1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

bài thảo luận dân sự số 7 vấn đề thừa kế theo pháp luật

14 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 39,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây: a Phần di sản không được định đoạt trong di chúc; b Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu

Trang 1

PHẦN I: XÁC ĐỊNH VỢ/CHỒNG CỦA NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢN

Câu 1: Điều luật nào của BLDS quy định trường hợp thừa kế theo pháp luật?

- Theo Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định:

“1 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản

2 Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.”

Câu 2: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án áp dụng thừa kế theo pháp luật trong vụ việc được nghiên cứu.

- Tôi đồng ý với việc Tòa án áp dụng thừa kế theo pháp luật trong vụ việc trên

- Vì: Lúc chết, cụ Thát, cụ Tần và cụ Thứ không để lại di chúc Và theo như ông Thăng khai mẹ ông chết có để lại di chúc, nhưng các đồng thừa kế khác “khẳng định chỉ có lời trăn trối của bà Tần nói với các con về việc chia đất cho bà Tiến do

bà Bằng ghi lại nhưng bị ông Thăng xé đi” Vì những lý do đó có thể khằng định ba

cụ chết không để lại di chúc cho nên di sản để lại sẽ được chia theo pháp luật

+ Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 642 BLDS năm 2015 về di chúc bị thất lạc, hư hại: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị

hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập

di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật”

Trang 2

+ Và căn cứ tại Điểm a, Khoản 1, Điều 650 BLDS năm 2015 về Những trường

hợp thừa kế theo pháp luật: “Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây: Không có di chúc.”

Câu 3: Vợ/chồng của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ mấy? Nêu cơ

sở pháp lý khi trả lời.

- Vợ/chồng của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ nhất

- Cơ sở pháp lý tại Điểm a, Khoản 1, Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;”

Câu 4: Cụ Thất và Cụ Thứ có đăng ký kết hôn không? Vì sao?

- Cụ Thất và Cụ Thứ không có đăng ký kết hôn Vì hai cụ chỉ sống chung với nhau như vợ, chồng từ cuối năm 1960

Câu 5: Trong trường hợp nào những người chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng kí kết hôn được hưởng thừa kế của nhau? Nêu cơ sở pháp

lý khi trả lời.

- Trường hợp những người chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng

ký kết hôn được hưởng thừa kề của nhau:

+ Những người chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn trước Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 thì được coi như vợ chồng và được hưởng thừa kế của nhau

+ Những người chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn sau Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, trước Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nếu họ đi đăng ký trong thời hạn 2 năm kể từ ngày đi đăng ký thì được trở thành vợ chồng và được hưởng thừa kế của nhau

- Căn cứ vào Điểm a, b của Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình:

+ “Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm

1987, ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

+ Nam và nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật

Trang 3

này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định

về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết

Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng

+ Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại Điểm a, Điềm b khoản này của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đề không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan

hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và Khoản 3 Điều 17 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.”

Câu 6: Ngoài việc sống với cụ Thứ, cụ Thát còn sống với người phụ nữ nào? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời.

- Ngoài việc sống với cụ Thứ, cụ Thát còn sống với cụ Tần

- Đoạn dưới đây của bản án đã khẳng định: “Các đương sự đều thống nhất là cụ Thát mất năm 1961 có vợ là cụ Tần mất năm 1995 có 4 người con là ông Thăng, bà Bằng, bà Khiết và bà Triển Theo các nguyên đơn và bà Khiết thì cụ Thát có vợ hai

là cụ Phạm Thị Thứ mất năm 1994 có con là bà Tiến.”

Câu 7: Nếu cụ Thát và cụ Thứ chỉ bắt đầu sống với nhau như vợ chồng vào cuối năm 1960 thì cụ Thứ có là người thừa kế của cụ Thát không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Nếu cụ Thát và cụ Thứ chỉ bắt đầu sống chung với nhau như vợ chồng vào cuối năm 1960 thì cụ Thứ không phải là người thừa kế theo pháp luật của cụ Thất

- Vì căn cứ theo Điểm a, Khoản 4, Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 quy định về thừa kế theo pháp luật: “Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 13-01-1960 - ngày công bố Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 - đối với miền Bắc; trước ngày 25-3-1977 - ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được

áp dụng thống nhất trong cả nước - đối với miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có

vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn sau không bị hủy bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người vợ đều là người thừa

kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại, người chồng là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ.”

=>Như vậy, cụ Thát và cụ Thứ sống ở miền Bắc (Hà Nội), hai người bắt đầu sống với nhau như vợ chồng từ cuối năm 1960 thì không nằm trong trường hợp của Điểm

a, Khoản 4 của Nghị quyết trên Vì thế, cụ Thứ không là người thừa kế cụ Thát

Trang 4

Câu 8: Câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không khi cụ Thát và cụ Thứ sống

ở miền Nam? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Nếu cụ Thát và cụ Thứ sống ở miền Nam thì cụ Thứ là người thừa kế của cụ Thát

- Vì: căn cứ theo Điểm a, Khoản 4, Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 quy định

về thừa kế theo pháp luật như trên thì ở miền Nam chỉ cần trước ngày 25-03-1977 thì vẫn công nhận cụ Thứ là người thừa kế hàng thứ nhất của cụ Thát

Câu 9: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án thừa nhận cụ Thứ là người thừa kế của cụ Thát.

- Nếu căn cứ vào Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000:

+ Trước 3/1/1987 chưa đăng ký - khuyến khích đăng ký - công nhận là vợ chồng + Từ 3/1/1987 - 1/1/2001 đăng ký trong thời hạn 2 năm từ 1/1/2001 đến 1/1/2003

- từ sau 1/1/2003 mà không đăng ký thì không công nhận là vợ chồng

+ Trừ 2 trường hợp trên, từ ngày 1/1/2001 trở đi không đăng ký kết hôn không công nhận vợ chồng

=>Do đó cụ Thát và cụ Thứ được công nhận là vợ chồng hợp pháp nên Tòa án thừa nhận cụ Thứ là người thừa kế của cụ Thát là hợp lý

- Nếu căn cứ theo pháp luật hiện hành và Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 thì việc Tòa án thừa nhận cụ Thứ là người thừa kế của cụ Thát là không hợp lý áp dụng Khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

+ Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tích

+ Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý

PHẦN II XÁC ĐỊNH CON CỦA NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢN

Câu 1: Con nuôi của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ mấy? Nêu cơ

sở pháp lý khi trả lời.

- Con nuôi của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ nhất

- Cơ sở pháp lý căn cứ vào Điểm a, Khoản 1, Điều 676 BLDS năm 2005 và Điểm a, Khoản 1, Điều 651 BLDS năm 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật:

“Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;”

Trang 5

Câu 2: Trong trường hợp nào một người được coi là con nuôi của người để lại

di sản? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Trường hợp một người được coi là con nuôi của người để lại di sản:

+ Nếu đã xác lập quan hệ nuôi dưỡng trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm

1986 mà chưa đăng ký thì vẫn được chấp nhận có con nuôi thực tế

+ Nếu đã xác lập quan hệ nuôi dưỡng sau năm 1986 và trước năm 2001 mà chưa đăng ký, nếu áp ứng đủ điều kiện chuyển tiếp thì phải đi đăng ký kể từ ngày 1/1/2001 đến 31/12/2015 để trở thành con nuôi thực tế

- Căn cứ vào Khoản 1, Điều 50, Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định về Điều kiện chuyển tiếp:

“1 Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau trước ngày Luật này có hiệu lực mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được đăng ký trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi;

b) Đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và

cả hai bên còn sống;

c) Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con”

Câu 3: Trong Bản án số 20, bà Tý có được cụ Thát và cụ Tần nhận làm con nuôi không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời.

- Trong Bản án số 20, bà Tý được cụ Thát và cụ Tần nhận làm con nuôi

- Đoạn của Bản án cho câu trả lời:

“….Các bà có nghe nói trước đây bố mẹ các bà có nhận bà Nguyễn Thị Tý làm con nuôi, sau đó bà Tý về với bố mẹ đẻ và đi lấy chồng…bà Nguyễn Thị Tý trước đây

có là con nuôi cụ Thát và cụ Tần trong thời gian 6 đến 7 năm, sau đó chị Tý về nhà

mẹ đẻ sinh sống”

Câu 4: Tòa án có coi bà Tý là con nuôi của cụ Thát và cụ Tần không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?

- Toà án không coi bà Tý là con nuôi của cụ Thát và cụ Tần

- Đoạn của bản án cho câu trả lời: “Xác định bà Nguyễn Thị Tý không phải là con nuôi của cụ Thát, cụ Tần, cụ Thứ”

Trang 6

Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về giải pháp trên của Tòa án liên quan đến bà Tý.

- Toà án từ chối ghi nhận sự tồn tại của quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi nếu việc nuôi dưỡng chỉ trong thời gian ngắn (cụ thể là bà Tý trước đây là con nuôi của cụ Thát và cụ Tần trong 6, 7 năm; sau đó bà Tý về nhà cha mẹ đẻ và trong lý lịch cụ Thát, cụ Tần không ghi phần con nuôi là bà Tý) Hướng giải quyết của Toà án là hợp lý vì việc nuôi con nuôi chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn thì không

đủ cơ sở để xác định đó là quan hệ nuôi con nuôi thực tế

Câu 6: Trong Quyết định số 182, Tòa án xác định anh Tùng được hưởng thừa

kế với tư cách nào? Vì sao?

- Trong Quyết định số 182, Toà án xác định anh Tùng được hưởng thừa kế với tư cách là con nuôi, tức là thuộc hàng thừa kế thứ nhất

- Vì ông Tùng đã ở với hai cụ và các cụ đã nuôi dưỡng ông từ nhỏ, khi hai cụ già yếu ông Tùng là người phụng dưỡng, chăm sóc hai cụ, khi hai cụ chết ông Tùng là người lo mai táng

Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án liên quan đến anh Tùng.

- Hướng xác định của Toà án liên quan đến anh Tùng là nếu thu thập, xác minh về lời khai của anh Tùng thì phải coi anh Tùng là con nuôi của hai cụ trên thực tế Hướng giải quyết của Toà là bám sát vào thực tiễn, phù hợp ý chí của người quá cố

là công nhận thực tế có quan hệ cha mẹ nuôi, con nuôi mặc dù quan hệ này chưa được đăng ký Tuy nhiên, để xác định quan hệ này tồn tại, cần có chứng cứ thực tế thuyết phục và việc đánh giá tính thuyết phục của chứng cứ phụ thuộc nhiều vào nhận thức của thẩm phán

Câu 8: Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 182 xảy ra sau khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, anh Tùng được hưởng thừa kế của cụ Cầu và cụ Dung không? Vì sao?

- Nếu hoàn cảnh tương tự như quyết định số 182 xảy ra sau khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, anh Tùng không được hưởng thừa kế của cụ Cầu và cụ Dung ,vì theo các điều về luật nuôi con từ điều 34 đến điều 39 luật Hôn nhân và Gia đình

1986 thì không thừa nhận trường hợp con nuôi thực tế như trường hợp của anh Tùng Nên trường hợp này anh Tùng không thuộc trường hợp hàng thừa kế thứ nhất để hưởng di sản của cụ Cầu và cụ Dung

Trang 7

Câu 9: Con đẻ thuộc hàng thừa kế thứ mấy của người để lại di sản? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Con đẻ thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản Theo Điểm a, Khoản

1, Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha

đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi,con đẻ, con nuôi của người chết”

Câu 10: Đoạn nào của bản án cho thấy cụ Tiến là con đẻ của cụ Thát?

- Án sơ thẩm căn cứ vào lý lịch của bà Tiến có xác nhận của chính quyền địa phương thì bà Tiến là con của cụ Thát và là em của ông Thăng , bà Bằng , bà Khiết , bà Triển cũng như xác nhận của họ hàng , hàng xóm khẳng định cụ Thứ là

vợ của cụ Thát và bà Tiến là con của cụ Thứ , cụ Thát

Câu 11: Suy nghĩ của anh/chị về giải pháp trên của Toà án liên quan đến bà Tiến.

- Giải pháp của toà án là vô cùng hợp lý Bởi bà Tiến cũng được coi là con của cụ Thát giống như Thăng, Bằng ,Khiết , Triển Ông Thăng không công nhận bà Tiến là

em cùng cha khác mẹ , không coi cụ Thứ là mẹ kế chưa có đủ cơ sở xác định cụ Tần coi bà Tiến như con, cũng như cụ Thứ coi các con cụ Tần như con đẻ nên án sơ thẩm xác định diện thừa kế đối với di sản của cụ Tần , cụ Thứ là các con đẻ của từng người cũng là thấu tình đạt lý

Câu 12: Có hệ thống pháp luật nào xác định con dâu , con rể là người thừa kế của cha mẹ chồng , cha mẹ vợ không ? Nếu có nêu hệ thống pháp luật mà anh/chị biết?

- Không có hệ thống pháp luật nào xác định con dâu, con rể là người thừa kế của cha mẹ chồng, cha mẹ vợ Căn cứ vào Điều 651 BLDS năm 2015 và Điều 676 BLDS năm 2005 thì con dâu và con rể không thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên sẽ không được hưởng phần di sản thừa kế do cha mẹ để lại

PHẦN III CON RIÊNG CỦA VỢ/CHỒNG

Câu 1: Bà Tiến có là con riêng của vợ chồng cụ Tần không? Vì sao?

- Bà Tiến là con riêng của vợ chồng cụ Tần

- Vì: Áp dụng Điều 56, 243, 244, 245 Bộ luật tố tụng dân sự, Áp dụng khoản 2 Điều

7, khoản 3 Điều 13 Nghị định 70/CP ngày 12-6-1997 về án phí, xử: Chấp nhận đơn yêu cầu chia thừa kế của bà Nguyễn Thị Tiến, bà Nguyễn Thị Bằng, bà Nguyễn Thị

Trang 8

Triển đối với ông Nguyễn Tất Thăng về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Thát, cụ Tần, cụ Thứ Xác định cụ Nguyễn Tất Thát có 2 vợ vợ cả là cụ Nguyễn Thị Tần, vợ hai là cụ Phạm Thị Thứ Xác định cụ Thát và cụ Tần có 4 người con chung là: Nguyễn Tất Thắng Nguyễn Thị Bằng, Nguyễn Thị Khiết, Nguyễn Thị Triển Xác định cụ Thát và cụ Thứ có 1 người con là Nguyễn Thị Tiến Xác định bà Nguyễn Thị Tý không phải là con nuôi của cụ Thát, cụ Tần, cụ Tần cụ Thứ Bên cạnh đó: bà Tiến còn xuất trình lý lịch và giấy khai sinh chính do Ủy ban nhân dân phường Xuân La cấp ghi bà Tiến có bố ghi là Nguyễn Tất Thát, mẹ là Phạm Ngọc Thứ

Câu 2: Trong điều kiện nào khi con riêng của chồng được kế thừa di sản của vợ? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Điều kiện con riêng của chồng được kế thừa di sản của vợ nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau

- Cơ sở pháp lý: Điều 654 BLDSD năm 2015: “Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu

có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này.”

Câu 3: Bà Tiến có đủ điều kiện để hưởng để hưởng thừa kế di sản của cụ Tần không? Vì sao?

- Bà Tiến không đủ điều kiện để hưởng kế thừa di sản của cụ Tần

- Vì theo Điều 654 BLDS 2015 quy định về quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế thì bà chưa đủ điều kiện để hưởng thừa kế từ cụ Tần Bên cạnh đó có

đề cập đến việc bà Tần để lại lời trăng trối chia đất cho bà Tiến được bà Bằng ghi lại bằng lời không có chứng cứ xác minh

Câu 4: Nếu bà Tiến có đủ điều kiện để hưởng di sản thừa kế từ cụ Tần thì bà Tiến được hưởng thừa kế ở hàng thứ mấy của cụ Tần? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Nếu bà Tiến có đủ điều kiện kế thừa từ cụ Tần thì bà Tiến được hưởng thừa kế ở hàng hàng thứ nhất

- Cơ sở pháp lý: Căn cứ Điều 654 BLDS 2015: Quan hệ thừa kế giữa con riêng và

bố dượng, mẹ kế “Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa

kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này.”

Trang 9

Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án không thừa nhận tư cách kế thừa của bà Tiến đối với di sản của cụ Tần.

- Theo suy nghĩ của tôi việc Tòa án không thừa nhận tư cách kế thừa của bà Tiến đối với di sản cuảt cụ Tần là hợp lý, đúng Vì không có đủ chứng cứ để chứng minh lúc cụ Tần còn sống bà Tiến có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng cụ Tần như mẹ đẻ Bên cạnh đó việc Cụ Tần để lại lời trăng trối chia di sản cho bà Tiến được bà Bằng ghi lại không có chứng cứ chứng minh

Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị ( nếu có) về chế định thừa kế lên quan đến hoàn cảnh của con riêng của chồng/vợ trong BLDS hiện nay.

- Theo suy nghĩ của tôi chế định liên quan đến hoàn cảnh của con riêng của chồng/vợ trong BLDS hiện nay:

+ Có những bất cập về căn cứ để phát sinh quan hệ kế thừa giữa con riêng với bố dượng, mẹ kế;

+ Quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng từ một chiều có được xem như là cha con, mẹ con để hưởng thừa kế không;

+ Trong trường hợp khi người chết để lại di sản, vì không muốn con riêng hưởng

di sản nên có người đã phủ nhận “Quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng” đã có Vậy cần phải quy định biện pháp xác minh nào để thừa nhận “Quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng” đã có để đảm bảo quyền lợi cho con riêng;

+ Về mặt đạo đức “Quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng” không phải lúc nào cũng thể hiện bằng vật chất, vậy “Quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng” bằng tinh thần như yêu thương, quan tâm thì có được xem là chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật không

 Pháp luật không quy định cụ thể vì thế đây là điều cần thiết phải bổ sung thêm

để tránh gây tình trạng điều luật được hiểu không thống nhất, đảm bào quyền lợi cho người hưởng di sản kế thừa

PHẦN IV THỪA KẾ THẾ VỊ VÀ HÀNG THỪA KẾ THỨ HAI, THỨ BA

* Tóm tắt bản án sô 69/2018/DSPT ngày 09/03/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội vụ việc yêu cầu công nhận quyền thừa kế và tranh chấp di sản thừa kế.

- Nguyên đơn: anh Thiều Văn C1 (vắng mặt); người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phan Văn C2

Trang 10

- Bị đơn: ông Đỗ Quang V (vắng mặt); người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Trần Văn Đ

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Đỗ Thị T2; Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Ủy ban nhân dân phường L, thành phố H

- Nội dung: bà Đỗ Thị T5 không lấy chồng, có một người con nuôi chị Đỗ Đức Phương C3, anh C1 kết hôn với chị C3 ngày 27/6/2002 Vợ chồng C1 có 2 người con là cháu T7 và H4 Chị C3 chết ngày 05/3/2007, bà T5 chết ngày 10/2/2009 và

cả hai không để lại di chúc Di sản bà T5 để lại là 127,3m 2 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sô, trên đất có ngôi nhà cấp 4 và tài sản khác gắn liền với đất Năm 2011, anh C1 về sửa lại nhà và làm thủ tục khai nhận thừa kế cho T7 và H4, nhưng ông V ngăn cản không cho sữa và khai nhận thừa kế cho T7, H4 Vì vậy, anh yêu cầu giải quyết tranh chấp về quyền thừa kế tài sản của bà T5 giữa anh và ông V

và công nhận T7, H4 được hường toàn bộ di sản bà T5 để lại

Câu 1: Trong vụ việc, nếu chị C3 còn sống, chị C3 có được hưởng thừa kế của

cụ T5 không? Vì sao?

- Nếu chị C3 còn sống, chị C3 được hưởng thừa kế của cụ T5,

- Chị C3 làm con nuôi nhưng không thực hiện việc đăng kí nuôi con nuối theo quy định của pháp luật Tuy nhiên gia đình bị đơn thừa nhận chị C3 được bà T5 nhận nuôi năm 1979 Mối quan hệ mẹ nuôi, con nuôi giữa bà T5 và chị C3 tồn tại trên thực tế, được phía gia đình bị đơm thừa nhận Đồng thời căn cứ vào sổ hộ khẩu gia đình bà Đỗ Thị T5 do Công an thị xã H (nay là Công an thành phố H) cấp năm 1995, thể hiện chị C3 có quan hệ với bà T5 là con, ngoài chị C3 thì bà T5 không có con nào khác Mặt khác, theo điểm a Điều 6 Nghị quyết 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì trường hợp bà T5 nhận nuội chị C3 là con nuôi thực tế Nên, chị C3 là người thừa kế duy nhất ở hàng thừa kế thứ nhất cảu bà T5 theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 676 BLDS năm 2005 Vì vậy nếu C3 còn sống, chị C3 vẫn được hưởng thừa kế của cụ T5

Câu 2 :Khi nào áp dụng chế định thừa kế thế vị? Nêu cơ sở pháp lí khi trả lời.

- Căn cứ vào Điều 652 Bộ luật dân sự 2015: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.”

Ngày đăng: 24/05/2021, 09:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w