Trên cơ sở đó xác định những điểm yếu của mình và đề ra các chiến lược ngắn hạn và dài hạn, nhằm mục đích cuối cùng là khắc phục điểm yếu, sử dụng hiệu quả nguồn lực của mình để nâng cao
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THANH TIỀN
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC VÀ VẬT TƯ Y TẾ
BÌNH THUẬN NĂM 2017
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI – 2019
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THANH TIỀN
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC VÀ VẬT TƯ Y TẾ
BÌNH THUẬN NĂM 2017
Chuyên ngành : Tổ chức quản lý dược
Mã số : CK 62 72 04 12
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
Người hướng dẫn khoá học: TS ĐỖ XUÂN THẮNG
Thời gian thực hiện: 07/2018 – 11/2018
HÀ NỘI – 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ Quý Thầy Cô, bạn bè, đồng nghiệp và người thân
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đỗ Xuân Thắng là
người Thầy đáng kính đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ, hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô giáo Trường Đại học Dược
Hà Nội đặc biệt là các Thầy cô bộ môn Quản lý kinh tế dược đã tạo điều
kiện cho tôi được học tập, rèn luyện trong suốt những năm học vừa qua; đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Dược và
VTYT Bình Thuận đã tạo điều kiện cho tôi về mọi mặt trong học tập, nghiên
cứu hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã luôn sát cánh động viên, giúp đỡ và đóng góp những
ý kiến chân thành cho tôi để hoàn thành luận văn này
Bình Thuận, ngày 19 tháng 4 năm 2019
Học viên
Nguyễn Thanh Tiền
Trang 4FDI Foreign Direct Invesment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
GMP Good Manufacturing Practises Thực hành tốt sản xuất thuốc
GPP Good Pharmacy Practises Thực hành tốt nhà thuốc
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1:TỔNG QUAN 3
1.1 Khái quát về Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 3
1.1.1 Khái niệm chung 3
1.1.2 Yêu cầu của phân tích hoạt động kinh doanh 3
1.1.3 Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh: 3
1.1.4 Nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh 4
1.1.5 Nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh 5
1.1.6 Trình tự tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh: 5
1.1.7 Các phương pháp đánh giá và phân tích hoạt động kinh doanh: 8
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dược: 9
1.2.1 Chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh 9
1.2.2 Chỉ tiêu đánh giá, phân tích về vốn 13
1.3 Thị trường dược phẩm Thế giới và Việt Nam 15
1.3.1 Thị trường dược phẩm thế giới 15
1.3.2 Thị trường dược phẩm Việt Nam 16
1.4 Hệ thống kinh doanh thuốc tại Việt Nam 19
1.4.1 Các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm 19
1.4.2 Các kênh phân phối chính 19
1.4.3 Thực trạng kinh doanh của các doanh nghiệp dược: 20
1.5 Khái quát về Công ty CP Dược và Vật tư y tế Bình Thuận 21
1.5.1 Quá trình hình thành và phát triển 21
1.5.2 Sơ đồ tổ chức của Công ty 23
1.5.3 Nhân lực 23
1.5.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật 24
1.6 Tính cấp thiết của đề tài 24
Chương 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Phương pháp nghiên cứu 25
Trang 62.2.1 Thiết kế nghiên cứu 25
2.2.2 Biến số nghiên cứu 25
2.2.3 Nguồn thu thập số liệu 27
2.3 Các chỉ tiêu phân tích 27
2.4 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 28
Chương 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Phân tích kết quả kinh doanh của Công ty CP Dược và Vật tư y tế Bình Thuận năm 2017 32
3.1.1 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 32
3.1.2 Tình hình sử dụng phí của Công ty trong năm 2017 39
3.1.3 Phân tích biến động chi phí và lợi nhuận năm 2017 40
3.1.4 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận 41
3.1.5 Chỉ tiêu năng suất lao động và thu nhập bình quân của CBCNV năm 2017 44
3.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của Công ty CP Dược và Vật tư y tế Bình Thuận năm 2017 46
3.2.1 Kết cấu nguồn vốn 46
3.2.2 Tình hình phân bổ vốn 48
3.2.3 Nhóm hệ số đánh giá hiệu quả sử dụng vốn 49
Chương 4:BÀN LUẬN 52
4.1 Về kết quả hoạt động kinh doanh năm 2017 52
4.1.1 Về Doanh thu 52
4.1.2 Về lợi nhuận 53
4.1.3 Về chi phí 54
4.2 Về kết quả bán hàng từng nguồn hàng 55
4.2.1 Về nhóm hàng mua bán 55
4.2.2 Về nhóm hàng sản xuất 55
KẾT LUẬN 56
ĐỀ XUẤT 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Cơ cấu nhân lực Công ty CP Dược và VTYT Bình Thuận 23
Bảng 2.2 Các biến số nghiên cứu 25
Bảng 2.3: Giải thích khái niệm và công thức tính các chỉ tiêu phân tích 29
Bảng 3.4: Báo cáo hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Dược và VTYT Bình Thuận năm 2017 32
Bảng 3.5: Tổng hợp doanh thu bán theo cơ cấu nguồn hàng năm 2017 34
Bảng 3.6: Tổng hợp Doanh thu bántheo tỷ lệ kênh ETC và OTC 35
Bảng 3.7: Tổng hợp Doanh thu bán theo Chi nhánh năm 2017 35
Bảng 3.8: Tổng hợp doanh số hàng sản xuất bán theo Chi nhánh năm 2017 37
Bảng 3.9: Doanh thu thuần các sản phẩm Công ty sản xuất chiếm tỷ lệ cao năm 2017 38
Bảng 3.10: Tổng hợp các loại chi phí năm 2017 39
Bảng 3.11: Tổng hợp phân tích biến động chi phí và lợi nhuận năm 2017 40
Bảng 3.12: Các tỷ số phân tích kết quả kinh doanh năm 2017 41
Bảng 3.13: Các tỷ số phân tích kết quả kinh doanh dựa trên lợi nhuận sau thuế năm 2017 43
Bảng 3.14: Năng suất lao động bình quân của CBCNV năm 2017 44
Bảng 3.15: Thu nhập bình quân của CBCNV trong năm 2017 45
Bảng 3.16: Tổng hợp các nguồn vốn năm 2017 46
Bảng 3.17: Tổng hợp phân tích vốn lưu động thường xuyên năm 2017 47
Bảng 3.18: Tổng hợp phân tích biến động tài sản năm 2017 48
Bảng 3.19: Tổng hợp phân tích chỉ số luân chuyển hàng tồn kho năm 2017 49
Bảng 3.20: Tổng hợp phân tích chỉ số luân chuyển vốn lưu động năm 2017 50
Bảng 3.21 Tổng hợp phân tích luân chuyển tài sản cố định năm 2017 51
Trang 8giai đoạn 2016-2027) 17 Hình 1.3 Biểu đồ cơ cấu tiêu thụ thuốc theo vùng miền giai đoạn
2014-2016 18Hình 1.4 Biểu đồ cơ cấu tiêu thụ theo nhóm bệnh giai đoạn 2014-2016 18
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Dược phẩm là một loại hàng hóa đặc biệt, là mặt hàng thiết yếu và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng Nhu cầu dược phẩm hầu như không chịu ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển khá nhanh ở khu vực Châu Á với dân số cao (trên 92 triệu vào năm 2015) Việt Nam thuộc nhóm các nước có ngành dược đang phát triển (pharmerging countries) Theo ước tính của Bộ Y tế, doanh thu thị trường dược phẩm Việt Nam đã tăng trưởng bình quân 16%/năm trong
10 năm qua Còn BMI ước con số này là 17,1% giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017 ngành dược Việt Nam đang hội tụ nhiều tiềm năng Tốc độ tăng trưởng dân số ổn định, sự nhận thức về sức khoẻ của tầng lớp trung lưu và khả năng tiếp cận thuốc ngày càng được cải thiện là những yếu tố giúp ngành dược Việt Nam giữ vững tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian tới
Tuy nhiên, dược phẩm là một trong những ngành rất nhạy cảm, hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh dược phẩm được toàn xã hội cùng theo dõi, kiểm tra, giám sát, phê bình,… Các quốc gia trên thế giới
và Việt Nam đều đang từng bước hoàn thiện các quy định và chế tài kiểm soát
sự gia tăng giá thuốc ở mức hợp lý, kiểm soát khắc khe tất cả các công đoạn trong quá trình sản xuất và kinh doanh dược phẩm Như vậy, so với các ngành khác, ngành dược phẩm có môi trường và điều kiện kinh doanh khắc nghiệt hơn Sự cạnh tranh về nguồn vốn cũng khó khăn hơn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước vì đặc thù của ngành sản xuất dược phẩm đòi
kỹ thuật công nghệ cao
Sự mở rộng lĩnh vực hoạt động của hầu hết các Doanh nghiệp Dược hiện nay kéo theo nhiều chủng loại hàng hóa trên thị trường với vô số nhãn hiệu, kiểu dáng công dụng và hình thức khuyến mãi, sản phẩm nhập khẩu,…
là một minh chứng sinh động nhất cho sự cạnh tranh gay gắt của n g à n h
d ược trong nền kinh tế thị trường
Với sứ mệnh là đơn vị vừa sản xuất, vừa kinh doanh dược phẩm và trang thiết bị y tế, Công ty cổ phần Dược và Vật tư y tế Bình Thuận (PHAPHARCO), luôn vận động không ngừng để tồn tại, phát triển và xây
Trang 10dựng thương hiệu PHAPHARCO “Vì sức khỏe cộng đồng’’ Tuy nhiên,
trong quá trình hoạt động Công ty cũng gặp không ít khó khăn với sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp cùng ngành cả trong và ngoài nước; đặc biệt là hàng nhập khẩu đối với thuốc có nguồn gốc từ các nước như Trung
Quốc, Ấn Độ, cả về chất lượng và giá cả
Để duy trì và không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp, việc tăng cường chuyển hướng từ nâng cao từ “lượng” sang “chất”, tạo thương hiệu sản phẩm uy tín, chất lượng là điều thiết yếu Đồng thời, trong môi trường có tính cạnh tranh cao như hiện nay, việc quyết định xu hướng hoạt động
và phát triển cho Doanh nghiệp là hết sức quan trọng và khó khăn
Một Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bền vững thì phải có các hoạt động nghiên cứu thị trường, phân tích tình hình hiện tại của cả nền kinh
tế, phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của chính Doanh nghiệp Trên cơ sở đó xác định những điểm yếu của mình và đề ra các chiến lược ngắn hạn và dài hạn, nhằm mục đích cuối cùng là khắc phục điểm yếu,
sử dụng hiệu quả nguồn lực của mình để nâng cao năng suất, chất lượng hàng hoá, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thành, nâng cao uy tín nhằm tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, khai thác tối đa hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp
Với những lý do trên, đề tài “Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Dược và Vật tư y tế Bình Thuận năm 2017)” được thực hiện với các mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Phân tích một số kết quả kinh doanh của Công Ty cổ phần Dược và Vật Tư Y Tế Bình Thuận năm 2017
Mục tiêu 2: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần Dược
và Vật Tư Y Tế Bình Thuận năm 2017
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả đề tài giúp điều chỉnh định hướng, xây dựng chiến lược đúng đắn, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty; phát huy mọi tiềm năng, thị trường, khai thác tối đa những nguồn lực của doanh nghiệp, nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất trong kinh doanh; đồng thời, giúp dự báo, đề phòng và hạn chế những rủi ro trong kinh doanh
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Khái quát về Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm chung
Phân tích, hiểu theo nghĩa chung nhất là sự chia nhỏ sự vật và hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng đó [12]
Như vậy “Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nhận thức và cải tạo hoạt động kinh doanh một cách tự giác và có ý thức, phù hợp với điều kiện cụ thể và với yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan, nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn” [11]
1.1.2 Yêu cầu của phân tích hoạt động kinh doanh
Tính đầy đủ: nội dung và kết quả phân tích phụ thuộc nhiều vào sự
đầy đủ nguồn tài liệu phục vụ cho công tác phân tích Đảm bảo tính toán tất
cả các chỉ tiêu cần thiết thì mới đánh giá đúng được đối tượng phân tích
Tính chính xác: chất lượng của công tác phân tích phụ thuộc nhiều
vào tính chính xác về nguồn số liệu, sự chính xác trong lựa chọn phương pháp phân tích, chỉ tiêu dùng để phân tích
Tính kịp thời: sau mỗi chu kỳ hoạt động kinh doanh phải kịp thời tổ
chức phân tích đánh giá tình hình hoạt động, kết quả và hiệu quả đạt được, để nắm bắt được những mặt mạnh, những tồn tại trong hoạt động kinh doanh
1.1.3 Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh:
- Phân tích hoạt động kinh doanh cho phép các nhà doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn về khả năng cũng như những hạn chế trong doanh nghiệp của mình Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp sẽ xác định đúng đắn mục tiêu cũng như chiến lược kinh doanh có hiệu quả
Trang 12- Phân tích hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng đưa ra các quyết
1.1.4 Nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh
Để trở thành một công cụ quan trọng của quá trình nhận thức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và là cơ sở cho ra các quyết định đúng đắn phân tích hoạt độnh kinh doanh có các nhiệm vụ sau:
- Kiểm tra và đánh giá hiệu quả hoạt độnh kinh doanh thông qua các chỉ tiêu kinh tế đã xây dựng
- Nhiệm vụ trước tiên của phân tích là đánh giá và kiểm tra khái quát giữa kết quả đạt được so với các mục tiêu kế hoạch, dự toán định mức đã đặt
ra để khẳng định tính đúng đắn và khoa học của chỉ tiêu xây dựng, trên một số mặt chủ yếu của quá trình hoạt động kinh doanh
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng của các chỉ tiêu và tìm ra các nguyên nhân gây nên mức ảnh hưởng đó Biến động của chỉ tiêu là do ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố gây nên, do đó ta phải xác định các nhân tố gây nên và tìm nguyên nhân gây nên biến động của các chỉ số đó
Đề xuất các giải pháp nhằm khai khác tiền năng và khắc phục những tồn tại yếu kém của quá trình hoạt động kinh doanh
Phân tích hoạt động kinh doanh, không chỉ đánh giá kết quả chung chung, mà cũng không chỉ dừng lại ở chỗ xác định nguyên tố và tìm nguyên nhân, mà phải từ cơ sở nhận thức đó phát hiện ra các tiền năng cần phải khai thác và những chỗ còn tồn tại yếu kém nhằm đề xuất các giải pháp phát huy thế mạnh và khắc phục những tồn tại ở doanh nghiệp mình
Trang 13Xây dựng phương án kinh doanh căn cứ vào mục tiêu đã định Nhiệm
vụ của phân tích nhằm xem xét dự báo có thể đạt được trong tương lai, rất thích hợp với chức năng hoạch định các mục tiêu kinh doanh của các doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường [1] [8]
1.1.5 Nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh
Nội dung của PTHĐKD là đánh giá quá trình hướng đến kết quả hoạt động kinh doanh, với sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng và được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế
Với tư cách là môn học độc lập, phân tích hoạt động kinh doanh có đối tượng riêng Trong phạm vi nghiên cứu của mình, nó là một hoạt động kinh doanh và đồng thời cũng là một hiện tượng xã hội đặc biệt
Phân tích là đánh giá quá trình hướng đến kết quả hoạt động kinh doanh,
nó có thể là kết quả kinh doanh đã đạt được hoặc kết quả của các mục tiêu trong tương lai cần đạt được, và như vậy, kết quả hoạt động kinh doanh thuộc đối tượng của phân tích Các kết quả hoạt động kinh doanh, nhất là hoạt động theo cơ chế thị trường cần phải định hướng theo mục tiêu dự toán Quá trình định hướng hoạt động kinh doanh được định lượng cụ thể thành các chỉ tiêu kinh tế và phân tích cần hướng đến các kết quả của các chỉ tiêu để đánh giá [9]
1.1.6 Trình tự tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh:
1.1.6.1 Các loại hình phân tích kinh doanh:
a) Căn cứ theo thời điểm của kinh doanh:
Căn cứ theo thời điểm của kinh doanh thì phân tích chia làm ba hình thức:
- Phân tích trước khi kinh doanh
- Phân tích trong kinh doanh
- Phân tích sau khi kết thúc quá trình kinh doanh Phân tích trước khi kinh doanh còn được gọi là phân tích tương lai, nhằm dự báo, dự đoán cho các mục tiêu có thể đạt được trong tương lai Phân
Trang 14tích tương lai được sử dụng nhiều và thích hợp với các DN trong nền kinh tế thị trường Bởi vì trong cơ chế thị trường toàn bộ các yếu tố đầu vào cũng như các yếu tố đầu ra của doanh nghiệp đều phải tự tính toán, nên họ phải sử dụng các phương pháp phân tích tương lai để nhận thức được tình hình biến động của thị trường từ đó để đề ra các mục tiêu kế hoạch
Phân tích trong kinh doanh còn được gọi là phân tích hiện tại (hay tác nghiệp), là quá trình phân tích cùng với quá trình kinh doanh Hình thức này rất thích hợp cho chức năng kiểm tra thường xuyên nhằm điều chỉnh những sai lệch lớn giữa kết quả thực hiện so với mục tiêu đặt ra
Phân tích sau khi kết thúc quá trình kinh doanh còn gọi là phân tích quá khứ Quá trình phân tích này nhằm định kỳ đánh giá kết quả giữa thực hiện so với kế hoạch hoặc định mức được xây dựng và xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả đó Kết quả phân tích cho ta nhận thức được tình hình thực hiện kế hoạch của các chỉ tiêu đặt ra và làm căn cứ để xây dựng kế hoạch tiếp theo
b) Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo:
Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo phân tích chia làm phân tích thường xuyên và phân tích định kỳ
- Phân tích thường xuyên được đặt ra ngay trong quá trình thực hiện kinh doanh, kết quả phân tích, giúp phát hiện ngay tình hình sai lệch so với mục tiêu đặt ra của các chỉ tiêu kinh tế, giúp cho doanh nghiệp có biện pháp điều chỉnh, chấn chỉnh các sai lệch này một cách thường xuyên
- Phân tích định kỳ đặt ra sau mỗi kỳ kinh doanh, các báo cáo đã hoàn thành trong kỳ, thường là quý, 6 tháng hoặc năm Phân tích định kỳ được thực hiện sau khi đã kết thúc quá trình kinh doanh, do đó kết quả phân tích nhằm đánh giá kết quả kinh doanh của từng kỳ và là cơ sở để xây dựng các mục tiêu
kế hoạch kỳ sau
c) Căn cứ theo nội dung phân tích:
Căn cứ theo nội dung phân tích chia thành phân tích các chỉ tiêu tổng hợp và phân tích chuyên đề
Trang 15- Phân tích các chỉ tiêu tổng hợp (phân tích toàn bộ): là việc tổng kết tất cả những gì về phân tích kinh tế và đưa ra một số chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm làm rõ các mặt của kết quả kinh doanh trong mối quan hệ nhân quả giữa chúng cũng như dưới tác động của các yếu tố; nguyên nhân bên ngoài
- Phân tích chuyên đề hay phân tích bộ phận là việc tập trung vào một
số nhân tố của quá trình kinh doanh tác động ảnh hưởng đến chi tiêu tổng hợp Phân tích chuyên đề cũng có thể là phân tích một mặt, một phạm vi nào
đó trong quá trình kinh doanh
Tóm lại, việc đạt ra nội dung phân tích phải căn cứ vào yêu cầu, mục tiêu của quá trình quản lý sản xuất kinh doanh đề ra Vì vậy cần xác định rõ mục tiêu phân tích để lựa chọn thích hợp các loại hình phân tích có hiệu quả thiết thực nhất [9] [17]
1.1.6.2 Trình tự tiến hành phân tích
Công tác phân tích kinh doanh ở doanh nghiệp phụ thuộc vào loại hình, điều kiện, quy mô kinh doanh và trình độ quản lý ở DN Do vậy, công tác tổ chức phân tích cần phải đặt ra như thế nào để thích hợp với hình thức tổ chức kinh doanh của DN
Công tác tổ chức phân tích kinh doanh thường được tiến hành theo ba bước:
- Chuẩn bị cho quá trình phân tích
- Tiến hành phân tích
- Tổng hợp và đánh giá kết quả phân tích
Nội dung của ba bước trên phụ thuộc vào mục đích, yêu cầu và phạm vi phân tích đặt ra Ba bước tiến hành đều có mối liên hệ nhân quả với nhau, do
đó một trong ba bước trên không thực hiện tốt sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình phân tích
Chuẩn bị cho quá trình phân tích hay còn gọi là lập kế hoạch cho phân
Trang 16tích Tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu của doanh nghiệp, mà xác định nội dung cần phân tích, thời gian cần tiến hành phân tích, nhân sự tham gia, tài liệu chuẩn bị cho phân tích… Ở bước này đáng chú ý là kiểm tra tính hợp pháp và hợp lý của tài liệu phân tích
Tiến hành phân tích là bước căn cứ trên tài liệu phân tích, xác định đối tượng phân tích, sử dụng các đối tượng phân tích riêng có để chỉ rõ mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, phân loại các nhân tố theo nhiều tiêu thức khác nhau
để tạo điều kiện cho việc đánh giá đúng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Cuối cùng trên cơ sở kết quả phân tích trên, phải tổng hợp và đánh giá được bản chất hoạt động kinh doanh của DN, chỉ rõ những nhược điểm trong quá trình quản lý DN Từ đó đề ra các biện pháp khắc phục các nhược điểm, phát huy các ưu điểm, khai thác khả năng tiềm tàng để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN [17]
1.1.7 Các phương pháp đánh giá và phân tích hoạt động kinh doanh:
1.1.7.1 Phương pháp cân đối
Phương pháp cân đối được sử dụng nhiều trong công tác lập kế hoạch và ngay cả trong công tác hạch toán để nghiên cứu các mối liên hệ cân đối về lượng của yếu tố với lượng các mặt yếu tố và quy trình kinh doanh và trên cơ
sở đó có thể xác định ảnh hưởng của các yếu tố [1]
1.1.7.2 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt động kinh doanh Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của một kỳ trước được lựa chọn làm căn cứ để so sánh, được gọi là gốc so sánh Tùy theo mục đích của nghiên cứu mà lựa chọn gốc so sánh thích hợp Các gốc so sánh
có thể là: tài liệu năm trước, nhằm đánh giá xu hướng phát triển của các chỉ tiêu; các mục tiêu đã dự kiến (kế hoạch, dự báo, định mức) nhằm đánh giá tình hình thực hiện so với kế hoạch, dự toán, định mức
Trang 17Các chỉ tiêu kỳ được so sánh với kỳ gốc được gọi là chỉ tiêu kỳ phân tích, và là kết quả mà doanh nghiệp đã đạt được, hoặc có thể chỉ tiêu kế hoạch hướng đến tương lai
Để phép so sánh có ý nghĩa thì điều kiện tiên quyết là các chỉ tiêu được
sử dụng phải đồng nhất Về mặt thời gian: các chỉ tiêu được tính trong cùng một khoảng thời gian hạch toán, phải phản ánh một nội dung kinh tế phản ánh chỉ tiêu, phải cùng một phương pháp tính toán chỉ tiêu, phải cùng một đơn vị tính Về mặt không gian: các chỉ tiêu cần được quy đổi về cùng quy mô và
điều kiện kinh doanh tương tự như nhau
1.1.7.3 Phương pháp thay thế liên hoàn:
Là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố lên chỉ tiêu phân tích bằng cách thay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố từ giá trị gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi Sau
đó, so sánh chỉ tiêu vừa tính được với trị số của chỉ tiêu khi chưa có biến đổi của nhân tố cần xác định sẽ tính được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó
Nguyên tắc sử dụng phương pháp thay thế liên hoàn:
- Xác định đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng lên chỉ tiêu kinh tế phân tích
và thể hiện mối quan hệ các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích bằng một công thức nhất định
Sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng trong công thức theo trình tự nhất định
và chú ý: nhân tố lượng thay thế trước, nhân tố chất lượng thay thế sau [15]
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dược:
1.2.1 Chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh
1.2.1.1 Chỉ tiêu phân tích doanh thu
Doanh thu: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được
trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu [1][4] Gồm các loại sau:
Trang 18- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là tổng giá trị sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán ra trong kỳ [5]
- Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là khoản doanh thu sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ như các khoản giảm giá hàng bán, chiết khấu, hàng bán bị trả lại, các khoản thuế…
- Doanh thu hoạt động tài chính là doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và doanh thu hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp
Doanh thu của doanh nghiệp được tạo ra từ các hoạt động[22]:
- Doanh thu từ các hoạt động sản xuất kinh doanh chính
- Doanh thu từ hoạt động tài chính
- Doanh thu từ hoạt động bất thường
1.2.1.2 Chỉ tiêu phân tích biến động chi phí
Hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp luôn gắn liền với thị trường và cách ứng xử các yếu tố chi phí đầu vào, đầu ra nhằm đạt được mức tối đa lợi tức trong kinh doanh Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc kiểm soát chi phí để lập
kế hoạch và ra các quyết định kinh doanh cho tương lai.[4]
Các loại chi phí có liên quan đến đề tài phân tích [4] [5] [22]:
- Giá vốn hàng bán: Hay còn gọi là chi phí hàng bán là biểu hiện bằng
tiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp để hoàn thành việc sản xuất, mua sản phẩm về tới kho hàng của công ty, tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định
- Chi phí bán hàng: Là những chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ
sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, bao gồm các loại như tiền lương, khấu hao tài sản cố định, đóng gói, bảo quản sản phẩm, tiếp thị, quảng cáo…
Trang 19- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những chi phí có liên quan đến
việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh
- Chi phí hoạt động tài chính: Bao gồm các khoản chi phí hoặc các
khoản lỗ liên quan đến các hoạt động đầu tư tài chính, chi phí cho vay và đi vay vốn, chi phí góp vốn liên doanh, liên kết, lỗ chuyển nhượng chứng khoán ngắn hạn, chi phí giao dịch bán chứng khoán…, dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán, khoản lỗ phát sinh khi bán ngoại tệ, lỗ tỷ giá hối đoái…
Dựa vào biến động của từng loại chi phí về số tiền và mức độ tăng giảm theo tỷ lệ để đánh giá biến động của từng loại chi phí và tổng chi phí Đồng thời
so sánh với biến động của doanh thu để phân tích đánh giá về biến động của chi phí là hợp lý hay không
1.2.1.3 Chỉ tiêu phân tích lợi nhuận và tỉ suất lợi nhuận
Bất kỳ một tổ chức nào cũng có mục tiêu để hướng tới, mục tiêu sẽ khác nhau giữa các tố chức mang tính chất khác nhau Mục tiêu của tổ chức phi lợi nhuận là công tác hành chính, xã hội, là mục đích nhân đạo, không mang tính chất kinh doanh Mục tiêu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường nói đến cùng là lợi nhuận Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều xoay quanh mục tiêu lợi nhuận, hướng đến lợi nhuận và tất cả vì lợi nhuận
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh là bộ phận lợi nhuận chính và chủ yếu tạo nên toàn bộ lợi nhuận của công ty Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh thường được xem xét thông qua 2 chỉ tiêu: Lợi nhuận gộp và lợi nhuận thuần
từ hoạt động kinh doanh
- Lợi nhuận gộp: phản ánh chênh lệch giữa tổng doanh thu thuần về tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ với tổng giá vốn sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
đã tiêu thụ Chỉ tiêu này được tính bằng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu và giá vốn hàng bán
- Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh: là lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh thuần của doanh nghiệp Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt
Trang 20động kinh doanh của doanh nghiệp trong kì báo cáo Chỉ tiêu này được tính toán dựa trên cơ sở lợi nhuận gộp từ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp trong kì báo cáo, cộng doanh thu hoạt động tài chính và trừ đi chi phí hoạt động tài chính
- Lợi nhuận khác: là những khoản lợi nhuận doanh nghiệp không dự tính trước hoặc có dự tính trước nhưng ít có khả năng xảy ra
- Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế bao gồm lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận khác
- Lợi nhuận kế toán sau thuế: là lợi nhuận của doanh nghiệp sau khi trừ đi chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản suất kinh doanh của doanh nghiệp Phân tích, xem xét mức độ biến động của tổng số lợi nhuận, đánh giá bằng con số tương đối, thông qua việc so sánh giữa tổng lợi nhuận trong kỳ so với vốn sản xuất sử dụng để sinh ra lợi nhuận
a) Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu thuần (ROS):
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng doanh thu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này càng cao thì kết quả kinh doanh càng đạt hiệu quả
b) Tỷ suất sinh lợi nhuận trên tài sản (ROA):
Chỉ tiêu này phản ánh đo lường khả năng sinh lợi trên tài sản của doanh nghiệp, cứ 1 đồng vốn đầu tư chi ra cho tài sản thì sẽ thu được bao nhiêu lợi nhuận, chỉ tiêu này càng cao thì kinh doanh có hiệu quả trên số tiền bỏ ra
c) Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE):
Chỉ tiêu này cho thấy khả năng sinh lợi từ nguồn vốn bỏ ra đầu tư vào doanh nghiệp, cứ một đồng vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra bao nhiêu lãi ròng (là khoản lợi sau khi đã trừ các khoản phát sinh trong kỳ) Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ rằng doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả trên số vốn bỏ ra
Trang 211.2.2 Chỉ tiêu đánh giá, phân tích về vốn
Để đạt được lợi nhuận tối đa doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh doanh, trong đó quản lý và sử dụng vốn là một
bộ phận rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định Qua phân tích sử dụng vốn doanh nghiệp có thể khai thác tiềm năng sẵn có, biết mình đang ở cung đoạn nào trong quá trình phát triển (thịnh vượng, suy thoái) hay đang ở vị trí nào trong quá trình cạnh tranh với đơn vị khác, nhằm có biện pháp tăng cường quản lý, ở đây phân tích các chỉ tiêu sau:
1.2.2.1 Phân tích biến động và cơ cấu tài sản
Phân tích biến động các khoản mục tài sản nhằm giúp người phân tích tìm hiểu sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của tài sản qua các thời kỳ như thế nào, sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việc nâng cao năng lực kinh tế
để phục vụ cho chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không Phân tích biến động các mục tài sản doanh nghiệp cung cấp cho người phân tích nhìn về quá khứ sự biến động tài sản doanh nghiệp Vì vậy, phân tích biến động về tài sản của doanh nghiệp thường được tiến hành bằng phương pháp so sánh theo chiều ngang và theo quy mô chung Quá trình so sánh tiến hành quá nhiều thời kỳ thì sẽ giúp cho người phân tích có được sự đánh giá đúng đắn hơn về xu hướng, bản chất của sự biến động
1.2.2.2 Phân tích biến động và cơ cấu nguồn vốn
Phân tích biến động các mục nguồn vốn nhằm giúp người phân tích tìm hiểu sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của nguồn vốn qua các thời kỳ như thế nào, sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việc nâng cao năng lực tài chính, tính tự chủ tài chính, khả năng tận dụng, khai thác nguồn vốn trên thị trường cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay không và có phù hợp với chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không
Trang 221.2.2.3 Phân tích khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là năng lực về tài chính mà doanh nghiệp có được để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ cho các cá nhân, tổ chức có quan hệ cho doanh nghiệp vay hoặc nợ Các chỉ tiêu phân tích khả năng thanh toán bao gồm:
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát phản ảnh mối quan hệ giữa tổng tài sản mà hiện doanh nghiệp đang quản lý sử dụng với tổng số nợ phải trả (nợ ngắn hạn, nợ dài hạn ) Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khái quát khả năng thanh toán các khoản nợ của công ty
- Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn hay còn gọi là hệ số khả năng thanh toán hiện hành Tỷ số này đo lường khả năng trả nợ ngắn hạn của công
ty bằng các tài sản có thể chuyển đổi trong thời gian ngắn nhất Hệ số này phải lớn hơn 1 Hệ số này càng cao thì khả năng thanh toán càng tốt tuy nhiên nếu quá cao sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động vì doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
Hệ số này đo lường khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng giá trị các loại tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao
- Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Chỉ tiêu khả năng thanh toán tức thời (Htt) chỉ xem xét các khoản có thể
sử dụng để thanh toán nhanh nhất đó là tiền Khả năng thanh toán tức thời cho biết, với số tiền và các khoản tương đương tiền, doanh nghiệp có đảm bảo thanh toán kịp thời các khoản nợ ngắn hạn hay không
Trang 231.2.2.4 Phân tích chỉ số luân chuyển hàng tồn kho
Chỉ số này phản ảnh mối quan hệ giữa khối lượng hàng hóa đã bán với khối lượng hàng hóa dự trữ trong kho Số vòng quay hàng tồn kho càng lớn hoặc số ngày một vòng hàng tồn kho càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển hàng tồn kho càng nhanh và ngược lại
1.2.2.5 Phân tích chỉ số luân chuyển vốn lưu động
Vốn lưu động thường xuyên là một chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp Số vòng quay của vốn lưu động càng lớn chứng tỏ vốn lưu động luân chuyển càng nhanh, hoạt động tài chính
càng tốt Doanh nghiệp cần ít vốn và tỷ suất lợi nhuận càng cao
1.3 Thị trường dược phẩm Thế giới và Việt Nam
1.3.1 Thị trường dược phẩm thế giới
Thị trường dược phẩm thế giới đang có sự phân hóa lớn giữa các khu vực và quốc gia theo mức độ phát triển:
Nhóm các nước phát triển (Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, các nước khối OECD,…): đang dần bước vào giai đoạn bảo hòa do dân số tăng chậm, tỷ suất sinh thấp, mức tiêu thụ thuốc đã ở mức rất cao
Nhóm các nước đang phát triển (22 quốc gia pharmerging, chiếm 70% dân số thế giới, trong đó có Việt Nam): đang trong giai đoạn tăng trưởng nhưng đang dần chậm lại Tại các quốc gia này, mức tiêu thụ dược phẩm bình quân đầu người còn thấp, thu nhập đang tăng dần đi kèm ý thức, nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao, xu hướng già hóa đang chiếm chủ đạo kéo theo chi tiêu cho y tế và dược phẩm sẽ tiếp tục tăng
Nhóm các nước chưa phát triển: chiếm tỷ trọng nhỏ cả về giá trị tiêu thụ lẫn quy mô dân số
Trang 24(Nguồn: FPTS Research, IMS Health, 2017)
Hình 1.1 Biểu đồ mức tiêu thụ thuốc bình quân đầu người giữa Việt Nam
và các nước giai đoạn 2015-2020 1.3.2 Thị trường dược phẩm Việt Nam
Theo FPTS Research (2017), Việt Nam thuộc 22 nước có ngành công nghiệp dược đang phát triển (nhóm các quốc gia pharmerging) Mức độ phát triển của ngành dược Việt Nam còn khá hạn chế do một số đặc điểm sau:
- Chưa có ngành công nghiệp hóa dược, gần 100% nguyên liệu tân dược phải nhập khẩu; và nguồn nguyên liệu chủ yếu đến từ Trung Quốc và
Ấn Độ;
- Năng lực R&D còn hạn chế do: 1/ Thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao; 2/ Các doanh nghiệp thiếu chi phí nghiên cứu các loại thuốc mới lên đến hàng tỷ đô la; 3/ Thiếu sự hỗ trợ về tài chính, chính sách,… của
cơ quan quản lý
- Trình độ sản xuất chưa đủ đáp ứng các yêu cầu để gia nhập vào thị trường quốc tế
Trang 25Đơn vị: USD/người (Nguồn: Angelino và cs., 2017)
Hình 1.2 Mức chi tiêu thuốc bình quân ở Việt Nam (số liệu dự báo cho
giai đoạn 2016-2027)
Mức chi tiêu thuốc bình quân đầu người chỉ vào khoản 33 USD năm
2015 và dự báo sẽ tăng lên gần 50 USD vào năm 2020, nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với mặt bằng chung ở mức xấp xỉ 78 USD của các nước pharmerging và 180 USD của cả thế giới
Như vậy, về dài hạn, tiềm năng tăng trưởng ngành dược phẩm của Việt Nam còn rất lớn
Y học phát triển mạnh mẽ giúp tăng tuổi thọ dân số quốc gia,nhưng theo sau nó là tỉ lệ dân số già tăng lên đáng kể Đặc biệt, về cấu trúc dân số, Việt Nam vừa bước qua giai đoạn hậu “dân số vàng”, dân số Việt Nam được coi là đang bước vào giai đoạn lão hóa với một tốc độ rất cao Sự nhanh chóng mở rộng của tầng lớp trung lưu thu nhập trung bình và tỷ lệ người cao tuổi đã đẩy mạnh tăng nhu cầu về các sản phẩm chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt
là về các sản phẩm dược phẩm
Thị trường tiêu thụ lớn nhất trong cả nước là TP.HCM và Hà Nội, chiếm 43% tổng tiêu thụ thuốc cả nước
Trang 26(Nguồn: FPTS Research, 2017)
Hình 1.3 Biểu đồ cơ cấu tiêu thụ thuốc theo vùng miền giai đoạn 2014-2016
Về cơ cấu tiêu thụ thuốc theo nhóm bệnh, các loại thuốc kháng sinh, thuốc điều trị bệnh tim mạch và thuốc điều trị các bệnh ung thư, ung bướu liên tục chiếm tỷ trọng lớn (hơn 51%) tại Việt Nam trong 3 năm gần đây
(Nguồn: FPTS Researh, 2017)
Hình 1.4 Biểu đồ cơ cấu tiêu thụ theo nhóm bệnh giai đoạn 2014-2016
Trang 271.4 Hệ thống kinh doanh thuốc tại Việt Nam
Khác với thị trường dược phẩm thế giới, nơi nhà sản xuất và nhà phân phối thường là các đơn vị độc lập nhằm tập trung hóa chuyên môn, hệ thống phân phối dược phẩm tại Việt Nam lại khá đặc thù với cấu trúc phức tạp và sự tham gia của nhiều bên liên quan Cụ thể, hệ thống kinh doanh thuốc tại Việt Nam bao gồm các thành phần tham gia chính như sau:
1.4.1 Các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm
+ Doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm tư nhân
+ Doanh nghiệp cổ phần không có vốn nhà nước
+ Doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước
+ Doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm nước ngoài
+ Các công ty dược phẩm vừa sản xuất vừa kinh doanh vừa phân phối + Hệ thống chợ sỉ
Tuy nhiên, trên thực tế, nắm quyền lực chi phối lớn nhất trong mạng lưới phân phối dược phẩm tại Việt Nam là hệ thống chợ sỉ tại TP.HCM và Hà Nội Đây là một mô hình tổ chức độc đáo nhất trên thế giới và chỉ có thể tìm thấy tại Việt Nam [12],[18]
1.4.2 Các kênh phân phối chính
1.4.2.1 Kênh phân phối cho Bệnh viện (ETC)
Đây là kênh chủ lực mà tất cả các nhà sản xuất dược phẩm cũng như nhà phân phối nhắm đến Nguyên nhân chủ yếu do:
- Số lượng tiêu thụ lớn nhất trong tất cả các kênh
- Bệnh nhân không có quyền và không đủ kiến thức để mặc cả giá thuốc, chủng loại và hoàn toàn phụ thuộc cũng như chấp nhận phác đồ điều trị
và toa thuốc của Bác sĩ
- Là kênh quảng bá hiệu quả, nhanh chóng và mức độ lan tỏa nhanh nhất nếu được các Bác sĩ tin tưởng kê toa
Trang 28- Đối với các bệnh viện Trung ương tuyến cuối tập trung tại Hà Nội và TP.HCM, đây là hi vọng cuối cùng của đa số các bệnh nhân khi mắc các bệnh hiểm nghèo và nghiêm trọng như ung thư, máu huyết, nhi, đa chấn thương, tim mạch, thần kinh… và đòi hỏi sử dụng một lượng lớn các thuốc đặc trị có giá thành rất cao[5],[13]
1.4.2.2 Kênh bán buôn, bán lẻ (OTC)
Đây là kênh phân phối phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay do tính thuận tiện trong mua bán và do thói quen sử dụng các loại thuốc phổ thông của đại bộ phận dân cư Việt Nam Tương tự như tại các quốc gia đang phát triển khác, đến hiệu Thuốc tây là lựa chọn đầu tiên của đa phần người dân khi mắc bệnh Tại các vùng nông thôn hoặc vùng xa xôi hẻo lánh tại Việt Nam, đây gần như là sự lựa chọn duy nhất của họ[5],[13]
Theo số liệu của tổng cục thống kê, cả nước có ít nhất khoảng 42.302
cơ sở bán lẻ thuốc (số liệu thực tế có thể cao hơn), phục vụ gần 90,3 triệu dân Việt Nam [17]
1.4.3 Thực trạng kinh doanh của các doanh nghiệp dược:
Việt Nam vẫn chưa có một nền công nghiệp Dược hiện đại, chưa đáp ứng đủ nhu cầu thị trường và chưa có công nghiệp sản xuất nguyên liệu Dược Các doanh nghiệp Dược Việt Nam đa số sản xuất thành phẩm từ nguyên liệu nhập, nguyên liệu để sản xuất thuốc đa số nhập khẩu từ Trung Quốc và Ấn
Độ, lần lượt là 52% và 16% tổng giá trị nhập khẩu Về nguyên liệu đông dược, 90% nhập từ Trung Quốc, còn lại là thảo dược trồng ở Việt Nam, phổ biến như Atisô, Đinh lăng, Cam thảo, Cao ích mẫu, Diệp hạ châu,…và hầu hết đều sản xuất các dòng thuốc phổ biến có giá rẻ nên doanh nghiệp nội địa cạnh tranh quyết liệt trong phân khúc thị trường hạn hẹp, trong khi biệt dược
có giá trị cao đều do doanh nghiệp nước ngoài chiếm lĩnh
Trang 29Song, các doanh nghiệp Dược trong nước đang có xu hướng nâng cấp nhà máy sản xuất đạt các tiêu chuẩn quốc tế như Pic/s - GMP, EU- GMP để sản xuất thuốc generic chất lượng cao nhằm tăng khả năng thâm nhập kênh phân phối ETC và xuất khẩu; đồng thời gia công và sản xuất thuốc nhượng quyền là con đường ngắn và hiệu quả để theo kịp trình độ của ngành Dược Thế giới và tăng năng lực cạnh tranh [2] Tính đến tháng 11 năm 2014 đã có
133 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP) (trong
đó sản xuất thuốc tân dược 104, sản xuất thuốc từ dược liệu 25, sản xuất Vắc xin 4); 141 đơn vị đạt chuẩn GLP; 177 đơn vị đạt GSP; với khoảng 2.000 doanh nghiệp áp dụng GDP; khoảng 10.000 nhà thuốc đạt GPP; hệ thống bán
lẻ đạt trên 39.000 điểm, tương ứng mỗi 2.300 dân thì có một điểm cung ứng thuốc, góp phần bảo đảm cung ứng thường xuyên thuốc phòng chữa bệnh cho người dân [3]
Hiện nay với việc tăng tỉ lệ sử dụng bảo hiểm y tế của toàn dân theo chỉ tiêu của ngành và các quy chế quản lý về kê đơn chặt chẻ hơn nên tỉ lệ cung ứng cho kênh ETC ngày càng tăng cao còn kênh OTC thì càng khó khăn Do
đó sự cạnh tranh giữa các Công Ty ngày càng cao, nếu không trúng thầu thì
áp lực cho kênh OTC cực kỳ khó khăn
1.5 Khái quát về Công ty CP Dược và Vật tư y tế Bình Thuận
1.5.1 Quá trình hình thành và phát triển
Quá trình thành lập và phát triển của Công ty trải qua các giai đoạn:
- Quyết định số 292/QĐ-UB ngày 02/03/1976 thành lập Công ty Dược phẩm Thuận Hải;
- Quyết định số 594/QĐ-UB ngày 19/07/1989 sáp nhập Công ty và xí nghiệp sản xuất, đổi tên là Xí nghiệp liên hiệp Dược Thuận Hải;
- Quyết định số 684/ UB-BT đổi tên thành Công ty Dược và Vật tư y tế Bình Thuận, viết tắt là PHAPHARCO;
- Quyết định số 1843/QĐ-CTUBBT, ngày 26/7/2001 "Về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước Công ty Dược và Vật tư Y tế Bình Thuận thành Công ty cổ phần Dược và Vật tư Y tế Bình Thuận"
Trang 30Công ty CP Dược và Vật tư y tế Bình Thuận (PHAPHARCO) có trụ sở chính tại 192 Nguyễn Hội, P Phú Trinh, TP Phan Thiết, Tỉnh Bình Thuận
PHAPHARCO là Công ty trực tiếp sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh
các sản phẩm về thuốc hóa dược, dược liệu và thực phẩm chức năng Qua gần
40 năm, Công ty đã không ngừng đầu tư thiết bị mới, đồng bộ, xây dựng/cải tiến nhà xưởng sản xuất, kho lưu trữ, tăng cường nhân lực chất lượng cao,…
để đáp ứng yêu cầu sản xuất và đạt chứng nhận GMP-WHO “Thực hành tốt sản xuất thuốc theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới” Một số sản phẩm mới được đưa ra thị trường và được tiêu thụ khá mạnh hiện nay của PHAPHARCO: viên ngậm giảm ho, đau rát họng Painpain; viên ngậm bổ dưỡng, tăng sức đề kháng từ sữa ong chúa; viên Vitamin C kẽm,…
Công ty có nhà máy sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP-WHO đặt tại P Phú Trinh, TP Phan Thiết, Bình Thuận Đây nơi trực tiếp sản xuất các sản phẩm chủ yếu đang phân phối trên thị trường của công ty bao gồm : thuốc hóa dược, dược liệu và thực phẩm chức năng Đồng thời, Công ty cũng nhập khẩu và phân phối các sản phẩm về thuốc hóa dược, dược liệu và thực phẩm chức năng từ các nước khác Năng lực sản xuất: trên 160 triệu đơn vị sản phẩm/năm
Các sản phẩm tiêu biểu: thuốc viên nén, viên bao, viên nang cứng, thuốc bột, thuốc cốm, thuốc kem, thuốc mỡ, thuốc gel, thuốc nước dùng ngoài, các sản phẩm chứa hóc môn
Hiện nay, Công ty có hệ thống 4 chi nhánh Bắc Bình Thuận, Nam Bình Thuận, TP HCM và TP Cần Thơ và hệ thống phân phối rộng khắp tại các địa bàn trong tỉnh Bình Thuận và các tỉnh thành khác Dự kiến trong tương lai sẽ
mở rộng thêm ở các tỉnh thành khác ở khu vực miền Trung và trong cả nước Đồng thời, sản phẩm của Công ty cũng đã tiếp cận thị trường xuất khẩu sang Đông nam Á như Cambodia, Malaysia Đồng thời, Công ty có khả năng nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong các lĩnh vực Thuốc hóa dược và dược liệu
Trang 311.5.2 Sơ đồ tổ chức của Công ty
Ngày 01 tháng 01 năm 2017
TỔNG GIÁM ĐỐC
1.5.3 Nhân lực
Để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đến nay, Công ty có trên
200cán bộ công nhân lao động, trong đó tỷ lệ nhân lực có trình độ chuyên môn chiếm tỷ lệ cao, đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty
Bảng 1.1 Cơ cấu nhân lực Công ty CP Dược và VTYT Bình Thuận
Trang 321.5.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật
Công ty CP Dược và Vật tư y tế Bình Thuận gồm có văn phòng công ty
và văn phòng của 4 chi nhánh cùng các dụng cụ, phương tiện đáp ứng cho hoạt động kinh doanh
Ngoài ra còn có các cơ sở vật chất đáp ứng cho sản xuất như:
+ 01 khu kiểm nghiệm;
+ 01 xưởng sản xuất sản phẩm dạng nước;
+ 01 xưởng sản xuất sản phẩm dạng viên;
+ 01 kho chứa nguyên liệu và kho thành phẩm
+ Thiết bị máy móc trang bị trong các xưởng sản xuất và các phòng ban
1.6 Tính cấp thiết của đề tài
Công Ty cổ phần Dược và Vẫt Tư Y Tế Bình Thuận từ trước đến nay chưa có nghiên cứu nào về phân tích hoạt động kinh doanh của Công Ty Vì
vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu: “Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Dược và vật tư y tế Bình Thuận năm 2017”
nhằm đánh giá chính xác nhất về cơ cấu hoạt động kinh doanh của Công Ty,
mô hình tổ chức kinh doanh, cơ cấu về tài chính… Từ đó đưa ra chiến lược phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí trong sản xuất kinh doanh, tăng sức cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công Ty
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Dược và Vật tư y tế Bình Thuận năm 2017 thông qua nguồn tài liệu thu thập từ Công ty:
Báo cáo tài chính
Báo cáo bán hàng
Thời gian: 01 tháng 01 năm 2017 đến 31 tháng 12 năm 2017
Địa điểm nghiên cứu: Công Ty cổ phần Dược và Vật Tư Y Tế Bình Thuận
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp mô tả hồi cứu
2.2.2 Biến số nghiên cứu
Biến số nghiên cứu được thu thập từ các báo cáo tài chính, báo cáo thuế, báo cáo hoạt động kinh doanh của Công ty năm 2017
Bảng 2.2 Các biến số nghiên cứu
STT Tên biến Phân loại biến Cách thu thập số liệu
2 Tài sản cố định Dạng số Báo cáo tài chính
4 Tài sản lưu động Dạng số Báo cáo tài chính
Trang 345 Vốn bằng tiền Dạng số Báo cáo tài chính
10 Vay và nợ ngắn hạn Dạng số Báo cáo tài chính
11 Nợ trả người bán Dạng số Báo cáo tài chính
16 Chi phí lãi vay Dạng số Báo cáo tài chính
21 Lợi nhuận thuần Dạng số Báo cáo tài chính
23 Giá vốn hàng bán Dạng số Báo cáo tài chính
Trang 352.2.3 Nguồn thu thập số liệu
Thông tin và số liệu thu thập tại Công ty như: Bảng cân đối kế toán (Balance sheet) Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Income Statement) Bảng thuyết minh báo cáo tài chính (Explaination of Financial Statement) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (The Statement of Cash Flows) Các bảng báo cáo đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh và định hướng phát triển của doanh nghiệp qua các năm hoạt động
2.3 Các chỉ tiêu phân tích
Phân tích chung về kết quả hoạt động của doanh nghiệp:
- Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo chỉ tiêu Doanh thu: doanh thu từ hoạt động kinh doanh và doanh thu từ hoạt động khác
- Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo mặt hàng: Phân tích theo khối lượng mặt hàng và phân tích theo kết cấu mặt hàng
Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm và lợi nhuận trong kinh doanh của Công ty năm 2017
- Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm: so sánh tỷ lệ hoàn thành so với
kế hoạch và phân tích các yếu tố ảnh hưởng;
- Phân tích lợi nhuận của công ty:
+ Lợi nhuận gộp
+ Lợi nhuận sau thuế
Phân tích về lưu chuyển tiền tệ thông qua kết quả từ Bảng cân đối
kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Phân tích tình hình tài chính của công ty năm 2017
Phân tích báo cáo tài chính phục vụ cho mục đích kiểm soát nội bộ, khả năng sinh lợi từ đầu tư, hiệu quả quản lý tài sản
- Phân tích hiệu quả sinh lời của hoạt động kinh doanh qua các chỉ tiêu: