ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM LÊ THỊ TRANG NHUNG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ TRỮ TÌNH TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 THEO LÝ THUYẾT KÍ HIỆU HỌC Chuyên ngành: LL&PPDH bộ môn Văn
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ TRANG NHUNG
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ TRỮ TÌNH
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12
THEO LÝ THUYẾT KÍ HIỆU HỌC
Chuyên ngành: LL&PPDH bộ môn Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LÊ THỊ NGỌC ANH
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Thừa Thiên Huế, tháng 7 năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thị Trang Nhung
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 3Lời Cảm ơn
Kính gửi quý thầy cô, gia đình và bạn bè lời cảm ơn chân thành!
Để hoàn thành được luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quan tâm của các thầy cô Khoa Ngữ văn và Phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Sư phạm Huế Thầy cô đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu!
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến cô giáo, Tiến sĩ Lê Thị Ngọc Anh, người đã trực tiếp giúp đỡ, tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình triển khai, thực hiện luận văn này!
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến BGH và quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp trường THPT Châu Thành đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu!
Xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người thân đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian qua!
Trân trọng!
Lê Thị Trang Nhung
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG 4
MỞ ĐẦU 5
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 5
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 6
3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 9
4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 9
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 10
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 10
NỘI DUNG 11
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 11
1.1.1 Thơ trữ tình và vấn đề dạy học đọc hiểu thơ trữ tình 11
1.1.2 Lý thuyết kí hiệu học trong mối quan hệ với thơ trữ tình và dạy học đọc hiểu thơ trữ tình 16
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 25
1.2.1 Khảo sát thơ trữ tình trong chương trình và sách Ngữ Văn 12 [Bộ cơ bản] 25
1.2.2 Thực trạng dạy học đọc hiểu thơ trữ tình ở nhà trường THPT 26
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 30
Chương 2 ĐỊNH HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP DẠY HỌC ĐỌC HIỂU THƠ TRỮ TÌNH THEO LÝ THUYẾT KÍ HIỆU HỌC Ở TRƯỜNG THPT 31
2.1 ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU THƠ TRỮ TÌNH THEO LÝ THUYẾT KÍ HIỆU HỌC Ở TRƯỜNG THPT 31
2.1.1 Dạy học đọc hiểu thơ trữ tình ở THPT theo lý thuyết kí hiệu học phải chú trọng định hướng tích hợp 31
2.1.2 Dạy học đọc hiểu thơ trữ tình ở THPT theo lý thuyết kí hiệu học phải chú ý phát triển đồng bộ năng lực phát hiện, giải mã, cảm thụ, đánh giá các kí hiệu thẩm mĩ 32
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 52.1.3 Dạy học đọc hiểu thơ trữ tình ở THPT theo lý thuyết kí hiệu học phải tôn
trọng tính chỉnh thể của tác phẩm và tính hệ thống của kí hiệu 33
2.2 BIỆN PHÁP DẠY HỌC ĐỌC HIỂU THƠ TRỮ TÌNH Ở THPT THEO LÝ THUYẾT KÍ HIỆU HỌC 34
2.2.1 Đọc kết hợp chiến thuật "đánh dấu và ghi chú bên lề" 35
2.2.2 Động não kết hợp chiến thuật KWL 42
2.2.3 Bình thơ kết hợp với kĩ thuật trình bày một phút 49
2.2.4 Vấn đáp kết hợp chiến thuật "cuộc giao tiếp văn học" và "đọc suy luận" 56
2.2.5 Xây dựng các bài tập cảm thụ 67
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 71
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 72
3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 72
3.2 NỘI DUNG, YÊU CẦU THỰC NGHIỆM 72
3.3 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN THỰC NGHIỆM 72
3.4 TRIỂN KHAI THỰC NGHIỆM 73
3.4.1 Kế hoạch bài học thực nghiệm 73
3.4.2 Tiến hành thực nghiệm 86
3.5 ĐÁNH GIÁ THỰC NGHIỆM 86
3.5.1 Các tiêu chí đánh giá 87
3.5.2 Phương tiện đánh giá 88
3.5.3 Phân tích kết quả thực nghiệm 88
3.5.4 Đánh giá 91
3.5.5 Bài học kinh nghiệm 92
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Khảo sát thơ trữ tình trong chương trình và sách Ngữ văn 12 (Bộ cơ bản) 25
Bảng 1.2 Thống kê kết quả khảo sát về thực trạng và mức độ vận dụng lý thuyết kí hiệu học vào dạy học đọc hiểu thơ trữ tình trong chương trình Ngữ Văn 12 27
Bảng 1.3 Thống kê kết quả khảo sát về thực trạng học tập thơ trữ tình trong chương trình Ngữ Văn 12 của HS 28
Bảng 3.1 Danh sách các lớp học tham gia TN và ĐC 73
Bảng 3.2 Danh sách các lớp học và ngày thực hiện TN 86
Bảng 3.3 Phân bố điểm số bài kiểm tra số 2 của HS lớp TN và ĐC 90
Bảng 3.4 Phân bố điểm số bài kiểm tra số 3 của HS lớp TN và ĐC 90
Bảng 3.5 Bảng đánh giá tổng hợp kết quả 2 bài kiểm tra 90
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 8MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Xuất phát từ lý thuyết kí hiệu học
Lời giới thiệu công trình nổi tiếng “Chủ nghĩa cấu trúc và kí hiệu học” của Terrence Hawkes có viết “Chúng ta đang sống trong thế giới của những kí hiệu và
kí hiệu của kí hiệu” Theo tác giả và nhiều nhà nghiên cứu khác, kí hiệu hiện diện ở
khắp nơi: ngôn ngữ, tiền, cử chỉ, điệu bộ, đèn giao thông, biển báo, các công trình kiến trúc, biểu tượng, hoa văn, những bức tranh, điệu múa, vở kịch, phim ảnh, tác phẩm văn chương… Kí hiệu chứa đựng trong nó muôn vàn thông tin, ý nghĩa Thời gian càng dài, cuộc sống càng phát triển, kí hiệu càng đa dạng phong phú, nội hàm
ý nghĩa càng nhiều hơn Kí hiệu trở thành phương tiện tri nhận thế giới Nếu không
có sự hiểu biết về kí hiệu chúng ta “như người mù” trước hiện thực Vì thế khoa học
về kí hiệu ra đời
Qua hàng trăm năm phát triển, kí hiệu học đã được áp dụng phổ biến trong các lĩnh vực tự nhiên và xã hội Ở các ngành khoa học nhân văn, kí hiệu học thâm nhập mạnh mẽ, được sử dụng như một công cụ, phương pháp nghiên cứu hiệu quả Trong
đó, văn học là lĩnh vực đạt được nhiều thành tựu Với tiềm năng của mình, kí hiệu học không dừng ở phê bình văn học, mà dần được áp dụng vào nghiên cứu phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường Kí hiệu học trở thành địa hạt cho các nhà nghiên
cứu, GV tìm kiếm những lý thuyết, biện pháp, cách thức dạy học đọc hiểu phù hợp 1.2 Xuất phát từ thể loại thơ trữ tình
Thơ trữ tình là một thể loa ̣i văn học thuộc phương thức biểu đạt trữ tình, là tiếng lòng của con người trước cuộc đời Thơ trữ tình chỉ bắt lấy một kí hiệu của cuộc sống
để tuôn chảy cảm xúc, suy tư Như một con sóng ngoài khơi xa gợi đến những biến thiên của tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh, một miền đất đong đầy hoài niệm vừa hoang
sơ vừa thơ mộng trong thơ Quang Dũng, một người nghệ sĩ vĩ đại ra đi bi phẫn trong thơ Thanh Thảo, hay người bà lam lũ vất vả nhưng giàu tình yêu thương trong thơ Nguyễn Duy… Những kí hiệu ấy làm nảy sinh những rung động thẩm mĩ mãnh liê ̣t và gợi biết bao ý tình miên man, suy nghiệm về cuộc đời trong lòng độc giả
Cảm xúc trong thơ trữ tình dạt dào nhưng được nén trong lượng câu chữ ít ỏi Nhà thơ biểu hiện cảm xúc thông qua hình tượng thơ, đặc biệt thông qua từ ngữ, câu thơ, hình ảnh, biểu tượng, vần điệu, tiết tấu Nhiều khi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp của ngôn từ khiến cho “ý tại ngôn ngoại” Vì thế ngôn ngữ thơ trữ tình thiên về khơi gợi, giữa các câu thơ có nhiều khoảng trống, những chỗ không liên tục gợi ra
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 9nhiều nghĩa, đòi hỏi người đọc phải chủ động liên tưởng, tưởng tượng, thể nghiê ̣m thì mới hiểu hết sự phong phú của ý thơ bên trong Chúng chính là những kí hiệu thẩm mĩ
mà người đọc muốn tiếp nhận được tác phẩm, trước tiên phải hiểu được chúng
Xuất phát từ những đặc đểm nêu trên, thơ trữ tình là đối tượng thích hợp cho hướng ứng dụng lý thuyết kí hiệu học không chỉ để tiếp cận phân tích tác phẩm, mà còn phù hợp cho việc tổ chức dạy học đọc hiểu để giúp HS hình thành năng lực cảm
thụ thẩm mĩ, tiếp nhận tác phẩm
1.3 Xuất phát từ mục tiêu và thực trạng dạy học văn hiện nay
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục được đề ra trong Nghị
quyết Trung ương số 29-NQ/TQ ngày 04 tháng 11 năm 2013, đồng thời hướng tới “phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực
tự học, lòng say mê học tập và ý chí vuơn lên” (Luật giáo dục, Luật số 11/1998/QH 10,
điều 4.2 ), việc đổi mới phương pháp dạy học càng trở thành nhu cầu bức thiết hiện nay Nhưng thực tế giảng dạy cho thấy sự đổi mới diễn ra chưa được đồng bộ Vẫn còn tồn tại lối dạy truyền thống Việc áp dụng phương pháp mới gặp không ít khó khăn, lúng túng Việc lựa chọn lý thuyết khoa học phù hợp vừa giữ được đặc trưng bộ môn, vừa đáp ứng nhu cầu đổi mới để ứng dụng vào dạy học đọc hiểu là việc làm cần thiết Văn học với tư cách là một hệ thống kí hiệu cần được tiếp cận dưới góc độ kí hiệu Vì thế lý thuyết kí hiệu học trở thành một hướng ứng dụng giàu tiềm năng
Với những lý do trên chúng tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài “Dạy
học đọc hiểu tác phẩm thơ trữ tình trong sách giáo khoa Ngữ văn 12 theo lý thuyết
kí hiệu học” (Chương trình Ngữ văn 12, tập 1, bộ cơ bản), để làm rõ thêm hướng
ứng dụng lý thuyết kí hiệu học trong dạy học đọc hiểu thể loại quan trọng bậc nhất của văn học “thơ trữ tình”
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1 Những nghiên cứu về kí hiệu học trong mối quan hệ với ngôn ngữ và TPVH
Socrates (469 – 399 TCN) là người đầu tiên bàn về ngôn ngữ như một hệ thống kí hiệu Ông muốn làm rõ: ngôn từ là hệ thống kí hiệu mà nghĩa của nó “tùy tiện”, “võ đoán” hay mang bản chất của sự vật mà nó đại diện Ferdinand de
Saussure (1857 – 1913) trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (1916) cho rằng
ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu, bộ phận tiêu biểu và trọng yếu của ký hiệu học Quan điểm nêu trên có tính chất cách mạng khi tạo cơ sở cần thiết cho kí hiệu học
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 10Iu.Lotman (1922-1993) với công trình “Cấu trúc văn bản nghệ thuật” (1970) khẳng định tác phẩm nghệ thuật có ngôn ngữ riêng: “Ngôn ngữ này được kiến tạo chồng
lên bên trên ngôn ngữ tự nhiên như một hệ thống thứ sinh Nghĩa là nó được mã hóa từ ngôn ngữ tự nhiên theo những quy tắc, cấu trúc riêng biệt”[38,tr.47]
Ở Việt Nam, bắt đầu manh nha từ một vài công trình của Nguyễn Văn Trung (1930) và Trần Thiện Đạo (1933), nhưng phải đến Hoàng Trinh (1920-2011), vấn
đề kí hiệu học mới được trực diện tiếp nhận và vận dụng vào nghiên cứu tại Việt Nam Qua các nghiên cứu của mình, tác giả đã giới thiệu một số vấn đề cơ bản của
lý thuyết kí hiệu học và ứng dụng vào nghiên cứu thể loại trữ tình
Theo một hướng đi khác, tác giả Đỗ Hữu Châu đã đặt cơ sở nghiên cứu tín
hiệu thẩm mĩ trong văn chương Trương Thị Nhàn – tác giả của luận án Sự biểu đạt
bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mĩ – không gian trong ca dao (1995) là công trình
có đề cập về tín hiệu thẩm mĩ có giá trị Ngoài ra, nhà nghiên cứu Hoàng Kim
Ngọc, Hoàng Trọng Phiến và Bùi Minh Toán cũng đề cập làm rõ đặc điểm tín hiệu thẩm mĩ trên cơ sở kế thừa những tác giả đi trước
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cũng có đóng góp lớn khi xây dựng cơ sở lý thuyết, xác định hệ thống, cấp bậc kí hiệu và cách thức tiếp cận tác phẩm văn học Đặc biệt ông đi sâu làm rõ đặc điểm kí hiệu hình tượng trong tác phẩm
Kỷ yếu khoa học quốc gia với chủ đề “Ký hiệu học – từ lý thuyết đến ứng dụng
trong nghiên cứu và dạy học Ngữ văn” (2016) của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
tập hợp 75 bài viết nhằm làm sáng tỏ các vấn đề về lý thuyết và ứng dụng kí hiệu học Ngoài những công trình đã nêu ở trên, địa hạt ứng dụng lý thuyết kí hiệu học còn ghi nhận nhiều nghiên cứu tâm huyết của các tác giả khác như Lê Huy Bắc, Cao Kim
Lan, Mai Thị Hồng Tuyết… Và mới đây nhất là công trình nghiên cứu Từ kí hiệu đến
biểu tượng (2017) của Trịnh Bá Dĩnh
Như vậy, từ thời cổ đại cho đến nay, từ Tây sang Đông, trải qua nhiều phong trào nghiên cứu từ chủ nghĩa hình thức Nga đến chủ nghĩa hậu hiện đại, với các học thuyết tự sự học, thi pháp học,…, các nhà nghiên cứu đều nhất trí tính kí hiệu của ngôn ngữ và xem TPVH như là kí hiệu hoặc chuỗi kí hiệu đa tầng, tạp chủng Hệ quả là, sự thâm nhập của kí hiệu học vào quá trình nghiên cứu, phê bình văn học, dạy học Ngữ văn ở phổ thông ngày càng mạnh mẽ
2.2 Những nghiên cứu về việc dạy học đọc hiểu TPVH theo lý thuyết kí hiệu học
Trên thế giới có nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo đã đặt ra vấn đề dạy học đọc hiểu dựa trên quan điểm xem tác phẩm văn học là một hệ thống kí hiệu: năm 1973,
nhà giáo Marion D.Jenkinson đã nêu “Đọc được định nghĩa là hành động phản ứng
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 11với các kí hiệu được in ra để tạo ra nghĩa…” [46;tr.54]; năm 1995 hai tác giả Taffy
E.Raphael và Efrieda H.Hiebert trong cuốn Phương pháp dạy học đọc hiểu văn bản
đã đưa ra quan điểm: “cần phải bắt đầu từ việc đọc từ, hiểu văn bản, xem xét các ý
nghĩa khác nhau của văn bản và cuối cùng là đánh giá văn bản theo quan điểm cá nhân” [46;54]; chương trình đánh giá học sinh quốc tế do OECD (gọi tắt là Pisa)
khởi xướng cho rằng đọc hiểu là một năng lực, người phải có năng lực “hiểu nghĩa,
nghĩa rộng, hẹp, tường minh và hàm ý từ bài đọc” [46;tr.56]
Ở Việt Nam, cũng có một số công trình bàn của Nguyễn Trọng Hoàn, Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Đình Sử,… Trong bài
viết “Đọc hiểu văn chương” (2004), Nguyễn Thanh Hùng đã đưa ra một cách hiểu khá chi tiết về đọc hiểu có liên quan đến kí hiệu học “Đọc hiểu không phải chỉ là tái
tạo âm thanh từ chữ viết mà còn là quá trình thức tỉnh cảm xúc, quá trình nhuần thấm tín hiệu nghệ thuật chứa mã văn hóa đồng thời với việc huy động vốn sống, vốn kinh nghiệm cá nhân người đọc để lựa chọn giá trị tư tưởng thẩm mĩ và ý nghĩa vốn có của tác phẩm văn chương”[29]
Mặc dù có nhiều công trình bàn về dạy học đọc hiểu dưới góc độ kí hiệu học,
nhưng số công trình nghiên cứu sâu, trực diện vấn đề “dạy học đọc hiểu tác phẩm
văn học theo lý thuyết kí hiệu học” lại chưa nhiều Trong số ít đó, Trần Đình Sử là
người đầu tiên đề xuất quan điểm nêu trên Tác giả cho rằng “đọc là hoạt động tâm
lí nhằm giải mã văn bản Một là chuyển văn bản kí hiệu văn tự thành văn bản bằng ngôn ngữ tương ứng với văn bản chữ viết Hai là giải mã văn bản để tìm ý nghĩa”
[73] Ông khẳng định “mọi sự đọc, dù động cơ như thế nào, đều không thoát li
được việc tìm nghĩa của văn bản, cho nên mọi sự đọc đều là đọc hiểu” [46;tr.62]
Những ứng dụng lý thuyết kí hiệu học vào dạy học đọc hiểu tác phẩm văn học của tác giả chủ yếu dựa trên quan điểm kí hiệu học văn hóa về văn bản và giao tiếp của
Iu.Lotman Cùng hướng ứng dụng như trên, cuốn sách “Kỷ yếu hội thảo khoa học
quốc gia: Ký hiệu học – từ lý thuyết đến ứng dụng trong nghiên và dạy học Ngữ văn” (2016) đã đăng một số bài viết trình bày cụ thể cách thức ứng dụng Tóm lại
những nghiên cứu nêu trên đã đặt những viên gạch đầu tiên cho việc ứng dụng lý thuyết kí hiệu học vào dạy học đọc hiểu ở trường phổ thông
Đối với vấn đề dạy học đọc hiểu thơ trữ tình trong sách giáo khoa THPT, có nhiều công trình, luận văn nghiên cứu theo lý thuyết khác như thi pháp học, đặc
Demo Version - Select.Pdf SDK