tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh ấu trùng sán lợn cysticercosis của Albendazole và Praziquantel” với các mục tiêu sau: - Tìm hiểu về dịch tễ và bệnh ATSL trên
Trang 1BỘ Y TÊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC D ược HÀ NỘI
Q^hòì ạian thưe hiên: 0 1 /2 0 0 4 " 1 2 /2 0 0 0
Hà Nội, Tháng 05/2007
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành khóa luận tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành tới:
ThS Lê Thị Thu Hương — Giảng viên Bộ môn Vi sinh - sinh học,
trường Đại học Dược Hà Nội Người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô trong Ban Giám Hiệu, Phòng Đào Tạo và các bộ môn khác Trường Đại Học Dược Hà Nội đã dạy dỗ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
ThS Đoàn Thị Hạnh Nguyên — Trưởng khoa khám bệnh chuyên ’
ngành - Viện sốt rét - ký sinh trùng - côn trùng trung ương cùng tập thể bác
sĩ, cán bộ trong khoa đã hướng dẫn tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành khóa luận tại khoa khám bệnh chuyên ngành - Viện sốt rét - ký sinh trùng - côn trùng trung ương
ThS Đặng Cẩm Thạch — Trưởng khoa ký sinh trùng - Viện sốt rét -
ký sinh trùng - côn trùng trung ương
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình và bạn bè, những người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận
Trang 3MỤC LỤC
1.1 Đặc điểm hình thái và chu kỳ phát triển của sán dây lợn 3
1.3.2 Bệnh ấu trùng sán lợn ở hệ thần kinh trung ương 7
1.4 Các xét nghiệm cận lâm sàng để chẩn đoán bệnh ấu trùng sán lợn 9
Trang 43.1.2 Phân bố bệnh theo nhóm tuổi và giới tính 21
3.2 Triệu chứng lâm sàng thường gặp ở những bệnh nhân mắc ATSL 22
3.4.1 Kết quả về hiệu quả điều trị của thuốc đối với các TCLSTK 24
3.4.2 Kết quả về hiệu quả điều trị của Albendazole trên các nang sán 26
dưới da
3.4.3 Kết quả hiệu quả điều trị của thuốc trên các nang sán trên não 26
3.5 Các tác dụng không mong muốn gặp trong quá trình sử dụng thuốc 31
Trang 5SGPT : Serum glutamate pyruvate transaminase
SRKSTCTTW : sốt rét - ký sinh trùng - côn trùng trung ương
TCLSTK : Triệu chứng lâm sàng thần kinh
Trang 6Bệnh gặp ở nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh Việt Nam là một nước có vị trí địa lý nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ và độ ẩm môi trường hàng năm thường cao, đồng thời là một nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ dân trí và các điều kiện sinh hoạt còn thấp kém do đó mà các bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh ATSL nói riêng khá phát triển Đặc biệt ở một số vùng nông thôn còn tập quán dùng phân tươi đê bón ruộng, chăn nuôi lợn thả rông, không có hố xí, nghiêm trọng hơn đó là thói quen ăn các đồ ăn chưa được nấu chín như thịt tái, nem thính, tiết canh, rau sống ở nhiều địa phương Đây chính là những yếu tố thuận lợi làm cho bệnh ATSL ngày càng gia tăng ở nước ta Bệnh gặp nhiều ở lứa tuổi từ 20-50 là lứa tuổi lao động chính của xã hội do đó việc nghiên cứu điều trị bệnh một cách hiệu quả là rất cần thiết.
Ở Việt Nam hiện nay, những bệnh nhân (BN) mắc bệnh ATSL ở miền bắc hầu hết do Viện sốt rét - ký sinh trùng - côn trùng trung ương (Viện SRKSTCTTW) điều trị Đe điều trị bệnh ATSL hiện nay người ta thường dùng Praziquantel hoặc Albendazole Tuy nhiên hiệu quả điều trị còn phụ thuộc vào liều dùng, thời gian điều trị và đáp ứng của BN với từng loại thuốc Chính vì vậy, để góp phần tăng cường hiệu quả điều trị bệnh ATSL chúng tôi
Trang 7tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh ấu trùng sán
lợn (cysticercosis) của Albendazole và Praziquantel” với các mục tiêu sau:
- Tìm hiểu về dịch tễ và bệnh ATSL trên người ở miền Bắc Việt Nam hiện nay
- Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh ATSL của Albendazole và Praziquantel trên các bệnh nhân tại khoa khám bệnh chuyên ngành - Viện SRKSTCTTW
từ 01/2004 đến 12/2006
2
Trang 8PHÀN I TÒNG QUAN TÀI LIỆU1.1) Đặc điểm về hình thái, chu kỳ phát triển của sán dây lợn ợ.solium):
1.1.1) Hình thể: [1,12,13,24]
- T.solium là một loài sán lớn sống ký sinh trong ruột non người Sán
trưởng thành có chiều dài từ 2-8 m
- Cơ thể sán được cấu tạo từ nhiều đốt sán, được chia thành đầu sán, cổ sán và các đốt thân sán Đầu sán nhỏ, hình cầu có đường kính khoảng 1 mm, trên đỉnh đầu có một phần nhô ra trên đó có các móc và được gọi là vòng móc, phần đầu này giúp cho sán có thể bám vào ruột người bệnh, cổ sán là đốt thứ 2 nối tiếp với đầu sán có tác dụng tới sự phát triển của thân sán Các đốt sán phát triển theo kiểu nảy chồi từ cổ sán tạo thành các đốt sán già Thân sán bắt đầu từ đốt thứ 3 trở đi và gồm nhiều đốt sán, những đốt sán này có chiều dài tăng dần Mỗi đốt sán trưởng thành là một đơn vị sinh sản hoàn chỉnh có đầy đủ cả bộ phận sinh dục đực và sinh dục cái, tuy nhiên bộ phận sinh dục đực xuất hiện trước bộ phận sinh dục cái nên việc thu tinh không thể thực hiện được trên cùng một đốt mà phải thực hiện giữa hai đốt khác nhau
Bộ phận sinh dục đực gồm có tinh hoàn được cấu tạo thành từng chùm, chúng được nối với nhau bằng các ống dẫn tinh rồi đổ vào ống dẫn tinh chính và dẫn tới bộ phận giao hợp đực Bộ phận sinh dục cái gồm 2 buồng trứng, tuyến
dinh dưỡng, tuyến làm vỏ trứng và tử cung Tử cung của T solium là một lỗ tịt
do đó nó không đẻ trứng mà trứng cùng các đốt sán già được thải ra ngoài môi trường theo phân
- Trứng sán: có hình cầu, đường kính 30-40 Ị.im bên ngoài có vỏ bọc dày màu nâu sẫm, bên trong có chứa phôi có 6 móc Trứng sán bị tiêu diệt ở
100°c sau vài phút hoặc ở -20°c trong 12 giờ
- Ấu trùng: là một túi giống như hạt đu đủ mọng nước, bên trong có nang trùng màu trắng trông giống như hạt gạo có đường kính 2-3 mm Ấu trùng trong nang thường sống được từ 2-6 tháng và có thể lên tới 5 năm
Trang 9a b c
Hình 1 : Hình thể T.solỉum
a: đầu sán, b: đốt sán già, c: các đốt thân sán và cổ sán
Hình 3: Ấu trùng sán lợn1.1.2) Chu kv phát triển: n.12.13.23.241
Trứng của T.soỉium theo đốt sán già rụng ra ngoài ngoại cảnh, trong trứng
có ấu trùng có 6 móc Nếu trứng được vật chủ thích hợp (lợn, người ) ăn phải thì khi vào bộ máy tiêu hoá trứng sán sẽ mất vỏ và nhờ có hệ thống vòng móc mà ấu trùng chui qua được thành ống tiêu hoá để vào hệ thống tuần hoàn tĩnh mạch cửa, qua gan, lên tim để theo dòng máu đi khắp các cơ quan, tạng
4
Trang 10phủ trong cơ thể Ấu trùng thường dừng lại ở những nơi mao mạch nhỏ hẹp hoặc những nơi có dòng máu chảy chậm như ở mô dưới da, cơ vân, não rồi phát triển thành nang sán.
Lợn là loài nhiễm ATSL nhiều nhất, nếu người ăn phải thịt lợn nhiễm ATSL chưa được nấu chín thì ATSL sẽ vào cơ thể người và thoát khỏi vỏ nang ở trong đường tiêu hóa người Đầu sán sẽ bám vào thành ruột non rồi phát triển dài dần thành sán trưởng thành ký sinh ở ruột Thông thường lợn nhiễm bệnh ATSL còn người nhiễm sán dây lợn trưởng thành tuy nhiên người
cũng có thể nhiễm bệnh ATSL do: người ăn phải trứng T.solium Như vậy người vừa là vật chủ chính vừa là vật chủ phụ của T.solium.
Hình 4: Chu kỳ phát triển của T.soỉium
1.2) Dịch tễ bệnh ATSL:
1.2.1) Đường lây nhiễm của bênh: [1,12,24]
Bệnh ATSL thường được lây nhiễm qua hai con đường chính:
- Do người ăn phải trứng của T.solium có trong thực phẩm, nước uống
hoặc do tay bị nhiễm phân của người mắc bệnh sán dây lợn trưởng thành
Tự lây nhiễm: Thường gặp ở những người nhiễm sán dây lợn trưởng thành Khi đốt sán rụng ra, vì một lý do nào đó nó không bị đào thải ra môi
Trang 11trường mà lại bị đẩy ngược từ ruột lên dạ dày, dưới tác dụng của dịch vị, trứng sán thoát ra khỏi đốt sán rồi phát triển thành ấu trùng.
1.2.2) Tinh hình dich tễ của bênh ATSL: [7,17,18,23,31]
Bệnh ATSL là một bệnh phổ biến ở nhiều nước trên thế giới tuy nhiên bệnh thường lưu hành ở một số vùng nhất định Bệnh thường gặp ở những nước đang phát triển, đặc biệt là ở Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ La Tinh là những nơi còn nhiều nước nghèo nàn lạc hậu, điều kiện vệ sinh thấp kém và thói quen ăn uống những thức ăn không được nấu chín Một số nước có tỉ lệ nhiễm bệnh ATSL cao trên thế giới như: Benin là 1,54%, Tôgô là 1,3-2,7% Bệnh hiếm gặp ở Anh, Mỹ, Nhật Một số công trình nghiên cứu cho thấy những
BN mắc bệnh ATSL ở Mỹ chủ yếu là những người di cư từ nước khác đến
Ở Việt Nam, bệnh ATSL phổ biến là do nhiều nguyên nhân, như điều kiện
vệ sinh thấp kém, thói quen ăn thức ăn chưa nấu chín, chăn nuôi gia súc thả rông Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh ATSL của Bộ Y Te ban hành-năm 2004 [23] thì bệnh ATSL phân bố rải rác ở ít nhất 49 tỉnh trong cả nước, tỷ lệ nhiễm khoảng 5-7%
1.3) Các biểu hiện lâm sàng của bệnh ATSL:
ATSL có thể cư trú ở bất kỳ bộ phận nào trong cơ thể nhưng thường hay ký sinh ở da, cơ, mắt và thần kinh trung ương Tuỳ theo sổ lượng ký sinh trùng
và vị trí ký sinh mà nó gây ra những biếu hiện lâm sàng khác nhau
1.3.1) Bênh ATSL ở da và cơ: [7,8,12,17,23,27]
Biểu hiện lâm sàng của bệnh thường là xuất hiện trên da những nang sán dưới dạng các u nhỏ có đường kính khoảng 1-1,5 cm, các u này rất chắc, cứng
và rất linh động khi ấn vào thì u sẽ di chuyển sang vị trí xung quanh ngón tay, khi ấn thì không cảm thấy đau
Khi mắc bệnh ATSL ở da và cơ thì trên lâm sàng chỉ thấy có những nang sán này mà không có biểu hiện nào kèm theo Các nang sán dưới da này không ảnh hưởng nhiều đến các sinh hoạt của BN
6
Trang 12Hình 5: Hình ảnh nang sán dưới da1.3.2) Bênh ATSL ở hê thần kinh trung ương: [7,8,12,17,23,27]
Nhiều trường hợp bệnh không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng, BN có thể phát hiện ra ATSL do vô tình đi chụp CT scanner hoặc MRI do các nguyên nhân khác
Các trường hợp có triệu chứng lâm sàng thì các biểu hiện thường gặp là:
- Co giật kiểu động kinh: là do các nang sán ở trên não kích thích gây các
cơn động kinh
- Tăng áp lực nội sọ: thường biểu hiện là nhức đầu, buồn nôn, nôn, thị lực giảm, suy giảm trí nhớ các biểu hiện này là do nang sán làm tắc nghẽn
dịch não tuỷ trong hệ thống não thất gây ra
Kén sán trên não phát triển theo 4 giai đoạn:
- Giai đoạn nang: là giai đoạn đầu tiên khi ấu trùng sán định vị trong não
Nang được bao bọc bởi một màng mỏng, bên trong chứa đầy dịch không màu trong suốt Trong túi dịch có chứa đầu sán nằm lệch sang một bên Tổ chức não xung quang nang có phản ứng viêm gây xung huyết và phù nề nhẹ
- Giai đoạn nang keo: Nang sán bắt đầu thoái hoá, ấu trùng đã chết, nang
sán co nhỏ lại, vỏ nang dày hơn do các mô sợi liên kết tăng sinh Dịch trong nang sán trở nên đục Ấu trung sán lợn khi chết giải phóng ra các sản phẩm chuyển hoá, dịch trong nang thấm qua vỏ nang mang nhiều protein lạ với tổ chức não, ở giai đoạn này phản ứng viêm của não xảy ra mạnh hơn, hàng rào máu não bị phá vỡ gây hiện tượng xung huyết, phù nề rộng hơn quanh nang
Trang 13- Giai đoạn nốt hạt: Nang co nhỏ lại từ 2-4mm, vỏ nang dày hơn, đầu sán vôi hóa toàn bộ, hiện tượng phù nề tổ chức quanh não giảm nhiều.
- Giai đoạn vôi hóa: Nang sán được vôi hóa toàn bộ, nốt sán vôi hóa có kích thước l-3mm Ở giai đoạn này thì không còn hiện tượng phù nề và xung huyết xung quanh nang sán Các nốt vôi hoá ngày càng nhỏ dần và tiêu biến.Trong 4 giai đoạn phát triển của nang sán thì giai đoạn nang và nang keo là thời kỳ hoạt động của nang sán (gọi chung là giai đoạn hoạt động), các biểu hiện lâm sàng thần kinh rõ rệt Giai đoạn nốt hạt và nốt vôi là giai đoạn không hoạt động của nang sán (gọi chung là giai đoạn vôi hóa)
Hình 6: Hình ảnh tổn thương trên não do ATSL gây ra1.3.3) Bênh ATSL ở mắt: [12,23,27]
ATSL có thể cư trú ở bất kỳ vị trí nào trong hốc mắt, kết mạc, thuỷ tinh dịch hay vống mạc Các triệu chứng lâm sàng thường gặp là: chói mắt, đau quanh
ổ mắt, nhìn mờ, thị lực giảm nhanh chóng Khi soi đáy mắt thì thấy ATSL
di chuyển ứong thuỷ tinh dịch
Hình 7: ATSL ở mắt Ngoài ra ATSL cũng có thể cư trú ở các phủ tạng khác như tim, phổi, thận nhưng rất hiếm gặp và không có triệu chứng lâm sàng đặc hiệu
8
Trang 141.4) Các xét nghiệm cận lâm sàng để chẩn đoán bệnh ATSL: [5,23]
1.4.1) Sinh thiết nang sán dưới da:
Trước đây phương pháp này được sử dụng đế chấn đoán cả những trường hợp mắc ATSL ở não nhưng hiện nay với kỹ thuật chụp CT scanner và chụp cộng hưởng từ hạt nhân MRI thì sinh thiết không còn được sử dụng để chẩn đoán ATSL trên não nữa mà chỉ được sử dụng để chẩn đoán bệnh ATSL ỏ' dưới da và cơ
Sinh thiết nang dưới da cho kết quả dương tính là một nang hình bầu dục, màu trắng bóng, chứa dịch bên trong có đường kính từ 0,5-1,5 cm, dưới kính hiển vi có thể thấy đầu sán có 4 hấp khẩu và vòng móc
1.4.2) Chup X quang:
Đây là kỹ thuật chẩn đoán tỏ ra rất hiệu quả trong các trường hợp BN nghi
bị nhiễm ATSL trên não
- Chụp X quang thường: chủ yếu phát hiện các nang sán đã calci hoá
- Chụp CT scanner: kỹ thuật này được áp dụng từ đầu thập kỷ 70 của thế
kỷ XX, hiện nay nó vẫn đang chứng tỏ được vai trò trong chẩn đoán và đánh giá kết quả điều trị bệnh ATSL ở thần kinh trung ương Qua phim chụp ta có thể phát hiện được vị trí và các giai đoạn phát triển của nang sán trên não
- Chụp cộng hưởng từ hạt nhân MRI: đây là phương pháp chẩn đoán mới được áp dụng khoảng hơn 10 năm gần đây kỳ thuật này tỏ ra hiếu quả hơn
CT scanner trong việc chẩn đoán các nang sán đang trong thời kỳ hoạt động nhưng lại khó phát hiện các tổn thương đã vôi hoá Hiện nay việc chẩn đoán ATSL trên não tại viện SRKSTCTTW thường được kết hợp cả chụp CT scanner và chụp MRL
1.4.3) Chẩn đoán bằng phản ứng miễn dich men (ELISA):
Chẩn đoán bằng phản ứng miễn dịch là một cách gián tiếp xác định sự có
mặt của T.solium trong cơ thể BN Có nhiều phương pháp được áp dụng như
phản ứng ngưng kết hồng cầu, phản ứng miễn dịch phóng xạ, miễn dịch huỳnh quang Tuy nhiên các phương pháp này có độ đặc hiệu không cao do
Trang 15có thể có phản ứng chéo với các ký sinh trùng khác do đó nó trở nên khó khăn khi BN mắc nhiều ký sinh trùng khác nhau cùng lúc.
Ngoài ra còn có một số xét nghiệm hỗ trợ khác giúp định hướng cho việc chẩn đoán như: xét nghiệm công thức máu, xét nghiệm phân tìm trứng sán dây bên cạnh đó thì cũng cần phải chú ý đến tiền sử đi ngoài ra đốt sán
1.5) Điều trị bệnh ATSL: [5,12,23,27]
Mặc dù bệnh ATSL đã được biết đến từ rất lâu nhưng cho đến gần đây bệnh mới được điều trị một cách hiệu quả Việc điều trị bệnh có thể bằng phương pháp phẫu thuật hoặc điều trị nội khoa Trong đề tài này chúng tôi chỉ đề cập đến điều trị nội khoa Các thuốc có thể sử dụng trong điều trị nội khoa là DEC-delagyl, Praziquantel, Albendazole Hiện nay hầu hết các cơ sở y tế chỉ còn sử dụng Praziquantel và Albendazole để điều trị bệnh ATSL do đó trong nghiên cứu này chúng tôi cũng chỉ đề cập đến hai loại thuốc này
1.5.1) Praziquantel: [2,3,5,9,22]
- Công thức hoá học: C19H24N2O2
- Công thức cấu tạo:
Tên khoa học: [2,l-l]isoquinolin-4-on
2-cyclohexylcarbonyl-l,2,3,6,7,llb-hexahydro-4H-pyrazino Tính chất lý hoá:
Thuốc có dạng bột kết tinh màu trắng, vị đắng, nóng chảy ở 136-140°c
Thuốc ít tan trong nước, tan tốt trong ethanol, cloroíòrm và các dung môi hữu
cơ khác
n
o
10
Trang 16- Dược động học:
Thuốc ít tan trong nước, hấp thu tốt ở đường tiêu hoá và có sinh khả dụng cao (>80%) Mức độ hấp thu của thuốc phụ thuộc vào liều dùng, thức ăn làm tăng sinh khả dụng của thuốc Sau khi uống từ 1-3 giờ thì thuốc sẽ đạt nồng
độ đỉnh trong huyết tương từ 0,2-2 microgam/ml Thuốc có khả năng thấm qua được màng não và đạt nồng độ trong dịch não tuỷ bằng khoảng 25% so với nồng độ trong huyết tương
Thuốc bị chuyển hoá rất mạnh chủ yếu là ở gan cho sản phẩm chuyển hoá dạng mono và polyhydroxy hoá Các sản phẩm chuyển hoá này có được một vài tác dụng dược lý nhất định Thời gian bán thải của thuốc là 1-1,5 giờ, thuốc thải trừ chủ yếu qua đường nước tiểu dưới dạng đã bị chuyển hoá, chỉ
có khoảng 1 % dưới dạng ban đầu
Cơ chế tác dụng: Thuốc làm tăng tính thấm của màng nguyên sinh chất của
ký sinh trùng với ion calci do đó làm ký sinh trùng mất ion calci nội bào dẫn đến làm co cứng và liệt hệ thống cơ của ký sinh trùng Trên sán trưởng thành thuốc tác dụng lên vỏ của phần cổ sán Thuốc tạo các không bào trên da sán rồi vỡ ra làm con sán chết Trên ấu trùng sán, Praziquantel xâm nhập qua vỏ nang để làm liệt ấu trùng trong nang sán
- Liều lượng:
Trước năm 1985, để điều trị bệnh ATSL thì đa số các tác giả đều sử dụng liều lượng là 50mg/kg/ngày và sử dụng trong 15 ngày tuy nhiên với liều điều trị này thì có những nghiên cứu cho thấy rằng BN gặp phải nhiều tác dụng không mong muốn, các phản ứng viêm xảy ra rất dừ dội, thậm chí có trường
Trang 17hợp tử vong [28,31,35] Hiện nay tại hầu hết các cơ sơ điều trị bệnh ATSL đều sử dụng phác đồ 30mg/kg/ngày và sử dụng trong 14 ngày X 3 đợt, sau mỗi đợt điều trị thì ngừng sử dụng thuốc 1 tháng.
- Tác dụng không mong muốn:
Nhìn chung thuốc tương đối an toàn ít tác dụng không mong muốn Đôi khi
BN cảm thấy đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, nổi mề đay Thuốc có thể làm tăng SGOT, SGPT nhưng không ảnh hưởng đến chức năng gan của người bệnh Các tác dụng không mong muốn chủ yếu do độc tố của sán tiết ra khi chết, để giảm các tác dụng không mong muốn của thuốc có thể sử dụng phối hợp với các corticoid như Dexamethason hoặc Prednisolon
- Chống chỉ định:
Thuốc không dùng cho trẻ em dưới 4 tuổi, phụ nữ có thai và cho con bú Không dùng thuốc cho những người mẫn cảm với các thành phần của thuốc.1.5.2) Albendazole: [2,3,5,9,22]
- Công thức hoá học: C12H15N3O2S •
- Công thức cấu tạo:
Tên khoa học: Methyl[5-(propylthio)-lH-benzimidazol-2-yl]carbamat
Trang 18huyết tương và chất chuyển hoá của albendazole dưới dạng sulphoxide dao động trong khoảng 0,04 - 0,55 microgam/ml Sở dĩ có sự dao động lớn về nồng độ albendazole trong huyết tương đó là do sự khác nhau trong quá trình hấp thu và chuyển hoá giữa các cá thể Những thức ăn có hàm lượng chất béo cao làm tăng nồng độ thuốc trong huyết tương Albendazole sulphoxide liên kết với protein huyết tương khoảng 70%, nồng độ của albendazole sulphoxide trong nang sán đạt khoảng 20% so với nồng độ trong huyết tương Thuốc có thể qua được màng não và đạt nồng độ trong dịch não tuỷ bằng khoảng 1/3 nồng độ trong huyết tương.
Trong cơ thể sau khi albendazole được oxy hoá thành chất có hoạt tính là albendazole sulphoxide và gây ra tác dụng dược lý thì nó sẽ tiếp tục bị oxy hoá thành chất không có hoạt tính là albendazole sulphone Thuốc có thời gian bán thải từ 8-9 giờ, được thải trừ chủ yếu qua nước tiểu, một phần nhỏ qua phân
- Tác dụng dược lý:
Albendazole là một thuốc có tác dụng tốt trên các loại giun, có hoạt phổ chống giun rộng Đến năm 1987 thì thuốc được sử dụng phổ biến để điều trị bệnh ATSL Thuốc có tác dụng tốt trên các nang sán cả dưới da, nội tạng và trên não, tuy nhiên thuốc ít có tác dụng trên sán trưởng thành
Cơ chế tác dụng: Thuốc ức chế tổng hợp các vi cấu trúc hình ống nên ức chế sự sinh sản của ký sinh trùng Thuốc còn ức chế quá trình sử dụng glucose của ký sinh trùng ở cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành do đó làm giảm dự trữ glycogen và giảm tạo thành ATP dẫn đến làm tê liệt và chết ký sinh trùng
- Liều lượng:
Đẻ điều trị ATSL thì nhiều tác giả đã sử dụng với liều lượng 15mg/kg/ngày
và sử dụng trong 30 ngày Hiện nay tại viện SRKSTCTTW đang sử dụng phác đồ 20mg/kg/ngày và sử dụng trong 20 ngày X 3 đợt Sau mồi đợt điều trị thì dừng thuốc một tháng
Trang 19- Tác dụng không mong muốn:
Nhìn chung Albendazole là một thuốc tương đối an toàn, ít tác dụng không mong muốn Tuy nhiên thuốc có thể gây ra một số biểu hiện như đau đầu, buồn nôn, nôn, ỉa chảy, đau thượng vị Các tác dụng không mong muốn của thuốc chủ yếu là do độc tố của sán giải phóng ra khi chết Ngoài ra albendazole làm tăng SGOT và SGPT tuy nhiên không ảnh hưởng đến chức năng sống của BN
- Năm 1979 Bostero và Castano đã sử dụng Praziquantel để điều trị bệnh ATSL ở Colombia và đã xác nhận sự mất đi của ATSL trên não thông qua phim chụp CT scanner
- Năm 1983 Lawrece điều trị cho BN ATSL bang Praziquantel trong 14 ngày kết hợp với Dexamethason Trong quá trình điều trị BN có đau đầu và sốt, tuy nhiên theo dõi sau 4 tháng điều trị các tổn thương đã biến mất
- Năm 1987 Escobedo F, Renagos p, Sotelo J, và cộng sự điều trị bằng Albendazole cho 7 BN bị nang sán trên não với liều lượng 15mg/kg/ngày và rút ra kết luận có thể dùng Albendazole để điều trị ATSL trong nhu mô não có hiệu lực cao
- Năm 1990 Marelo Cruz đã so sánh tác dụng điều trị của Praziquantel và Albendazole trên 100 BN nhiễm ATSL Ông đã nhận xét rằng cả hai loại
14
Trang 20thuốc đều có tác dụng với ATSL ở liều điều trị tuy nhiên Albendazole có phản ứng toàn thân nhẹ nhàng và tốt hơn.
- Cũng trong năm 1990 Jung đã nghiên cứu nồng độ của Albendazole và Praziquantel trong dịch não tuỷ thì thấy rằng Albendazole có nồng độ trong dịch não tủy cao hơn Praziquantel
- Năm 1994, tại hội nghị quốc tế lần II về các bệnh thần kinh nhiệt đới tổ chức tại Pháp, Horton J, Chritodonlons H đã công bố nghiên cứu về hiệu quả điều trị cho 1186 BN bị kén sán não bang Prziquantel hoặc Albendazole Theo nghiên cứu này thì cả 2 loại thuốc trên đều có hiệu quả tốt để điều trị bệnh kén sán não Tuy nhiên dùng Albendazole có nhiều lợi ích hơn
Tại Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu trong điều trị bệnh ATSL
- Năm 1980 Kiều Tùng Lâm (viện SRKSTCTTW) dùng DEC điều trị cho BN đã làm vôi hoá các nang sán dưới da và cơ nhưng không làm thay đổi nang sán ở não
- Năm 1985 Phạm Hoàng Thế đã điều trị bằng Praziquantel cho 8 BN và thấy rằng thuốc có tác dụng diệt ATSL trong da, cơ, nội tạng và đặc biệt là ở não Tuy nhiên muốn lành bệnh cần dùng thuốc 2 đến 3 đợt cách nhau 1 tháng
- Năm 1988 Kiều Tùng Lâm và cộng sự điều trị bệnh ATSL bằng Praziquantel với liều lượng 25mg/kg/ngày trong 10 ngày Điều trị 2 đợt cách nhau 10 ngày cho 6 BN Kết quả cho thấy nang sán dưới da xẹp đi và số cơn động kinh của BN giảm đi
- Năm 1989 Đặng Bá Quí (trường đại học Y Hà Nội) nghiên cứu đánh giá tác dụng của Praziquantel đã kết luận thuốc có khả năng điều trị khỏi hoàn toàn bệnh ATSL ở người
- Năm 1994 Hoàng Đức Kiệt và Kiều Tùng Lâm theo dõi các BN điều trị bệnh ATSL bằng Praziquantel và Albendazole trên phim chụp CT scanner thì thấy các nang sán trên da tiêu biến 99% ở những BN dùng Albendazole và 96% ở người dùng Praziquantel
Trang 21- Năm 1995 Ngô Đăng Thục điều trị cho 65 BN bị ATSL bằng Praziquantel và Albendazole đã nhận xét Praziquantel có tác dụng tốt hơn Albendazole.
- Năm 1996 Đoàn Thị Hạnh Nguyên điều trị cho 111 BN thì nhận thấy rằng cả Albendazole và Praziquantel đều có hiệu lực điều trị ATSL như nhauQua các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước chúng tôi thấy rằng
cả Praziquantel và Albendazole đều có tác dụng diệt ATSL trên da, cơ, nội tạng và não tốt Tuy nhiên kết quả điều trị của các nghiên cứu còn có những điểm khác nhau do liều dùng và thời gian điều trị khác nhau và cũng còn phụ
thuộc vào đáp ứng của BN với từng loại thuốc cũng như các chủng T.solium
khác nhau Chính vì vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần điều trị bệnh ATSL đạt hiệu quả cao hơn
16
Trang 22PHẦN II ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ử u2.1) Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu cắt ngang
2.2) Địa điểm thực hiện nghiên cứu:
Đe tài này của chúng tôi được thực hiện tại khoa khám bệnh chuyên ngành- Viện SRKSTCTTW từ 01/2004 đến 12/2006
2.3) Đối tượng nghiên cứu:
- Các BN được chẩn đoán và điều trị bệnh ATSL tại khoa khám bệnh chuyên ngành Viện SRKSTCTTW từ 01/2004 đến 12/2006
- Các tiêu chuẩn lựa chọn BN:
+ BN bị nhiễm ATSL dưới da và/hoặc trên hệ thần kinh trung ương + BN không có các chống chỉ định với thuốc
+ BN không có các bệnh lý khác kèm theo
- Số lượng BN nghiên cứu:
Cỡ mẫu trong nghiên cứu được tính theo công thức:
Do đó:
Nhóm điều trị bằng Praziquantel có 91 BN
Nhóm điều trị bằng Albendazol có 251 BN
Trang 232.4) Phương pháp nghiên cứu: [5,12,21,23,30] /
Đối với những BN đến khám bệnh tại khoa hoăp^ấược chuyển đến từ các bệnh viện hay trung tâm y tế khác đều được chủng tôi tiến hành chẩn đoán và điều trị theo trình tự sau:
2.3.1) Thăm khám lâm sảng:
- Khám các nang ATSL dưới da và các lớp cơ nông bằng cách sờ trực tiếp vào nang
- Hỏi kỹ các triệu chứng lâm sàng của BN trước khi đến khám như: tiền
sử đi ngoài ra đốt sán, thời gian xuất hiện nang sán dưới da và các triệu chứng
cơ năng như động kinh, co giật, nhức đầu, suy giảm trí nhớ
- Hỏi BN tập quán chăn nuôi, ăn uống, sinh hoạt ở nơi cư trú, công tác 2.3.2) Các xét nghiêm cân lâm sàng:
Đối với những BN sau khi được thăm khám thấy có đầy đủ các triệu chứng lâm sàng để nghĩ đến việc BN bị nhiễm ATSL thì chúng tôi tiến hành các xét nghiệm cận lâm sàng đế có thế chấn đoán chính xác và xác định được mức độ tiến triển của bệnh trên BN đó Các xét nghiệm thường được áp dụng là:
- Sinh thiết nang dưới da
- Xét nghiệm phân bằng phương pháp ly tâm lắng cặn formalin-ether tìm
trứng của sán dây lợn (T.solium)
- Xét nghiệm công thức máu
- Chụp CT scanner hoặc MRI để đánh giá tổn thương trên não của BN doATSL gây ra Đây là một xét nghiệm có ý nghĩa rất quan trọng để xác định tổn thương trên não BN do ATSL gây ra
- Ngoài ra để hỗ trợ cho việc sử dụng thuốc và đánh giá tác dụng khôngmong muốn của thuốc trong quá trình điều trị chúng tôi tiến hành làm xétnghiệm men gan SGOT và SGPT
2.3.3) Điều tri:
Với những BN đã được chẩn đoán nhiễm ATSL thì chúng tôi sử dụng một mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất, trong đó ghi đầy đủ các mục về bệnh
18
Trang 24cảnh lâm sàng của BN Sau đó chúng tôi tiến hành điều trị cho BN tại khoa khám bệnh chuyên ngành viện SRKSTCTTW, trong quá trình điều trị, chúng tôi tiến hành đánh giá những biến đổi lâm sàng cụ thể.
Chúng tôi tiến hành chọn BN vào hai nhóm điều trị: 1 nhóm điều trị theo phác đồ sử dụng Albendazole với liều 20mg/kg/ngày X 20 ngày và điều trị 3 đợt, mỗi đợt cách nhau 1 tháng, 1 nhóm điều trị theo phác đồ Praziquantel với liều 30mg/kg/ngày X 14 ngày và điều trị 3 đợt, mỗi đợt cách nhau 1 tháng.2.3.4) Đánh giá kết quả điều tri: ¿r? JjxC-t Ux /ứ>' fn /'"
Trong quá trình điều trị chúng tôi tiến hành đánh giá kết quả điều trị của BN Ngoài việc so sánh các triệu chứng lâm sàng, số lượng nang sán dưới da trước
và sau điều trị, các tác dụng không mong muốn thì sau khi điều trị đủ ba đợt theo đúng phác đồ đã được lựa chọn những BN này được chụp CT scanner hoặc MRI để đánh giá hiệu quả của thuốc với các tổn thương trên não trong điều trị BN được đánh giá là khỏi khi:
- Các nang sán dưới da tiêu đi hoặc bị vôi hóa nhỏ lại
- Không còn các triệu chứng tổn thương thần kinh do nang sán trên não gây ra
- Trên phim CT scanner hoặc MRI sau điều trị không còn thấy các nang sán đang ở giai đoạn hoạt động Các nang sán này phải mất đi hoặc vôi hoá
2.5) Phương pháp xử lý số liệu: [6,19,20]
Các công thức sử dụng trong nghiên cứu bao gồm:
• Tính cỡ mẫu theo công thức:
„ zi.«/2p-q-F
• Dùng test %2 để so sánh kết quả điều trị của 2 loại thuốc