Bài giảng dành cho sinh viên y khoa, bác sĩ đa khoa, sau đại học. ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh. 1 định nghĩa sâu răng 2 sinh bệnh học sâu răng 3 phân loại sâu răng 4 chẩn đoán sâu răng 5 các biến chứng của sâu răng
Trang 1BỆNH SÂU RĂNG VÀ CÁC BIẾN CHỨNG
Sâu răng là bệnh thường gặp, là nguyên nhân chính dẫn đến đau răng và mất răng Bệnh đặc trưng bởi sự phá hủy mô cứng của răng Trong giai đoạn sớm nếu phát hiện và xử trí thích hợp có thể kiểm soát được bệnh Ngược lại, quá trình phá hủy sẽ dẫn đến những bệnh nặng hơn, và có thể đưa đến các biến chứng trầm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe toàn thân
Định nghĩa
Sâu răng là bệnh nhiễm khuẩn gây ra sự phá hủy mô cứng của răng
Sinh bệnh học
Sâu răng là bệnh phức tạp, đa yếu tố Cần có ít nhất 4 yếu tố đồng thời tương tác nhau mới hình thành sâu răng
Hình: Sơ đồ Keyes cải tiến
Vi khuẩn gây ra sâu răng có các đặc điểm: có khả năng biến dưỡng đường để tạo thành a-xít (a-xít làm khử khoáng mô cứng của răng), có khả năng sống được trong môi trường a-xít, sản xuất được các polysaccharide ngoại bào và nội bào Các polysaccharide ngoại bào giúp các vi khuẩn dính vào nhau và dính vào răng tạo thành hệ sinh thái đặc biệt trên bề mặt răng là màng bám răng Các polysaccharide nội bào là nguồn dự trữ năng lượng khi không có đường Có nhiều
vi khuẩn có khả năng gây ra sâu răng, trong đó Streptococcus Mutans và các Lactobacillus được xem là thủ phạm chính
Carbohydrate: những carbohydrate có thể lên men được vi khuẩn chuyển hóa thành a-xít và tổng hợp các polysaccharide Các carbohydrate khác nhau về mức
độ gây sây răng Carbohydrate phức tạp (chất bột) tương đối ít nguy hại vì không tiêu hóa hoàn toàn trong miệng, còn các carbohydrate có trọng lượng phân tử thấp
Trang 2(đường) dễ dàng khuếch tán trong màng bám và được vi khuẩn chuyển hóa nhanh chóng Do đó, thức ăn nước uống có đường làm pH giảm nhanh chóng Tiêu thụ nhiều lần, liên tục thực phẫm có đường làm giảm pH liên tục và làm khử khoáng
mô răng
Răng: một số vị trí trên răng dễ lưu giữ màng bám nên dễ sâu răng hơn là các hố rãnh, mặt tiếp cận, chân răng bị lộ ra, những vị trí răng gần bờ miếng trám bị thiếu hoặc dư
Thời gian: pH giảm trong thời gian đủ lâu mới có thể dẫn đến khử khoáng Tuy nhiên, nếu pH tăng trở lại do lưu lượng nước bọt, vệ sinh răng miệng, thay đổi chế
độ ăn, sử dụng fluor thì tổn thương mất khoáng có thể tái khoáng hóa trở lại Do
đó, tổn thương sâu răng tiến triển hay đảo ngược tùy thuộc vào sự cân bằng giữa khử khoáng và tái khoáng Kiểm soát sự cân bằng giữa các yếu tố gây hại và bảo
vệ là chìa khóa của phòng ngừa sâu răng
Có thể tóm tắt các giai đoạn phát triển của sâu răng như sau: Vi khuẩn đóng khúm trên
bề mặt răng, tăng sinh và tổng hợp polysaccharides tạo thành 1 hệ sinh thái phức tạp là màng bám răng Vi khuẩn chuyển hóa đường thành a-xít làm khử khoáng mô răng Ở giai đoạn sớm chưa thành lỗ, tổn thương sâu răng có thể hoàn nguyên, vẫn có thể áp dụng các biện pháp thích hợp để tái khoáng hóa Sâu răng tiến triển, cấu trúc bị phá vỡ, hình thành
lỗ sâu thì phải trám lại
Phân loại sâu răng
Phân loại theo vị trí: Sâu hố rãnh, sâu mặt láng, sâu mặt bên, sâu cổ răng, sâu chân răng Phân loại theo mức độ:Sâu men, sâu ngà nông, sâu ngà sâu
Phân loại theo bộ răng: sâu răng sữa, sâu do bú bình, sâu răng vĩnh viễn
Trang 3Phân loại theo diễn tiến: sâu răng khởi phát/ mới chớm, sâu tiến triển, sâu lan tràn, sâu răng hoạt động, sâu răng ngưng lại, sâu tái phát
Chẩn đoán sâu răng
Chẩn đoán sâu răng dựa vào:
Quan sát sự thay đổi màu sắc, cấu trúc, độ trong,
Chụp phim quanh chóp, phim cắn cánh: những vùng thấu quang bên dưới bề mặt men
Phương pháp rọi sáng
Các phương tiện phát huỳnh quang
Dùng khám trâm rà soát trên bề mặt răng: khám trâm bị vướng, kẹt tại lỗ sâu Sâu răng ở giai đoạn sớm (sâu men) biểu hiện là đốm trắng đục như phấn, mềm nên không dùng vật nhọn đụng vào vì sẽ làm phá vỡ cấu trúc răng
Sâu ngà biểu hiện là lỗ sâu có màu nâu, xám Nếu sâu ngà mà bề mặt men chưa bị phá vỡ thì khó phát hiện, có thể thấy ánh đen bên dưới bề mặt men Nếu nghi ngờ, sử dụng các biện pháp khác để xác định chẩn đoán
Các biến chứng của sâu răng
Cấu trúc ngà răng có các ống ngà, trong ống ngà chứa dịch ngà và đuôi nguyên bào ngà là lớp tế bào phía ngoài của tủy răng Do đó khi có tác động lên ngà hoặc sâu răng đến ngà thì có cảm giác đau Sâu ngà gây đau khi có kích thích như ăn đồ nóng, lạnh, chua, ngọt, khi đánh răng Khi ngưng kích thích thì hết đau Nhưng nếu không được điều trị, sâu răng tiến triển gây viêm tủy Đau do tủy viêm trầm trọng hơn, cơn đau dữ dội khi có kích thích, không hết khi ngưng kích thích Có thể có cơn đau tự phát, đau nhiều
về đêm, không ngủ được Khi bệnh tiến triển đến viêm tủy không hồi phục thì phải điều trị nội nha.Nếu chỉ trám lại lỗ sâu, không giải quyết được bệnh lý tủy
Viêm tủy không hồi phục đưa đến hoại tử tủy.Vi khuẩn và sản phẫm vi khuẩn lan đến vùng quanh chóp dẫn đến bệnh lý vùng quanh chóp Tùy theo mức độ mà triệu chứng biểu hiện khác nhau Vì ống tủy là chỗ trú của vi khuẩn và các sản phẫm vi khuẩn nên trong các bệnh lý vùng quanh chóp, cần điều trị nội nha để làm sạch, loại bỏ vi khuẩn trong hốc tủy, trám bít kín để tránh tái phát
Viêm quanh chóp cấp: đau từ trung bình đến dữ dội, đau tự phát, răng cảm thấy hơi trồi lên, rất đau khi cắn và gõ lên răng Cần phải mở tủy dẫn lưu dịch viêm, kết hợp điều trị nội khoa để giảm triệu chứng
Áp-xe quanh chóp cấp:có thể khu trú hay lan tỏa, khởi phát nhanh, đau dữ dội và sưng nhiều, răng hơi lung lay Có biểu hiện toàn thân như viêm hạch, khó chịu, sốt cao Điều trị: mở tủy dẫn lưu, rạch áp-xe dẫn lưu, cho thuốc kháng sinh, kháng viêm, giảm đau, nâng cao tổng trạng tùy theo mức độ trầm trọng của bệnh Nên
Trang 4làm kháng sinh đồ để chọn kháng sinh phù hợp Cân nhắc đến việc nhổ răng tùy theo tình trạng răng và tình trạng bệnh
Nếu không được điều trị thích hợp, áp-xe lan tỏa dẫn đến viêm mô tế bào, viêm xương, nhiễm trùng máu, có thể dẫn đến tử vong
Viêm mô tế bào do răng: viêm lan tỏa trong mô mềm của mặt, hốc miệng và cổ Sưng che lấp các rãnh và lõm trên mặt, mặt sưng nhiều hay ít tùy vị trí răng nguyên nhân và độc tính loại vi khuẫn, da căng bóng, sờ hơi nóng, đỏ ít, không đau lắm, không in dấu ngón tay Giai đoạn viêm tấy: sốt cao, mạch nhanh, nhức đầu, sung tấy, đau dữ dội, hơi thở hôi, giới hạn há miệng, thể trạng suy sụp Rạch dẫn lưu ngoài mặt hoặc trong miệng, kháng sinh liều cao, nâng tổng trạng Nếu điều trị không kịp thời hoặc vi khuẩn độc lực mạnh, viêm mô tế bào lan rộng không giới hạn, hoại tử lan rộng các tổ chức bị viêm, có thể dẫn đến nhiễm độc toàn thân, tử vong
Viêm xương hàm: thường gặp là viêm xương hàm dưới Xương hàm trên có máu nuôi phong phú hơn nên khó nhiễm trùng, nhưng nếu XHT nhiễm trùng thì rất nặng, nhanh chóng lan đến các xương khác ở mặt và xương sọ Sốt cao, ớn lạnh, đau sưng lan toả khắp xương hàm, nhiều răng lung lay, có thể bị cứng hàm Điều trị: nhổ răng nguyên nhân, rạch áp-xe, theo dõi phẫu thuật lấy xương chết nếu cần
Viêm xoang hàm do răng: khi sàn xoang thấp gần chóp các răng sau hàm trên thì nhiễm trùng từ các răng này có thể ảnh hưởng gây viêm xoang Điều trị nội nha hoặc nhổ răng nguyên nhân tùy mức độ và điều trị viêm xoang Khi nhổ các răng gần xoang cũng có những trường hợptai nạn làm thủng sàn xoang, chân răng có thể bị đẩy vào xoang Khi đó phải phẫu thuật mở xoang, làm sạch, vá chỗ thủng Bệnh lý vùng quanh chóp cũng có thể tiến triển chậm, mạn tính, không có triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ Viêm quanh chóp mạn: triệu chứng nhẹ hơn, hoặc không triệu chứng Viêm lâu dài, tiêu hủy xương quanh chóp nên biểu hiện là 1 vùng thấu quang quanh chóp răng trên phim tia X Một số trường hợp có hình thành mủ, được dẫn lưu ra ngoài qua lỗ dò trong miệng, gần chóp răng nguyên nhân