1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BỆNH ấu TRÙNG sán lợn

26 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 659,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sán dây lợn sống ký sinh trong ruột non người, các đốt già rụng từng khúc theophân ra ngoài, không di động, trong có nhiều trứng sán.. Người ăn phải ấu trùng sán dây lợn trong thịt lợn c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ MÔN TRUYỀN NHIỄM

ĐÀM THỊ THANH TÂM Bác sĩ nội trú khóa 42

BỆNH ẤU TRÙNG SÁN LỢN

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

BỆNH ẤU TRÙNG SÁN LỢN

Bệnh ấu trùng sán dây lợn ( cysticercosis) do Cysticercus cellulosae là ấu trùng của sán dây lợn Taenia solium gây nên

1 Đặc điểm sinh học sán dây và ấu trùng sán lợn.

Sán dây lợn Teania solium thuộc giống sán dây Taenia, họ sán dây Taeniidae,

bộ Cyclophyllidea, dưới lớp Eucestoda, lớp sán dây Cestoda, ngành sán dẹt Platyhelminthes [1].

1.1 Đặc điểm hình thể

Sán dây lợn Taenia solium là loài ký sinh trùng dài từ 4 - 8 m, có khoảng 900

đốt Cấu tạo được chia làm 3 phần: đầu, cổ và thân Đầu sán tròn, kích thướckhoảng 1 mm, có 2 vòng gồm 22 - 32 móc, có 4 giác bám Cổ sán dài 5 mm là nơisinh ra đốt non Thân sán gồm các đốt non bắt đầu phía sau cổ, chiều dọc dài hơnchiều ngang, bên trong mỗi đốt sán có chứa trứng Đốt sán có cả bộ phận sinh dụcđực và cái, tử cung thường chia thành 7 - 12 nhánh Số lượng trứng trong mỗi đốtkhoảng 4000 trứng Đốt già rụng từng khúc 3 - 6 đốt theo phân ra ngoài, không di

động T.solium có thể thải ra ngoài môi trường 300.000 trứng mỗi ngày [2], [3].

Ấu trùng sán dây lợn: khi phát triển đầy đủ, ấu trùng là một túi chứa dịch, chiềudài khoảng 15 mm, chiều ngang 7 - 8 mm, hình dạng của ấu trùng có thể thay đồitùy theo vị trí chúng ký sinh Ở những cơ chắc, ấu trùng có hình kéo dài, còn ởnhững tố chức lỏng lẻo ấu trùng lại có hình cầu

Khả năng tồn tại trong môi trường: đối với trứng sán dây khi nhiệt độ trên 70

độ C mới có khả năng diệt trứng Ấu trùng sán dây lợn bị tiêu diệt ở dưới - 2 độ C,

ở khoảng - 2 độ C đên 0 độ C, ấu trùng có thể tồn tại được 2 tháng và nhiệt độphòng thí nghiệm, chúng tồn tại được khoảng 26 ngày

Trang 4

Hình 1 Hình thể sán dây lợn và ấu trùng sán dây lợn (A) trứng ; (B) và (C) ấu trùng; (D) đầu sán; (E) đốt sán.

1.2 Vị trí ký sinh và dinh dưỡng

Sán dây lợn sống ký sinh ở ruột non của người và hút các chất dinh dưỡng củavật chủ Ký sinh trùng sử dụng 4 giác bám của mình để bám vào niêm mạc thànhruột Khi các giác hút bám vào vi nhung mao ruột, các mỏ ( rostellum) nhô ra vàotrong niêm mạc và hút lan rộng, đồng thời cố định đầu sán vào ruột Tổn thương tạichỗ và đáp ứng viêm liên quan đến các dưỡng bào, bạch cầu đa nhân trung tính,bạch cầu ái toan

Ấu trùng sán lợn T.solium sống ký sinh ở dưới da, cơ, mắt, trong và ngoài não.

Ngoài ra, ấu trùng sán lợn có thể ký sinh ở bất cứ vị trí, cơ quan nào của cơ thể nhưdây thần kinh, tủy sống, tim, phổi, thận, gan [4]

1.3 Chu kỳ phát triển của sán dây lợn

Hình 2 Chu kỳ phát triển của sán dây lợn [5].

Trang 5

T.solium có hai vật chủ: con người và lợn Con người là vật chủ chính duy nhất

của sán trưởng thành, trong khi cả con người và lợn đều có thể là vật chủ trung giancủa ấu trùng sán dây lợn

Sán dây lợn sống ký sinh trong ruột non người, các đốt già rụng từng khúc theophân ra ngoài, không di động, trong có nhiều trứng sán Ngoài môi trường, đốt sán

bị phân hủy giải phóng trứng

Ở những nơi điều kiện vệ sinh kém, lợn có thể tiếp xúc với phân người, hoặcthức ăn có chứa trứng, đốt sán chứa trứng Sau khi ăn, trứng vào dạ dày, ruột nở ra

ấu trùng, trứng xuyên thành ruột vào máu hoặc hệ bạch huyết đến ký sinh ở các cơ,

ở mắt, não và các cơ quan gan, tim, phổi

Người ăn phải ấu trùng sán dây lợn trong thịt lợn chưa được nấu chín ( ngoại

nhiễm, một số trường hợp ăn phải trứng T.solium ( xảy ra qua đường phân - miệng

từ tiếp xúc gần với người mang sán dây) hoặc đốt sán già rụng trong ruột bị tràongược lên dạ dày, giải phóng trứng ( nội nhiễm), trứng cũng nở ra trong ruột hoặc

dạ dày thành ấu trùng, đoạn cổ sinh đốt mới, thành chuỗi đốt sán, sau khoảng 5 - 12tuần thành sán dây trưởng thành Ấu trùng cũng có thể chui qua thành ống tiêu hóavào hệ tuần hoàn đến cơ và các cơ quan, hay gặp nhất là mô dưới da, não và mắt vàgây bệnh tại các cơ quan này [3], [6]

2 Dịch tễ học bệnh ấu trùng sán dây lợn trên thế giới và Việt Nam

2.1 Trên thế giới

Bệnh do ấu trùng sán dây lợn có thể gặp ở nhiều nơi trên thế giới Khoảng 50triệu người trên thế giới ước tính bị nhiễm bệnh mặc dù ước tính có thể thấp hơntrên thực tế do chẩn đoán lâm sàng bệnh thường khó khăn Bệnh phổ biến hơn ở cácnước đang phát triển và chậm phát triển ở Châu Phi cận Sahara, Châu Á và vùngTrung và Nam Mỹ [7] Tỷ lệ mắc bệnh khác nhau tại các quốc gia này và thườngcao hơn ở khu vực nông thôn hoặc ngoại ô, vùng trung du, cao nguyên, nơi chănnuôi lợn và điều kiện vệ sinh kém Ở các khu vực này, tỉ lệ bệnh nhân có triệuchứng động kinh có thể lên tới 3 % số ca, 25 - 40 % số ca mắc bệnh có biểu hiện

Trang 6

Bên cạnh đó, bệnh cũng có thể xuất hiện ngoài các khu vực trên đặc biệt ởnhững nơi có nhiều người nhập cư, họ có thể mang sán từ vùng dịch Trong một báocáo tại Hoa Kỳ, trong khoảng thời gian từ 2003 đến 2012, ước tính có khoảng18.000 bệnh nhân nhập viện do bệnh ấu trùng sán dây lợn hệ thần kinh trung ương[8] Tại Hoa Kỳ, bệnh chủ yếu được phát hiện ở những người nhập cư từ Mexico,Guatemala, các quốc gia Mỹ Latinh khác.

Tỉ lệ nhiễm bệnh sán dây lợn và bệnh ấu trùng sán lợn cao ở những nơi chănnuôi lợn và lò mổ lợn không hợp vệ sinh [9] Ngoài ra thói quen ăn uống không hợp

vệ sinh, ăn thịt lợn chưa được nấu chín, ăn tiết canh, rau sống, uống nước chưa đượcđun sôi cũng tạo điều kiện cho lan truyền bệnh

Bệnh ấu trùng sán dây lợn có thể gặp ở mọi đối tượng, ở bất cứ độ tuổi nào.Lứa tuổi hay gặp nhất là từ 20 - 50 tuổi và là nam giới [10] Tỉ lệ nam/ nữ xấp xỉ là

2 - 3/1 trong đa số các nghiên cứu và báo cáo, điều này có thể giải thích do yếu tốkhách quan của bệnh nhân ( hay ăn nem sống, tiết canh, …) [11]

Hình 3 Phân bố T.solium trên thế giới [12].

2.2 Tại Việt Nam

Việt Nam là một nước nông nghiệp thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới Tỉ lệ chănnuôi lợn và tiêu thụ thịt lợn cao và thuộc vùng dịch tễ chính của bệnh ấu trùng sán

Trang 7

dây lợn Có rất nhiều yếu tố nguy cơ lây nhiễm sán dây lợn từ người sang ngườinhư: Kinh tế nông nghiệp lạc hậu; vệ sinh môi trường, vệ sinh hộ gia đình và vệsinh cá nhân còn kém; tiếp xúc với thành viên trong gia đình hoặc cộng đồng có tiền

sử thải ra đốt sán; sử dụng chung vật đựng thịt sống, dao thớt chế biến thức ăn;thường xuyên cung ứng thịt lợn, nhiều ruồi nhặng và thói quen sử dụng phân ngườibón rau Các yếu tố nguy cơ lây nhiễm sán dây lợn từ người sang lợn như: Nuôi lợnthả rông ( đặc biệt vùng trung du, miền núi); nhà xí không hợp vệ sinh, cửa lấy phân

hố xí gần chỗ nuôi lợn tạo điều kiện lợn có thể ăn, tiếp xúc với phân người ở môitrường hoặc hố xí; sử dụng phân người, nước thải bón rau nuôi lợn; người chăn nuôilợn, giết mổ lợn, cung cấp thịt lợn cho người tiêu dùng bị nhiễm sán dây lợn Nhiềunguy cơ lây bệnh từ lợn sang người: tập quán ăn thịt lợn sống, lợn tái; kiểm soát thịthường thịt lợn còn kém; kiểm soát thú y chưa chặt chẽ,…

Bệnh ấu trùng sán dây lợn xuất hiện ít nhất hơn 50 tỉnh thành trong cả nước,một số tỉnh có tỉ lệ bệnh lưu hành cao như Thanh Hóa, Thái Bình, Bắc Ninh, ĐiệnBiên, Lai Châu Tỉ lệ mắc bệnh sán dây nói chung là 0,5 - 1,2 % ở miền Bắc, 0,2 -2,8 % ở miền Trung, 0,3 - 1,5 % ở miền Nam, 3,8 - 10,1 % ở cao nguyên, 2 - 10,4

% ở vùng núi, 0,5 - 12% ở vùng đồng bằng Tỉ lệ nhiễm bệnh ấu trùng sán dây lợn ởmiền Bắc là 1 - 7,2 % và 4,3 % ở miền Nam Bệnh thường gặp ở nam giới cao hơn

nữ giới Tại các lò mổ ở Hà Nội, tỉ lệ lợn nhiễm ấu trùng là 0,04 % trong khi các lò

mổ khác ở miền Bắc là 0,03 % - 0,31 %, lò mổ ở miền Nam là 0,9 % [13]

3 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh ấu trùng sán lợn.

3.1 Nguồn lây nhiễm và phương thức lây truyền

3.1.1 Nguồn lây nhiễm

- Ổ chứa: Sán dây trưởng thành sống ở ruột non của người, ấu trùng sán dâylợn sống ký sinh trong các tổ chức của một số động vật có vú như người, lợn

- Thời gian ủ bệnh: Sán dây trưởng thành khoảng 8 - 10 tuần, ấu trùng sán dâylợn khoảng 9 - 10 tuần

Trang 8

- Thời kỳ lây truyền: Sau khoảng 10 tuần, sán trưởng thành sống trong ruột noncủa người, đốt già tự rụng từng khúc theo phân ra ngoài, giải phóng trứng sán ramôi trường Thông thường ấu trùng sán lợn sẽ chết khi được đun nấu ở nhiệt độ 75

độ C trong vòng 5 phút hoặc đun sôi trong vòng 2 phút

3.1.2 Phương thức lây truyền

Bệnh ấu trùng sán dây lợn là bệnh lây truyền từ động vật sang người Lợn ănphải trứng ấu trùng sán lợn ô nhiễm trong thức ăn, phân,… hình thành các nangtrong cơ bắp hoặc các mô khác Người nhiễm ấu trùng sán dây lợn khi ăn phải thức

ăn bị ô nhiễm có trứng sán dây lợn hoặc ấu trùng sán dây lợn ( như thịt lợn gạo)chưa được nấu chín Người bị nhiễm sán dây có thể tự lây nhiễm trứng và phát triểnthành các nang sán Những người sống với người bị nhiễm sán dây tại ruột có nguy

cơ cao mắc bệnh do nuốt phải trứng sán trong thực phẩm và nước uống bị ô nhiễm (lây truyền qua đường phân - miệng )

3.2 Đặc điểm lâm sàng

3.2.1.Thể bệnh ấu trùng sán lợn ngoài hệ thần kinh trung ương

- Ấu trùng sán lợn ký sinh dưới da - cơ.

Triệu chứng lâm sàng khác nhau ở mỗi bệnh nhân, có thể không có triệu chứng

gì đặc biệt, có thể tự sờ thấy các nang sán dưới da Đó là những nang sán nhỏ sờthấy dưới da hoặc sâu trong các cơ Tuy nhiên, bệnh nhân có thể cảm thấy mỏi cơhoặc có hiện tượng giật cơ, đôi khi có yếu cơ nếu số lượng nang sán nhiều hoặc khi

có phản ứng viêm

Nang thường to bằng hạt đậu, không đau, di động, bóp chặt có hiện tượng căngphồng của một nang nước Kích thước nang có thể thay đổi tùy từng bệnh nhân, cóthể từ 0,5 đến 2 cm

Nang sán xuất hiện sớm ở các cơ như cơ hoành, cơ lưỡi, cơ Delta, cơ hai chitrên, cơ vùng ngực, bụng, lưng Nang ấu trùng sán lợn không đối xứng hai bên, chitrên thường nhiều hơn chi dưới Trên lâm sàng cũng có thể gặp nang dưới da vùng

Trang 9

đầu, vùng mặt, vùng gáy [14], [15], [16] Tổn thương nang sán trong cơ xuất hiện ởbệnh nhân ở châu Á, châu Phi nhiều hơn bệnh nhân tại khu vực Mỹ La Tinh

- Ấu trùng sán lợn ký sinh ở mắt

Nang sán có thể ở trong ổ mắt gây đẩy lồi nhãn cầu, gây lệch trục nhãn cầu.Lâm sàng bệnh nhân có thể bị lác, nhìn đôi Khi nang sán ở trong nhãn cầu, bệnhnhân xuất hiện nhìn mờ, chảy nước mắt, khi thăm khám lâm sàng có thể thấy ấutrùng sán lợn di chuyển trong nhãn cầu Ấu trùng sán lợn có thể ký sinh tại dây thầnkinh thị giác gây viêm dây thần kinh, trên lâm sàng bệnh nhân có sốt, đau nhứcvùng mắt Trường hợp nặng, ấu trùng sán lợn ký sinh làm bong võng mạc, đĩa thị,gây giảm thị lực, thậm chí gây mù lòa Tất cả các bệnh nhân nên được khám mắttrước khi bắt đầu điều trị thuốc tẩy sán

- Ấu trùng sán lợn ký sinh ở tim: ấu trùng sán lợn có thể ký sinh tại cơ tim Hậu

quả gây loạn nhịp tim, bất thường dẫn truyền, tuy nhiên thường hiếm gặp

3.2.2 Bệnh ấu trùng hệ thần kinh trung ương.

Đây là thể bệnh hay gặp của nhiễm ấu trùng sán lợn

Triệu chứng lâm sàng của bệnh thường đa dạng và không đặc hiệu Biểu hiệnlâm sàng có thể thay đổi từ không có triệu chứng, chỉ phát hiện bệnh tình cờ trênphim chụp CT sọ não đến bệnh nặng, có nguy cơ tử vong Biểu hiện lâm sàngthường liên quan đến số lượng, kích thước, dạng tổn thương của nang và đáp ứngmiễn dịch của vật chủ Sau khi vào cơ thể con người, ấu trùng đến ký sinh tại hệthần kinh trung ương Tại cơ quan này, ấu trùng có thể sống và gây phản ứng viêmquanh nhu mô Ký sinh trùng trốn tránh hệ thống miễn dịch của cơ thể, giai đoạnnày thường kéo dài hàng năm, hàng thập kỷ Sau một khoảng thời gian dài, ấu trùngthoái hóa và kích hoạt phản ứng viêm mạnh, đặc biệt là phản ứng viêm sau thoáihóa nang Từ đó gây hiệu ứng khối, cản trở sự lưu thông dịch não tủy Một trongcác yếu tố quyết định đặc điểm của bệnh là ký sinh trùng nằm trong nhu mô não hayngoài nhu mô não Nói chung, khi nang sán trong nhu mô não biểu hiện co giật,động kinh hay gặp, tuy nhiên nang có thể tồn tại nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ với

Trang 10

các triệu chứng lâm sàng không liên tục Ngược lại nếu nang nằm cạnh não thất,khoang dưới nhện có tiên lượng xấu hơn [10]

+ Khi ấu trùng sán lợn ký sinh trong não, thường gây ra nhiều triệu chứng khácnhau [10], [17]

 Dấu hiệu thần kinh khu trú: đa dạng, có thể gặp bất kỳ triệu chứng thần kinh khu trúnào Đó là hậu quả tổn thương trong nhu mô não hoặc do phù quanh các nang sán,tăng áp lực nội sọ do phù não, hiệu ứng khối, giãn não thất, chèn ép dây thần kinh

sọ, tắc động mạch vừa đến nhỏ gây viêm và nhồi máu não Bệnh nhân có thể yếu

cơ, liệt nửa người, đau rễ thần kinh, rối loạn cảm giác, liệt các dây vận nhãn, giảmthính giác, mất thị giác, liệt dây thần kinh mặt, đau dây thần kinh V Trong nghiêncứu của tác giả Carabin và cộng sự, ghi nhận dấu hiệu thần kinh khu trú gặp trong

16 % các trường hợp [18]

 Co giật, động kinh: đây là triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất của bệnh ấu trùng hệthần kinh trung ương, đặc biệt với các nang sán nằm trong nhu mô não Động kinhđược định nghĩa là khi có hai hay nhiều cơn co giật tự phát diễn ra cách nhau hơn24h Co giật là triệu chứng rất phổ biến ở những bệnh nhân có nang thoái triển và

50 % bệnh nhân co giật tiến triển thành động kinh Co giật cục bộ thường được ghinhận nhiều hơn triệu chứng co giật toàn thân Động kinh có thể do phản ứng viêmcục bộ, hình thành mô sẹo thần kinh đệm Trong một số báo cáo, co giật có thể vẫnxảy ra ở những bệnh nhân có nang sán hoạt động mà không có biểu hiện viêm xungquanh đánh giá được trên MRI, những trường hợp này vẫn không thể loại trừ khảnăng có phản ứng viêm nhẹ xung quanh mà MRI sọ não không thấy được [10].Trường hợp nang thoái triển thành các nốt vôi hóa, co giật vẫn có thể xảy ra Độngkinh có thể tái phát ngay cả khi bệnh nhân đã điều trị đủ liệu trình thuốc diệt ký sinhtrùng Chính vì vậy, việc tiếp tục hay dừng điều trị thuốc động kinh phụ thuộc vàođáp ứng lâm sàng từng bệnh nhân

 Đau đầu: một số bệnh nhân có biểu hiện đau đầu, tuy nhiên nếu chỉ có đau đầu đơnthuần, thường không phải lí do bệnh nhân đi khám Phản ứng viêm, phù nề dẫn đếntriệu chứng đau đầu Việc sử dụng các thuốc giảm đau, chống viêm, trong đó cócorticoid sẽ giảm triệu chứng này Trong trường hợp tăng áp lực nội sọ, triệu chứngđau đầu biểu hiện rõ ràng hơn

Trang 11

 Tăng áp lực nội sọ: Các nang sán gây phản ứng viêm, tắc não thất, lỗ Monro, cốngSylvius, lỗ Luschka, khoang dưới nhện, từ đó gây cản trở sự lưu thông dịch nãotủy, hậu quả làm tăng áp lực nội sọ Triệu chứng lâm sàng có thể bán cấp hoặc mạntính Khối choán chỗ và tăng áp lực nội sọ thứ phát do nang lớn hoặc chùm nangdưới nhện Tăng áp lực nội sọ còn gặp trong viêm não do nang, một thể lâm sàngnặng của nhiễm ấu trùng sán lợn hệ thần kinh trung ương Bệnh nhân viêm não cóhàng trăm nang nhỏ, thoái hóa với phản ứng viêm phù mạnh, gây rối loạn ý thứccấp tính hoặc bán cấp, co giật và tăng áp lực nội sọ [10] Những bệnh nhân này tiênlượng thường xấu, nguy cơ tử vong cao.

 Rối loạn ý thức, tâm thần: bệnh nhân có thể thay đổi ý thức, nhận thức, tính tình,trạng thái tâm thần tùy thuộc vào tổn thương hệ thần kinh trung ương Trong nghiêncứu của tác giả Carabin và cộng sự, ghi nhận triệu chứng rối loạn nhận thức gặptrong 5 % các trường hợp [18]

 Các triệu chứng khác: nôn, buồn nôn có thể gặp, sốt thường không có Trong một sốtrường hợp bệnh nhân không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng, phát hiện bệnh tình

cờ qua chụp CT sọ não ( được chỉ định vì những lý do khác)

+ Khi ấu trùng sán lợn ký sinh tại tủy sống: ít gặp hơn Khi các nang sán trongtủy sống, gây phản ứng viêm, có thể gây tổn thương rễ thần kinh cảm giác và vậnđộng, từ đó gây biểu hiện triệu chứng trên lâm sàng Triệu chứng thần kinh thay đổitheo vị trí tổn thương, khó phân biệt được trên lâm sàng với các tổn thương tủy sốngkhác Bệnh nhân có rối loạn cảm giác, dị cảm kiến bò, đau, rối loạn cơ tròn,… Nangsán tại tủy sống có thể liên quan đến bệnh viêm tủy cắt ngang, tuy nhiên thườnghiếm gặp

3.3 Đặc điểm cận lâm sàng

3.3.1 Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi

Có thể bình thường hoặc tăng số lượng bạch cầu ái toan, đây là triệu chứngkhông phổ biến, ghi nhận dưới 10 % các trường hợp [18] Tăng bạch cầu ái toankhông phải dấu hiệu đặc hiệu cho bệnh, có thể tăng khi nhiễm ký sinh trùng, bệnh

tự miễn, ung thư, dị ứng Tuy nhiên đây là dấu hiệu hỗ trợ định hướng chẩn đoán

Trang 12

Ấu trùng sán dây lợn sử dụng một loạt cơ chế xâm nhập cơ quan, trốn tránh hệthống miễn dịch của con người Sau một thời gian nhiễm ký sinh trùng, miễn dịchdịch thể tạo kháng thể IgG đặc hiệu chống lại ký sinh trùng

Trong các xét nghiệm miễn dịch học, kỹ thuật ELISA thường được sử dụngnhất Nguyên lý của kĩ thuật là dùng enzyme để đánh dấu kháng nguyên hoặc khángthể, từ đó phát hiện sự kết hợp đặc hiệu của kháng nguyên và kháng thể

Kháng nguyên của ấu trùng sán lợn được sử dụng là kháng nguyên toàn nang

và kháng nguyên dịch nang Độ đặc hiệu của kháng nguyên dịch nang cao hơnkháng nguyên dịch toàn nang Độ nhạy và độ đặc hiệu của kỹ thuật ELISA khi sửdụng kháng nguyên toàn nang ở hiệu giá kháng thể 1/20 là 90 % và 52 %, ở hiệu giákháng thể 1/100 là 85 % và 88 % Độ nhạy và độ đặc hiệu của kỹ thuật này khidùng kháng nguyên dịch nang ở hiệu giá kháng thể 1/20 là 95 % và 74 %, ở hiệu giákháng thể 1/100 là 90 % và 96,5 % [19] Tuy nhiên, đối với cả hai kháng nguyênnày, đều ghi nhận phản ứng chéo với một số loài vi sinh vật khác [10]

Đối với kháng nguyên dịch nang: ở hiệu giá kháng thể 1/20: phản ứng chéo với

Ascaris lumbricoides, Blantidium coli, Enteroterobius vermicularis, Giardia lamblia, Giun móc, Schistosoma mansomi, Stronglycoides stercoralis, Teania spp,

…; ở hiệu giá kháng thể 1/100 có thể có phản ứng chéo với giun móc,

Stronglycoides stercoralis, Teania spp, Enteroterobius vermicularis, …

Đối với kháng nguyên dịch nang: ở hiệu giá kháng thể 1/20: phản ứng chéo với

Ascaris lumbricoides, Enteroterobius vermicularis, Giardia lamblia, Giun móc, Stronglycoides stercoralis, Schistosoma, ; ở hiệu giá kháng thể 1/100 có thể phản ứng chéo với: Giardia lamblia, Giun móc.

Khi sử dụng kháng nguyên glycoprotein T.sodium để phát hiện kháng thể, phản

ứng EITB ( Enzyme linked immunoelectrotransfer blot assay) có độ nhạy thay đổitheo tổn thương nang sán và mẫu bệnh phẩm EITB không phản ứng chéo vớinhững nhiễm trùng khác, độ nhạy trong huyết thanh cao hơn so với trong dịch nãotủy ( 100% và 90 %) Ở những bệnh nhân có nhiều tổn thương nang sán trong nhu

mô, tổn thương não thất, khoang dưới nhện, độ nhạy của EITB huyết thanh có thể

Trang 13

tới 98 % Tuy nhiên ở những bệnh nhân có một tổn thương nhu mô hoặc vôi hóa, độnhạy thường kém hơn.

Kết quả xét nghiệm huyết thanh âm tính không loại trừ chẩn đoán bệnh ởnhững trường hợp có biểu hiện lâm sàng và tổn thương trên phim CT sọ não Bêncạnh đó, đối với những bệnh nhân từ các khu vực bệnh lưu hành, sự phơi nhiễmgiữa con người và sán dây lợn rất thường xuyên nên kết quả xét nghiệm huyết thanhdương tính có thể phản ánh nhiễm trùng trước đó

Ngoài cách sử dụng kháng nguyên, kỹ thuật ELISA có thể dùng kháng thể đơndòng để phát hiện kháng nguyên hòa tan của ấu trùng sán dây lợn Kỹ thuật có độnhạy và độ đặc hiệu cao, ngay cả những trường hợp nhiễm nhẹ, và kết quả như nhauđối với huyết thanh hay dịch não tủy Ưu điểm của kỹ thuật này còn cho biết ấutrùng sán lợn còn sống hay đã bị canxi hóa, từ đó quyết định sử dụng thuốc điều trị,theo dõi và đánh giá khỏi bệnh [2]

3.3.3 Kỹ thuật sinh học phân tử PCR

Đây là kỹ thuật hiện đại sử dụng đoạn gen mồi (primer) đặc hiệu của sán dây

lợn hay ấu trùng sán lợn để xác định DNA của T.solium với độ chính xác cao Tuy

nhiên phương pháp này còn tốn kém, yêu cầu công nghệ tiên tiến, chỉ được thựchiện ở những nơi có điều kiện

3.3.4 Xét nghiệm phân

Bệnh phẩm phân để tìm trứng sán dây hoặc đốt sán dây trưởng thành Xét nghiệmphân tìm trứng theo phương pháp xét nghiệm trực tiếp hoặc bằng phương pháp Kato.Trứng sán dây lợn rất giống trứng sán dây bò, trứng thường có hình cầu, màu vàngxám, bên trong là khối nhân có hạt, vỏ dày đường kính khoảng 35 µm, bên trong cóchứa phôi Tuy nhiên, không phải tất cả các bệnh nhân đều nhiễm sán trưởng thành vàthải các đốt già theo phân Bệnh cạnh đó, kỹ thuật còn phụ thuộc vào cách lấy bệnhphẩm, lưu trữ bệnh phẩm và khả năng đọc kết quả của kỹ thuật viên

3.3.5 Sinh thiết nang sán

Sinh thiết nang dưới da, cơ, trong não thấy ấu trùng sán lợn là tiêu chuẩn vàngtrong chẩn đoán Tuy nhiên, còn nhiều khó khăn về mặt kỹ thuật, giá thành, gây đau

Ngày đăng: 20/05/2020, 21:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w