Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá ở các loài cá tại khu vực trung tâmtrình độ chuyên môn...45 Bảng 3.11.. Theo báo cáo của Viện Sốt rét- Ký sinh trùng và Côn trùng Trungương, từ năm 1976 đến n
Trang 1
TRẦN ĐĂNG CHUẤN
THùC TR¹NG NHIÔM ÊU TRïNG S¸N L¸ ë C¸ AO Hå
Vµ KIÕN THøC, THùC HµNH CñA C¸N Bé QU¶N Lý, NG¦êI D¢N
VÒ BÖNH S¸N L¸ ë 4 X· VEN BIÓN TØNH TH¸I B×NH
Chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số: 60.72.03.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Hướng dẫn khoa học: 1 TS Nguyễn Thanh Phong
2 TS Trần Thị Phương
THÁI BÌNH - 2014
Trang 2Trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn Thạc sỹchuyên ngành Y tế Công cộng tại Trường Đại học Y Dược Thái Bình tôi đãnhận được sự tận tình giúp đỡ của các thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè, cơ quan
và gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn Ban Giám Hiệu, phòng Quản lý Đào tạo sauđại học, phòng Quản lý Khoa học, khoa Y tế Công cộng và các phòng ban củatrường Đại Học Y Dược Thái Bình đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong quátrình học tập và làm luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
TS Nguyễn Thanh Phong, Phó cục Trưởng cục An toàn thực phẩm, Bộ Y Tế
TS Trần Thị Phương, Phó Giám Đốc Trung tâm đảm bảo chất lượnggiáo dục và khảo thí Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã trực tiếp chỉ bảogiúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnhThái Bình, Bộ môn ký sinh trùng Trường Đại học Y Dược Thái Bình, Bệnhviện Đa khoa huyện Tiền Hải, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã động viêntôi hoàn thành tốt khóa học
Thái Bình, ngày 10/09/2014
Tác giả luận văn
Trần Đăng Chuấn
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Số liệu,kết quả của luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác.
Tác giả luận văn
Trần Đăng Chuấn
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Lịch sử bệnh sán lá 3
1.2 Đặc điểm ký sinh trùng sán lá 6
1.3 Tình hình nhiễm sán lá các loài thủy sản và ở người 9
1.3.1 Trên thế giới 9
1.3.2 Tại Việt Nam 11
1.4 Kiến thức và thực hành ATTP của cán bộ quản lý và người dân về ăn gỏi cá 19
1.4.1 Cán bộ quản lý 19
1.4.2 Người dân 20
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 25
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 27
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 27
2.2.3 Các biến số và chỉ số sử dụng trong nghiên cứu 29
2.2.4 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 31
2.2.5 Tiêu chuẩn phân loại mức độ nhiễm sán lá 34
2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 34
2.2.7 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 35
2.2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 36
Trang 6hồ 4 xã vùng ven biển Thái Bình 373.2 Mô tả kiến thức, thực hành của cán bộ quản lý, nhân viên y tế, ngườidân nuôi, bán và sử dụng cá nước ngọt về bệnh sán lá ở 4 xã vùng venbiển tại địa điểm nghiên cứu 44
Chương 4: BÀN LUẬN 60
4.1 Xác định thực trạng ăn gỏi cá và mức độ nhiễm ấu trùng sán lá ở cá ao
hồ 4 xã vùng ven biển Thái Bình 604.2 Mô tả kiến thức, thực hành của cán bộ quản lý, nhân viên y tế, ngườidân nuôi, bán và sử dụng cá nước ngọt về bệnh sán lá ở 4 xã vùng venbiển tại địa điểm nghiên cứu 65
KẾT LUẬN 79 KHUYẾN NGHỊ 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 3.1 Lý do đối tượng ăn gỏi cá 38 Bảng 3.2 Loài cá thường dùng ăn gỏi tại 4 xã huyện Tiền Hải 39 Bảng 3.3 Số lượng các loài cá nghiên cứu theo khu vực 39 Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá ở các loài cá tại khu vực trung tâm
trình độ chuyên môn 45 Bảng 3.11 Nguồn thông tin về bệnh sán lá cán bộ quản lý và người dân
biết trên địa điểm nghiên cứu 45 Bảng 3.12 Tỷ lệ người dân biết về đường lây của sán lá theo giới 46 Bảng 3.13 Tỷ lệ người dân biết về đường lây truyền của sán lá theo
trình độ học vấn 47 Bảng 3.14 Tỷ lệ CBQL biết về đường lây truyền của sán lá theo giới 48 Bảng 3.15 Tỷ lệ CBQL biết về đường lây truyền của sán lá theo trình độ
chuyên môn 49
Trang 8Bảng 3.17 Tỷ lệ CBQL biết tác hại của nhiễm sán lá theo giới 52
Bảng 3.18 Tỷ lệ CBQL biết tác hại của nhiễm sán lá theo trình độ chuyên môn .53
Bảng 3.19 Tỷ lệ người dân biết nguồn gốc của ấu trùng sán lá theo giới .54
Bảng 3.20 Tỷ lệ người dân biết nguồn gốc của ấu trùng sán lá theo
trình độ học vấn 55
Bảng 3.21 Tỷ lệ CBQL biết nguồn gốc của ấu trùng sán lá theo giới 55
Bảng 3.22 Tỷ lệ người dân biết các bệnh lây truyền khi sử dụng phân
chưa ủ nuôi cá theo giới 57
Bảng 3.23 Tỷ lệ người dân biết các bệnh lây truyền khi sử dụng phân
chưa ủ nuôi cá theo trình độ học vấn 57
Bảng 3.24 Tỷ lệ CBQL biết các bệnh lây truyền khi sử dụng phân
chưa ủ nuôi cá theo giới 58
Bảng 3.25 Tỷ lệ CBQL biết các bệnh lây truyền khi sử dụng phân
chưa ủ nuôi cá theo trình độ chuyên môn 59
Trang 9Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ cán bộ quản lý và người dân đã từng ăn gỏi cá 37 Biểu đồ 3.2 Nhu cầu nâng cao kiến thức về phòng chống sán lá của cán
bộ quản lý và người dân 38 Biểu đồ 3.3 Mức độ nhiễm ấu trùng sán lá ở các loài cá nghiên cứu tại
huyện Tiền Hải 43 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ người dân biết tác hại của nhiễm sán lá theo giới 50
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ CBQL biết nguồn gốc của ấu trùng sán lá theo trình độ
chuyên môn 56
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Ô nhiễm thực phẩm nói chung và ô nhiễm mầm bệnh do vi sinh vậttrong thực phẩm nói riêng đang trở thành mối quan ngại trong các nước đangphát triển trong đó có nước ta
Ở VN những năm gần đây, gỏi cá sống được phổ biến khá rộng và đãtrở thành món ăn “đặc sản” Nhiều loại cá có thể làm gỏi nhưng thường cá
mè, cá trắm là loại được ưa chuộng nhất
Nước ta là một nước có trên 90% dân số làm nông nghiệp với đặc điểmkhí hậu, tính chất thổ nhưỡng đất đai, tập quán canh tác dùng phân tươi củangười, gia súc để bón ruộng và nuôi cá, ý thức vệ sinh chưa cao nên môitrường sống bị ô nhiễm nặng bởi các mầm bệnh ký sinh trùng Những lý donày làm cho bệnh giun, sán ở nước ta trở thành một vấn đề sức khỏe đángquan tâm trong cộng đồng
Nhiễm sán lá là một bệnh gắn liền với tập quán ăn gỏi cá có từ lâu đời
ở nhiều địa phương trong cả nước, đây là bệnh nguồn truyền bệnh sán lá quathức ăn Theo báo cáo của Viện Sốt rét- Ký sinh trùng và Côn trùng Trungương, từ năm 1976 đến nay có ít nhất 24 tỉnh có sán lá lưu hành, với tỷ lệnhiễm bệnh khác nhau, tại các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, tỷ lệ nhiễm trung bình
là 17.23 % Trong đó huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình là một trong những khuvực trọng điểm Tại đây tập quán ăn gỏi cá còn rất phổ biến, đặc biệt là cánước ngọt, người dân vẫn sử dụng phân người tươi để nuôi cá
Điều đáng chú ý là nếu nhiễm sán lá kéo dài sẽ ảnh hưởng đến chứcnăng gan và có thể bị xơ gan Tuy vậy kể từ khi nhiễm sán gá gan nhỏ đến khixuất hiện các triệu chứng bệnh lý là cả một thời gian dài không có triệu chứnglâm sàng, hoặc các triệu chứng không rõ ràng, kể cả khi triệu chứng tổn
Thái Bình-năm 2013
Trang 11thương gan đã rõ, nhiều người vẫn không nghĩ nguyên nhân là do sán lá gannhỏ, vì thế bệnh ít được người dân quan tâm phòng chống.
Bệnh sán lá ruột cũng mắc rải rác ở nhiều nơi trên thế giới và ViệtNam Nhưng thực ra người ta chỉ biết và quan tâm nhiều đến bệnh sán lá ruộtlớn ký sinh ở người và ở lợn, còn bệnh sán lá ruột nhỏ lây qua cá nước ngọt
do săn cá chưa nấu chín, hoặc ăn gỏi cá vẫn chưa được nhiều người biết đến
kể cả tác hại của nó Việc xác định thực trạng nhiễm sán lá trên cá ăn gỏi, yếu
tố dịch tế, cũng như kiến thức của mỗi người dân đối với bệnh này là hết sứccần thiết, nhằm xây dựng các hoạt động phòng chống nhiễm sán lá tại địaphương đạt hiệu quả cao
Song song với tập quán ăn gỏi cá thì tỷ lệ nhiễm sán lá ngày càng tăngcao gây ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe cộng đồng Theo WHO, khoảng 3triệu người nhiễm sán lá gan nhỏ chủ yếu phân bố ở Thái Lan, Lào,
Campuchia, miền Trung Việt Nam Khoảng 1 triệu người nhiễm sán lá, chủ
yếu phân bố ở Nam, Trung và Đông Âu
Huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình là huyện sát biển, người dân có thóiquen ăn gỏi cá rất nhiều Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng nhiễm ấu trùng sán lá ở cá ao hồ và kiến thức, thực hành của cán bộ quản lý, người dân về bệnh sán lá ở 4 xã ven biển tỉnh Thái
Bình” với mục tiêu:
1 Xác định thực trạng ăn gỏi cá và mức độ nhiễm ấu trùng sán lá ở cá ao
hồ 4 xã vùng ven biển Thái Bình.
2 Mô tả kiến thức, thực hành của cán bộ quản lý, nhân viên y tế, người
dân nuôi, bán và sử dụng cá nước ngọt về bệnh sán lá ở 4 xã vùng ven biển tại địa điểm nghiên cứu.
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Lịch sử bệnh sán lá
Bệnh sán lá đã được biết đến khá lâu, ít nhất hàng ngàn năm trước
Clonorchis Sinensis tồn tại ở Trung Quốc cách đây hơn 100 năm (1874),
lần đầu tiên tìm thấy SLGN trong tử thi người Hoa ở Calcuta Ấn Độ đượcCobbold đặt tên là Distoma Sinense Năm 1907 Loss và Kobayashi dựa vào
hình thái học của loài sán này thống nhất lấy tên là Clorochis Sinensis.
Trong tiếng La Tinh Clonos có nghĩa là phân nhánh, còn Orchis có nghĩa làtinh hoàn, Sinesis có nghĩa là Trung Quốc, tên gọi của nó đã nói lên nguồngốc phát hiện và đặc điểm riêng về hình thái của loài sán này Sau đó một
số loài sán lá khác lần lượt được phát hiện ở Liên Xô cũ, Triều Tiên, Nhật
Bản và các nước Đông Nam Á: Opisthorchis Viverrini, Opisthorchis Felineus Năm 1910 Kobayashi đã xác định được vật chủ trung gian thứ hai
của C Sinensis là họ cá chép Cyprinidae và Muto xác định vật chủ trung
gian thứ nhất là ốc nước ngọt, đã làm sáng tỏ vòng đời của C.Sinensis.
Năm 1927 Faust và Khaw đã nghiên cứu sinh thái và dịch tế học, bệnh học,chẩn đoán, điều trị sán lá [29],[39],[50]
Ở Việt Nam, ca sán đầu tiên được phát hiện ở miền Bắc Việt Nam bởi
Grall Năm 1909 (Mathis và Le’ger) đã tìm thấy C.Sinensis trên một công dân Pháp ở Việt Nam Năm 1924 Railist phát hiện được O Felineus ở Hà Nội,
Năm 1965 Đặng Văn Ngữ và Đỗ Dương Thái phát hiện một số trường hợp
nhiễm C Sinensis phối hợp với O.Felineus Năm 1976 Viện sốt rét KST&CT
Trang 13Trung ương đã phát hiện một số ca bệnh SLGN đến từ Nam Định, Ninh Bình,các địa phương điều tra tình hình nhiễm SLGN tại huyện Nghĩa Hưng, NamĐịnh, tỷ lệ nhiễm 37.2% [30],[36].
Tại An Mỹ, Phú Yên tỷ lệ nhiễm là 36.9% (Nguyễn Văn Chương vàcộng sự năm 2005), có nơi bệnh nhân phân bố trên toàn tỉnh như Hòa Bình(Nguyễn Văn Đề và cộng sự 1996, 1998, 2002, 2003, 2004), đến năm 2011 tỷ
lệ nhiễm trung bình tại một số khu vực 12 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ là 19.2%(Kiều Tùng Lâm và cộng sự, 1992) [4],[3],[13]
Sán lá gan nhỏ là bệnh do một loại sán có tên là Clonorchis Sinensis(thường thấy ở các tỉnh phía Bắc) hoặc Opisthorkis Viverrini (thường thấy ởcác tỉnh miền Trung) kí sinh ở ống mật gây nên Bệnh được phát hiện lần đầutiên ở người Trung Quốc nên còn được gọi là sán lá gan Trung Quốc hay sán
lá gan Viễn Đông Ngày nay ngoài Trung Quốc, các nước khác trong khu vựcnhư Thái Lan, Lào, Nhật Bản, Hàn Quốc là những nước có tỷ lệ bệnh nhânmắc bệnh sán lá gan cao Gọi là sán lá gan nhỏ bởi sán trưởng thành chỉ dài10-20 mm và rộng 2-4 mm, kích thước này nhỏ hơn nhiều so với kích thướccủa loài sán lá gan lớn Sán lá gan nhỏ ký sinh ở gan gây ra những tổn thươngnghiêm trọng, thường xuyên gây kích thích với gan, chiếm thức ăn và gây độc[13],[64],[66]
Sán lá là loại ký sinh trùng có chu kỳ phức tạp bao gồm cả người và vậtchủ trung gian (như ốc, cá ) Cách tốt nhất để ngăn chặn sự lan truyền bệnh
là phá vỡ ít nhất một khâu trong vòng đời của sán.Trứng sán lá có trongđường mật sau đó được bài xuất ra ngoài theo phân Ở bên ngoài, trứng cầnphải có môi trường nước để tiếp tục phát triển và hình thành ấu trùnglông Ấu trùng lông di chuyển tự do trong nước, tìm đến vật chủ trung gian
Trang 14thứ nhất để cư trú là các loài ốc Trong ốc, ấu trùng lông phát triển thànhnhững ấu trùng đuôi Sau đó ấu trùng đuôi rời ốc và tìm đến các loài cá nướcngọt (vật chủ trung gian thứ hai) để cư trú Tại đây ấu trùng đuôi phát triểnthành các nang ấu trùng nằm trong các thớ thịt của cá, đây là giai đoạn nhiễmbệnh Nếu ăn cá sống (gỏi cá), hoặc cá nấu chưa chín, ấu trùng sẽ theo thức ănvào đường ruột sau đó xâm nhập vào ống mật, trở thành sán lá trưởng thành
và gây bệnh Thời gian từ lúc ấu trùng xâm nhập cơ thể đến khi xuất hiện sántrưởng thành có khả năng gây bệnh khoảng từ 3-4 tuần
Đặc điểm tổn thương và các biểu hiện của bệnh
Do sán thường bám chặt vào ống mật, dùng mồm để hút thức ăn nênlâu dần gan sẽ bị xơ hóa lan toả và thoái hoá mỡ Độc tố do sán tiết ra có thểgây nên các tình trạng dị ứng, đôi khi có thể gây thiếu máu Biểu hiện lâmsàng của bệnh sán lá phụ thuộc nhiều vào cường độ nhiễm và phản ứng củavật chủ Trong trường hợp nhiễm ít có khi không có triệu chứng gì đặc biệt.Giai đoạn khởi phát người bệnh bị mắc bệnh sán lá thường bắt đầu với cácbiểu hiện của rối loạn dạ dày ruột như chán ăn, ăn không tiêu, đau âm ỉ vùnggan, tiêu chảy hoặc táo bón thất thường Kèm theo có thể thấy toàn thân phátban, nổi mẩn Giai đoạn sau người bệnh thường đau vùng gan nhiều hơn,kèm theo thiếu máu, vàng da và cổ trướng có thể xuất hiện ở giai đoạnmuộn Nếu có bội nhiễm do vi khuẩn, bệnh nhân có thể sốt thành từng cơnhoặc sốt kéo dài Xét nghiệm phân tìm trứng sán là biện pháp đơn giảnnhưng có tính chất khẳng định việc mắc bệnh, trường hợp nhiễm ít cần phảixét nghiệm dịch tá tràng Trong trường hợp không tìm thấy trứng sán, cácxét nghiệm miễn dịch cùng với hình ảnh siêu âm có giá trị chẩn đoán Cácxét nghiệm đánh giá chức năng gan có giá trị trong việc đánh giá thương tổn
và tiên lượng bệnh [17],[36],[39],[50]
Trang 151.2 Đặc điểm ký sinh trùng sán lá
Sán lá là bệnh do một loại sán có tên là Clonorchis Sinensis (thườngthấy ở các tỉnh phía Bắc) hoặc Opisthorkis Viverrini (thường thấy ở các tỉnhmiền Trung) kí sinh ở ống mật gây nên Bệnh được phát hiện lần đầu tiên ởngười Trung Quốc nên còn được gọi là sán lá Trung Quốc hay sán lá ViễnĐông Ngày nay ngoài Trung Quốc, các nước khác trong khu vực như TháiLan, Lào, Nhật Bản, Hàn Quốc là những nước có tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnhsán lá cao [64],[66]
Người bệnh nhiễm sán là ăn phải cá sống, cá chưa nấu chín có chứa ấutrùng nang (Metacecariae) Tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng phụ thuộc rấtnhiều vào thói quen cũng như tập quan gỏi cá và các món ăn liên quan đến
cá chưa được nấu chín Ở các tỉnh phía Bắc, tập quán ăn gỏi cá bằng cáchthái nhỏ thịt cá còn sống, trộn thính và các gia vị nhắm rượu cùng với nhiềuloại lá thơm Ở miền Nam Trung Bộ (Phú Yên), tập quán ăn gỏi cá sinh cầm,nghĩa là ăn cả con cá còn đang sống đang bơi trong chậu, dùng vó vớt từngcơn, gói với nhiều loại lá thơm, nhắm với rượu Vào mùa hè nhiều nơi quanniệm ăn gỏi mát và bổ
Trước khi vào ký sinh và gây bệnh cho con người, sán lá qua hai vậtchủ trung gian đó là ốc và cá nước ngọt
Vật chủ trung gian thứ nhất (First Intermediate Host) là ốc, còn gọi là vật chủ phụ, có hai loại ốc là P.Striatulus và M.Tuberculatus.
Vật chủ trung gian thứ hai là cá nước ngọt (Second Intermediate Host)
còn gọi là vật chủ chính Trong 10 loài cá nuôi ở ao có tới 07 loài mang ấutrùng là cá mè, cá rô, cá chép, cá trắm, cá diếc, cá rô phi, cá trôi, trong đó cá
Trang 16mè chiếm cao nhất, 44.4- 92.9%, tiếp đến là cá trắm 30 - 57.3% (Nguyễn Văn
Đề và cộng sự, 2005) [8],[10]
Cường độ nhiễm ấu trùng cũng cao, 603 ấu trùng/1 cá Cho đến naychưa phát hiện thấy ấu trùng sán lá trên cá nước lợ và cá biển Đặc biệt số loàiđộng vật như chó, mèo cũng bị nhiễm sán lá do ăn phải cá sống, tỷ lệ chiếmSLGN trên mèo là 43.8-64.2%, trên chó là 2-28.6% (Nguyễn Văn Đề và cộng
sự, 2014) Đây là nguồn bệnh dự trữ rất khó quản lý trong công tác phòngchống SLGN [5]
Vòng đời và đặc điểm lây nhiễm của bệnh sán lá
Sán lá là loại ký sinh trùng có chu kỳ phức tạp bao gồm cả người và vậtchủ trung gian (như ốc, cá ) Cách tốt nhất để ngăn chặn sự lan truyền bệnh
là phá vỡ ít nhất một khâu trong vòng đời của sán
Trứng sán lá có trong đường mật sau đó được bài xuất ra ngoài theophân Ở bên ngoài, trứng cần phải có môi trường nước để tiếp tục phát triển
và hình thành ấu trùng lông Ấu trùng lông di chuyển tự do trong nước, tìmđến vật chủ trung gian thứ nhất để cư trú là các loài ốc Trong ốc, ấu trùnglông phát triển thành những ấu trùng đuôi Sau đó ấu trùng đuôi rời ốc và tìmđến các loài cá nước ngọt (vật chủ trung gian thứ hai) để cư trú Tại đây ấutrùng đuôi phát triển thành các nang ấu trùng nằm trong các thớ thịt của cá,đây là giai đoạn nhiễm bệnh Nếu ăn cá sống (gỏi cá), hoặc cá nấu chưa chín,
ấu trùng sẽ theo thức ăn vào đường ruột sau đó xâm nhập vào ống mật, trởthành sán lá trưởng thành và gây bệnh Thời gian từ lúc ấu trùng xâm nhập cơthể đến khi xuất hiện sán trưởng thành có khả năng gây bệnh khoảng từ 3-4tuần [5],[36],[52]
Trang 17Đặc điểm tổn thương và các biểu hiện của bệnh
Do sán lá thường bám chặt vào ống mật, dùng mồm để hút thức ăn nênlâu dần gan sẽ bị xơ hóa lan tỏa và thoái hóa mỡ Độc tố do sán tiết ra có thểgây nên các tình trạng dị ứng, đôi khi có thể gây thiếu máu
Biểu hiện lâm sàng của bệnh sán lá phụ thuộc nhiều vào cường độnhiễm và phản ứng của vật chủ Trong trường hợp nhiễm ít có khi không cótriệu chứng gì đặc biệt Giai đoạn khởi phát người bệnh bị mắc bệnh sán láthường bắt đầu với các biểu hiện của rối loạn dạ dày ruột như chán ăn, ănkhông tiêu, đau âm ỉ vùng gan, tiêu chảy hoặc táo bón thất thường Kèm theo
có thể thấy toàn thân phát ban, nổi mẩn Giai đoạn sau người bệnh thường đauvùng gan nhiều hơn, kèm theo thiếu máu, vàng da và cổ trướng có thể xuấthiện ở giai đoạn muộn Nếu có bội nhiễm do vi khuẩn, bệnh nhân có thể sốtthành từng cơn hoặc sốt kéo dài
Xét nghiệm phân tìm trứng sán là biện pháp đơn giản nhưng có tínhchất khẳng định việc mắc bệnh, trường hợp nhiễm ít cần phải xét nghiệmdịch tá tràng Trong trường hợp không tìm thấy trứng sán, các xét nghiệmmiễn dịch cùng với hình ảnh siêu âm có giá trị chẩn đoán Các xét nghiệmđánh giá chức năng gan có giá trị trong việc đánh giá thương tổn và tiênlượng bệnh [36],[39]
Điều trị
Khi được phát hiện kịp thời, bệnh sán lá có đáp ứng tốt với các thuốcđiều trị Praziquantel là thuốc được lựa chọn hàng đầu trong việc điều trị bệnhsán lá gan nhỏ Người bệnh mắc sán lá cần phải được theo dõi điều trị tại các
cơ sở Y tế có chuyên khoa ký sinh trùng [36]
Trang 18Phòng bệnh
Biện pháp phòng, tránh bệnh sán lá tốt nhất là không ăn gỏi cá và cácloại thực phẩm chế biến từ cua cá nấu chưa chín Những địa phương có lưuhành bệnh cần có các biện pháp quản lý cũng như tuyên truyền cho cộng đồng
từ việc nuôi cá (như không thả phân tươi xuống ao) đến việc chế biến các loạithực phẩm từ cá Bệnh sán lá gan nhỏ nếu được chẩn đoán sớm, các biện phápđiều trị thường mang lại hiệu quả cao và hạn chế được nhiều biến chứng nguyhiểm [36],[38]
1.3 Tình hình nhiễm sán lá các loài thủy sản và ở người
1.3.1 Trên thế giới
Tình hình nhiễm C Sinensis ở Trung Quốc
C Sinensis tồn tại ở Trung Quốc từ trên 2300 năm Bệnh do C Sinensis được mô tả lần đầu tiên ở người Trung Quốc đến sống ở ấn Độ (Mc
Connel J.F.P., 1874, dẫn trong [68]), và Heanlay ghi nhận tại Trung Quốc
năm 1908 Hiện tại, C Sinensis lưu hành rộng rãi ở 24 tỉnh thành, khu tự trị
với tỷ lệ nhiễm trong khoảng 1-57% [10],[11],[36]
C Sinensis lưu hành ở Trung Quốc với 9 loai ốc, 50 loài cá vật chủ
trung gian, và vật chủ cuối cùng gồm cả mèo, chó, lợn và chuột Vùng dịch tễ
ở mức nặng bao gồm các tỉnh cận nam Trung Quốc (Quảng Đông và khu tựtrị Guangxi Zhuang), và một số tỉnh phía bắc (Heilongjang, Jilin và Liaoning)
(hình 1.2) [36] Tại Guandong có khoảng >3 triệu người nhiễm sán, chủ yếu
là người Canton với tập quán ăn gỏi cá lâu đời C Sinensis lưu hành ở 37
quận/thành phố với tỷ lệ nhiễm trung bình 15,7%-17,3% [68] Tại Hubei:
C Sinensis lưu hành rộng rãi ở 52 quận/thành phố với tỷ lệ nhiễm 0,1-12,6%,
29 trong số 31 bệnh viện có bệnh nhân sán lá gan nhỏ [36]
Trang 19Tại vùng dịch tễ sông Youjiang: C Sinensis lưu hành trên một vùng
rộng lớn dọc sông Youjiang, riêng ở khu tự trị Guangxi Zhuang có khoảngmột triệu người nhiễm sán [57] Vùng Đông-Bắc Trung Quốc: các ổ dịch tễ
C.sinensis khu trú tại Heilongjiang, Jilin và Liaoning có mức nhiễm nặng (24,6-45,8%) [68], có nơi nhiễm C Sinensis dẫn đến hàng loạt trường hợp có
biểu hiện lâm sàng giống như vụ ‘dịch’ sán lá gan nhỏ Ngoài ra, một số ổ
dịch tễ khác rải rác khắp Trung Quốc: dọc các con kênh ngoại ô Bắc Kinh,
vùng dọc sông Yangtze và Macao [56],[64]
Tình hình nhiễm C Sinensis ở Đài Loan: Bệnh do C Sinensis được
OhoiT., ghi nhận lần đầu tiên ở Đài Loan năm 1915 C Sinensis lưu hành qua
2 loài ốc, 15 loài cá; và động vật vật chủ cuối cùng chuột, mèo, chó và lợn
[62],[68] Hiện nay, C Sinensis lưu hành rộng khắp Đài Loan với tỷ lệ nhiễm
từ 0,012% đến rất cao và có xu hướng gia tăng Tỷ lệ nhiễm C Sinensis cao
nhất ở 3 ổ dịch tễ chính (hình 1.2) [36], nơi có tục ăn gỏi cá: Mei-Nung(52%), khu vực hồ Nhật Nguyệt (52%), và Miao-Li (57%) [57]
Tình hình nhiễm C Sinensis ở Nhật Bản
Bệnh do C.Sinensis lần đầu tiên được ghi nhận ở Nhật Bản năm 1875 và
chính thức mô tả bởi Ishizaka K, năm 1878 và Bealz năm 1883 Vật chủ trung
gian của C Sinensis gồm ốc P Manchouricus, 23 loài cá và Smelts (otme: Hypomesus Olidus); Vật chủ cuối cùng gồm cả mèo và chó Trước đây, bệnh
phân bố khắp Nhật Bản (trừ Hokkaido) Ba 13 vùng dịch tễ lớn với tỷ lệ nhiễmrất cao (hình 1.2): vùng ven vịnh Kojima (30- 67%), lưu vực sông Kitakami
(52,5-55,6%) và tỉnh Miyagi (34,0%) [68] Hầu hết những người nhiễm C Sinensis ở Nhật Bản không có biểu hiện lâm sàng Tỷ lệ nhiễm giảm từ những
năm thập kỷ 40, giảm mạnh vào cuối thập kỷ 80 và đến mức rất thấp ở thập kỷ
Trang 2090 Đây là kết quả của sự nâng cao mức sống, trình độ dân trí và ý thức phòngbệnh, cùng với sự giảm đáng kể mật độ ốc vật chủ trung gian [56],[68].
Tình hình nhiễm C Sinensis ở Hàn Quốc
Bệnh do C Sinensis ở Hàn Quốc được Kobayashi mô tả năm 1915 C Sinensis lưu hành rộng ở bán đảo này do người Hàn Quốc có tập quán ăn gỏi
cá nước ngọt lâu đời Vật chủ trung gian có ốc P Manchouricus và 41 loài cá.
C Sinensis rải rác khắp Hàn Quốc với tỷ lệ nhiễm 11,7-15% (khoảng 4,5 triệu người nhiễm C Sinensis) [53] Các ổ dịch tễ nặng chủ yếu ở vùng ven 7 con sông (hình 1.2) với tỷ lệ nhiễm trung bình 21,5% những năm 1979-1980 [57].
vùng ven sông Nakdong có tỷ lệ nhiễm cao nhất (25,3-40,2%), tiếp đến Yeongsan (20,1-30,8%), SeomJin (1,3-17,3%), TamJin, 15,9%, Han (7,8- 15,7%%); Kum (12-15%), và sông Manggyong (3-8%) [63] Các ổ dịch tễ
nặng nhất thường nằm ở vùng hạ lưu của các sông Ngoài ra, các ổ dịch tễ C Sinensis phân bố rải rác dọc các sông nhánh [68].
Tình hình nhiễm C Sinensis ở Viễn Đông
Vùng dịch tễ với tỷ lệ nhiễm thấp được phát hiện ở vùng Viễn Đôngcủa Liên Xô cũ, lưu vực sông Amur Điều đáng lưu ý là cường độ nhiễm
C.Sinensis ở Amur không cao, nhưng đa số người nhiễm sán có biểu hiện lâm sàng Các yếu tố lưu cữu nguồn C Sinensis ở đây gồm ốc P.Manchouricus (tỷ
lệ nhiễm 2,9%), các loài cá thuộc họ Cyprinidae (tỷ lệ nhiễm 9,5%); mèo (tỷ
lệ nhiễm 45,8%-74,6%) [56]
1.3.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam trong điều tra gần đây tại một số chợ Hà Nội, tỷ lệ cá bịnhiễm ấu trùng nang sán rất cao, có 7/10 loài bị nhiễm ấu trùng san lá Xét
Trang 21nghiệm 10 loài cá có 7 loài dương tính: cá mè 44,5%, cá chép 25%,cá diếc15,6%, cá trôi 13,9%, cá trắm 13,3%, cá rô 32% Tại Ninh Bình, huyện KimSơn có 8 loài cá bị nhiễm ấu trùng nang sán lá gan nhỏ, cá mè (56,4-100%),
cá rô (80%), cá trôi (10%), cá trắm, cá chép, diếc, mương (12 - 60%) [6]
Do tập quán ăn gỏi cá mà tỷ lệ nhiễm sán lá tăng dần theo tuổi Một sốtrường hợp trong vùng dịch tễ, không ăn gỏi cá cũng bị nhiễm sán lá do ăn cáchế biến chưa chín Cá sống hoặc cá chưa nấu kỹ là vật chủ chính gây nên sựnhiễm bệnh ở người hoặc các vật dụng, tay bẩn, các dụng cụ chuẩn bị thức ăn
bị nhiễm ấu trùng sán cũng là nguồn lây nhiễm quan trọng cho người
Các tỉnh phía Bắc Việt Nam, tập quán ăn gỏi cá bằng cách thái nhỏthịt cá còn sống, trộn thính và gia vị, nhắm rượu cùng với nhiều loại lá thơm.Loài cá thường dùng ăn gỏi là cá mè, ngoài ra còn dùng cá trắm, cá trôi, cáchày, cá chép, cũng chế biến tương tự Cho dù con người ăn gỏi cá loài nào
và dưới hình thức nào thì nguy cơ nhiễm sán lá là khó tránh khỏi Do tậpquán ăn gỏi mà tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ tăng dần theo tuổi và tỷ lệ mắcbệnh thấp nhất ở nhóm tuổi 0-4 (1,3%), tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là ở nhómtuổi 30-50 (50,2-51,6%) Tỷ lệ nhiễm sán lá ở nam giới cao gấp 3 lần nữgiới [7],[39],[29],[40]
Ở miền Nam Việt Nam, tập quán ăn gỏi cá là “gỏi sinh cầm”, nghĩa là
ăn cá đang bơi trong chậu không qua chế biến, nhắm rượu với đủ loại lá thơm,tập quán này cũng có từ lâu đời trong nhân dân địa phương
Một số nơi như ở Đắc Lắk, Kon Tum có tập quán ăn gỏi cá như miền Bắc
Tỷ lệ ăn gỏi cá ở Phú Yên là 46%, ở Bình Định là 61,3%, ở Đắk Lắk là 74%
Tại Phú Yên, tỷ lệ cá diếc nhiễm ấu trùng sán lá là 10 - 29%, ốc Melanoides
nhiễm ấu trùng 2,6 - 8%, mèo nhiễm sán trưởng thành là 33 - 60%
Trang 22Qua điều tra phỏng vấn tại vùng có bệnh sán lá, hầu hết bà con chorằng ăn gỏi cá mát và bổ, nhất về mùa nóng và dần dần trở thành tập quá khó
bỏ Tỷ lệ ăn gỏi cá ở Nam Định là 55,6% - 80,4%, [8],[40], tại Ninh Bình là
70% [11], tại Thanh Hóa là 67,9% [5] Trong lúc đó 7/10 loài cá nhiễm ấutrùng với tỷ lệ cao, có nơi 90% Tỷ lệ ấu trùng sán còn sống trong gỏi cá là 93-95% [10] Vì vậy tập quá ăn gỏi cá là nguy cơ nhiễm sán lá khó tránh khỏi và
là nguồn lây bệnh chủ yếu
Hiện tại ở nước ta hiện nay đã xác định được sự có mặt của 02 loài
SLGN là C.Sinensis ở miền Bắc và O.Vieverrini ở miền Nam, phân bố ở các
tỉnh miền Trung Nam Bộ
Tỷ lệ nhiễm SLGN biến động theo thời điểm điều tra và từng địaphương, ở miền Bắc, tỷ lệ nhiễm trung bình tại 12 tỉnh có bệnh lưu hành là17.23%, cao nhất là Hải Hậu, Nam Định 37%, thấp nhất là Vũ Thư, Thái Bình(0.2%) [61], có nơi bệnh phân bố trên toàn tỉnh như Hòa Bình Cường độnhiễm hầu hết ở mức độ nhẹ và trung bình Theo nghiên cứu, năm 2007 của
Nguyễn Văn Tiến tại Xuân Trường, Nam Định, tỷ lệ nhiễm trung bình từ 15
tuổi trở lên là 41.3%, tỷ lệ nhiễm ở nam cao gấp 4 lần nữ, Đặc biệt nhóm tuổinhiễm cao nhất là 40-49 (51.9%) [39] Tỷ lệ ăn gỏi cá ở đây 67.8% Năm
2001 tại Nga Tân, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo điều tra của NguyễnVăn Đề và Tạ Văn Thông tỷ lệ nhiễm lứa tuổi 15 tuổi trở lên là 13.2%, caonhất ở lứa tuổi 40-49; Nam nhiễm cao gấp 6 lần nữ, tỷ lệ ăn gỏi cá trong dân
là 88.8% Từ năm 1992-1998 nghiên cứu của Nguyễn Văn Chương tại các xã
An Bình, An Mỹ, An Chấn thuộc tỉnh Phú Yên cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh từ20.2 - 29.4%, lứa tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 40 - 49 tuổi, nam cao hơn nữ
2 lần, tỷ lệ ăn gỏi cá là 74.8%
Trang 23Bệnh sán lá được phát hiện ở 24 tỉnh thành trong cả nước, tập trung chủyếu ở vùng người dân có thói quen ăn gỏi cá, nhiều nơi tỉ lệ người ăn gỏi cá vẫn cao trên 70% như Thanh Hóa, Ninh Bình, Hòa Bình, Nam Định, Hà Nội,
Tỉ lệ nhiễm ở một số điểm tại Nga Sơn, Thanh Hóa 17,7% (2007), tại Ba Vì,
Hà Nội 27,7% và tại Kỳ Sơn, Hòa Bình (32,7%) năm 2009 [7],[11],[32] Một
số gia súc nhiễm sán lá là nguồn lưu trữ trong tự nhiên có thể lây truyền sang người như chó, mèo, lợn (FIBOZOPA)
Năm 2006: Triển khai thử nghiệm cấp phát thuốc điều trị sán lá cho đốitượng nguy cơ cao tại cộng đồng: Tập huấn cho cán bộ Y tế về bệnh sán lá
gan nhỏ và chiến dịch cấp phát thuốc điều trị bệnh sán lá tại cộng đồng tại
tỉnh Thanh Hóa và Bình Định Có 8.169 lượt người và 1.297 người tại BìnhĐịnh đã được uống thuốc điều trị sán lá
Năm 2007, tiếp tục triển khai mô hình phòng chống sán lá tại 9 xã của
4 tỉnh Thanh Hóa, Hà Tây (Hà Nội), Ninh Bình và Hòa Bình, Tổng cộng đã
có 15.824 lượt người đã được uống thuốc tẩy sán lá
Năm 2009, tổ chức 2 chiến dịch cấp phát thuốc điều trị bệnh sán lá tại 8
xã của 4 huyện thuộc 4 tỉnh Hòa Bình, Hà Nội (Hà Tây), Ninh Bình, ThanhHóa, và đợt 2 vào tháng 11 năm 2009 tại 10 xã của 4 huyện thuộc 4 tỉnh trên.Tổng cộng có 16.889 người đã được uống thuốc tẩy sán
Năm 2010 đã tiến hành 4 lớp tập huấn tại 4 tỉnh Hòa Bình, Nam Định,Ninh Bình và Thanh Hóa về bệnh sán lá Tổng cộng có 17.347 đối tượngnguy cơ cao nhiễm sán lá đã được điều trị
Như vậy có trên 180.000 nguời đã được điều trị bệnh sán lá trên 100 xã
có dịch tễ bệnh sán lá lưu hành tại các tỉnh Hòa Bình, Hà Nội, Ninh Bình,
Trang 24Nam Định, Thanh Hóa và Bình Định từ năm 2006 -2010 góp phần làm giảm
tỉ lệ nhiễm, cường độ nhiễm cũng như giảm ảnh hưởng của bệnh sán lá gan
nhỏ tới con người [27],[61].
Căn cứ vào đặc điểm hình thái, hiện có hai loại sán lá gây bệnh ở Việt
Nam: C Sinensis ở đồng bằng Bắc Bộ và O Viverrini ở miền Trung C Sinensis được Grall ghi nhận lần đầu tiên ở Đông Dương năm 2011 C Sinensis phân bố chủ yếu ở vùng châu thổ sông Hồng với tỷ lệ nhiễm ghi
nhận tại một số thời điểm: 20% (2009, dẫn trong [23]) 8-40% (2012, dẫntrong [33]), 8% (2012, dẫn trong [14]), 3-16% (2013-2014, dẫn trong[49]),18,92% (2006 [7]), 15,7% (2012 [46]), và 21,2% (2003-2004 [21])
Thống kê các trường hợp tại các bệnh viện cho biết cường độ nhiễmsán lá tới >1.000 sán những năm 1954-1974 không phải là hiếm, và kỷ lụccường độ nhiễm đạt tới 21.000 sán (Sambuc và BeauFean, 1913) Tuy nhiên
số liệu điều tra trên diện rộng cho thấy, đa số các trường hợp bệnh nhânnhiễm ở mức trung bình hoặc nhẹ
- Phân bố và tình hình nhiễm sán lá tại 12 tỉnh phía Bắc
C.Sinensis xảy ra ít nhất ở 12 tỉnh miền Bắc với tỷ lệ nhiễm biến động
theo địa phương và thời điểm điều tra, trung bình 17,23%, cao nhất tại NinhBình, (28,94%); rồi đến Nam Định, (25,98%); Bắc Giang, (16,29%); HảiPhòng, (13,1%); Thanh Hóa, (9,47%); Hà Tây, (8,29%); Hòa Bình, (5,0%);Hải Dương, (4,9%); Yên Bái, (1,25%); Hà Nội, (0,43%); Tuyên Quang,
(0,4%); và thấp nhất là ở Thái Bình, (0,2%) (hình 1.3)
Ninh Bình: là vùng có lưu hành dịch tễ sán lá nặng nhất với tỷ lệ
nhiễm trung bình là 28,9% (hình 1.3) Các ổ dịch tễ chủ yếu ở huyện Kim
Trang 25Sơn, nơi có 53,3% số người ăn gỏi cá [11] Nhìn chung, đặc điểm của ổ dịch
tễ Kim Sơn là tỷ lệ nhiễm cao tại mọi thời điểm điều tra, không có xu hướngthuyên giảm mà ngược lại dường như tăng lên: tỷ lệ nhiễm tại xã Kim Bình là27,4% năm 1991; Kim Chính 29,6%, 1992; Đồng Hướng 18,5%, 1994 [49] và22,5%, 1995 [11]; Tân Thanh 30,3%, 1991; Ân Hòa và Kim Định 31,2%,
1998 Đa số các trường hợp có cường độ nhiễm ở mức thấp và trung bình(504-1384 trứng/gam phân) [1],[11]
Nam Định: sán lá lưu hành trên diện rộng với tỷ lệ nhiễm cao
có nơi nhiễm tới 70% (Nghĩa Hưng 2005) Tỷ lệ nhiễm ghi nhận quamột số điều tra: ở xã Nghĩa Minh là 11,4% (2007), 12,4% (2012) [1], xãNghĩa Phú 30,2% (1976), 33% (2014) và 35.2% (2014) [5], xã Nghĩa Hồng,33,4% (2004), Hải Hòa, Hải Hậu 37,3% (2014) [11], An Hòa 28,4%, vàNghĩa Thái 16,0% (2012) Cường độ nhiễm sán lá gan nhỏ đánh giá qua sốlượng trứng trong phân ở mức trung bình (khoảng 1500 trứng/1gam phân) [1]
Bắc Giang: Tỷ lệ nhiễm sán lá tại Hương Lâm, 1988 là 16,29% và
cường độ nhiễm nói chung ở mức nhẹ: 10% ở mức <100, 50% ở mức 1.000, 35% ở mức 1.000-10.000 và 5% có >10.000 trứng/gam phân [36]
100-Hải Phòng: Tỷ lệ nhiễm sán lá ở 100-Hải Phòng trước đây được xem là ở
mức khá cao (40% năm 1927), nhưng gần đây ổn định ở mức trung bình:
3-16% vào những năm 1954-1970, 13,1% năm 2014 [32].
Thanh Hóa: Tỷ lệ nhiễm sán lá tại một số xã như Nga Tân, huyện Nga
Sơn ở mức 2,5% (2005), và dường như tăng lên (17,2%, 2010) Người dân ởnhững xã này có tập quán ăn gỏi cá mè (46%) [36]
Hà Tây: Nhiễm C.Sinensis được ghi nhận ở huyện ứng Hòa với tỷ lệ
nhiễm thấp 0,2%, và Thường Tín 16% (2009), nơi có tập quán ăn gỏi cá mè.Việc dùng phân tươi nuôi cá là khá phổ biến Điều đáng lưu ý là trẻ nhỏ (nhỏnhất 4 tuổi) nhiễm sán lá khá phổ biến [32]
Trang 26Hòa Bình: Tỷ lệ nhiễm sán lá tại Hòa Bình, nơi có 4,7% số dân ăn gỏi
cá, được ghi nhận là 5% những năm 1996-2000 [36]
Hải Dương: Tình hình nhiễm sán lá ở tỉnh Hải Dương được ghi nhận ở
mức 4,9% năm 1957 Cho đến nay, chưa có thêm điều tra nghiên cứu về vùngdịch tễ này [36]
Yên Bái: Tỷ lệ nhiễm sán lá tại vùng ven hồ Thác Bà là 1,25% Dân
trong vùng có sở thích ăn thịt sống và gỏi cá (15,6%) [36]
Hà Nội: Tỷ lệ nhiễm sán lá tương đối thấp: ở Từ Liêm 1% (1960),
Thanh Trì 0,5% (1961) Xét nghiệm phân thường qui tại bệnh viện Saint Paulghi nhận tỷ lệ nhiễm 0,01% (những năm 1980-1984) [36]
Tuyên Quang: Nhiễm sán lá được ghi nhận năm 1964 tại Sơn Dương
thuộc tỉnh miền núi Tuyên Quang với tỷ lệ nhiễm thấp, 0,4% [36]
Thái Bình: Tỷ lệ nhiễm sán lá tại xã Vũ Bình, huyện Vũ Thư là 0,2%
(1987) [36], thấp nhất trong số 12 tỉnh đã xác định có sán lá
Tình hình nhiễm C.Sinensis của Việt kiều sống ở nước ngoài: Nhiễm
C.Sinensis khá phổ biến trong số một triệu người Mỹ gốc Đông Dương (68%) [61], người Pháp gốc Đông Nam á (54%) [68] Tỷ lệ nhiễm C.Sinensis
của Việt kiều ở California là 13%, ở Mayo (Mỹ) 2% và ở Okinawa 0,2%(Nhật Bản) [54]
- Nhiễm ấu trùng C.Sinensis ở vật chủ trung gian
Vật chủ trung gian thứ nhất chủ yếu của C.Sinensis ở Việt Nam là ốc đá nhỏ xanh (Parafossarulus Striatulus), với tỷ lệ nhiễm ấu trùng C.Sinensis dao
động trong khoảng 4,6-25,8%.Vật chủ trung gian thứ hai bao gồm 8 loài cá,trong đó tỷ lệ nhiễm ấu trùng cao nhất ở cá mè (47,8%), kế đến cá trắm(29,2%); trôi (20,5%); chép (25%); rô (25%); diếc (17,2%); cá mương (12%);
và rô phi [3],[6],[10]
Trang 27- Một số đặc điểm của ổ dịch tễ C.Sinensis ở Việt Nam Phương thức lây
truyền bệnh chủ yếu: tập quán ăn gỏi cá
Nhiều tác giả đã nhận xét vùng người nhiễm C.Sinensis luôn luôn gắn
với tập quán ăn gỏi cá Mối liên hệ này đã được dùng làm tiêu chí chọn điểm
điều tra ngược năm 1986-1991, dẫn đến sự phát hiện những ổ C.Sinensis mới
ở Thanh Hóa, Hải Phòng, Thái Bình (dẫn trong [49])
Gỏi cá là món ăn ưa chuộng trong các bữa tiệc rượu ở một số nơi thuộcmiền Bắc Việt Nam Trong số các loại gỏi cá, gỏi cá mè được ưa chuộng nhất,trong số những người ăn gỏi 80-95% thường ăn gỏi cá mè [40] Địa phương
có nhiều người ăn gỏi có tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ cao hơn Thí dụ, 67,8%dân xã Nghĩa Phú và 55,6% dân xã Nghĩa Hồng có tập quán ăn gỏi cá, dẫn
đến tỷ lệ nhiễm C.Sinensis ở Nghĩa Phú là 37,1% cao hơn ở Nghĩa Hồng
(33,4%) Tỷ lệ nhiễm sán giảm khi có nhiều người bỏ tập quán ăn gỏi cá [39]
- Nhiễm sán lá theo giới tính
Một đặc điểm của các ổ dịch tễ sán lá là tỷ lệ nhiễm của nam cao hơncủa nữ, như ở Nam Định và Ninh Bình sự khác biệt này dao động 3,3-7,4 lầntuỳ theo địa phương: 3,3 lần tại Kim Sơn (1991-1994) [11]
- Nhiễm C.Sinensis theo tuổi
Nhiễm sán lá xảy ra ở mọi lứa tuổi, trẻ em 1-2 tuổi đã nhiễm sán Tỷ lệnhiễm ở người lớn luôn luôn cao hơn ở trẻ em, hay nói cách khác tỷ lệ nhiễm
Trang 28tăng theo lứa tuổi Thí dụ tại Hương Lâm, Bắc Giang tỷ lệ nhiễm là 0% ởnhóm <9 tuổi; 1,3% ở nhóm 10- 14; 2,0% (15-19), 10,5% (20-29); 26,4% (30-39); 30,3% (40-49); 38% (50- 59, cao nhất) và 28% ở nhóm ≥ 60 tuổi, có thể
do người lớn tuổi hơn đã ăn nhiều gỏi cá hơn [8],[32],[36]
1.4 Kiến thức và thực hành ATTP của cán bộ quản lý và người dân về
ăn gỏi cá
1.4.1 Cán bộ quản lý
Nghiên cứu của Trần Quang Trung, Nguyễn Thanh Phong và cộng
sự-Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế năm 2013 Nghiên cứu 523 đối tượng trong 2
huyện ven biển Nam Định và Thái Bình trong đó có 61 cán bộ quản lý, 61người tham gia chế biến gỏi cá và 401 người dân Tỷ lệ người dân ăn gỏi cá63%, còn ở cán bộ quản lý thì không gặp trường hợp nào [40]
Cũng theo nghiên cứu cho thấy 38,3% người Quản lý hiểu sai rằngmục đích quy định về điều kiện ATTP cho người sản xuất, kinh doanh thựcphẩm là để tăng năng xuất lao động cho họ, về công tác quản lý Nhà nước vềATTP cho thấy 1,6% số người quản lý lao động cho rằng mục đích củathanh tra, kiểm tra ATTP là để phòng ngừa các vi phạm về ATTP và 18,0%cho rằng để xử lý kịp thời các vi phạm về ATTP, 100% cán bộ người quản
lý lao động hiểu đúng về một số điều kiện cơ sở đảm bảo ATTP cho nơi chếbiến, kinh doanh thực phẩm Sự phối hợp liên ngành, tham gia vào các hoạtđộng đảm bảo ATTP của người người quản lý lao động cũng như tầm quantrọng trong công tác tuyên truyền và giám sát đảm bảo ATTP [40]
Có 61,7% số người nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác thanh traATTP và 55,7% số người nhận thức được tầm quan trọng của công táctuyên truyền cho cộng đồng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm 4,3% sốcán bộ tham gia tập huấn ATTP, 52,5% tham gia điều tra khi có vụ ngộ độcthực phẩm trong khi đó chỉ có 36,1% tham gia thanh tra các cơ sở kinh
Trang 29doanh thực phẩm và 77 % tham gia tuyên truyền, nói chuyện về ATTP,62.3% tham gia xây dựng kế hoạch đảm bảo ATTP 66,7% tham gia xâydựng chính sách ATTP [40].
1.4.2 Người dân
Tập quán ăn gỏi cá
Do tập quán ăn gỏi cá mà tỷ lệ nhiễm sán lá nhỏ tăng dần theo tuổi Một
số trường hợp trong vùng dịch tễ, không ăn gỏi cá cũng bị nhiễm sán lá gan nhỏ do ăn cá chế biến chưa chín
Tại vùng lưu hành bệnh người dân đều coi gỏi cá là món ăn ngon và bổ,dần dần trở thành tập quán khó bỏ Tỷ lệ ăn gỏi cá ở một số nơi thuộc NamĐinh là 55,6-80,4%; Ninh Bình là 70% [11]
Nghiên cứu của Trần Quang Trung, Nguyễn Thanh Phong và cộng
sự-Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế năm 2013 [40] Nhận thức của người dân ven
biển 2 tỉnh Thái Bình và Nam Định về nguyên nhân dẫn đến bệnh sán lá gan
và ăn gỏi cá: do ăn gỏi cá nước ngọt, ăn gỏi cá biển, ăn thịt bò tái, thịt lợn tái,nem chạo Hiểu biết về nguyên nhân gây lên các bệnh sán lá do ăn gỏi, thịt bòtái, nem chạo có sự khác biệt giữa hai địa phương Các nguyên nhân như ditruyền, nguyên nhân khác ở hai nơi tương tự nhau
Hiểu biết về tác hại của sán lá và ăn gỏi cá người dân Thái Bình và NamĐịnh như rối loạn tiêu hoá, suy nhược cơ thể, viêm gan, xơ gan và không biếttác hại do ăn gỏi cá tỷ lệ hai vùng khác nhau Tuy nhiên nhận thức về việc ăngỏi cá có thể dẫn đến ung thư gan mật, không có tác hại đối với cơ thể nhậnthức này giữa hai địa phương là như nhau [40] Kiến thức về phòng bệnh sán
lá gan người dân cả hai nơi đều cho rằng không nên ăn rau sống tỷ lệ này cảhai nơi khác nhau, tuy vậy tỷ lệ cho rằng không ăn gỏi cá, quản lý phân, nướcrác tốt không có sự khác biệt [40]
Trang 30Theo nghiên cứu của Đỗ Thái Hòa năm 2006 tại xã Nga An, huyện Nga
Sơn, tỉnh Thanh Hóa: tỷ lệ nhiễm sán lá nhỏ là 25,3% Nhóm đối tượng cótrình độ học vấn từ THPT trở xuống có tỷ lệ nhiễm cao hơn (26,9%) so vớinhóm có trình độ học vấn từ THPT trở lên (10,8%) Người dân có kiến thức
về phòng chống sán lá nhỏ chiếm 46,5%, thái độ phòng chống sán lá gan nhỏchiếm gần 50% Người có kiến thức chung không đạt yêu cầu thì nguy cơnhiễm sán lá gan nhỏ cao gấp 3,6 lần người có kiến thức chung đạt yêu cầu.Người có thái độ không đạt yêu cầu thì nguy cơ nhiễm sán lá gan nhỏ cao gấp5,4 lần so với người có thái độ đạt yêu cầu
Theo nghiên cứu của Lê Hữu Thọ, Sở Y tế Khánh Hòa năm 2013 cho
thấy kiến thức đúng không cao đường lây truyền nhiễm SLG nhỏ (42,7%),kiến thức đúng về món ăn truyền bệnh (38,8%),kiến thức đúng về tác hạ của
nhiễm SLG nhỏ (38,5%) và kiến thức đúng về phòng bệnh nhiễm SLG thấp nhất (33,3%) Tỷ lệ người phỏng vấn có thái độ đạt về sự nguy hại của SLG nhỏ là 39,6% Phỏng vấn thái độ về khả năng phòng chống SLG nhỏ thì có
đến 45,5% số người cho rằng biết hoặc có thể phòng chống được Có sự giốngnhau về mức độ đánh giá về kiến thức chung đạt (39,3%), thái độ chung đạt(40,1%) và thực hành chung đạt (35,7%) của đối tượng nghiên cứu về nhiễmSLG nhỏ [37]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Chương từ 10/2001 đến 12/2003 xétnghiệm 2249 mẫu phân ở 4 điểm Miền Trung cho thấy tỷ lệ người không biếtnguyên nhân gây bệnh chiếm 55 - 97%, tỷ lệ người không biết tác hại và cáchphòng bệnh chiếm 75 - 90%
Theo nghiên cứu của Nguyên Văn Tiến (2008), về thực trạng nhiễm vànhận thức, thái độ thực hành của người trưởng thành về bệnh sán lá gan nhỏtại 4 xã huyện Xuân Trường Nam Định, tỷ lệ người nhận thức đúng về tác hạicủa sán lá gan nhỏ chiếm 4,87%, tỷ lệ người nhận thức đúng về nguyên nhân
Trang 31mắc sán lá gan nhỏ chiếm 32,31%, tỷ lệ người nhận thức đúng các biện phápphòng chống bệnh sán lá gan nhỏ chiếm không quá 4% Tỷ lệ nhiễm ở người
có tiền sử ăn gỏi cá cao gấp 157,37 lần so với người không ăn gỏi cá Tỷ lệngười muốn đi khám và làm xét nghiệm về bệnh sán lá gan nhỏ chiếm33,97% Về thực hành, tỷ lệ người có thói quen ăn gỏi cá chiếm 46,54% trong
đó có 7,83% thường xuyên ăn gỏi cá và 38,71% thỉnh thoảng ăn gỏi cá [39]
Theo nghiên cứu của Trương Tiến Lập (2010), tại một số xã ven biển
tỉnh Nam Định cho thấy tỷ lệ người hiểu biết được nguyên nhân gây bệnhchiếm 74,9%, tỷ lê người biết được tác hại của sán lá gan nhỏ chiếm 68,5%
và thực hành phòng chống sán lá gan nhỏ đúng chiếm 80,9 - 82,2% [29]
Theo nghiên cứu Nguyễn Thu Hương (2008-2011), “Nghiên cứu một sốđặc điểm dịch tễ học và hiệu quả điều trị sán lá gan lớn Triclabendazole tạihai xã Tịnh Kỳ và Nghĩa Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (2008-2011)” Tỷ lệ nhiễmsán lá gan lớn bằng xét nghiệm phân là 0,4% và bằng Ab-ELISA là 10,2%.Nhóm tuổi lao động từ 16-55 tuổi chiếm cao nhất là 69,2%, nhóm từ 6-15 tuổinhiễm từ 0,9%-17,5% Nữ giới nhiễm sán lá gan cao gấp hai lần nam Có 10gia đình (9,2%) có từ 2-3 người cùng mắc Trong các nghề, nông dân chiếm
tỷ lệ nhiễm cao nhất với 29,2% Trong nghiên cứu này chúng tôi chưa tìmthấy có mối liên quan giữ ăn rau sống và thói quen ăn thịt tái sống (bao gồm
cả ăn gan trâu bò) với tình trạng nhiễm sán lá gan Nhận thức về phòng chốngbệnh sán lá gan của người dân chưa cao (34,1%) Tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớntrâu bò bằng xét nghiệm phân là 61,5% và tại lò mổ là 73,4% Tuổi trâu bònhiễm sán là từ 1,5 đến 6 năm tuổi Trâu bò nhiễm SLGL thấp (từ 2-81 consán trong một buồng gan) Vật chủ trung gian truyền bệnh SLGL tại điểm
nghiên cứu là ốc L.Swinhoei (92%) và ốc L.Viridis (8%) Ốc L.Swinhoei
nhiễm ấu trùng sán lá gan lớn 0,61% [27]
Trang 32Tại Khánh Hòa, một điều tra ngang năm 2002 cho thấy tỷ lệ ăn sống rauthủy sinh trong cộng đồng là 99,8% Tại Phú Yên, tỷ lệ người dân ăn sống rauthủy sinh là 82,3% Tại Quảng Nam, tỷ lệ người dân ăn sống rau thủy sinh là89,1% Tại Hà Nội, tỷ lệ người dân ăn sống rau thủy sinh là 100%.
Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hùng và Cao Bá Lợi (2006), điều tra 400công nhân tuổi từ 18 - 50 ở 3 công ty chè đã xác định tỷ lệ nhiễm trong quầnthể này là 22,25% Tỷ lệ này cao do có tới 90% công nhân có thói quenthường xuyên ăn gỏi cá
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đề tại 5 xã thuộc 2 tỉnh Ninh Bình và NamĐịnh cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ là 33,9% với tỷ lệ từ ăn gỏi cá 55,6 -80,5% Tại Hải Hậu, xã Hải Hòa tỷ lệ nhiễm là 37,3% với tỷ lệ ăn gỏi 80,4%.Tại hai xã Nghĩa Lạc và Nghĩa Phú điều tra tháng 8/2007 ở 578 người là tất
cả thành viên trong các hộ gia đình, tỷ lệ nhiễm là 32,2% [11]
Thái độ và thực hành
Thái độ của người dân cũng theo Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tiến, tạihuyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định năm 2007 [39] Có tới 36,7% số đốitượng còn có ao nuôi cá và 7% số người có hành vi sử dụng phân tươi nuôi
cá, thái độ của những người dân khi có những biểu hiện rối loạn tiêu hóa hoặc
đã từng ăn gỏi ca, muốn đi khám hoặc xét nghiệm phân để phát hiện bệnh sán
lá gan nhỏ trên địa bàn nghiên cứu rất thấp đạt 33,97%, tỷ lệ này đạt thấp chủyếu do nhận thức chung về bệnh là rất hạn chế, mặt khác có thể do tâm lý engại Theo Nghiên cứu của Trần Quang Trung, Nguyễn Thanh Phong và cộng
sự-Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế năm 2013 Khi được hỏi về lý do ăn gỏi cá
của người dân tỷ lệ 70% cho là do ngon miệng, trong khi đó tỷ lệ cho là domát bổ ở chiếm tới 30% [40] Lý do do thói quen và do nể nang cả 2 nơi tỷ lệtương đương nhau
Trang 33Nghiên cứu Lê Hữu Thọ, Sở Y tế Khánh Hòa 6/2012 đến tháng12/2012 với cỡ mẫu phỏng vấn là 384 người dân với mục tiêu là “mô tả kiếnthức, thái độ, thực hành về phòng nhiễm sán lá gan nhỏ của người dân trên 15tuổi ở xã An Hòa, huyện Tuy An, Phú Yên” Kết quả cho thấy có 39,3% cókiến thức chung về bệnh sán lá gan nhỏ đạt, 42,71% đối tượng có kiến thứcđúng về đường lây truyền bệnh, 38,8% có kiến thức đúng về món ăn truyềnbệnh sán lá gan nhỏ là gỏi cá nước ngọt; 38,5% có kiến thức đúng về tác hạicủa sán lá gan nhỏ và có 33,3% có kiến thức đúng về phòng bệnh sán lá gannhỏ Thái độ chung về bệnh sán lá gan nhỏ của đối tượng đạt là 40,1% Đánhgiá thực hành chung có 35,7% đạt Tỷ lệ ăn gỏi cá của người dân tại xã AnHòa là 33,3% và có 52,3% có tần số ăn gỏi cá từ 5 lần trở lên trong năm [37].
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tai 4 xã là: xã Tây Tiến, xã Tây Sơn, xãNam Trung và xã Nam Thanh chia thành 2 khu vực:
- Khu vực gần trung tâm là 2 xã: Xã Tây Tiến, xã Tây Sơn
- Khu vực xa trung tâm là 2 xã: Xã Nam Trung, xã Nam Thanh
Huyện Tiền Hải, tỉnh Thái bình được xác định là huyện ven biển có tỷ
lệ người dân thường ăn gỏi cá và kinh doanh gỏi cá, chúng tôi chọn chủ đích
4 xã có chợ kinh doanh cá nhiều nhất huyện gồm Tây Tiến, Tây Sơn là 2 xã
có tỷ lệ người dân làm nghề kinh doanh và thủ công nghiệp cao (được gọi làkhu vực trung tâm) và Nam Trung, Nam Thanh là 2 xã xa khu vực thị trấn có
tỷ lệ người dân chủ yếu làm nông nghiệp (được coi là xã thuần nông, đượcgọi là nhóm xa trung tâm) Khu vực trung tâm là 2 xã nằm ở trung tâm củahuyện, khu vực xa trung tâm là 2 xã cách xa hơn nhưng có cùng điều kiện tựnhiên, môi trường như nhau
Xã Tây Tiến: Có diện tích 2,50 km² dân số là 10220 người Đây là xã
tiêu biểu về các nghề thủ công và kinh doanh, có tới 35% số người tham gialàm các nghề thủ công như sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ và kinh doanh cácsản phẩm của người dân trong xã làm ra Thổ đất các hộ gia đình hẹp, trungbình 200 m², ở khu vực trung tâm xã đất ở còn chật trội hơn, mỗi gia đình có
từ 70 đến 120 m², các công trình vệ sinh chưa được bảo đảm nhất là nguồnnước thải, người dân vẫn còn dùng phân tươi nuôi cá và thói quen ăn gỏi cákhá phổ biến
Trang 35Xã Tây Sơn: Có diện tích tự nhiên gần bằng xã Tây Tiến nhưng dân số
ít hơn, chỉ có 9850 người, 30% người dân làm các nghề thủ công nghiệp.Người dân trong xã có tập quán sinh hoạt, ăn uống tương tự như xã Tây Tiến
Xã Nam Trung: Cách xa trung tâm huyện nhất có diện tích tự nhiên
5,56 km², là xã có dân số thấp nhất 6700 người Là xã thuần nông, chỉ có 10%tham gia làm các nghề thủ công nghiệp, xã Nam Trung nằm gần sát với biển.Người dân trong xã có tập quán sinh hoạt, ăn uống lạc hậu, chăn nuôi nhiềutrâu, bò, chó, mèo thả rông Rác thải sinh hoạt, phân trâu hầu như không xử lý
mà người dân thường vất không theo tập trung
Xã Nam Thanh: Có diện tích tự nhiên 8,59 km² có dân số đông nhất
12280 người Là xã đa số người dân là công giáo chủ yếu sống dựa vàonông nghiệp, số người tham gia làm nghề thủ công nghiệp và buôn bán15% Xã Nam Thanh cũng như Nam Trung, có tập quán dùng phân tươinuôi cá và ăn gỏi cá nhiêu
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
- Các loại cá nước ngọt gồm: Cá diếc, cá trắm, cá rô phi, cá chép, cátrôi, cá mè
- Cán bộ quản lý bao gồm: Bí thư, phó Bí thư; Chủ tịch, phó Chủ tịch;Hội trưởng, hội phó hội phụ nữ, chi hội trưởng; toàn bộ cán bộ y tế xã
- Người dân: Là những người trưởng thành từ 20 tuổi trở lên có hộkhẩu thường trú tại địa bàn nghiên cứu ít nhất từ 3 năm, trở lên, không phânbiệt giới, nghề nghiệp
Tiêu chuẩn loại trừ
+ Những con cá đã chết
+ Loại trừ những người không sinh sống thường xuyên tại địa phương vànhững người nghễnh ngãng, lú lẫn không có khả năng phỏng vấn
Trang 362.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2014
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Đề tài được thực hiện theo thiết kế nghiên cứu mô tả với điều tra cắtngang nhằm:
- Mô tả thực trạng ăn gỏi cá của nhóm đối tượng, xác định tỷ lệ nhiễm
ấu trùng sán lá trên cá bằng các xét nghiệm cá tìm ấu trùng sán lá trên cá nướcngọt được mua ở chợ
- Tìm hiểu nhận thức thái độ thực hành của cán bộ quản lý, người dân
về tập quán gỏi cá và các biện pháp phòng bênh sán lá thông qua bộ câu hỏi
đã được chuẩn bị trước
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu
a/ Phương pháp chọn mẫu
*/ Chọn địa điểm nghiên cứu
- Chọn huyện:
Chọn chủ đích huyện Tiền Hải là huyện ven biển phần đông ngườidân có tập quán ăn gỏi cá nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về ấutrùng sán lá sống trên cá là nguyên nhân truyền bệnh qua thực phẩm
- Chọn xã:
Trong 34 xã của huyện Tiền Hải, bốc thăm ngẫu nhiên lấy 4 xã chiathành 2 nhóm
Nhóm gần trung tâm gồm: xã Tây Tiến; Tây Sơn
Nhóm xa trung tâm gồm: xã Nam Thanh; Nam Trung
Trang 37*/ Chọn đối tượng nghiên cứu
- Cá để xét nghiệm: Mỗi khu vực có 2 chợ Tại mỗi chợ lấy 6 loại cá
mà người dân thường dùng ăn gỏi, mỗi loại cá lấy ngẫu nhiên 1 con, mỗihàng cá lấy từ 5-6 con cá các loại sao cho đủ cỡ mẫu đã tính
- Người dân để phỏng vấn: Mỗi xã bốc thăm ngẫu nhiên lấy 1 xómphỏng vấn toàn bộ số người dân ở xóm đó theo đúng tiêu chuẩn chọn mẫu vàloại trừ mẫu sao cho đủ cỡ mẫu đã tính
- Cán bộ quản lý: Là Bí thư, phó Bí thư; Chủ tịch, phó Chủ tịch (04người), hội trưởng, hội phó hội phụ nữ
- Cán bộ Y tế: Toàn bộ nhân viên y tế và cộng tác viên y tế của 4 xã
b/ Cách tính cỡ mẫu
- Cỡ mẫu được xác định tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá trên cá
Áp d ng công th c tính c m u nghiên c u mô tụng công thức tính cỡ mẫu nghiên cứu mô tả ức tính cỡ mẫu nghiên cứu mô tả ỡ mẫu nghiên cứu mô tả ẫu nghiên cứu mô tả ức tính cỡ mẫu nghiên cứu mô tả ả
n = Z2
(1-a/2) p.(1-p)
(p.e)2
Trong đó:
n = cỡ mẫu ngẫu nhiên
Z ² (1- α/2): hệ số tin cậy ngưỡng xác suất α
Chúng tôi chon α = 5%, khi đó Z=1,96
Trang 38n = cỡ mẫu ngẫu nhiên
Z ² (1- α/2): hệ số tin cậy ngưỡng xác suất α
Chúng tôi chon α = 5%, khi đó Z = 1,96
q = 1- p
d: Sai số mong muốn theo p độ chính xác theo p (ước tính d = 0,05).p= 43% là tỷ lệ người dân có kiến thức đúng [39]
n= 377 người, thực tế chúng tôi phỏng vấn 378 người
- Cỡ mẫu cho cán bộ quản lý:
Bí thư Đảng ủy, phó Bí thư (2 người); Chủ tịch, phó Chủ tịch xã (2người) 4 người/xã x 4 xã = 16 người
Hội phụ nữ xã: hội trưởng, hội phó, các chi hội trưởng của các thôn (8người/ xã x 4 xã = 32 người)
- Cán bộ y tế của 4 xã: gồm 4 cán bộ Trạm y tế/ xã x 4 xã = 16người và 04 y tế thôn/xã x 4 xã = 16 người)
Như vậy cỡ mẫu điều tra cho nhóm đối tượng là CBQL và cán bộ y tế là:
80 Thực tế phỏng vấn 82 người
2.2.3 Các biến số và chỉ số sử dụng trong nghiên cứu
Xác định thực trạng ăn gỏi cá và mức độ nhiễm ấu trùng sán lá ở cá ao
hồ 4 xã vùng ven biển Thái Bình
- Thực trạng ăn gỏi cá và mức độ nhiễm ấu trùng sán lá ở cá ao hồ 4 xãvùng ven biển Thái Bình
- Nhu cầu nâng cao kiến thức về phòng chống sán lá của cán bộ quản lý vàngười dân
- Lý do đối tượng ăn gỏi cá, Loài cá thường dùng ăn gỏi tại 4 xã huyệnTiền Hải
- Số lượng các loài cá nghiên cứu theo khu vực
Trang 39- Các loài cá nhiễm ấu trùng sán lá ở tại khu vực trung tâm, khu vực xatrung tâm.
- Các loài cá nhiễm ấu trùng sán lá tại huyện Tiền Hải
- Mức độ nhiễm ấu trùng sán lá ở cá khu vực trung tâm, khu vực xa trung tâm
- Mức độ nhiễm ấu trùng sán lá ở các loài cá nghiên cứu tại huyện Tiền Hải
Mô tả kiến thức, thực hành của cán bộ quản lý, nhân viên y tế, người dân nuôi, bán và sử dụng cá nước ngọt về bệnh sán lá ở 4 xã vùng ven biển tại địa điểm nghiên cứu.
- Thông tin về đối tượng nghiên là CBQL và người dân theo tuổi, giới vàtrình độ học vấn
- Nguồn thông tin về bệnh sán lá cán bộ quản lý và người dân biết trênđịa điểm nghiên cứu
- Mức độ người dân biết về đường lây của sán lá theo giới, theo trình độhọc vấn
- Mức độ CBQL biết về đường lây truyền của sán lá theo giới, theo trình
Trang 40- Mức độ người dân biết các bệnh lây truyền khi sử dụng phân chưa ủnuôi cá theo giới, theo trình độ học vấn.
- Mức độ CBQL biết các bệnh lây truyền khi sử dụng phân chưa ủ nuôi
cá theo giới, theo trình độ chuyên môn
2.2.4 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu
a./ Xác định tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá trên cá nước ngọt: Theo phương
pháp tiêu cơ cá với Pepsin acid và thu thập ấu trùng