu hiện và tín hiệu giao tiếp nhưng ông không tách tín hiệu giao tiếp với tín hiệu tự nhiên

mà đặt chúng trong mối quan hệ giữa thực tế với nhận thức của con người, từ

đó nhận ra những khả năng khác nhau của các tín hiệu khi đặt chúng vào các mối quan hệ khác nhau Lấy bảng phân loại tín hiệu của P.Guiraud làm trục chính, trên cơ sở bổ sung thêm kết quả phân loại của các tác giả khác, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra kết quả phân loại như sau: Căn cứ vào nguồn gốc để chia thành tín hiệu tự nhiên và tín hiệu nhân tạo; căn cứ vào đặc tính của cái biểu đạt có thể phân loại thành tín hiệu thị giác, tín hiệu vị giác; căn cứ vào quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt có thể quy thành các loại: dấu hiệu, hình hiệu và ước hiệu; căn cứ vào chức năng xã hội, có thể chia thành các tín hiệu giao tiếp và phi giao tiếp [6; tr62 – 64]

1.1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ

Trong công trình nghiên cứu Ngôn ngữ và văn học, hai tác giả Đỗ Việt

Hùng và Nguyễn Thị Ngân Hoa đã khảo sát một cách có hệ thống tín hiệu ngôn ngữ và chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật Từ đó lưu ý đến việc khai thác các tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật với tư cách là phương tiện quan trọng bậc nhất của văn chương Theo hai tác giả, ngôn ngữ có bản chất tín hiệu Tính chất tín hiệu của ngôn ngữ, trước hết được thể hiện ở tính hai mặt của nó: mặt biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ là âm thanh nghe được, còn mặt được biểu đạt là ý nghĩa, khái

Trang 20

niệm về sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất…mà âm thanh đó gọi tên [19; tr5]

Tuy nhiên, so với các tín hiệu khác, mối quan hệ giữa hai mặt của ngôn ngữ đa dạng, phức tạp hơn nhiều Chẳng hạn, lấy từ làm đơn vị trung tâm của ngôn ngữ thì trong mỗi trường hợp sử dụng, ngoài nghĩa vốn có, nó

có thể biểu thị cho những đối tượng khác nhau Mối quan hệ giữa hai mặt của tín hiệu nói chung và tín hiệu ngôn ngữ nói riêng là mối quan hệ võ đoán, tức tính không có lý do Song, trong ngôn ngữ, có những trường hợp mà giữa mặt biểu đạt và mặt được biểu đạt có tính lý do Tính có lý do thể hiện rõ ở những trường hợp biểu vật theo lối miêu tả Theo Đỗ Hữu Châu thì “ biểu vật theo lối miêu tả là biểu vật theo lối phân tích Ở đây, nhận thức về đặc điểm đi trước nhận thức về sự vật” [5; tr98] Và “đây chính là một trong những phương tiện được khai thác khá triệt để trong các tác phẩm văn học” [19; tr7]

Tín hiệu ngôn ngữ còn có tính đa trị Đây là điểm khác biệt giữa tín hiệu ngôn ngữ và các tín hiệu thông thường khác Tính đa trị của tín hiệu ngôn ngữ thể hiện ở: một tín hiệu ngôn ngữ biểu thị nhiều nội dung khác nhau (trường hợp các từ đồng âm, từ nhiều nghĩa); nhiều tín hiệu ngôn ngữ biểu thị một nội dung (trường hợp các từ đồng nghĩa); nội dung của mỗi tín hiệu ngôn ngữ, ngoài phần hiện thực khách quan, còn có thể gợi ra những tình cảm, cảm xúc, thái độ, cách đánh giá…đối với sự vật hiện tượng được nói tới (nghĩa biểu cảm, biểu thái)

Tín hiệu ngôn ngữ có tính hình tuyến, tức là các đơn vị ngôn ngữ bị giới hạn trong một trật tự thời gian Điều này giúp cho các nhà nghiên cứu nhận diện được các đơn vị ngôn ngữ, các quy tắc cấu tạo từ, đặt câu, dựng đoạn và tạo lập văn bản, có tác dụng tạo nghĩa lớn mà “ nếu không chú ý đến mối quan hệ này của các đơn vị ngôn ngữ, quá trình giải mã các tác phẩm văn học sẽ không đến được cái đích cần đến” [19; tr9]

Trang 21

mỹ là yếu tố thuộc phương tiện biểu hiện của nghệ thuật, chúng phải có ý nghĩa thẩm mỹ, phục vụ cho mục đích thẩm mỹ của tác giả và khơi dậy tình cảm thẩm mỹ của người đọc Trên cơ sở tiếp thu lý thuyết của các tác giả, chúng tôi thống nhất cách hiểu về tín hiệu thẩm mỹ như sau “ Tín hiệu thẩm

mỹ là tín hiệu thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của các ngành nghệ thuật, bao gồm toàn bộ những yếu tố của hiện thực, của tâm trạng (những chi tiết, nhưng sự việc, hiện tượng, những cảm xúc…thuộc đời sống hiện thực và tâm trạng), những yếu tố của chất liệu (các yếu tố của chất liệu ngôn ngữ với văn học; các yếu tố của chất liệu màu sắc với hôi họa; âm thanh, nhịp điệu, tiết tấu với âm nhạc….) được lựa chọn và sáng tạo trong các tác phẩm nghệ thuật vì mục đích thẩm mỹ” [Dẫn theo 41; tr11]

* Nguồn gốc

Trong thực tế khách quan, mọi sự vật, đối tượng, thực thể đều trở thành tín hiệu nếu hình thức biểu hiện của nó chứa đựng một nội dung thông tin nhất định Khi những tín hiệu đầu tiên đi vào trong tư duy và giao tiếp con người, mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là mối quan hệ có tính lý do Sau đó, trong quá trình thay đổi của những biểu hiện cảm tính và nội dung ý nghĩa trong những biểu hiện cảm tính đó, ta có tín hiệu mang tính

Trang 22

võ đoán Sự tổ chức lại các tín hiệu tự nhiên thành các tín hiệu thẩm mỹ để nâng cấp hoạt động nhận thức và biểu hiện thế giới trong đời sống tinh thần của con người là bước tiến quan trọng nhất của tư duy con người, biểu hiện

sự kiết hợp giữa tư duy lý tính và tư duy biểu tượng “ Con người khác xa con vật ở chỗ không chỉ nhận biết ý nghĩa mối liên hệ của các sự vật riêng biệt

mà luôn cố gắng sáng tạo, phủ định, điều chỉnh lại sự diễn đạt bằng biểu tượng” [Dẫn theo 19; tr62 – 63] Như vậy, biểu tượng là dạng nguyên thủy nhất, là nguồn gốc phát sinh các tín hiệu thẩm mỹ mang tính truyền thống của các ngành nghệ thuật Những tín hiệu này có nguồn gốc từ hiện thực, từ mẫu gốc của một nền văn hóa Ví dụ, “cau – trầu” là một cặp tín hiệu có nguồn gốc từ văn hóa dân gian Việt Nam, vào thơ Nguyễn Bính như một ẩn dụ về khát vọng hạnh phúc trăm năm:

Nhà em có một giàn giầu

Nhà anh có một hàng cau liên phòng

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

Mây giăng ải bắc trông tin nhạn

Ngày xế non nam bặt tiếng hồng

(Xúc cảnh)

Trang 23

Thấy nhàn (nhạn) luống tưởng thư phong

Nghe hơi sương, sắm áo bông sẵn sàng

(Chinh phụ ngâm)

Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng

Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền

(Cung oán ngâm)

Tóm lại, tín hiệu thẩm mỹ có nguồn gốc hoặc từ hiện thực, hoặc từ ảnh hưởng của các nền văn hóa Tuy nhiên, khi vào trong tác phẩm văn học, khi thực hiện chức năng thẩm mỹ, các tín hiệu được cấu tạo lại, tổ chức lại trong mối quan hệ với các nhân tố của quá trình giao tiếp đặc biệt

* Các đơn vị tín hiệu thẩm mỹ

Tín hiệu đơn (tín hiệu cơ sở) là loại tín hiệu tương đương với loại đơn

vị hai mặt nhỏ nhất của ngôn ngữ

Tín hiệu phức (tín hiệu xây dựng) là loại tín hiệu tương đương với kết cấu ngôn ngữ có sự tham gia của từ hai đơn vị tín hiệu thẩm mỹ trở lên, mang ý nghĩa tương đối độc lập so với ý nghĩa của từng tín hiệu riêng lẻ tham gia trong nó

* Phương thức cấu tạo tín hiệu thẩm mỹ

Thông tin thẩm mỹ mà chúng ta thu nhận được phải được tạo ra từ yếu

tố ngôn từ có giá trị thẩm mỹ Phương thức để tạo ra cái giá trị thẩm mỹ ấy cho từ, cho tín hiệu nghệ thuật chính là các biện pháp nghệ thuật tu từ mà tiêu biểu là ẩn dụ và hoán dụ

Ẩn dụ và hoán dụ là hai phương thức chuyển nghĩa cơ bản của ngôn

ngữ Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên mối quan hệ tương đồng, nghĩa là giống nhau về một nét nào đó giữa hai đối tượng

Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên mối quan hệ kế cận,

tức là thường xuyên đi đôi, gần gũi với nhau

Không chỉ là phương thức chuyển nghĩa của ngôn ngữ tự nhiên, ẩn dụ

và hoán dụ là các phương thức để cấu tạo lại các tín hiệu thẩm mỹ của ngôn ngữ nghệ thuật

Trang 24

Ẩn dụ và hoán dụ có vai trò quan trọng trong việc cấu tạo các tín hiệu thẩm mỹ trong ngôn ngữ nghệ thuật

Các thủ pháp cấu tạo tín hiệu thẩm mỹ, tức ẩn dụ và hoán dụ có liên quan chặt chẽ đến phong cách các trường phái, các khuynh hướng sáng tác như lãng mạn, hiện thực hay tượng trưng Chẳng hạn, chủ nghĩa lãng mạn ưa dùng ẩn dụ, chủ nghĩa hiện thực ưa dùng hoán dụ và chủ nghĩa tượng trưng hay dùng ẩn dụ Chủ nghĩa tượng trưng sử dụng ẩn dụ là chủ yếu trong khi chủ nghĩa siêu thực lại sử dụng hoán dụ làm phương thức chính Trong thơ

Xuân Diệu trước cách mạng, những “ngọn núi” (Hy mã lạp sơn), “con nai” (Khi chiều giăng lưới), “chiếc đảo”( Nguyệt cầm), “kỹ nữ” (Lời kỹ nữ) đều

là ẩn dụ tượng trưng cho một cái tôi cô đơn rợn ngợp Mặt khác, những hình ảnh thiên nhiên bao giờ cũng được thi sĩ đa tình nhìn bằng cặp mắt của một khách tình si với giai nhân để thể hiện một tình yêu trần thế cũng như niềm khát khao giao cảm với đời của một tâm hồn thèm giao cảm Thể hiện những điều

đó, bao giờ nhà thơ cũng sử dụng những ẩn dụ tượng trưng: đóa hồng nhung thắm đỏ như làn môi thiếu nữ nên gọi là “đóa hôn”, “mây” thì “đa tình như thi sĩ”, “lá liễu” thì “dài như một nét mi”, “gió canh khuya hay nghìn ngón tay ôm”,

“biển” là một tình nhân với trái tim nồng nàn sục sôi không bao giờ mỏi mệt,

“tháng giêng” hấp dẫn, gọi mời, quyến rũ như một “cặp môi gần” và ánh sáng buổi mai trong trẻo dịu dàng như cái “chớp mi” của người kiều nữ

Bài thơ Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo, một bài thơ viết theo

phong cách siêu thực có màu sắc tượng trưng, đã được tác giả sử dụng hàng loạt các nghệ thuật hoán dụ:

Những tiếng đàn bọt nước

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

li la li la

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn

Trang 25

Với những hình ảnh hoán dụ, với cách sắp xếp theo nguyên tắc gián cách (tiếng đàn bọt nước, áo choàng đỏ gắt, vầng trăng chếnh choáng), câu thơ có khả năng tạo ra những hình ảnh lạ hóa, biên độ ý nghĩa hình ảnh thơ được mở rộng, mỗi hình ảnh, câu thơ, đoạn thơ tựa như khối vuông rubic, như viên xúc xắc, như kính vạn hoa lấp lánh sắc màu Do đó, đoạn thơ có khả năng gợi ra hình ảnh người nghệ sĩ tự do, phiêu lãng và cô đơn trong bối cảnh sục sôi, căng thẳng của thực tại đương thời Tây Ban Nha hay trái tim sục sôi của người nghệ sĩ chứa đầy khát vọng: khát vọng tự do trong một chế độ thù địch với tự do; khát vọng cách tân giữa một nền nghệ thuật đã già nua, cằn cỗi?

Ẩn dụ và hoán dụ có thể sử dụng trong mọi trường phái, mọi thời kỳ lịch sử, chỉ có điều chúng được tổ chức lại trong những tín hiệu thẩm mỹ dưới những hình thức kết hợp khác nhau

Bài thơ Cô gái trộm sen của Lê Đạt được tác giả mượn ẩn dụ trong bài Trì thượng (Trên ao) của Bạch Cư Dị rồi tổ chức lại trong những tín hiệu

thẩm mỹ dưới hình thức kết hợp khác (đổi từ cấu trúc thẳng sang cấu trúc nổi, từ kết cấu liên tiếp sang kết cấu gián đoạn) để diễn tả những thông tin thẩm mỹ khác (vẻ đẹp hồn nhiên, ngây thơ của thiếu nữ trong thơ Bạch Cư

Dị vào thơ Lê Đạt lại là vẻ phơi phới, trẻ trung và rất đỗi gợi tình của người con gái đương thì chanh cốm)

Cô gái trộm sen về ủ tuổi

Lỏng khuy cài, gió thổi một dòng hương

Chân dại, bước e, tình ấp lôi

Bướm cờ non, màu í ới lòng đường

Ngay cả trong văn xuôi, ẩn dụ và hoán dụ cũng là một tín hiệu thẩm

mỹ đầy hiệu quả giúp nhà văn biểu đạt tư tưởng sâu xa và ý nhị, khiến tác phẩm có sức gợi mở lớn lao, vừa thách thức vừa gọi mời, hấp dẫn độc giả

Tác phẩm Vòng sóng đến vô cùng của Nguyễn Khải, ngay tên gọi của nó đã

là một ẩn dụ nghệ thuật Ban đầu, người ta dễ dàng liên tưởng đến vòng sóng luân hồi trong quan niệm của nhà Phật, song cái tín hiệu văn hóa tâm linh ấy

Trang 26

được tác giả cấu tạo lại, biến nó thành một tín hiệu thẩm mỹ chứa chở những nhận thức, triết luận của nhà văn về cuộc sống, thời cuộc: chiến tranh và hòa bình chỉ là trạng thái ngừng lặng tương đối, mọi xấu – tốt, thiện – ác, tựa một

“vòng sóng” không bao giờ hết, là sự tiếp biến không ngừng Đó phải chăng

là bản chất vĩnh cửu của cuộc sống?

Hoán dụ hay ẩn dụ không phải chỉ là thủ pháp chuyển nghĩa các tín

hiệu thẩm mỹ ở cấp độ từ vựng mà có thể chi phối toàn bộ cấu trúc văn bản Các hoán dụ và ẩn dụ chỉ có sự tương tác ngữ nghĩa với một đơn vị của văn bản là các ẩn dụ, hoán dụ bộ phận Các ẩn dụ, hoán dụ toàn văn bản quy định mối tương quan mật thiết giữa toàn bộ hình thức và ngữ nghĩa của văn bản Toàn bộ các tín hiệu ngôn ngữ đều được cấu tạo lại trong sự ảnh hưởng của những thủ pháp này.Việc giải mã các tín hiệu thẩm mỹ trong trường hợp

đó, bắt buộc phải dựa trên đặc điểm trường nghĩa của hệ thống tín hiệu Ví

dụ, bài thơ Thơ duyên của Xuân Diệu có một hệ thống tín hiệu thẩm mỹ xoay quanh một chủ đề Duyên: duyên thiên nhiên, duyên con người: “cặp

chim, bầu trời – mặt đất, con đường – ngọn gió, cành hoang – nắng trở chiều, lòng ta – ý bạn, anh – em, mây biếc – con cò, cánh chim – bầu trời; lòng anh – lòng em” Nối kết những hình ảnh đó là những từ cùng trường nghĩa

“duyên” chỉ mối tương giao màu nhiệm: “hòa, ríu rít, xiêu xiêu, lả lả, nghe,cặp vần, băng nhân, cưới…”.Tất cả những ẩn dụ, hoán dụ được cấu trúc trên một hệ ngôn ngữ để diễn tả cái nhìn say đắm, thiết tha của một thi nhân khi thấy cuộc đời xiết bao ấm áp khi tất cả như có lứa có đôi với cái duyên gắn kết chặt bền và thơ mộng

Hoặc về nội dung tư tưởng Truyện Kiều của Nguyễn Du, có người cho

đó là nỗi đau nhân thế trong “một cuộc bể dâu”, có người cho đó là ẩn dụ cho nỗi niềm của chính thi hào, Kiều là hiện thân của Nguyễn Nhưng, có người lại cho đó là một hình tượng về cuộc ngộ đạo của tác giả, là phương tiện để Nguyễn Du mượn để nói đến việc thâm hội Phật pháp Cuộc đời Kiều không phải của riêng Kiều hay của tác giả mà của tất cả chúng ta Cùng một điểm

Trang 27

xuất phát từ bổn tâm thanh tịnh vì vọng tình mà lao đao đi mãi vào vòng đời nghiệt ngã, chịu bao nỗi gian truân Nhưng cuối cùng, Kiều đã trở về mái nhà xưa yên ấm, còn chúng ta thì sao? Hiểu theo nghĩa này, toàn bộ nhân vật và

sự kiện đều là ẩn dụ cho những vấn đề của Phật giáo và cuộc đời nhân vật thành một biểu trưng cho hành trình thức ngộ về Bến Giác của nghệ sĩ Cấu trúc của tác phẩm là một cấu trúc ẩn dụ dựa trên mối quan hệ tương đồng giữa những đặc điểm của nhân vật cũng như số phận của nó với bản chất của những vấn đề Phật pháp

Trong kiểu quan hệ tương đồng, mối quan hệ giữa các cấp độ của cái được biểu đạt thường có một sự đứt đoạn, chìm khuất, gián cách Trong kiểu quan hệ kế cận lại có độ chênh, khoảng lệch pha, khúc xạ giữa các cấp độ ý nghĩa

Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, ẩn dụ cũng như hoán dụ và tất cả các thủ pháp khác không có vai trò quyết định với giá trị tác phẩm Nghệ thuật cần đến thủ pháp nhưng nghệ thuật không phải là thủ pháp

* Tính chất của tín hiệu thẩm mỹ trong ngôn ngữ nghệ thuật

- Tính hai mặt

Ngôn ngữ nghệ thuật lấy ngôn ngữ tự nhiên làm chất liệu biểu hiện Do

đó, nếu coi ngôn ngữ tự nhiên là hệ thống tín hiệu nguyên cấp (hệ thống tín hiệu thứ nhất) thì ngôn ngữ nghệ thuật là hệ thống tín hiệu thứ cấp (hệ thống tín hiệu thứ hai) Cái biểu hiện của tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật bao gồm cả

“hình thức ngữ âm và ý nghĩa sự vật logic của ngôn ngữ tự nhiên, tức cái phần tri giác được Cái được biểu hiện là các lớp ý nghĩa hình tượng” [19; tr10] Như vậy, tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật là một tín hiệu phức hợp Mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện của ngôn ngữ nghệ thuật là mối quan hệ có lý do Trước hết, có một mối tương quan chặt chẽ giữa ý nghĩa sự vật logic của một từ trong ngôn ngữ nghệ thuật và ý nghĩa hình tượng của từ này Chẳng hạn, “Vọng Phu” trong truyện cổ tích Việt Nam là một biểu trưng cho tình vợ chồng thủy chung son sắt Ý nghĩa hình tượng nói

Trang 28

trên liên quan mật thiết đến nghĩa sự vật của từ: Vọng Phu là dáng một hòn núi giống người phụ nữ bồng con, phơi sương trải nắng và không đổi với thời gian để đợi chồng Mặt khác, ý nghĩa hình tượng của một tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật còn bị chi phối bởi: chủ thể sáng tạo, đối tượng được nói đến, bối cảnh văn hóa…Cho nên, trong một trường hợp khác, Nguyễn Khoa Điềm lại nói đến một tình yêu lớn hơn trong một biến thể kết hợp:

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho đất nước những núi Vọng Phu

(Mặt đường khát vọng)

Cùng nguồn gốc từ văn học dân gian nhưng tín hiệu thẩm mỹ trong biến thể kết hợp này lại tạo ra thông tin thẩm mỹ mới: những người vợ nhớ chồng góp cho đất nước bằng năm đợi tháng chờ, bằng tình yêu chung thủy sắt son mà làm nên những Vọng Phu, tạc nên cho đất nước hình sông, thế núi Tình yêu lứa đôi gắn bó với tình yêu đất nước, cái riêng gắn bó với cái chung Trong nghĩa khái quát toàn chương, câu thơ với tín hiệu thẩm mỹ nêu trên còn là một cách khẳng định vai trò của nhân dân trong việc làm ra đất nước, khẳng định tư tưởng đất nước của nhân dân Tín hiệu này sở dĩ mang nghĩa mới bởi

nó là sáng tạo riêng của nhà thơ, nó gắn với đối tượng được nói đến ở đây là nhân dân và việc chiếm lĩnh nó phải đặt trong bối cảnh xã hội văn hóa, văn học Việt Nam những năm chống Mỹ, nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi, quan tâm đến những vấn đề trọng đại của cộng đồng Tình yêu lứa đôi ở đây không còn là mục đích biểu đạt mà chỉ hiện lên như một phương tiện để nhà thơ – chiến sĩ thể hiện tình yêu đất nước, trách nhiệm công dân

- Tính nhân loại, tính dân tộc, tính lịch sử

Xét ở bình diện văn hóa, tín hiệu thẩm mỹ là cấp độ biểu hiện của các mẫu gốc và các biểu tượng của những nền văn hóa nhất định Mối nền văn hóa đều có những mẫu gốc đặc trưng mang tính dân tộc nhưng vẫn nằm trong mối lên hệ sâu xa với cái nôi chung của văn hóa nhân loại Ví như thần Nước trong “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường, Thủy thần – Thủy quái trong

Trang 29

truyền thuyết của người Việt, thần Biển trong thần thoại Hy Lạp và phương Tây Từ các hệ biểu tượng văn hóa hình thành các tín hiệu thẩm mỹ trong các

ngành nghệ thuật nhất định như là chất liệu cơ bản trong sáng tạo nghệ thuật

Trong khi xét tính lịch sử, tính dân tộc và tính nhân loại của tín hiệu thẩm mỹ, chúng ta luôn phải xét đến sự biến đổi trong mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt và quan hệ giữa các tín hiệu trên trục hệ hình mang tính lịch sử của nó Quan hệ thứ nhất gọi là quan hệ tượng trưng, ý thức tượng trưng của ký hiệu Quan hệ thức hai là ý thức hệ pháp của ký hiệu Chính ý thức về hệ pháp này đã giúp chúng ta có thể chỉ ra mối liên hệ giữa các mẫu gốc, các biểu tượng, các tín hiệu thẩm mỹ giữa các cộng đồng, các nền văn hóa trong một phạm vi một nền văn học, văn hóa nhất định Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, một hệ hình của các biểu tượng, các tín hiệu thẩm

mỹ, xét trên trục lịch đại của nó, luôn là một hệ hình mở Sự tiêu biến của một số yếu tố, sự gia nhập của các yếu tố khác từ các dòng văn hóa khác nhau tạo nên những mối liên hệ và những giá trị mới của toàn bộ hệ thống

- Tính phi vật thể và phi trực quan

Xuất phát từ những sự vật cụ thể nhưng biểu tượng không phải là chính

sự vật cụ thể đó mà là sự tri nhận của con người về đối tượng Do đó, biểu tượng chính là toàn bộ những đặc điểm bản thể của đối tượng có khả năng gợi lên một ý nghĩa rộng hơn trong nhận thức của con người chứ không phải những yếu tố ngoại hiện trong đó sự tồn tại của sự vật hoàn toàn mang tính khách quan Biểu tượng văn hóa luôn là biểu tượng phi vật thể, phi trực quan

Sự hướng tới những ấn tượng phi trực quan trong nghệ thuật đòi hỏi một năng lực cảm thụ ở cấp độ cao hơn rất nhiều so với sự đạt đến những ấn tượng trực quan cảm tính Trước hết, nó đòi hỏi người đọc phải có khả năng nhạy cảm trong việc phát hiện tín hiệu thẩm mỹ, khả năng liên tưởng, tưởng tượng và khả năng tư duy hình tượng Sau nữa, những khả năng ấy lại phải kết hợp với vốn sống, vốn hiểu biết về văn hóa, đặc trưng văn học và tình cảm thẩm mỹ Chỉ khi đó, người đọc mới giải mã được những tín hiệu kiểu

Trang 30

như “ mai, tuyết” trong câu thơ “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” của Nguyễn

Du hay tín hiệu tiếng ghi ta “ nâu, lá xanh, tròn , cỏ mọc hoang” trong đoạn thơ của Thanh Thảo “tiếng ghi ta nâu/tiếng ghi ta lá xanh biết mấy/ tiếng ghi

ta tròn bọt nước vỡ tan……tiếng đàn như cỏ mọc hoang” Một người nghệ sĩ thực sự có bản lĩnh trong quá trình sử dụng các tín hiệu thẩm mỹ phi trực quan, phi vật thể phải là người xác định được những mối quan hệ đảm bảo cho người đọc một sự tưởng tượng và một cách hiểu theo cái điều mà anh

ta đã định biểu hiện ra qua ngôn từ dù anh ta có trình bày nó dưới bất kỳ một thủ pháp nào Đây không phải là sự áp đặt mà là chức năng định hướng của tín hiệu thẩm mỹ, loại trừ những cách hiểu sai lầm, những sự bóp méo thông tin, những sự tưởng tượng hoang dại nằm ngoài thế giới nghệ thuật của tác phẩm

- Tính hình tuyến

Trong ngôn ngữ văn học, các tín hiệu thẩm mỹ đều phải được tổ chức lại dựa trên tính hình tuyến chặt chẽ của ngôn từ Trong mối liên hệ tuyến tính của tín hiệu, những quan hệ của đối tượng được biểu hiện theo những cách khác nhau dựa trên sự tuân thủ những quy tắc ngữ nghĩa – cú pháp hay thay đổi những quy tắc này Trong ngôn ngữ nghệ thuật có thể xuất hiện những cấu trúc ngữ nghĩa cú pháp không bao giờ có thể đánh giá theo logic của ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ giao tiếp thông thường Qua những mối liên

hệ tiếp đoạn, nghệ sĩ có thể đưa đến cho người đọc những khám phá mới về đối tượng Những mối quan hệ tưởng như không thể có lại xuất hiện trong các ngữ đoạn như một sự gợi mở, đưa người đọc đến với một chiều kích khác

của đời sống

Do luôn hạn chế trong một trình tự tuyến tính chặt chẽ nên các hình ảnh, trạng thái được biểu hiện qua tín hiệu thẩm mỹ của tác phẩm văn học đều được hình tuyến hóa, thời gian hóa, sự kiện hóa Trong tác phẩm tự sự, cách thông thường để khắc phục tính hình tuyến của tín hiệu thẩm mỹ là các thủ pháp tạo nên độ chênh giữa thời gian trần thuật và thời gian sự kiện

Trang 31

Tính hình tuyến của tín hiệu thẩm mỹ vừa là mặt mạnh vừa là hạn chế của tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật Trên trục tuyến tính, khả năng thể hiện những điều biến, những sự kiện, những quá trình phát triển số phận và tâm lý…của tín hiệu ngôn ngữ là thế mạnh của văn học so với nghệ thuật tạo hình Chẳng hạn, tính hình tuyến của tín hiệu thẩm mỹ trên trục tuyến tính của nó là cơ sở để Nam Cao miêu tả và phân tích diễn biến tâm lý nhân vật

như một quá trình chính xác, tinh tế; giúp Thạch Lam trong Hai đứa trẻ qua

diễn tiến thời gian nơi phố huyện nghèo lại nói được cái không lưu chuyển,

cái lụi tàn dần đi của sự sống, nói được mạch tâm trạng (buồn bâng khuâng

man mác, buồn thương, buồn nhớ và buồn tiếc) của nhân vật Liên, qua đó

gióng lên khát vọng đổi thay thực tại Nhưng tính tạo hình, khả năng biểu hiện đối tượng theo các chiều không gian lại luôn bị cái ngưỡng thời gian tuyến tính này cản trở Chính vì thế, các tác giả, những người luôn cảm thấy trói buộc của chất liệu đã luôn kiếm tìm những cách biểu hiện mới, những trật tự mới, những lối kết hợp khác thường để khắc phục hạn chế của tín hiệu ngôn từ Tiêu biểu là thủ pháp đồng hiện (thời gian, không gian); kiểu kết cấu tâm lý, phản ánh những sự kiện của đời sống, của con người qua những dòng tâm trạng, hồi đoan, những mảnh vỡ ký ức chập chờn…chẳng những làm cho mạch truyện phóng túng, linh hoạt, kết cấu tưởng lỏng mà chặt, mà còn khắc phục được hạn chế nêu trên của tính hình tuyến trong ngôn ngữ

* Chức năng của tín hiệu thẩm mỹ

Với tư cách là chất liệu trong tác phẩm văn học, tín hiệu thẩm mỹ thực hiện một chức năng kép: chức năng biểu hiện và chức năng tác động, định hướng

- Chức năng biểu hiện

Văn học lấy con người và cuộc sống làm đối tượng phản ánh Nhưng với tư cách là đối tượng của văn chương, con người và cuộc sống khác hẳn với nó trong các ngành khoa học khác Đối tượng mà tác phẩm văn học biểu hiện không phải là đối tượng mang tính khách quan mà là đối tượng đã được

Trang 32

chủ quan hóa, tinh thần hóa ở các mức độ khác nhau Cho nên, cái cốt yếu mà ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện không phải là đặc điểm, thuộc tính, trạng thái của đời sống mà là toàn bộ thế giới cảm xúc và tri nhận về đời sống ấy của một chủ thể nhất định, tức là cái cần phải có chứ không phải cái đang có Ví

dụ, khi Hoàng Cầm viết:

Ai về bên kia sông Đuống

Có nhớ từng khuôn mặt búp sen

Những cô hàng xén răng đen

Cười như mùa thu tỏa nắng

(Bên kia sông Đuống)

Thì hiển nhiên, đoạn thơ không chỉ nhằm biểu hiện những gương mặt

“búp sen” hay nụ cười “mùa thu tỏa nắng” của các cô hàng xén Cái biểu hiện của đoạn thơ là đằng sau tất cả những hình ảnh ấy, nó làm hiện lên vẻ đẹp của con người Kinh Bắc, biểu hiện niềm rung động, đắm say của nhà thơ trước cái đẹp cũng như nỗi nhớ tiếc xót xa khi tất cả cái đẹp ấy chỉ còn

là một dư ảnh bởi quê hương sông Đuống không còn Thành ra, mức cần

có của biểu đạt từ tín hiệu thẩm mỹ của đoạn thơ lại là tình yêu quê hương sâu sắc, thiết tha

Như vậy, chức năng biểu hiện của ngôn ngữ nghệ thuật hoàn toàn thống hợp với chức năng thẩm mỹ, với nhiệm vụ chung của văn học nói riêng, nghệ thuật nói chung

- Chức năng tác động

Ngôn ngữ nghệ thuật tác động không phải chủ yếu đến những ấn tượng trực quan cảm tính của người tiếp nhận cũng như không phải là sự lây lan các trạng thái cảm xúc thông thường “Nghệ thuật luôn tác động đến cảm xúc con người, nhưng đó là những trạng thái cảm xúc có khả năng thanh lọc những cảm xúc thông thường thành những giá trị tinh thần cần phải có, xứng đáng được hiển lộ trong thế giới tâm hồn của con người” [19; tr109] Đó là những tác động nhằm hướng vào hệ thống cảm xúc của người đọc tạo nên những

Trang 33

thái độ mới, hành vi mới phù hợp với quan điểm thẩm mỹ mà người viết muốn chuyển đến cho người đọc thông qua tín hiệu thẩm mỹ Những câu

chuyện của nàng Xê–hê–ra-dat được kể trong Nghìn lẻ một đêm, bức thư của

tên tướng cướp ở Ô-đet-xa gửi Rutxo cảm ơn ông về những cuốn sách của ông đã giúp hắn hoàn lương, đã trở thành những hình tượng về sức mạnh đó của nghệ thuật Thực tế đã có những cuốn sách không chỉ thay đổi (theo hướng tích cực) một người mà cả một thế hệ, người ta gọi đó là những cuốn sách “gối đầu giường” của người tiếp nhận

- Chức năng hệ thống

Trong nội bộ tác phẩm, tính hệ thống của tín hiệu thẩm mỹ thể hiện ở hai cấp độ từ vựng, cấp độ cấu trúc Ở cấp độ từ vựng, chức năng hệ thống của tín hiệu thẩm mỹ nằm ở vai trò của mỗi tín hiệu với toàn bộ hệ thống tác phẩm thông qua mối quan hệ điều chỉnh lẫn nhau giữa tín hiệu đó với tất cả các tín hiệu còn lại trong tác phẩm khiến cho hệ thống tác phẩm bị điều chỉnh, thay đổi Ở cấp độ cấu trúc, tính hệ thống của tín hiệu thẩm mỹ thể hiện ở vai trò của mỗi tín hiệu trong việc xây dựng nên những tín hiệu lớn hơn nó trong hệ thống Mỗi tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm không thể tự nó

và vì nó, nó phải vì cái gì đó lớn hơn, rộng hơn nó mà ở đó, người đọc mới thực sự bước vào thế giới nghệ thuật, mới có thể lĩnh hội trọn vẹn thông điệp thẩm mỹ mà người viết ký thác Từ góc độ này, có thể thấy tín hiệu thẩm mỹ

là những vật liệu xây dựng nên hình tượng Ví dụ:

Hai ta như sen mùa hạ, cúc mùa thu

Như tháng mười hồng, tháng năm nhãn

Em theo chim, em đi về tháng tám

Anh theo chim cùng với tháng ba qua

(Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa – Tế Hanh)

Để lĩnh hội đoạn thơ trên, rõ ràng, người đọc phải cùng một lúc hiểu được một hệ thống tín hiệu: “sen mùa hạ, cúc mùa thu, mùa tháng mười, tháng năm, hồng, nhãn, tháng tám, tháng ba…”, bởi chúng là những chất liệu cùng

Trang 34

làm nên một hình tượng về sự chia xa của đôi lứa trong tình yêu, từ đó mới

có thể cảm hiểu nỗi khắc khoải nhớ nhung, mong đợi và khát khao đoàn tụ của nhân vật trữ tình Mỗi tín hiệu trong đoạn thơ trên nếu đứng riêng mình

nó, rõ ràng, nó chẳng nói lên được điều gì và nội dung tư tưởng tác phẩm tiêu biến do không khái quát lên được điều gì về cuộc sống từ hình tượng nghệ thuật Đó là lý do tín hiệu thẩm mỹ phải tồn tại trong hệ thống

Trong một tác giả, tính hệ thống các tín hiệu thể hiện ở những tín hiệu

mà tác giả ưa dùng.Ví dụ: Tố Hữu hay nói đến “con đường”, “bước chân”

Vũ Trọng Phụng hay nói đến nhân vật bói toán, cái ngẫu nhiên, “con người

vô nghĩa lý”, “cuộc đời vô nghĩa lý” Nam Cao hay nhắc đến “cái đói” và

“miếng ăn”, những giọt “nước mắt” mà ông gọi là “miếng kính biến hình vũ

trụ”, là “giọt châu của loài người…” Những tín hiệu này góp phần thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan, gu thẩm mỹ, cách khám phá…nghĩa là thể hiện phong cách nghệ thuật độc đáo của tác giả Tính hệ thống của tín hiệu thẩm mỹ trong phạm vi một tác giả không chỉ dừng ở những tín hiệu riêng

mà ở cả việc sử dụng những tín hiệu chung, được nhiều tác giả ở nhiều thời đại ưa dùng Tuy nhiên, cùng dùng một tín hiệu không có nghĩa là tác giả cùng mẫu số chung về phong cách Mỗi lần xuất hiện trong mỗi tác phẩm khác nhau, tác giả khác nhau, tín hiệu thẩm mỹ được hiểu như những biến thể

cụ thể của một hằng thề Mối quan hệ giữa các biến thể của một tín hiệu thẩm

mỹ là một yếu tố quan trọng trong việc phân định ý nghĩa tác phẩm trong tương quan với tác phẩm khác, nét riêng phong cách nhà văn này trong mối tương quan với phong cách nhà văn kia

Trong một ngành nghệ thuật, tính hệ thống của tín hiệu thẩm mỹ thể

hiện ở sự thống nhất ý nghĩa tín hiệu qua các phương tiện biểu hiện khác nhau Ví dụ: các gam màu, mảng màu trong hội họa; các đường nét, hình khối trong điêu khắc; các điệu bộ, động tác trong vũ đạo; các giai điệu, âm thanh trong âm nhạc

Trang 35

Giữa các ngành nghệ thuật, như đã nói ở phần nguồn gốc tín hiệu, một tín hiệu nghệ thuật có thể có mặt ở mọi ngành nghệ thuật Ví dụ: màu đen trong văn học, màu đen trong hội họa và màu đen trong điện ảnh đều có một nội dung thông tin gần nhau Hay khoảng “vô ngôn” trong thơ ca, “khoảng lặng” trong điện ảnh khoảng “vô thanh” trong âm nhạc và “khoảng trống”,

“khoảng trắng” trong hội họa cũng có những chủ đích nghệ thuật và thậm chí

có nội dung thông điệp gần nhau…

* Các biến thể của tín hiệu thẩm mỹ

Trong phạm vi một thể loại văn học, ở bình diện chủ thể, giá trị biểu hiện và những ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mỹ phải được xét ở hai dạng biến thể: biến thể từ vựng – ngữ nghĩa và biến thể kết hợp

Biến thể từ vựng là tập hợp những từ ngữ gần nghĩa hoặc cùng trường

nghĩa có khả năng thay thế cho nhau Ví dụ, trong tùy bút Người lái đò sông

Đà, Nguyễn Tuân đã dùng rất nhiều những cách gọi khác nhau cho một tín

hiệu “sông Đà” : “dây thừng ngoằn ngoèo”, “loài thủy quái”, “ác như người

dì ghẻ”, “dòng thác hùm beo”, “trùng vi thạch trận”, “cưỡi lưng hổ”, “áng tóc trữ tình”, “hoang dại như bờ tiền sử”, “hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích

tuổi xưa”, “cố nhân”… Những từ đó, tuy gần gũi, giống nhau về biểu vật

nhưng lại khác nhau về sắc thái tu từ Qua đó, cho phép người đọc hiểu được đối tượng cũng như tài năng và tư tưởng nhà văn

Cùng một tín hiệu nhưng có sự biến đổi ít nhiều do sự kết hợp với các tín hiệu khác trước và sau nó Biến thể kết hợp là biến thể của các tín hiệu cùng hiện diện trong lời nói Trong những tổ hợp khác nhau, tín hiệu thẩm

mỹ ít nhiều biến đổi và mang những ý nghĩa khác nhau Ví dụ, tín hiệu thẩm

mỹ “ánh sáng” trong truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam mang ý nghĩa khác

nhau khi nó kết hợp với những tổ hợp khác nhau, đặt trong không gian và thời gian khác nhau Trong quá khứ, nó là ánh sáng của Hà Nội “nhiều đèn lấp lánh”, của cuộc sống đẹp tươi, của cái đẹp đã qua Trong hiện tại, ở những không gian khác nhau, ánh sáng mang ý nghĩa khác nhau Trong

Trang 36

không gian mặt đất, với những “hột sáng”, “khe sáng”, “quầng sáng”, “chấm lửa nhỏ”,… nó là hiện thân của sự sống leo lét, lụi tàn; của cuộc sống tối tăm Trong không gian xa xôi nơi bầu trời với ngàn ngôi sao “ganh nhau lấp lánh”, nó là hiện thân của cái đẹp xa xôi Còn ánh sáng của “đồng và kền lấp lánh cùng các cửa kính sáng”, “hắt ánh sáng xuống lòng đường” nơi đoàn tàu kia là cái đẹp còn ở rất xa trong niềm mỏi mong và khao khát trẻ thơ Vì vậy, tín hiệu “ánh sáng” trong những biến thể kết hợp là phương tiện để Thạch Lam biểu hiện một cuộc sống tăm tăm, tù đọng, lắt lay; một cuộc sống mà cái đẹp hoặc đã xa trong không gian, hoặc đã xưa hoặc chưa tới trong thời gian mà con người không thôi ngóng vọng

* Ngữ cảnh tu từ

Cái làm nên giá trị của tác phẩm nghệ thuật chính là tín hiệu thẩm mỹ Những tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đều có thể trở thành tiêu điểm tu từ, tùy theo sự sáng tạo mà tiêu điểm đó có thể là một từ, một câu, một đoạn văn Tuy nhiên, nó chỉ có giá trị khi nằm trong môi sinh của nó, nghĩa là ngữ cảnh tu từ “Giải thích một tín hiệu thẩm mỹ ngoài mối quan hệ ngữ đoạn là một điều hết sức nguy hiểm, bởi lẽ, cũng rất nhiều khả năng ý nghĩa của một tín hiệu thẩm mỹ trên bình diện văn hóa, chúng ta có thể chỉ ra sự sai lệch hoàn toàn so với ý nghĩa xác định trong ngữ đoạn” [19; tr92] Ngữ cảnh hẹp là những yếu tố đứng trước hoặc sau tiêu điểm tu từ đang được xét Ngữ cảnh rộng là các yếu tố về môi trường văn hóa, không gian, thời gian, chủ thể đối thoại, cuộc đời và phong cách tác giả, người tiếp nhận Phải quan tâm đến ngữ cảnh tu từ của tín hiệu thẩm mỹ, bởi lẽ, trong một ngữ cảnh nhất định của ngôn ngữ nghệ thuật, ý nghĩa sự vật logic vốn có của tín hiệu thẩm mỹ có thể trở thành thứ yếu, còn ý nghĩa hình tượng lại thành ý nghĩa cơ bản, thậm chí thống ngự toàn bộ ngữ nghĩa của tác phẩm Bởi không quan tâm đến ngữ cảnh tu từ nên có nhiều trường hợp, người ta không những không giải mã đúng ý nghĩa tín hiệu thẩm mỹ, suy diễn, áp đặt gượng ép mà còn mất thời gian, giấy bút vào những vấn đề vô bổ Chẳng hạn,

Trang 37

tín hiệu “áo trắng” của nhân vật “em” trong đoạn thơ cuối bài thơ Đây thôn

Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử Rất nhiều người cho rằng, đó là sắc áo trắng của

“em” và ở cái nơi lắm sương nhiều khói là Huế này, “anh” “nhìn không ra” Hiểu như thế, ý nghĩa câu thơ hầu như chưa chạm được vào Thực ra, sắc áo chỉ là phương tiện thẩm mỹ còn cái sắc lòng thơ ngây, trong trắng của “em” mới là là ý nghĩa thẩm mỹ cơ bản Vì trong trắng hồn nhiên quá, nên tình

“anh” dành cho, “em nhìn không ra”, thấu không tỏ Câu thơ vừa là niềm đam mê, ngưỡng vọng trước vẻ đẹp của “em” lại vừa là một nỗi đau trước một tình yêu có trao mà không có nhận Còn “ở đây” không thể là ở Huế, bởi Hàn viết bài thơ khi đã mắc trọng bệnh, đang điều trị ở Quy Hòa Vậy, “ở đây” chính là nơi đó, nơi lãnh cung, nơi “chẳng có mùa” khi “ngoài kia xuân thắm” Và do đó, cái “sương khói” kia lại cũng chính là tín hiệu thẩm mỹ về thời gian và không gian xa cách mịt mờ giữa thi nhân và cuộc sống, thành ẩn

dụ chứa chở nỗi đau mặc cảm chia lìa chứ không giản đơn sương khói chỉ là

… khói sương xứ Huế

1.1.2 Cơ sở Tâm lý học

1.1.2.1 Khả năng rung cảm thẩm mỹ

Là lứa tuổi mà mọi yếu tố thuộc đời sống thể chất, đặc biệt là đời sống

tinh thần đang ở thời kỳ sung lực, học sinh THPT mặc dù còn nghèo về kinh nghiệm sống nhưng dễ bị kích động, dễ xúc cảm, có hứng thú đặc biệt với nghệ thuật “Sức bay bổng của tưởng tượng, của mơ ước mạnh đến nỗi các

em có thể sống hai cuộc sống cùng một lúc” [N.D.Lê – vi - tôp Dẫn theo 8; tr18] Khả năng rung cảm thẩm mỹ ấy chính là yếu tố dẫn đường cho nhu cầu thẩm mỹ

1.1.2.2.Nhu cầu thẩm mỹ

Theo kết quả của nhà nghiên cứu Maslow thuộc trường phái Tâm lý học nhân văn, con người có hai nhu cầu cơ bản là nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội Trong hai nhu cầu đó, ông đặc biệt quan tâm đến nhu cầu xã hội Ở nhu cầu này, trong “thang nhu cầu” mà ông xây dựng có nhu cầu tình cảm và gắn

Trang 38

bó, nhu cầu được tôn trọng và tự trọng, nhu cầu nhận thức và nhu cầu thẩm

mỹ Nhu cầu thẩm mỹ là “nhu cầu được thưởng thức và sáng tạo cái đẹp trong đời sống và trong nghệ thuật” [36; tr.80] Đây cũng là mức cao nhất trong thang bậc nhu cầu của con người theo quan niệm của Maslow mà lứa tuổi học sinh THPT đang phát triển rõ rệt

1.1.2.3 Khả năng nhận thức thẩm mỹ

Tuy nhiên, không phải cứ có khả năng rung cảm thẩm mỹ và nhu cầu thẩm mỹ thì con người có thể chiếm lĩnh được các giá trị thẩm mỹ, để nó hiện tồn như những yếu tố quan trọng nâng cao đời sống Muốn đạt được điều đó, còn phải kể đến khả năng nhận thức thẩm mỹ, tức là khả năng về tư duy, trí tuệ trước đối tượng thẩm mỹ Vưgotxki, nhà nghiên cứu thuộc trường phái Tâm lý học nhận thức trong dạy học đã phát hiện ra mối quan hệ giữa khả năng nhận thức nói chung (trong đó có nhận thức thẩm mỹ) với từng lứa tuổi, từng giai đoạn Đó là cơ sở để ông đề xuất lý thuyết về “thời kỳ nhạy cảm” Theo ông, mỗi thời kỳ phát triển của con người có một chức năng tâm

lý chiếm ưu thế Nói cách khác, ở mỗi lứa tuổi, não có khả năng bắt đầu tiếp thu nhanh và tốt hơn so với lứa tuổi khác đối với một loại tác động nhất định nào đó Chức năng tâm lý ưu thế của mỗi giai đoạn lứa tuổi tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất để chủ thể tạo ra được mức phát triển tối đa trong lứa tuổi đó.Theo đó, mỗi giai đoạn, mỗi lứa tuổi đều có thời kỳ nhạy cảm riêng Lứa tuổi học sinh THPT “ đã xuất hiện xung đột với người lớn những cố gắng để thoát ra khỏi quyền lực của bố mẹ và những người thay thế bố mẹ Các chức năng đặc biệt của các em đã phát triển, nhất là trí thông minh….Thường thường, học sinh THPT hay chú ý đến những hoạt động trừu tượng và đây là thời kỳ của sức bật và trí tò mò” [J.Pamado – Dẫn theo 24; tr19] Khái niệm

“quyền lực” mà nhà sư phạm nêu ra ở đây không chỉ bó hẹp trong phạm vi quyền lực xã hội nữa mà còn có ý nghĩa quyền lực về mặt trí tuệ Ở giai đoạn này, các em không muốn nhất nhất nghe theo, hiểu theo, tin theo những tri thức mà trí tuệ người lớn muốn trao cho Trí tuệ, nhận thức tương đối phát

Trang 39

triển khiến các em còn phát triển mạnh cả tư duy đối thoại và tư duy phê phán nữa Quan tâm đến “hoạt động trừu tượng” chứng tỏ các em không chỉ mạnh về tư duy trực quan mà đã phát triển tư duy trừu tượng, tư duy hình tượng Sự phát triển tư duy đó là điều kiện quan trọng cho việc nhận thức nói chung và nhận thức thẩm mỹ nói riêng qua hình tượng nghệ thuật Cũng theo kết quả nghiên cứu tâm lý học nhận thức của Piaget thì học tập là quá trình

“đồng hóa” đến “điều ứng” các tri thức thu nhận (trong đó, tất nhiên có tri thức nghệ thuật, văn học) để tạo ra một cấu trúc mới Học sinh THPT là lứa tuổi “đang thoát dần khỏi tư duy lộn xộn, cần sự giúp đỡ để hình thành tư duy

đọc hiểu bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

1.1.3 Cơ sở Phương pháp Dạy Văn

Các nhà khoa học phương pháp trong những năm gần đây trên tinh thần tiếp thu những thành tựu mới của bộ môn Lý thuyết thông tin, Lý thuyết tiếp nhận, Thi pháp học, Ngôn ngữ học và cả Tâm lý học đã lưu ý người dạy về bản chất môn Văn cũng như phương pháp dạy Văn Với quan niêm, văn học

là “trò diễn bằng ngôn từ” [Robert Frest Dẫn theo 35; tr8]: dạy Văn là “mở nếp gấp” tác phẩm [25; tr107] nên đọc hiểu văn bản văn học phải chú ý cấp độ: đọc trên dòng, đọc trong dòng và đọc giữa dòng Tiếp thu những thành tựu của ngành Tâm lý học dạy học, các nhà khoa học phương pháp chỉ ra rằng: dạy học phải chú ý đến “vùng phát triển gần nhất” (Vưgotxki) hoặc

“tầm đón nhận” của người tiếp nhận; mục đích của dạy học, do đó, không phải chỉ là truyền thụ kiến thức mà chủ yếu làm thay đổi hoặc phát triển các quan niệm của người học, qua đó, người học kiến tạo kiến thức mới đồng

Trang 40

thời phát triển trí tuệ và nhân cách cá nhân Tiếp cận Sóng từ góc độ tín hiệu

thẩm mỹ, chúng tôi hi vọng bước đầu đáp ứng những yêu cầu nêu trên

1.2 Cơ sở thực tế

Mọi sự vận dụng lý luận vào dạy học chỉ có hiệu quả khi nó phù hợp với thực tế khách quan Thực tế đó, theo chúng tôi gồm ba vấn đề: chương trình môn học, đối tượng người học và việc giảng dạy của giáo viên Qua khảo sát thực tế, chúng tôi tạm thời có những khái quát như sau

1.2.1 Thực tế chương trình

Chương trình Ngữ Văn mới sau nhiều lần cải cách đã có những thay đổi

nhất định Một trong những thay đổi quan trọng là chương trình chú ý tính tích hợp, trong đó có một nội dung tích hợp quan trọng giữa ngữ và văn, giữa

lý luận văn học và đọc hiểu văn học, giữa kiến thức và kỹ năng, phương pháp… Hướng tích hợp này trước hết giúp cho cái nhìn về văn bản văn chương phong phú hơn khi nó được đặt trong nhiều mối quan hê mang tính liên ngành Sau nữa, nó mang đến cho việc khai thác tác phẩm văn chương tính chất mở và động Cùng với tính tích hợp, chương trình Ngữ Văn THPT còn có tính chất đồng tâm Tức là có nhiều đơn vị kiến thức được trở đi trở lại ở các cấp học nhưng không hề lặp lại Mỗi lần trở lại, tùy theo trình độ và tâm lý lứa tuổi ở từng cấp học mà học sinh được tiếp nhận tri thức cũng như

kỹ năng, phương pháp ở mức độ khác nhau Ví dụ, thơ Xuân Quỳnh ở ba bậc học phổ thông đều học nhưng mỗi cấp lại học những bài có nội dung tư tưởng phù hợp với học sinh, việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu các bài thơ ở từng đối tượng lại khác nhau Hướng đồng tâm này giúp cho học sinh khắc sâu những đơn vị kiến thức cơ bản, rèn kỹ năng tư duy hệ thống cũng như có thể rút ra những vấn đề kỹ năng, phương pháp nếu được hướng dẫn chu đáo Những đổi mới về chương trình là những tiền đề quan trọng cho phép chúng

tôi lấy đó làm cơ sở đề xuất một hướng tiếp cận đối với bài Sóng

Ngày đăng: 17/03/2015, 08:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Nguyễn Ái Học. Phương pháp tư duy hệ thống trong dạy học Văn. Nxb Giáo dục Việt Nam, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tư duy hệ thống trong dạy học Văn
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
19. Đỗ Việt Hùng – Nguyễn Thị Ngân Hoa. Phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học. Nxb Đại học Sư phạm, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học
Tác giả: Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2003
20. Đỗ Việt Hùng – Chuyên đề Ngôn ngữ và văn học. Bài giảng SĐH - ĐHGD, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và văn học
21. Đỗ Việt Hùng. Chuyên đề Ngữ nghĩa học đại cương. Bài giảng SĐH, ĐHGD, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề Ngữ nghĩa học đại cương
Tác giả: Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: Bài giảng SĐH, ĐHGD
Năm: 2010
22. Đỗ Việt Hùng. Ý và nghĩa…..Hai quan niệm về ngữ nghĩa học. Tạp chí ngôn ngữ số 16/ 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý và nghĩa…..Hai quan niệm về ngữ nghĩa học
Tác giả: Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: Tạp chí ngôn ngữ
Năm: 2002
23. Lê Quang Hƣng – Phan Huy Dũng… Tác phẩm văn học 12 – Những vấn đề lịch sử và thể loại. Nxb Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học 12 – Những vấn đề lịch sử và thể loại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
24. Nguyễn Thanh Hương. Định hướng tiếp nhận tác phẩm văn chương. Nxb Đại học Sư phạm, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng tiếp nhận tác phẩm văn chương
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
25. Phan Trọng Luận. Môn Văn và Tiếng Việt.Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trung học phổ thông. Bộ GD – ĐT. Vụ giáo viên, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môn Văn và Tiếng Việt
26. Phan Trọng Luận. Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở trường THPT. Tài liệu BDTX chu kỳ 1997 – 2000. Vụ giáo viên, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở trường THPT
27. Đinh Trọng Lạc. Phong cách học Tiếng Việt. Nxb Giáo dục Việt Nam, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
28. Đinh Trọng Lạc. 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt. Nxb Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
29. Nguyễn Văn Long. Sách giáo viên Văn học 12 ban KHXH. Nxb Giáo dục, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Văn học 12 ban KHXH
Nhà XB: Nxb Giáo dục
30. Nguyễn Văn Long. Văn học Việt Nam trong thời đại mới. Nxb Giáo dục, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam trong thời đại mới
Nhà XB: Nxb Giáo dục
31. Trương Thị Nhàn. Một số vấn đề tín hiệu thẩm mỹ và giá trị thẩm mỹ của một số từ chỉ vật thể nhân tạo trong ca dao Việt Nam. Luận văn SĐH khóa 1986 – 1988, ĐHSP I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tín hiệu thẩm mỹ và giá trị thẩm mỹ của một số từ chỉ vật thể nhân tạo trong ca dao Việt Nam
32. Nhiều tác giả. Nâng cao năng lực cho giáo viên THPT về đổi mới phương pháp dạy học. Viện nghiên cứu Sư phạm, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cho giáo viên THPT về đổi mới phương pháp dạy học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Viện nghiên cứu Sư phạm
Năm: 2005
33. Nhiều tác giả. Từ điển văn học (bộ mới). Nxb Thế giới, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học (bộ mới)
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
34. Nhiều tác giả. Xuân Quỳnh, tác phẩm và lời bình. Nxb Văn học, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Quỳnh, tác phẩm và lời bình
Nhà XB: Nxb Văn học
35. Nhiều tác giả. Nhập môn văn học (Hoàng Ngọc Hiến dịch). Trường viết văn Nguyễn Du, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn văn học
36. Phạm Hoàng Tài. Tâm lý học đại cương. Đại học Đà Lạt, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
37. Trần Nho Thìn. Phân tích tác phẩm Ngữ văn 12. Nxb Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác phẩm Ngữ văn 12
Nhà XB: Nxb Giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  ảnh  của  trái  tim  và  tâm  hồn - Vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ hướng dẫn học sinh đọc hiểu thơ Xuân Quỳnh trong chương trình trung học phổ thông
nh ảnh của trái tim và tâm hồn (Trang 74)
Hình  tượng,  “sóng”  và  “em”.  Nếu - Vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ hướng dẫn học sinh đọc hiểu thơ Xuân Quỳnh trong chương trình trung học phổ thông
nh tượng, “sóng” và “em”. Nếu (Trang 75)
Hình  tượng  nghệ  thuật  lớn  chính  là - Vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ hướng dẫn học sinh đọc hiểu thơ Xuân Quỳnh trong chương trình trung học phổ thông
nh tượng nghệ thuật lớn chính là (Trang 85)
Bảng 3.1. Kết quả bài kiểm tra trắc nghiệm 15 phút - Vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ hướng dẫn học sinh đọc hiểu thơ Xuân Quỳnh trong chương trình trung học phổ thông
Bảng 3.1. Kết quả bài kiểm tra trắc nghiệm 15 phút (Trang 86)
Bảng 3.2. Kết quả bài kiểm tra tự luận 90 phút - Vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ hướng dẫn học sinh đọc hiểu thơ Xuân Quỳnh trong chương trình trung học phổ thông
Bảng 3.2. Kết quả bài kiểm tra tự luận 90 phút (Trang 87)
Ở  khổ  1  hình  tượng - Vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ hướng dẫn học sinh đọc hiểu thơ Xuân Quỳnh trong chương trình trung học phổ thông
kh ổ 1 hình tượng (Trang 105)
Hình  tượng  nào?  Ngôn - Vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ hướng dẫn học sinh đọc hiểu thơ Xuân Quỳnh trong chương trình trung học phổ thông
nh tượng nào? Ngôn (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w