1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Lý thuyết ký hiệu học trong báo chí – truyền thông

22 188 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý thuyết ký hiệu học trong báo chí – truyền thông
Tác giả Lê Minh Nguyệt, Lâm Thị Vui, Phạm Thái Minh Hoàng, Trần Ngọc Bảo Trâm
Người hướng dẫn TS. Phan Văn Kiền
Trường học Học Viện Ngoại Giao
Chuyên ngành Truyền thông và Văn hóa Đối ngoại
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 802,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO Khoa Truyền thông và Văn hóa Đối ngoại TIỂU LUẬN CUỐI KỲ HỌC PHẦN ĐẠI CƯƠNG TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG Đề tài Lý thuyết Ký hiệu học trong báo chí – truyền thông Giảng viên hướng dẫn TS[.]

Trang 1

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO Khoa Truyền thông và Văn hóa Đối ngoại

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ HỌC PHẦN: ĐẠI CƯƠNG TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG

Đề tài: Lý thuyết Ký hiệu học trong báo chí – truyền thông

Giảng viên hướng dẫn: TS Phan Văn Kiền

Hà Nội, tháng 06 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

1 Khái niệm Ký hiệu học 3

2 Lược sử ra đời 5

3 Nội dung 7

3.1 Mô hình của Saussure 7

3.2 Mô hình của Peirce 10

3.2.1 Cấu trúc 11

3.2.2 Đặc điểm 11

4 Thực tiễn ứng dụng trong báo chí – truyền thông 12

4.1 Tranh biếm họa thời chiến 12

4.2 Ký hiệu học trong truyền thông chống dịch Covid-19 15

4.3 Poster quảng cáo 16

5 Liên hệ 18

5.1 Ưu điểm của việc ứng dụng ký hiệu học trong báo chí – truyền thông 18

5.2 Hạn chế của ứng dụng ký hiệu học trong báo chí – truyền thông 19

5.3 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc ứng dụng lý thuyết ký hiệu học trong báo chí - truyền thông 20

5.4 Kết luận 21

Trang 3

PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ CÁC THÀNH VIÊN

- Phụ trách một phần khái niệm, phần lược sử ra đời và phần liên hệ

niệm, mô hình của Saussure trong phần nội dung và phần liên hệ

dụng và phần liên hệ

04 Trần Ngọc Bảo Trâm TT47A1- 0588 - Phụ trách mô hình của

Peirce trong phần nội dung và phần liên hệ

Trang 4

1 Khái niệm Ký hiệu học

Trước khi đi vào khái niệm cụ thể của lý thuyết Ký hiệu học, trước tiên, ta cần nắm rõ khái niệm “ký hiệu”: “Xét dưới góc độ khoa học thì ký hiệu là một vật mang

ba đặc điểm: chỉ ra hay biểu thị một cái gì đó; mang một nghĩa bên trong; có khả năng tạo ra một tác động về mặt nhận thức đối với người tiếp nhận nó”1

Đối với nhà ngôn ngữ học Saussure, “ký hiệu học” là “một ngành khoa học nghiên cứu vai trò của các dấu hiệu như một phần của đời sống xã hội”2 "Ta có thể

quan niệm một nền khoa học khảo sát đời sống của những ký hiệu (signes) trong lòng đời sống xã hội; nó là một phần của tâm lý học xã hội, vậy nó ở trong địa hạt tâm lý học tổng quát, ta gọi nó là ký hiệu học (tiếng Hy Lạp là Sẽmeion "Signe") Môn học này dạy cho ta biết những ký hiệu vốn là gì? Bị những lề luật nào chi phối? Vì chưa

có môn học này, nên ta không thể nói nó sẽ như thế nào, nhưng nó có quyền hiện hữu, chỗ của nó đã được xác định trước […] Nhà tâm lý sẽ quy định địa vị chính xác của

ký hiệu học."3

Đối với nhà triết học Charles Peirce, “ký hiệu học” là “học thuyết chính thức về các dấu hiệu” có liên quan chặt chẽ với logic “Một cái gì đó đại diện cho ai đó bằng một cái gì khác trong các quan hệ hoặc khả năng nào đó” Ông cho rằng “mọi suy nghĩ là một dấu hiệu”4

“Một trong những định nghĩa rộng nhất là của Umberto Eco, người cho rằng

“ký hiệu học liên quan đến tất cả những gì có thể được xem là ký hiệu”, ký hiệu học bao trùm lĩnh vực nghiên cứu không những về những cái chúng ta xem như “các ký

hiệu” (signs) trong lời nói hàng ngày, mà còn về bất cứ cái gì “đại diện” cho một thứ

gì khác nó Từ giác độ ký hiệu học, các ký hiệu tồn tại ở dạng dạng từ ngữ, âm thanh,

cử chỉ và sự vật Những nhà ký hiệu học đương đại không nghiên cứu các ký hiệu một cách riêng lẻ mà xem xét chúng như bộ phận của “các hệ thống ký hiệu” (chẳng hạn

1

Từ điển tiếng Việt vtudien.com, truy cập đường link k%C3%AD%20hi%E1%BB%87u vào 14:20, ngày 16-06-2021

https://vtudien.com/viet-viet/dictionary/nghia-cua-tu-2

The Editors of Encyclopaedia Britannica, Semiotics, truy cập đường link

https://www.britannica.com/science/semiotics , vào 00:46, ngày 17-06-2021

3 Thụy Khê, Phê bình văn học thế kỷ XX, truy cập đường link

http://thuykhue.free.fr/PBVH/Chuong16-UmbertoEco.html , vào 00:23 ngày 17-06-2021

4

Daniel Chandler, Semiotics for beginners, truy cập đường link

https://www.academia.edu/32333985/Semiotics_for_Beginners_Semiotics_for_Beginners , vào 01:21 ngày 06-2021

Trang 5

17-như một phương tiện hoặc một thể loại) Họ nghiên cứu vấn đề ý nghĩa (meaning) được tạo ra như thế nào và thực tại được trình hiện (represent) như thế nào.”5

Dẫn theo Richard Nordquist, “ký hiệu học là lý thuyết và nghiên cứu về các dấu hiệu, biểu tượng, đặc biệt là những yếu tố liên quan đến ngôn ngữ hoặc các hệ thống giao tiếp khác Các ví dụ phổ biến về ký hiệu học bao gồm biển báo giao thông, biểu tượng cảm xúc được sử dụng trong giao tiếp qua mạng xã hội…”6

“Đối với công chúng, ký hiệu học là kỹ thuật văn hóa vô thức mà tất cả chúng

ta sử dụng để chắt lọc, sáng tạo và tìm kiếm ý nghĩa trong thế giới xung quanh chúng

ta (the unconscious cultural technique we all use to distil, create and find meaning in

the world around us), và như vậy làm cho sự tồn tại của chúng ta trong thế giới này

trở nên có ý nghĩa Tất cả chúng ta đều sử dụng các hệ thống ký hiệu học một cách vô thức để mã hóa giọng nói của chúng ta (ngôn ngữ mẹ đẻ), để thể hiện bản thân, ăn mặc và trang phục (xây dựng bản sắc riêng của chúng ta thông qua cách ăn mặc) dựa trên cảm giác của chúng ta vào ngày cụ thể đó hoặc đưa ra lựa chọn về những gì chúng ta ăn (kết hợp các món ăn trong thực đơn của nhà hàng) Chúng ta làm tất cả những điều này hàng ngày chỉ trong nháy mắt, nhưng chúng ta không nghĩ mình là nhà ký hiệu học.”7

Từ các quan niệm trên, có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về ký hiệu học như sau: “Ký hiệu học là khoa học nghiên cứu bản chất, chức năng và các cơ chế hoạt động của các hệ thống ký hiệu”8

5

Daniel Chandler (2002), Semiotics: the Basics, 2nd edition, London:Routledge, Nguyễn Minh Nhật Nam (dịch), Tại sao nên học ký hiệu học?, truy cập đường link https://nhtnamngm.blogspot.com/2020/01/tai-sao-nen- hoc-ki-hieu-hoc-daniel.html , vào 00:03 ngày 17-06-2021

6

Richard Nordquist (2020), Semiotics Definition and Examples, truy cập đường link

https://www.thoughtco.com/semiotics-definition-1692082 , vào 01:17 ngày 17-06-2021

7

Martina Olbertová (2014), Everything you always wanted to know about semiotics (but were afraid to ask), truy cập đường link https://www.researchworld.com/rwc-semiotic-series-everything-you-always-wanted-to- know-about-semiotics-but-were-afraid-to-ask/ , vào 01:35, ngày 17-06-2021

8 GS.TS Trần Đình Sử (2014), Đưa ký hiệu học vào môn đọc văn ở trường trung học, truy cập đường link https://trandinhsu.wordpress.com/2014/02/07/dua-ki-hieu-hoc-vao-mon-doc-van-o-truong-trung-hoc/ , vào 01:01, ngày 17-06-2021

Trang 6

2 Lược sử ra đời

Tầm quan trọng của các dấu hiệu và ký hiệu đã được công nhận trong suốt lịch

sử triết học và tâm lý học Thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: σημειωτικός, được viết bằng tiếng La tinh: sēmeiōtikos

“Ban đầu, “semiotics” được dùng theo nghĩa lý thuyết y học về các triệu chứng”9

“Thuyết dấu hiệu đúng đầu tiên là của Thánh St Augustine (354-430 sau công nguyên) [ ] Các triệu chứng cơ thể, tiếng lá xào xạc, màu sắc cây cối,…, tất cả đều là những dấu hiệu tự nhiên [ ] ông đã phân biệt loại ký hiệu này với ký hiệu thông thường - ký hiệu do con người tạo ra (lời nói, cử chỉ và biểu tượng) [ ] Quan điểm của Thánh St Augustine hầu như không được biết đến cho đến thế kỷ XI”10

Có nhiều

ý kiến tranh cãi xung quanh góc nhìn này cho đến khi “nhà thần học vĩ đại St Thomas Aquinas (1255-1274) khẳng định các dấu hiệu thiêng liêng tiết lộ những chân lý nằm ngoài sự hiểu biết của lý trí và do đó, phải được chấp nhận trên đức tin”11

Cho đến thế kỷ XVII, nhà thực nghiệm John Locke đã sử dụng thuật ngữ này

để diễn tả một ngành khoa học về dấu hiệu và ý nghĩa (signs and significations).12

Theo Daniel Chandler, “các lý thuyết về ký hiệu xuất hiện trong suốt lịch sử triết học từ thời cổ đại trở đi, tham chiếu rõ ràng đầu tiên mà ký hiệu học như là một

nhánh của triết học xuất hiện trong “Essay Concerning Human Understanding”

(1690) của John Locke Tuy nhiên, hai khái niệm cơ bản trong ký hiệu học đương đại lần lượt bắt nguồn từ nhà ngôn ngữ học Thụy Sỹ Ferdinand de Saussure (1857–1913)

9 The Editors of Encyclopaedia Britannica, Logic and metalogic, truy cập đường link

https://www.britannica.com/topic/metalogic/Discoveries-about-formal-mathematical-systems vào 23:29, ngày 16-06-2021

10

Marcel Danesi, Messages, Signs and Meanings: A basic Textbook in Semiotics and Communication Theory,

third edition, Canadian Scholars’ Press, Inc., 2004, tr.7, truy cập đường link

https://www.academia.edu/24166004/Danesi_messages_signs_and_meanings , vào 20: 07, ngày 17-06-2021

11

Marcel Danesi, Messages, Signs and Meanings: A basic Textbook in Semiotics and Communication Theory,

third edition, Canadian Scholars’ Press, Inc., 2004, tr.8, truy cập đường link

https://www.academia.edu/24166004/Danesi_messages_signs_and_meanings , vào 20: 07, ngày 17-06-2021

12

The Editors of Encyclopaedia Britannica, Logic and metalogic, truy cập đường link

https://www.britannica.com/topic/metalogic/Discoveries-about-formal-mathematical-systems vào 23:29, ngày 16-06-2021

Trang 7

và triết người Mỹ Charles Sanders Peirce (1839–1914) Thuật ngữ sémiologie bắt đầu

được sử dụng bởi Saussure trong một bản thảo năm 1894”13

Theo như phần định nghĩa Ký hiệu học của nhà ngôn ngữ học Thụy Sỹ Ferdinand de Saussure đã được trình bày ở phần 1., ta có thể nhận thấy “Saussure đã tiên đoán và xác định phạm vi một nền ký hiệu học tương lai, sẽ bao trùm lên tất cả những thể loại ký hiệu của đời sống, trong đó, tiếng nói chỉ là một loại ký hiệu Nhà ngữ học Đan mạch Hjelmslev (1899-1965) nối tiếp Saussure, từ năm 1943 đến năm

1963, đã phân tích và phát triển khái niệm ký hiệu học, môn học này đã có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực phê bình văn học nửa sau thế kỷ XX, qua những tên tuổi như Umberto Eco (Ý) và Roland Barthes (Pháp).”14

Theo Daniel Chandler, bên cạnh Saussure, “những nhân vật quan trọng trong

sự phát triển ban đầu của ký hiệu học là nhà triết học người Mỹ Charles Sanders Peirce (1839-1914) và sau đó là Charles William Morris (1901-1979), người đã phát triển ký hiệu học hành vi Các nhà lý thuyết ký hiệu học hiện đại bao gồm Roland Barthes (1915-1980), Algirdas Greimas (1917-1992), Yuri Lotman (1922-1993), Christian Metz (1931-1993), Umberto Eco (1932) và Julia Kristeva (1941) Một số nhà ngôn ngữ học khác, ngoài Saussure, làm việc trong khuôn khổ ký hiệu học như Louis Hjelmslev (1899-1966) và Roman Jakobson (1896-1982)” 15

“Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, triết gia Mỹ, Charles Sanders Peirce 1914) mới tách ký hiệu học thành một ngành học, độc lập với ngữ học nói chung

(1839-Pierce coi ký hiệu học là tất cả những nghiên cứu của ông về toán học, đạo đức học,

siêu hình học, quang học, hoá học, thiên văn học, cơ thể học so sánh, tâm lý học, âm

vị học, kinh tế học, lịch sử khoa học, con người nam và nữ, vv Pierce cũng đưa ra

13

Daniel Chandler (2007), Semiotics: The basics, Taylor & Francis e-library, tr 22, truy cập đường link

https://www.academia.edu/36524792/Semiotics_the_Basics , vào 07:29 ngày 12-06-2021

14 Thụy Khê, Phê bình văn học thế kỷ XX, truy cập đường link

http://thuykhue.free.fr/PBVH/Chuong16-UmbertoEco.html , vào 00:23 ngày 17-06-2021

15

Daniel Chandler, Semiotics for beginners, truy cập đường link

https://www.academia.edu/32333985/Semiotics_for_Beginners_Semiotics_for_Beginners , vào 01:25 ngày 06-2021

Trang 8

17-những định nghĩa khoa học đầu tiên về chữ ký hiệu, ông đề nghị một lý thuyết về tư

tưởng-ký hiệu (la pensée-signe) và con người-ký hiệu (l'homme-signe).”16

“Ký hiệu học bắt đầu trở thành cách tiếp cận chính trong nghiên cứu văn hóa vào cuối những năm 1960, một phần là kết quả của công trình nghiên cứu của Roland Barthes Việc dịch sang tiếng Anh các bài tiểu luận nổi tiếng của ông trong một tuyển

tập có tựa đề “Thần thoại” (Mythologies) (1957), nối tiếp sau đó, trong những năm

1970 và 1980 với nhiều tác phẩm khác của ông, đã làm tăng đáng kể nhận thức của học giả về cách tiếp cận này.”17

“Tựu trung, ký hiệu học hiện nay là sự phát triển những lý thuyết đã bắt

nguồn từ ba tên tuổi lớn đã xây dựng những nền móng đầu tiên, đó là triết gia Mỹ Charles Sanders Pierce, nhà ngữ học Thụy sĩ Ferdinand de Saussure và nhà ngữ học giải luận Đan Mạch Louis Hjelmslev Trong giới chuyên môn, người ta gọi lý thuyết

ký hiệu của Pierce là Sémiotique và lý thuyết ký hiệu nói chung là Sémiologie.”18

3 Nội dung

Có rất nhiều mô hình về nghiên cứu về ký hiệu học, có thể kể đến mô hình của những nhà ngôn ngữ hiện đại như Umberto Eco, Roland Barther… hay mô hình ký hiệu học phân tầng của Hjemslev, tuy nhiên, trong phạm vi bài tiểu luận này, nhóm tác giả tập trung nghiên cứu hai mô hình chủ đạo của hai nhà nghiên cứu tạo nền móng cho ký hiệu học là nhà ngôn ngữ học Ferdinand de Saussure và nhà triết học

Charles Sanders Peirce

3.1 Mô hình của Saussure

Saussure cung cấp một mô hình “dyadic” hoặc hai phần (two-part) của dấu hiệu Ông định nghĩa một dấu hiệu bao gồm: “signifier” (signifiant) – cái biểu đạt và

“signified” (signifié) – cái được biểu đạt

16 Thụy Khê, Phê bình văn học thế kỷ XX, truy cập đường link

http://thuykhue.free.fr/PBVH/Chuong16-UmbertoEco.html , vào 00:23 ngày 17-06-2021

17

Daniel Chandler, Semiotics for beginners, truy cập đường link

https://www.academia.edu/32333985/Semiotics_for_Beginners_Semiotics_for_Beginners , vào 01:25 ngày 06-2021

17-18 Thụy Khê, Phê bình văn học thế kỷ XX, truy cập đường link

http://thuykhue.free.fr/PBVH/Chuong16-UmbertoEco.html , vào 00:23 ngày 17-06-2021

Trang 9

Ký hiệu = Cái biểu đạt + Cái được biểu đạt

ái bi u đạt (the signifier): các hệ thống tín hiệu như ngôn từ, hình ảnh, ngôn

ngữ cơ thể, âm thanh, hoặc bất cứ hình thức nào có khả năng biểu thị

ái được bi u đạt (the signified): ý niệm của cái biểu đạt

Một dấu hiệu ra đời là quá trình kết hợp của cả signifier và signified, và bắt

buộc phải có hai yếu tố này Trong quá trình truyền đạt thông tin, cả hai thành phần này không tách rời nhau và tạo thành một ký hiệu Sẽ không thể trình bày một ý niệm nào đó trong đầu cho người khác hiểu nếu như không gắn nó với một cái biểu đạt, ngược lại, cũng không thể chia sẻ với người khác một cái biểu đạt mà không chứa đựng ý nghĩa

Khi 2 thành phần này (signifier và signified) tương quan với nhau, đưa đến sự biểu đạt Biểu đạt trong mô hình trên bằng hai mũi tên hai bên

Để chứng minh cho lập luận, ông Saussure đưa ra ví dụ về bó hoa hồng Nó có thể được sử dụng để biểu đạt sự đam mê Khi nó mang ý nghĩa như vậy, bó hoa hồng chính là cái biểu đạt, sự đam mê là cái được biểu đạt Mối quan hệ giữa hai “tổng thể liên kết” này sẽ tạo ra thuật ngữ thứ ba, bó hoa hồng là một ký hiệu Và quan trọng phải hiểu rằng: bó hoa hồng khi là một ký hiệu là một thứ tương đối khác so với bó hoa hồng khi là một cái biểu đạt Khi là một cái biểu đạt, nó chỉ là một sản phẩm của vườn tược, là bó hoa hồng rỗng không; khi là một ký hiệu thì bó hoa hồng này chứa đầy hàm ý19

Trang 10

Một là, tính quy ước (conventional)

Cách chúng ta chọn để biểu đạt cho một ý niệm, hay chính là cái biểu đạt (the signifier), là một quy ước, một sự thoả thuận của số đông phụ thuộc vào quy ước xã hội và văn hóa nhằm đạt được mục đích giao tiếp Khi cộng đồng cùng đồng ý thì một

từ mới có ý nghĩa

Ví dụ: cùng biểu đạt cho hành động ăn, tùy vào từng cộng đồng, trường hợp mà

ta có thể dùng từ khác nhau Người Việt có thể dùng từ “ăn”, “xơi”, người Anh dùng

“eat”,…

Do đó, trong ngữ cảnh ngôn ngữ tự nhiên, Saussure nhấn mạnh rằng không có mối liên hệ vốn có, bản chất, tự nhiên giữa cái biểu đạt (hình thức) và cái được biểu đạt (ý nghĩa), giữa âm thanh hoặc hình dạng của từ và khái niệm mà nó quy về21

Hai là, tính tùy tiện (arbitrary)

Việc gắn một từ ngữ nào đó (hay cái biểu đạt) với một ý niệm nào đó (hay cái được biểu đạt) là một việc hoàn toàn tuỳ tiện Không có gì mang tính tự nhiên hay vĩnh cửu trong hành động này Quá trình chọn một chuỗi âm thanh cụ thể để tương ứng với một ý tưởng cụ thể là hoàn toàn tùy ý22…

Chẳng hạn, khi cha mẹ đặt tên cho con là A; và sau này đổi tên thành B, thì cũng không có cái tên nào đúng hơn Cả hai đều biểu đạt cho con người đó Shakespeare cũng nói: “Ta gọi hoa hồng bằng bất cứ tên gì thì nó cũng vẫn ngọt ngào như thế” (that which we call a rose by any other name would smell as sweet)23

Ba là, tính liên hệ (relational)

Mỗi ký hiệu được định nghĩa dựa trên mối quan hệ với những ký hiệu tương tự

Ví dụ: ký hiệu về bão được định nghĩa trên mối quan hệ với dông, lốc…

Trang 11

Mặc dù lý thuyết của ông Saussure đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong lĩnh vực ký hiệu học nói chung và ngôn ngữ nói riêng, nhưng vì tính quy ước và tùy tiện,

ta cần quan tâm tới sự thay đổi của nghĩa theo thời gian Cần nhớ rằng không nên tuyệt đối hoá các ký hiệu hình thức, tức là đừng quá thiên về “cải biểu đạt” mà coi nhẹ

“cái được biểu đạt”24 Sự truyền đạt thông tin không chỉ chứa đựng một lớp biểu nghĩa Trên thực tế, một sự biểu đạt (the signifier) đơn lẻ có thể được gắn với nhiều lớp ý nghĩa (the signified), một mặt thì cho phép chúng ta nắm bắt được những vấn đề phức tạp, nếu không dùng ký hiệu sẽ rất dài dòng, khó nắm bắt (ví dụ trên bản đồ khí hậu Việt Nam, chúng ta có thể biết được các miền khí hậu, các vùng khí hậu, lượng mưa, chế độ gió thông qua các ký hiệu), nhưng mặt khác thì dễ gây hiểu lầm (ví dụ: Trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao, nhiều người không hiểu rõ cái được biểu đạt của “tiếng chửi” ở đầu tác phẩm, cho rằng đó là chửi lung tung, không có đối tượng, tiếng chửi gắn với cơn say, do uống rượu say mà chửi Với Nam Cao, tiếng chửi của Chí Phèo thực ra là tiếng rủa, nó báo hiệu sự mâu thuẫn giữa Chí và cuộc đời hiện tại của hắn đã lên đến cực điểm, đòi hỏi phải thay đổi, một mất một còn)25

3.2 Mô hình của Peirce

Ngày đăng: 26/02/2023, 18:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w