Mạc treo kết tràng đoạn này là một mạc dính mạc Told phải, mạc này được tạo nên do lá sau của mạc treo kết tràng lên dính vào lá thành sau của phúc mạc, do đó kết tràng lên bị cố định và
Trang 111
Chương IX
PHẪU THUẬT ĐẠI TRÀNG
GIẢI PHẪU NGOẠI KHOA ĐẠI TRÀNG
2 Bố trí và phân chia đại tràng
Đại tràng sắp xếp như một khung hình chữ u lộn ngược, quây lấy tiểu tràng Đại tràng gồm có:
+ Manh tràng và ruột thừa: nằm ở hố chậu phải, di động ít nhiều là do manh tràng dính vào thành bụng sau nhiều hay ít
+ Kết tràng lên:
- Tiếp theo manh tràng, đi sát thành bụng bên phải, lên tới mặt dưới gan Kết tràng lên to và ngắn, trông như một túi phồng đầy khí, mở thành bụng bên phải sẽ thấy ngay kết tràng lên Mạc treo kết tràng đoạn này là một mạc dính (mạc Told phải), mạc này được tạo nên do lá sau của mạc treo kết tràng lên dính vào lá thành sau của phúc mạc, do đó kết tràng lên bị cố định vào thành bụng sau
- Muốn di động được kết tràng đoạn này (để cắt bỏ kết tràng lên) thì phải rạch phúc mạc thành từ trên xuống dưới phía bên phải chỗ kết tràng lên dính vào thành bụng, bóc tách tất cả kết tràng lên và mạc treo kết tràng lên vào trong Như vậy phúc mạc thành sau chỗ này đã dính theo với mạc treo kết tràng lên, thành bụng sau ở chỗ này đương nhiên không còn phúc mạc che phủ Vì kết tràng lên ngắn nên việc kéo kết tràng lên ra ngoài thành bụng là không thể được Kết tràng lên có thể tổn thương cả phía sau, liên quan trực tiếp tới khoang sau phúc mạc gây nhiễm khuẩn khoang sau phúc mạc nặng
+ Góc kết tràng phải (góc gan của kết tràng) được dính vào thành bụng sau và được cố định bởi dây chằng hoành - kết tràng (một chẽ của mạc nối lớn) và bởi
Trang 212
các dây chằng đi từ góc kết tràng tới các tạng lân cận (gan, tá tràng, thận phải) Tuy vậy, góc kết tràng phải được cố định lỏng lẻo hơn góc kết tràng trái Muốn giải phóng triệt để kết tràng lên, phải cắt đứt các dây chằng ở góc gan
+ Kết tràng xuống: trông như đoạn ruột dài và mảnh, thường trống không, càng xuống dưới càng hẹp, phải tìm sát mãi thành bụng sau mới thấy
- Kết tràng xuống chỉ có hai dải dọc cơ, không có bướu, dài khoảng 14cm Kết tràng xuống ở rất sâu, nằm lọt vào rãnh ở giữa thận trái và thành bụng bên,
có các khúc ruột non che phủ ở trước
- Mạc treo kết tràng xuống cũng là mạc dính (mạc Toldt trái) giống như mạc treo kết tràng lên Vì vậy muốn kết tràng xuống di động được tốt, cần phải bóc tách mạc Told trái (như bóc tách mạc Toldt phải) và cắt đứt dây chằng góc lách + Kết tràng chậu hông (kết tràng sigma): chỉ có hai dải dọc cơ, không có bướu, nhưng có nhiều bờm mỡ, rất di động nên kéo được ra ngoài thành bụng để làm hậu môn nhân tạo
3 Mạch máu nuôi dưỡng đại tràng
+ Động mạch:
- Động mạch mạc treo tràng trên cung cấp máu cho nửa phải của đại tràng, còn
từ đây đến trực tràng là do động mạch mạc treo tràng dưới cung cấp (hình 9.1)
- Các thân chính của động mạch chạy theo hình tia hướng về các đoạn kết tràng tương ứng Các nhánh động mạch nuôi kết tràng, khi tới gần bờ ruột đều chia làm hai ngành lên và xuống nối tiếp với nhau để tạo thành các cung mạch đi dọc kết tràng gọi là cung viền, các cung viền ở kết tràng chỉ có một cung, các
Trang 3- Cung Riolan là một cung viền,
nối tiếp giữa hai ngành lên của
động mạch kết tràng giữa và động
mạch kết tràng trái, cung Riolan là
một cầu nối giữa động mạch mạc
treo tràng trên với động mạch mạc
treo tràng dưới Khi phẫu thuật phải
thận trọng, không cắt vào các cung
viền vì cắt phải thì có thể gây ra
hoại thư kết tràng ngang
Cần chú ý là đại tràng phải
được nuôi dưỡng tốt hơn đại tràng
trái nhờ động mạch kết tràng phải
trên nối với động mạch kết tràng
phải giữa (thuộc động mạch hồi -
kết tràng) và với động mạch kết
tràng giữa Đại tràng trái được nuôi
dưỡng kém hơn, những cầu nối
giữa động mạch kết tràng trái với
động mạch kết tràng giữa rất thưa Cầu nối giữa động mạch kết tràng sigma với động mạch trực tràng trên chỉ là nhánh nối nhỏ Vì vậy, khi cắt bỏ đại tràng trái cần kiểm tra kỹ mạch máu nuôi dưỡng phần kết tràng còn lại Đoạn này nuôi dưỡng kém, lòng nhiều vi khuẩn nên miệng nối dễ bị bục hơn
+ Các tĩnh mạch: các thân tĩnh mạch của đại tràng bám rất sát các động mạch
và đổ vào tĩnh mạch cửa
Trang 41 Chỉ định
+ Mở đại tràng để thăm dò khối u, pôlíp
+ Để lấy dị vật: búi bã thức ăn, búi giun, vật cứng gây cản trở lưu thông
2 Kỹ thuật
+ Mở bụng: mở ổ bụng theo đường
trắng giữa hoặc đường trắng bên là tùy theo
vị trí của đoạn đại tràng định mở
+ Thăm khám, xác định vị trí đoạn cần
phải mở
+ Che phủ, bảo vệ, cách ly vùng kết
tràng định mổ với ổ bụng
+ Khâu hai mối chỉ căng ở hai mé bên
dải dọc cơ, cách dải dọc cơ khoảng 1cm
(hình 9.2)
+ Dùng dao sắc hoặc dao điện rạch dọc
đúng đường giữa của dải dọc cơ, qua các
lớp của thành đại tràng (hình 9.2), hút dịch, phân ngay bằng máy hút phẫu thuật
+ Mở tiếp độ dài đường rạch ở trên dải dọc cơ nếu cần, kiểm tra lòng đại tràng, tìm và lấy bỏ dị vật, cắt pôlíp
+ Lau sạch, cầm máu
+ Đóng kín thành đại tràng hai lớp (hình
9.3), lớp trong khâu bằng chỉ catgut, mũi rời,
mối buộc nằm trong lòng ruột sao cho mép cắt
Hình 9.2
Hình 9.3
Trang 515
gục vào trong Lớp ngoài khâu thanh mạc - cơ, mũi rời bằng chỉ lin
+ Kiểm tra, lau sạch ổ bụng, đóng thành bụng
MỞ THÔNG ĐẠI TRÀNG VÀ LÀM
HẬU MÔN NHÂN TẠO
(Colostomia & anus praeternaturalis)
Mở thông đại tràng (tạo lỗ rò đại tràng, dẫn lưu đại tràng) và làm hậu môn nhân tạo (HMNT) đều là thủ thuật tạo sự lưu thông từ lòng đại tràng ra bên ngoài qua thành bụng
Nhiều tài liệu không thống nhất quan điểm về bản chất lỗ rò đại tràng và hậu môn nhân tạo
Xuất phát từ mục đích và tác dụng của từng loại phẫu thuật, chúng tôi thống nhất với nhiều tác giả và cho rằng:
+ Mở thông đại tràng (lỗ rò đại tràng) (colostomia) là: qua lỗ mở trên thành đại tràng chỉ có một phần phân đi ra ngoài, còn một phần phân tiếp tục đi xuống đoạn đại tràng phía dưới để theo đường tự nhiên ra ngoài
+ Hậu môn nhân tạo (anus praeternaturalis) là: qua lỗ mở trên thành đại tràng, tất cả phân đều đi ra ngoài
Mở thông đại tràng khác HMNT về mục đích, chỉ định phẫu thuật và khác nhau cơ bản về kỹ thuật, tức là làm sao cho phân chỉ ra ngoài một phần hoặc ra ngoài toàn bộ
1 Mở thông đại tràng (tạo lỗ rò đại tràng)
1.1 Mục đích phẫu thuật:
Mở thông đại tràng nhằm các mục đích sau:
+ Làm giảm áp lực trong lòng đại tràng: giải thoát hơi và phân bị ứ tắc trong lòng đại tràng do nhiều nguyên nhân bệnh lý khác nhau, để tránh rối loạn tuần hoàn thành đại tràng vì nếu để rối loạn nặng thì có thể dẫn đến hoại
tử thành đại tràng
+ Đưa chỗ tổn thương trên thành đại tràng (do vết thương, do bệnh lý ) ra ngoài Tạo lỗ rò ở ngay chổ tổn thương để có thời gian chuẩn bị cho phẫu thuật (làm sạch lòng đại tràng, dùng kháng sinh đường ruột, nâng đỡ sức khoẻ bệnh nhân, chuẩn bị về mặt chuyên môn, kỹ thuật ), đảm bảo xử trí triệt để tổn thương trên thành đại tràng trong điều kiện tối ưu về mọi mặt, tránh thất bại,
Trang 61.2 Vị trí đại tràng liên quan tới kỹ thuật mở thông:
+ Mở thông đại tràng là dẫn lưu đại tràng tạm thời trong một thời gian Mở thông đại tràng thực hiện được trên tất cả những đoạn di động của đại tràng: manh tràng, kết tràng ngang, kết tràng sigma (vì có thể kéo đại tràng lên sát thành bụng hoặc ra ngoài ổ bụng) Nếu muốn mở thông đại tràng ở những đoạn kết tràng cố định (kết tràng lên, kết tràng xuống) thì phải biến nó thành di động (tức là bóc tách kết tràng, giải phóng mạc Toldt) để có thể đưa đoạn kết tràng này lên sát thành bụng hoặc ra ngoài ổ bụng
+ Trong lòng đại tràng phải (manh tràng, kết tràng lên) phân còn rất lỏng nên qua một lỗ nhỏ trên thành đại tràng phải, phân có thể chảy ra ngoài dễ dàng Từ kết tràng ngang trở xuống, phân bắt đầu được cô đặc dần, nên lỗ mở trên thành kết tràng cần phải đủ độ lớn để phân đặc qua đó có thể ra được dễ dàng Như vậy
kỹ thuật mở thông đại tràng ở hai nơi nói trên có sự khác nhau
1.3 Chỉ định chung:
+ U đại tràng gây tắc hoặc bán tắc ruột: mở thông đại tràng ở phía trên khối
u, mở thông là một bước trong cắt bỏ đại tràng, chỗ mở thông cần phải cách xa chỗ tắc về phía trên dòng
+ Lỗ thủng đại tràng do nhiều nguyên nhân (thủng ổ loét manh tràng, ruột thừa viêm hoại tử không thể đóng kín ngay được, đại tràng bị hoại tử do thoát vị bẹn nghẹt, vết thương đại tràng ): tiến hành mở thông đại tràng qua chỗ tổn thương để qua đó phân chảy ra ngoài
1.4 Kỹ thuật:
1.4.1 Mở thông manh tràng (Coecostomia):
1.4.1.1 Mở thông manh tràng trực tiếp:
+ Chỉ định của phương pháp: khi thủng
manh tràng, hoặc tắc vùng kết tràng lên, kết
tràng góc gan mà không có sự căng trướng
hoặc căng trướng tới mức không gây nguy
hiểm trong vòng 24 giờ sau mổ
Hình 9.4:
Trang 717
+ Kỹ thuật:
- Mở ổ bụng đường Mac - Burney
- Tìm manh tràng: nếu manh tràng ở trên dòng chỗ tắc thì manh tràng sẽ dãn
to, kéo manh tràng chỗ dãn lên sát thành bụng
mở thành bụng còn dài thì khâu đóng hẹp bớt lại
Cũng có thể không cần khâu viền trước mép phúc mạc vào mép da, ở người béo sẽ khó làm, nhưng khi cố định manh tràng vào thành bụng thì cần khâu qua mép phúc mạc thành, tạo sự liền dính nhanh và giữ để lỗ rò khỏi tụt vào trong
(hình 9.5)
Đắp gạc tẩm thanh huyết mặn đẳng
lên bề mặt manh tràng chỗ lộ ra trên
thành bụng, đưa bệnh nhân về buồng
- Mở manh tràng để lỗ rò hoạt động:
sau 24 - 48 giờ, khi các tổ chức đã dính
thì mở manh tràng trên dải dọc cơ bằng
dao điện hoặc dao thường để lỗ rò hoạt
động, khâu cầm máu mép cắt nếu cần
Khi mở manh tràng, hơi sẽ phì ra và manh
tràng sẽ co lại, nhưng nhờ đã khâu đính
vào mép vết mổ nên lỗ rò không bị tụt
Hình 9.5
Trang 818
+ Kỹ thuật: các thì mổ như trên nhưng cần chú ý thêm :
- Khâu ba mối chỉ căng tạo thành hình tam giác đều cách nhau 1,5 - 2cm để nâng manh tràng lên khi chọc thủng manh tràng
- Khâu mối túi thanh mạc - cơ sát xung quanh ba mối chỉ căng (đường kính mối túi 1,5 - 2cm)
- Khâu cố định manh tràng vào thành bụng
(hình 9.5)
- Bảo vệ, che phủ vết mổ thật cẩn thận, đề
phòng phân lỏng chảy ra gây nhiễm trùng ổ bụng
và nhiễm trùng vết mổ
- Chọc thủng manh tràng giữa mối túi, trên
dải dọc cơ, lỗ thủng vừa cỡ với ống dẫn lưu, hút
phân lỏng ngay bằng máy hút
- Luồn ống dẫn lưu đã chuẩn bị vào manh
tràng:
Nếu dùng thông Nelaton: đưa đầu thông qua
van Bauhin sang hồi tràng
Nếu dùng ống dẫn lưu Malécot hoặc Pezzer
thì dùng số 30F, cần cắt bỏ phần mũ của thông (hình 9.6) Đặt đầu ống nằm trong
manh tràng
- Cố định ống dẫn lưu vào mép lỗ thủng, ấn ống thông để mép lỗ thủng gục vào trong đồng thời thắt mối túi, nếu cần có thể làm thêm mối túi thứ hai
- Cố định ống thông vào da bụng
- Nối dài ống thông, cho phân chảy vào túi nilon kín treo ở thành giường
- Khi không cần ống dẫn lưu nữa thì cắt chỉ khâu đính để rút ống dẫn lưu Lúc này phân lỏng chảy tràn ra ngoài nhưng không sợ nhiễm trùng ổ bụng và nhiễm trùng vết mổ nữa
Hình 9.6
Trang 9- Nếu đã xác định vị trí tổn thương thì có thể không cần mở ổ bụng theo đường trắng giữa mà mở ổ bụng ngay ở vị trí thích hợp để tạo lỗ rò:
- Nếu để mở thông kết tràng ngang thì cần rạch chỗ bờ ngoài cơ thẳng to bên
phải, trên rốn (hình 8.33)
- Nếu để mở thông kết tràng sigma thì rạch vuông góc tại điểm nối 1/3 ngoài
và 1/3 giữa của đường nối gai chậu trước trên bên trái với rốn
+ Tạo lỗ trên thành bụng để đưa đại tràng ra làm lỗ rò:
- Chỗ mở thành bụng để tạo lỗ rò cần phải đủ rộng Nếu tách thớ cơ thành bụng chưa đủ rộng để quai đại tràng chui qua thì có thể khoét cân và cơ thành một lỗ tròn hoặc bầu dục để đại tràng không bị nghẹt và sau này phân ra được dễ dàng
- Khâu viền mép phúc mạc vào mép da bằng các mũi khâu rời hoặc khâu vắt
bằng chỉ lin (hình 9.4)
+ Đưa quai đại tràng ra ngoài:
- Kéo quai đại tràng chỗ di động nhất ra ngoài thành bụng khoảng 4 - 6cm Nếu là kết tràng ngang thì phải nâng mạc nối
lớn lên khỏi ổ bụng, bóc tách nó ra khỏi kết
tràng ngang bằng vài nhát kéo và đẩy nó lên
phía trên Hoặc cắt mạc nối dạ dày - kết
tràng ở gần dạ dày giữa các mối buộc, dài
khoảng 10 - 15cm, bóc tách mạc nối lớn
khỏi kết tràng ngang trên phần tương ứng và
kéo nó xuống phía dưới
Hình 9.7
Trang 10+ Khâu cố định chân quai ruột lên thành bụng:
- Khâu cố định xung quanh chân quai ruột lên thành bụng sao cho đủ kín, thường khâu từ 8 - 12 mối Mối khâu trên thành đại tràng là mối khâu thanh mạc
- cơ, ở thành bụng thì kim phải xuyên qua các lớp cân, cơ của thành bụng để giữ chắc quai kết tràng Mối khâu có thể là mối khâu chữ U hoặc mối khâu thường
+ Ngáng giữ quai đại tràng:
Luồn vào trong lòng ống cao su
mềm một nòng cứng (đũa thuỷ tinh,
thông lòng máng ) (hình 9.10) để
vừa không tổn thương mạch máu nuôi quai đại tràng, vừa ngáng giữ không cho quai đại tràng tụt vào trong ổ bụng Nếu là đũa thuỷ tinh thì phải cố định đũa này (để đũa khỏi tụt ra) bằng một ống cao su nữa luồn chắc vào hai đầu của đũa
(hình 9.11) Sau 2 - 3 tuần mới rút bỏ vật ngáng giữ, lúc này quai đại tràng đã
dính chắc ở xung quanh, hết viêm nhiễm quanh chân quai đại tràng, quai đại tràng sẽ không tụt vào trong ổ bụng được
Hình 9.8
Trang 1121
Hình 9.9
Hình 9.10
+ Mở đại tràng để lỗ rò hoạt động:
- Đưa bệnh nhân về buồng, che phủ quai
đại tràng bằng gạc tẩm nước muối sinh lý
- Sau 24 - 48 giờ, khi thanh mạc quanh
chân quai đại tràng đã dính vào phúc mạc
thành thì rạch mở dọc quai đại tràng trên dải
dọc cơ, lệch về phía quai đến, để lỗ rò hoạt
động, không cần vô cảm
- Trong thời gian chờ đợi mở để lỗ rò hoạt
động, nếu đại tràng căng trướng hơi quá mức
thì có thể dùng một kim tiêm to chọc vào đại
tràng trên dải dọc cơ để xì hơi, giảm căng trướng
Tuy vậy vẫn cần che phủ, bảo vệ cẩn thận
2 Làm hậu môn nhân tạo
2.1 Mục đích của phẫu thuật:
+ Giải thoát phân và hơi để làm giảm áp lực trong lòng đại tràng
+ Không cho phân đi xuống quai đại tràng phía dưới, tạo điều kiện cho đường khâu miệng nối ở phía dưới liền dính nhanh
+ Trong tổn thương đại tràng mà có chỉ định cắt đoạn đại tràng, nếu khâu nối ngay trong điều kiện bất lợi (nhiễm trùng tại chỗ, lòng đại tràng chưa được chuẩn
Hình 9.11
Trang 1222
bị, sức khoẻ bệnh nhân kém, điều kiện chuyên môn kỹ thuật chưa đảm bảo ) thì rất dễ bị bục, viêm phúc mạc đe dọa tính mạng bệnh nhân Vì vậy cần làm HMNT để cứu sống bệnh nhân Phẫu thuật triệt để hoặc hồi phục lưu thông đại tràng sẽ làm sau trong điều kiện tối ưu mới đảm bảo kết quả phẫu thuật
+ HMNT có thể áp dụng để tháo phân tạm thời hay vĩnh viễn tùy thuộc vào tính chất và mức độ tổn thương hoặc vết thương
+ Cắt bỏ đoạn đại tràng phía dưới
+ Chuẩn bị cho một phẫu thuật đại tràng phía dưới:
Về mặt kỹ thuật, có điểm giống và khác với kỹ thuật tạo lỗ rò kết tràng ngang hoặc kết tràng sigma là:
Trang 1323
+ Giống nhau về: đường vào, cách tạo lỗ trên thành bụng, đưa quai kết tràng ra
ngoài, khâu cố định chân quai kết tràng, ngáng giữ quai kết tràng (hình 9.12)
+ Khác nhau về:
- Quai kết tràng kéo ra phải đủ độ
chùng: vì phải có các mối khâu tạo
cựa và có phần kết tràng nhô lên trên
thành bụng nên đoạn kết tràng được
kéo ra ngoài ổ bụng cũng cần dài hơn
Bởi vậy nếu kết tràng ngang được
nâng lên mà chưa đủ độ chùng thì
phải giải phóng cả hai góc (góc gan
và góc lách), vì nếu quai kết tràng bị
căng sẽ dễ bị hoại tử hoặc bị kéo tụt
cả miệng HMNT vào trong ổ bụng
- Có các mối khâu tạo cựa: sau khi luồn được ống cao su mềm vào qua mạc treo quai kết tràng để điều khiển quai kết tràng thì bố trí cân đối sao cho mạc treo
ở vào chính giữa và khâu mỗi mé bên chân quai kết tràng ba mối thanh mạc - cơ, chỉ lin, các mối chỉ ở gần sát bờ ruột nhưng không được gây nghẹt các mạch máu
đi vào quai ruột (hình 9.13) Các mối khâu tạo cựa này có tác dụng khi mở cho
hậu môn hoạt động thì giữa quai đến và quai đi có một vách ngăn dựng đứng, cái
đó được gọi là cựa Cựa làm cho phần lớn phân chảy ra ngoài
Hình 9.13
Hình 9.12:
Trang 1424
- Khi rạch mở để HMNT hoạt động (sau 24 - 48 tiếng) thì rạch ngang thành
trước, lệch về phía quai đến (hình 9.14) Cái lợi của việc chỉ cắt đứt thành trước
quai kết tràng là nếu muốn chấm dứt HMNT thì việc tái tạo sẽ dễ hơn nhiều so với việc cắt đứt cả thành sau Cũng
có thể rạch dọc trên dải dọc cơ, lệch
về phía quai đến nhưng không vượt
quá đỉnh cựa Tuy vậy trong một
chừng mực nhất định, nếu muốn
không có một tí phân nào chảy vào
đoạn đi thì ta nâng hai đầu ống cao
su lên và cắt đứt ngang quai ruột
bằng dao điện (hình 9.15), ống cao
su sẽ rời ra Không nên cắt bớt kết
tràng phần nhô lên thành bụng mà
nên để thòi ra khoảng 2,5 cm
2.4.2 HMNT kiểu hai nòng súng:
Có tác giả gọi đây là HMNT đơn hai
lỗ hay HMNT tận Phẫu thuật này do
Mikulicz và Paul độc lập với nhau nhưng
cùng thực hiện vào khoảng đầu thế kỷ XX
+ Chỉ định: tổn thương đại tràng quá
lớn tới mức có chỉ định cắt đoạn đại
tràng (có thể do vết thương, chấn thương,
bệnh lý )
+ Kỹ thuật:
Về mặt kỹ thuật có điểm giống và
khác với kỹ thuật tạo lỗ rò kết tràng
ngang hoặc kết tràng sigma là:
- Giống nhau: về đường vào, cách tạo lỗ trên thành bụng, khâu cố định chân quai đại tràng vào thành bụng như đã trình bày ở trên
Trang 1525
tràng sẽ cắt bỏ, cắt bỏ đoạn đại tràng bị tổn thương giữa các kìm cứng theo nguyên tắc chung, buộc chặt các đầu đại tràng lại để giải phóng kìm) Hai đầu đại tràng được đưa ra ngoài thành bụng để làm HMNT kiểu hai nòng súng:
Nếu hai đầu đại tràng áp sát được vào nhau và đảm bảo đủ độ chùng thì xếp hai đầu ruột sát nhau
và mạc treo quay sang nhau Khâu đính hai má bên của hai đầu ruột, mỗi má bên 3 - 4 mối chỉ như cách tạo cựa Đưa hai đầu ruột này ra ngoài qua lỗ đã được chuẩn bị trên thành bụng
Đoạn kết tràng có chỉ định cắt
bỏ nhưng cũng có thể không cắt bỏ ngay trong cuộc mổ mà sẽ được cắt
bỏ sau khi cuộc mổ đã được thực hiện xong Sau 24 - 48 giờ, dùng dao điện cắt bỏ đoạn ruột phía trên mặt da
khoảng 2,5cm (hình 9.16)
Nếu không đưa được hai đầu ruột
lại gần nhau do mất đoạn đại tràng quá
dài thì cần đưa đầu đến và đầu đi ra
ngoài thành bụng ở hai vị trí tương ứng
riêng biệt Như thế đầu đến và đầu đi
có thể cách xa nhau bằng một cầu da
Tóm lại hai đầu của HMNT (đầu
đến, đầu đi) cũng có thể liền sát nhau,
Trang 16- Ung thư trực tràng khi không còn điều kiện bảo tồn cơ thắt hậu môn
Phẫu thuật này cũng có thể thực hiện hồi phục lưu thông đại tràng sau này khi có chỉ định
+ Kỹ thuật:
Các bước kỹ thuật chung như đã trình bày ở trên Có một số điểm khác cơ bản là:
- Cắt đoạn kết tràng sigma theo nguyên tắc chung
- Đóng bít đầu dưới (đầu đi) rồi thả tự do vào ổ bụng, hoặc đính lên phúc mạc thành bụng ở vị trí thích hợp
- Đầu trên (đầu đến) được đưa ra ngoài:
Vị trí: ở điểm nối 1/3 ngoài và 2/3 trong của đường nối gai chậu trước trên bên trái tới rốn
Lỗ ở trên thành bụng cần được khoét da, tổ chức dưới da, các lớp cơ và phúc mạc thành một hình tròn vừa đủ để đầu ruột chui qua
- Để đầu kết tràng thò ra ngoài thành bụng ít nhất 2,5cm và phải đảm bảo mạch nuôi dưỡng tốt
- Sau 24 - 48 giờ thì mở kẹp hoặc cắt bỏ chỉ (nếu buộc) để HMNT hoạt động
3 Những biến chứng chung
3.1 Những biến chứng sớm sau mổ:
+ Nhiễm khuẩn phần mềm quanh HMNT:
- Viêm tấy hay viêm loét da quanh HMNT: nguyên nhân thường do vệ sinh chưa tốt
Trang 1727
- Áp xe thành bụng quanh HMNT, khoảng từ 4 - 7 ngày sau mổ Nguyên nhân do không giữ sạch vết mổ, tụ máu thành bụng quanh chân HMNT, khi khâu
cố định đại tràng vào thành bụng thì kim xuyên vào lòng đại tràng
+ Các tổn thương ở phần đại tràng đưa ra ngoài:
- Viêm thanh mạc gây xơ cứng HMNT, hẹp HMNT
- Rò thành bụng, lỗ rò xuyên từ lòng đại tràng ra qua thành bụng
+ Tụt HMNT vào trong ổ bụng:
Quai đại tràng tụt vào ổ bụng thường do cố định quai đại tràng không tốt, do quai đại tràng quá căng Khi cố định quai đại tràng, cần cố định cả vào phúc mạc, cân, cơ thành bụng Nếu HMNT bị tụt vào trong ổ bụng thì phải mổ làm lại ngay + Hoại tử HMNT:
- Có thể xảy ra vào ngày thứ 2 - 3 sau mổ, hoại tử thường lan cả vào đoạn đại tràng nằm trong ổ bụng
- Nguyên nhân: thiếu máu nuôi dưỡng do nguồn mạch nuôi bị kẹt, do quai ruột quá căng trên đũa thủy tinh, lỗ làm HMNT ở thành bụng quá hẹp
- Xử trí: mổ làm lại
+ Lòi ruột:
- Thường lòi ruột non, mạc nối
- Nguyên nhân: do các mối cố định thưa, nhiễm khuẩn thành bụng quanh chân HMNT, để HMNT ngay tại vết mổ
Trang 1828
4 Kỹ thuật đóng lỗ rò đại tràng và HMNT
Đóng lỗ rò đại tràng và HMNT không phải là phẫu thuật cấp cứu, vì vậy cần
có điều kiện và công tác chuẩn bị tốt
4.3 Các phương pháp mổ:
4.3.1 Đóng ngoài ổ phúc mạc:
+ Phương pháp này đơn giản, dễ làm nhưng dễ bị bục, nếu có bục cũng không gây nguy hiểm Nếu có kết quả tốt thì cũng hay bị đau bụng mỗi khi có cơn nhu động đẩy phân qua chỗ hẹp ở thành bụng Do vậy chỉ làm với các lỗ rò trên đại tràng Không dùng đối với HMNT
+ Cắt khoanh mép da quanh miệng lỗ rò (khoảng 0,5 - 1cm) và lấy bỏ hết tổ chức xơ sẹo Đường rạch không vào đến ổ phúc mạc
+ Khâu đóng kín thành đại tràng chỗ lỗ rò 2 - 3 lớp:
Trang 1929
- Lớp trong: khâu toàn thể kiểu Toupet bằng chỉ catgut
- Lớp ngoài: dùng chỉ lin khâu thanh
mạc - cơ, mối rời, mũi kim không xuyên
thủng vào lòng đại tràng, có thể khâu 1 -
2 lớp
+ Khâu da theo kỹ thuật chung, cần
đặt một lam cao su dẫn lưu ở dưới da
4.3.2 Đóng trong ổ phúc mạc:
Hiện nay đa số các nhà phẫu thuật
không dùng phương pháp đóng ngoài ổ
phúc mạc mà dùng phương pháp đóng lỗ
rò hoặc HMNT trong ổ phúc mạc, cho
những kết quả chắc chắn hơn
+ Khâu kín tạm thời lỗ rò hoặc HMNT bằng mối chữ X, dùng chỉ chắc
+ Cắt khoanh xung quanh lỗ rò hoặc
HMNT theo hình quả trám (hình 9.18)
Cắt qua tất cả các lớp của thành bụng vào tới tận ổ phúc mạc Chú ý khi cắt đứt mạc ngang thì cần tìm một chỗ phúc mạc tự do, rạch mở nó để vào ổ bụng Dùng đầu ngón tay luồn qua khe hở phúc mạc để kiểm tra phần quanh lỗ rò hoặc HMNT phía ổ bụng
Cắt phúc mạc quanh lỗ rò hoặc HMNT thì phải cắt trên sự bảo hiểm của ngón tay phẫu thuật viên
+ Đóng kín đại tràng hoặc nối tận - tận bằng 2 -3 lớp (hình 9.21):
Hình 9.19
Hình 9.18
Trang 20- Khâu phúc mạc, cân, cơ, da theo kỹ thuật chung Nên khâu thưa để nếu xì
rò thì dịch, phân dễ thoát ra ngoài
Trang 211.2 Tính chất của vết thương đại tràng:
+ Vết thương đại tràng thời chiến nặng hơn vết thương đại tràng thời bình rất nhiều, tổn thương lan rộng, tổn thương phối hợp nhiều
+ Nhiễm khuẩn là biến chứng hay gặp nhất: Nehme khi tổng kết kinh nghiệm
10 năm điều trị vết thương đại tràng do hỏa khí (1977), qua 108 trường hợp thấy: nhiễm khuẩn là biến chứng hay gặp nhất Trước hết là nhiễm khuẩn vết thương
và hình thành các ổ áp xe trong ổ bụng, vết thương đại tràng phải nặng hơn (thường do sót vết thương sau phúc mạc, phân lỏng gây ô nhiễm nặng) Bệnh nhân bị chết do vết thương đại tràng chiếm tỷ lệ cao Tổng kết qua các cuộc chiến tranh thấy:
- Chiến tranh thế giới thứ 2:
Theo Olgivie: chết 59%
Theo phía Mỹ: chết 37%
- Chiến tranh Triều Tiên: theo phía Mỹ: chết 15%
- Chiến tranh Việt Nam (theo Nehme 1977): phía Mỹ chết 11%
+ Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ chết: các yếu tố có nhiều, song theo các tổng kết chiến tranh thì có ba yếu tố chính làm giảm tỷ lệ chết:
- Xử trí tổn thương sớm và kịp thời, đúng nguyên tắc
- Chống shock tích cực (truyền máu và các chất thay thế máu)
- Kháng sinh sớm liều cao
2 Điều trị phẫu thuật vết thương đại tràng
2.1 Trên thế giới:
Trang 2232
+ Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, năm 1944 Olgivie lần đầu tiên chủ trương đưa ra ngoài ổ bụng tất cả các vết thương đại tràng qua một đường rạch khác, phương pháp này đã cứu sống hàng ngàn sinh mạng quân đội Anh, Mỹ + Sách của khối NATO trong quyển cấp cứu ngoại khoa chiến tranh (Nato Hand Book) in năm 1958 đã viết: không cho phép khâu kín vết thương đại tràng
mà phải đưa các vết thương đại tràng ra ngoài
+ Cuốn ngoại khoa dã chiến của Nga viết năm 1973: phải đưa vết thương đại tràng ra ngoài làm HMNT, chỉ khâu nối ngay khi điều kiện cho phép
+ Hiện nay có một số vấn đề mới là:
- Một số tác giả chủ trương khâu kín vết thương đại tràng kỳ đầu hoặc cắt đoạn đại tràng rồi nối ngay (Whehon - 1968, Ganchrow - 1970, Kirkpatrick - 1977), sau khi nối xong:
Có thể đưa vào trong ổ bụng, nhưng nếu xì rò thì sẽ rất nguy hiểm
Có thể đưa đoạn đại tràng đó ra ngoài một thời gian (Kirkpatrick), nếu tốt sẽ đưa trở về ổ bụng, nếu bục sẽ biến thành lỗ rò hoặc HMNT, nhưng như vậy sẽ gây viêm thanh mạc đại tràng phần lộ ra ngoài rất nặng
- Theo Kirkpatrick, những tiêu chuẩn để tiến hành khâu kín vết thương đại tràng, hoặc cắt đoạn đại tràng và nối ngay là:
Vết thương đơn độc ở đại tràng
Không nhiễm bẩn ổ bụng
Không có tổn thương các tạng khác kèm theo
Thời gian từ lúc bị thương đến lúc mổ phải ngắn Wafo (1980) cho rằng thời gian này không quá 6 giờ
Có tác giả thêm vào: sau khi cắt lọc vết thương đại tràng, máu nuôi dưỡng tốt ở các mép cắt và không có tổn thương ở mạc treo
2.2 Ở Việt Nam:
Theo GS Nguyễn Trinh Cơ: nguyên tắc là vẫn đưa đoạn đại tràng bị thương
ra ngoài ổ bụng bằng một đường rạch riêng
Trang 23+ Vết thương nhỏ, gọn, bờ sắc, ổ bụng sạch thì đưa tổn thương ra ngoài, tạo
lỗ rò ngay tại chỗ tổn thương
+ Khi vết thương quá lớn, giập nát rộng, mạc treo bị tổn thương, một đoạn đại tràng không có khả năng sống thì cắt đoạn đại tràng bị tổn thương rồi đưa cả hai đầu ruột ra ngoài làm HMNT kiểu hai nòng
2.2.2 Tổn thương ở đoạn cố định:
+ Khi vết thương nhỏ, gọn, không giập nát thì khâu kín lỗ thủng rồi làm HMNT kiểu kép có cựa ở chỗ di động phía trên dòng chỗ tổn thương Riêng đối với kết tràng lên, kết tràng góc gan, nếu vết thương nhỏ, gọn thì sau khi khâu kín, sẽ mở thông manh tràng
+ Khi vết thương lớn, giập nát rộng, mạc treo có tổn thương thì bóc tách mạc Told, giải phóng kết tràng, biến đoạn cố định thành di động rồi đưa ra ngoài làm lỗ rò ngay tại vết thương hoặc cắt đoạn đại tràng nếu có chỉ định, rồi đưa cả hai đầu ra ngoài làm HMNT kiểu hai nòng súng
2.2.3 Vết thương trực tràng:
+ Vết thương trực tràng ở phần có thanh mạc, tức là vết thương thông với ổ phúc mạc: đoạn này không thể đưa ra ngoài được vì ngắn, nên cần khâu kín vết thương rồi làm HMNT kiểu kép có cựa tại kết tràng sigma Nếu không khâu được vì mất nhiều tổ chức thì cắt bỏ đoạn bị tổn thương, đóng kín đầu dưới, đưa đầu trên ra ngoài làm HMNT một nòng (phẫu thuật Hartmann)
+ Vết thương trực tràng ở phần không có thanh mạc che phủ, tức là vết thương thông với các khoang dưới phúc mạc trong chậu hông: làm HMNT kép
có cựa tại kết tràng sigma và rạch rộng vết thương, dẫn lưu vùng đáy chậu
Trang 241.1 Phương pháp mổ và chỉ định chung:
+ Không nên cắt đoạn đại tràng đang bị tắc vì quai ruột trên chỗ tắc bị giãn rộng, thành đại tràng bị rối loạn tuần hoàn, thậm chí bị tổn thương, khâu nối sẽ khó thành công Trong lòng đại tràng có nhiều phân lỏng, dễ gây nhiễm trùng ổ bụng Nếu đại tràng bị tắc thì lần mổ đầu phải dẫn lưu (mở thông, HMNT) hoặc nối tắt Ở các lần mổ sau, nếu có thể được, sẽ lấy bỏ phần có khối u một cách triệt để và sẽ chấm dứt dẫn lưu vào lần mổ thứ ba
+ Không nên cắt đoạn đại tràng khi đang có viêm phúc mạc
1.2 Thăm khám tổn thương:
Khi thăm khám tổn thương thì phẫu thuật viên phải thăm dò, xác định xem có cắt đoạn đại tràng được không:
+ Nếu di động được u thì có khả năng cắt bỏ được
+ Phải đánh giá các di căn vào hạch mạc treo, vào gan, vào phổi và mức độ
di căn nếu có Cần kiểm tra cả hai thùy gan, kiểm tra toàn bộ đại tràng, xác định
vị trí, ranh giới khối u, mức độ dính của nó với các cơ quan lân cận, mức độ hẹp tắc lòng đại tràng do khối u gây ra Sau khi kết thúc sự thăm khám kỹ lưỡng trong lúc mổ, phẫu thuật viên mới quyết định sẽ phẫu thuật như thế nào
1.3 Nguyên tắc kỹ thuật:
+ Chuẩn bị lòng đại tràng thật sạch trước mổ nếu có thể
+ Cần phải lấy bỏ hết tổ chức ác tính nếu được và chấm dứt mọi sự lan truyền của nó qua ống tiêu hóa, qua hệ thống bạch mạch, qua đường tĩnh mạch càng sớm càng tốt Như vậy cần cố gắng buộc thắt hai đầu đoạn ruột định cắt
Trang 262.2 Các phương pháp mổ và chỉ định của phương pháp:
Tùy theo tình trạng bệnh nhân và tính chất của tổn thương mà quyết định
2.2.1 Cắt bỏ đại tràng phải và nối hồi - kết tràng ngang ngay trong một lần mổ:
Áp dụng khi:
+ Tình trạng sức khỏe bệnh nhân cho phép
+ Khối u chưa gây tắc ruột
+ Có thể lấy bỏ được khối u
+ Khối u bị thủng nhưng ổ bụng bẩn ít
2.2.2 Cắt bỏ đại tràng phải qua nhiều lần mổ:
+ Áp dụng khi:
- Khối u có thể lấy bỏ được
- Tình trạng sức khỏe bệnh nhân không cho phép mổ lấy bỏ khối u
- Khối u bị thủng, tuy thể trạng bệnh nhân còn tốt nhưng ổ bụng quá bẩn + Phương pháp mổ hai lần có thể tiến hành một trong hai cách sau:
- Nếu lần một: nối hồi - kết tràng ngang (nối tắt trên và dưới khối u, khi bệnh nhân có thể trạng kém, không chịu đựng được cắt đoạn đại tràng phải ngay lần đầu, nhưng do không có nhiễm khuẩn nên nối hồi - kết tràng ngay được) thì lần hai: 2 hay 3 tuần sau, mổ cắt bỏ đại tràng phải
- Nếu lần một: mở dẫn lưu hồi tràng (áp dụng khi tắc ruột, hồi - kết tràng bị giãn to hoặc khối u bị thủng mà tình trạng toàn thân và tại chỗ không cho phép nối hồi - kết tràng ngang ngay lần đầu Cách làm là mở dẫn lưu hồi tràng theo kiểu HMNT hai nòng súng ở vùng hố chậu phải) thì lần hai: 1 - 3 tuần sau tiến hành: Cắt bỏ đại tràng phải
Nối hồi - kết tràng ngang
Lấy bỏ miệng HMNT hồi tràng còn dính vào thành bụng
Nếu sau khi cắt bỏ đại tràng phải mà tình trạng bệnh nhân yếu, không cho phép khâu nối ngay, thì có thể giữ nguyên đầu hồi tràng ở quai đến của HMNT Như vậy cần phải mổ lần thứ ba
Trang 2737
+ Phương pháp mổ ba lần:
Áp dụng khi bệnh nhân quá yếu lại bị tắc ruột:
- Lần một: mở thông manh tràng hay hồi tràng
- Lần hai: 2 - 3 tuần sau: cắt đứt hồi tràng phía trên chỗ mở thông hồi tràng, đóng bít đầu hồi tràng phía manh tràng lại, đưa đầu còn lại nối với kết tràng ngang
- Lần ba: cắt bỏ manh tràng cùng lỗ rò cho tới kết tràng ngang phần ở phía trên trước miệng nối và đóng bít đầu kết tràng ngang lại
2.2.3 Khi không thể cắt bỏ được đại tràng phải:
Nếu khối u ở đại tràng phải dính nhiều với tổ chức xung quanh và có các di căn lan tỏa ở phúc mạc, trong gan và có nguy cơ tắc ruột thì cố gắng nối thông hồi - kết tràng ngang (nối tắt giữa đoạn trên và đoạn dưới khối u) Nếu khối u không đe dọa tắc ruột thì có tác giả khuyên nên đóng ổ bụng lại mà không nên làm bất cứ một thủ thuật nào, chỉ lấy sinh thiết khối u hoặc lấy một hạch cứng bất
kỳ, chỉ làm HMNT vĩnh viễn nếu không có sự lựa chọn nào khác
2.3 Kỹ thuật cắt bỏ đại tràng phải và nối hồi tràng với kết tràng ngang ngay lần mổ đầu:
Trong phẫu thuật đại tràng phải do ung thư, tùy từng trường hợp cụ thể mà có các chiến thuật xử trí cụ thể và các kỹ thuật cụ thể Trong các phần trước đã trình bày chi tiết các kỹ thuật dẫn lưu (tạo lỗ rò, HMNT ), kỹ thuật khâu nối ruột Trong phần này, chỉ trình bày kỹ thuật chính trong cắt bỏ đại tràng phải và hồi phục lưu thông ngay
+ Mở bụng theo đường trắng bên bên phải hoặc theo đường trắng giữa
+ Kiểm tra ổ bụng, xác định vị trí, mức độ tổn thương
+ Thắt buộc chặt hai đầu đoạn ruột sẽ lấy bỏ
+ Thắt, cắt các nhánh động mạch:
- Luồn dưới động mạch kết tràng phải trên cùng với tĩnh mạch, các đường bạch mạch đi kèm và buộc lại bằng chỉ không tiêu chắc Buộc một nút phía trung tâm, một nút phía ngoại vi, cắt bằng kéo giữa hai nút
- Cũng làm như vậy với động mạch hồi - manh - trùng tràng
- Cắt các nhánh từ động mạch kết tràng giữa đi vào kết tràng ngang phần sẽ cắt bỏ, nếu được thì không cắt ngang qua động mạch kết tràng giữa vì động mạch này sẽ vòng sang trái tiếp nối với động mạch kết tràng trái (của động mạch mạc
Trang 28tràng ngang về phía bên trái
+ Giải phóng đại tràng phải:
tràng, kéo thấp góc gan xuống, cắt
đứt dây chằng ở giữa các mối buộc
hoặc bằng dao điện
Cắt đứt nửa phải của mạc nối
lớn (mạc nối dạ dày - kết tràng
ngang) giữa các mối buộc
Như vậy, bây giờ chỉ còn mạc
treo kết tràng lên và mạc treo kết
tràng ngang giữ quai ruột
Hình 9.25
Hình 9.24
Trang 2939
được càng nhiều chuỗi hạch bạch huyết càng tốt (hình 9.25)
Rạch cắt mạc treo kết tràng ngang từ trong sâu ra đến thành kết tràng, theo hướng đường rạch này xẻ mạc nối lớn (giữa các mối buộc) từ kết tràng ngang đến bờ tự do của mạc nối
+ Cắt bỏ quai ruột:
- Che phủ ổ bụng bằng khăn mổ lớn, chỉ để lộ ra phần ruột sẽ cắt bỏ
- Cắt đứt kết tràng ngang và cắt đứt hồi tràng, đường cắt đi giữa hai kìm Phía quai ruột bỏ đi dù đã có mối buộc cũng nên kẹp thêm kìm thẳng cứng để đề phòng tuột chỉ mối buộc Phía quai ruột giữ lại thì kẹp bằng kìm cứng hay kìm kẹp ruột mềm còn tùy thuộc vào kiểu nối thông Đường cắt phải đi qua vùng ruột
có tuần hoàn tốt, đầu ruột còn hồng hào, lấy bỏ phần ruột có khối u
+ Hồi phục lưu thông:
Có thể hồi phục lưu thông bằng một trong các kiểu sau đây:
Khâu nối hai lớp theo nguyên tắc chung: lớp trong khâu toàn thể bằng chỉ catgut, mối rời, mối chỉ buộc trong lòng ruột Lớp ngoài khâu thanh mạc - cơ bằng chỉ lin, mối rời Chú ý vì chu vi hai
đầu ruột không bằng nhau nên
khoảng cách các mối khâu trên hồi
tràng phải ngắn hơn khoảng cách
các mối khâu trên đại tràng
- Nối bên - bên:
Hai đầu ruột được kẹp bằng
kìm cứng
Đóng kín mỏm đại tràng và
mỏm hồi tràng hai lớp
Hình 9.26
Trang 3040
Nối hồi - kết tràng ngang kiểu bên - bên thuận theo chiều nhu động ruột
(hình 9.26) Có thể để ngược chiều nhu động để tránh hình thành một túi cùng ở
gần miệng nối
Kỹ thuật khâu nối hai lớp theo
nguyên tẵc chung
Miệng nối trên đại tràng cần ở
chính giữa dải dọc cơ, trên hồi tràng
thì ở phía bờ tự do
- Nối tận - bên:
Đầu đại tràng được đặt kìm
cứng, phía hồi tràng được đặt kìm
kẹp ruột mềm cách đầu ruột 5 -
10cm
Đóng bít đầu đại tràng
Khâu nối đầu hồi tràng vào kết
tràng ngang theo kiểu tận - bên theo
nguyên tắc chung (hình 9.27)
+ Khâu kín khe hở giữa rìa
mạc treo đại tràng với rìa mạc treo hồi tràng bằng 6 - 8 mối chỉ rời để sau này các quai ruột non không chui vào gây tắc ruột
+ Khâu hồi phục phúc mạc thành bụng sau:
Trên thành bụng sau ở chỗ đã lấy bỏ đại tràng phải có một diện tích thiếu
hổng phúc mạc thành Cần khâu hai mép của nó lại với nhau bằng mối vắt
thanh mạc theo chiều trên dưới (hình 9.28)
để tránh tắc ruột sau mổ
+ Lau sạch ổ bụng, kiểm tra cầm máu, đóng thành bụng hai lớp Đa số các nhà phẫu thuật dẫn lưu ổ bụng, nhưng nếu không nhiễm trùng, cầm máu tốt, đường khâu chắc chắn thì không cần dẫn lưu ổ bụng
Hình 9.27
Hình 9.28
Trang 31- Có thể luồn qua hậu môn vào kết tràng trái một ống cao su mềm, đường kính
10 - 12mm, có đục thêm 2 - 3 lỗ ở cạnh bên ống gần đầu trong để tháo hơi, giảm áp
3 Cắt bỏ kết tràng ngang
3.1 Phương pháp mổ và chỉ định của phương pháp:
Cắt bỏ kết tràng ngang có thể được tiến hành bằng một trong các phương pháp sau tùy theo chỉ định cụ thể:
+ Cắt bỏ kết tràng ngang và nối ngay: áp dụng khi ruột không bị trướng, không nhiễm khuẩn ổ bụng và sức khoẻ bệnh nhân tốt, công tác chuẩn bị trước
mổ tốt
+ Cắt bỏ kết tràng ngang qua nhiều lần mổ:
- Nếu có bán tắc ruột kèm theo và kết tràng ngang di động tốt thì cắt đoạn kết tràng ngang theo phương pháp Mikulicz (xem bài HMNT)
- Nếu kết tràng ngang bị dính quá nhiều kèm theo tắc ruột thì tiến hành mở thông manh tràng Sau ba tuần sẽ mổ lần thứ hai để cắt bỏ kết tràng ngang và nối ngay Khi miệng nối đã liền (2 - 3 tuần sau) thì mổ đóng lỗ thông manh tràng lại
- Nếu bệnh nhân yếu không cho phép cắt bỏ ngay kết tràng ngang, hoặc đưa kết tràng ngang ra ngoài thì có thể nối tắt hồi tràng với kết tràng ngang ở phía dưới khối u (nối kiểu bên - bên hoặc tận - bên) Kỹ thuật chính gồm:
Cắt đứt đôi hồi tràng
Đóng bít đầu hồi tràng phía manh tràng
Nối đầu hồi tràng phía trung tâm với kết tràng ngang ở dưới khối u
Vài tuần sau sẽ mổ cắt bỏ hồi - kết tràng lên và đoạn kết tràng ngang có khối u
3.2 Kỹ thuật cắt bỏ kết tràng ngang và nối ngay (mổ một lần):
+ Mở ổ bụng theo đường trắng giữa
Trang 3242
+ Kiểm tra, đánh giá tình trạng tổn thương kết tràng ngang: nếu u không ở đúng giữa kết tràng ngang thì tùy vị trí khối u mà cắt bỏ thêm một phần kết tràng của góc gan hoặc của góc lách
+ Buộc kết tràng ngang ở hai vị
trí cách xa khối u về hai phía
+ Cắt đứt mạc nối dạ dày - kết
tràng ngang giữa các mối buộc trên
tất cả chiều rộng của nó sao cho để
lại toàn bộ động mạch và tĩnh mạch
chạy dọc bờ cong lớn dạ dày
+ Thắt buộc các mạch máu chạy
vào khối u và từ khối u đi ra nằm
trong mạc treo kết tràng ngang gồm
tràng ngang giữa các mối buộc,
đường cắt càng xa kết tràng (tức là càng gần phía thành sau) càng tốt (hình 9.30)
+ Che phủ cẩn thận ổ bụng
+ Cắt ngang kết tràng phía trên và phía dưới khối u, cách khối u ít nhất là
15 – 18 cm theo nguyên tắc chung Lấy bỏ kết tràng ngang có khối u cùng toàn
bộ mạc nối lớn dính vào nó
+ Phục hồi lưu thông đại tràng bằng cách khâu nối hai đầu đại tràng với nhau
theo kiểu tận - tận (khâu hai lớp
theo nguyên tắc chung) (hình 9.31)
+ Khâu kín lỗ hổng mạc treo kết tràng ngang
+ Luồn qua hậu môn vào đại tràng trái (luồn trước mổ) một ống cao su giảm áp như đã trình bày ở
Hình 9.29
Hình 9.30
Trang 33nhỏ, chưa gây tắc hoặc mới gây bán tắc
tức là kết tràng phía trên khối u chưa căng
trướng, sức khỏe bệnh nhân tốt và công
ngang Sau 3 - 4 tuần, nếu tình trạng bệnh
nhân tốt lên sẽ mổ lần hai để cắt bỏ kết
tràng góc lách, phục hồi lưu thông ngay
4.2 Kỹ thuật cắt bỏ kết tràng góc lách và nối ngay (mổ một lần):
+ Mở ổ bụng đường trắng bên bên trái hoặc đường trắng giữa
+ Thăm khám tổn thương
+ Thắt buộc hai đầu đoạn ruột cách khối u 15 - 18cm, đường định cắt phía
dưới phải nằm dưới khu vực tưới máu
của động mạch kết tràng trái (hình 9.32)
+ Thắt buộc gốc động mạch kết tràng trái, nhánh bên trái của động mạch kết tràng giữa và nhánh xuống phía dưới của động mạch kết tràng trái cùng các tĩnh mạch và đường bạch mạch đi kèm
+ Làm di động kết tràng:
Hình 9.31
Hình 9.32
Trang 3444
- Giải phóng góc lách của kết tràng (hình 9.33), cắt đứt dây chằng hoành -
kết tràng giữa các mối buộc hoặc cắt bằng dao điện, chú ý không được gây tổn thương lách
- Tiếp tục cắt đứt khoảng 1/3 phía
bên trái của mạc nối dạ dày - kết
tràng ngang (cắt đứt giữa các mối
kết tràng ngang theo nguyên tắc
chung sao cho tạo thành hình chêm mà đỉnh mạc treo ở chỗ gốc của động mạch kết tràng trái, lấy bỏ kết tràng góc lách có khối u với mạc treo và phần mạc nối
lớn trực thuộc thành một khối (hình 9.32)
+ Nối đầu trung tâm với đầu ngoại vi theo kiểu tận - tận theo nguyên tắc
chung (hình 9.34) Nếu miệng nối bị căng thì cần giải phóng góc gan kết tràng
+ Khâu kín lỗ hổng mạc treo đại tràng và cố gắng khâu kín hoặc làm hẹp khoảng trống phúc mạc thành sau
+ Đóng ổ bụng
5 Cắt bỏ kết tràng sigma
5.1 Các phương pháp mổ và chỉ định của phương pháp:
+ Phương pháp cắt và nối ngay lần đầu: tiến hành khi không tắc ruột, công tác chuẩn bị trước mổ cho người bệnh tốt
Hình 9.33
Hình 9.34
Trang 35- Lần ba: 2 - 3 tuần sau, khi miệng nối đã liền, tiến hành đóng HMNT
+ Phương pháp cắt bỏ kết tràng sigma theo kiểu Mikulicz - Paul:
- Chỉ định của phương pháp: khi có tắc ruột và nhiễm khuẩn ổ bụng
- Kỹ thuật giống kỹ thuật làm HMNT hai nòng kiểu Mikulicz như đã mô tả ở bài HMNT Vì quai sigma dài nên đưa được hai chân quai ruột sát vào nhau và khâu đính được với nhau theo kiểu tạo cựa
5.2 Kỹ thuật cắt bỏ kết tràng sigma và nối ngay (mổ một lần):
+ Mở ổ bụng đường trắng giữa
dưới rốn
+ Kiểm tra, xác định tổn thương
(vị trí, mức độ, ranh giới )
Trường hợp ung thư kết tràng
sigma, có chỉ định cắt và nối ngay
thì:
- Buộc thắt tạm thời ngang quai
ruột ở hai vị trí phía trong hai đường
nâng quai sigma lên, đánh dấu đường
cắt sao cho 2 - 4 gốc của động mạch sigma (xuất phát từ động mạch mạc treo
tràng dưới) tạo thành đỉnh phần mạc treo có hình chêm (hình 9.36)
+ Cắt bỏ kết tràng sigma theo nguyên tắc
+ Làm miệng nối giữa hai đầu ruột còn lại với nhau theo kiểu tận - tận
+ Khâu kín lỗ hổng mạc treo và chỗ thiếu hổng phúc mạc thành sau
Hình 9.35
Trang 3646
+ Cần đặt trước khi mổ một ống cao su mềm, cỡ 10 - 12mm có đục 2 - 3 lỗ ở thành bên, luồn từ hậu môn vượt qua miệng nối để giảm áp cho đại tràng, miệng nối sẽ dễ liền, không bị xì, bục
+ Đóng ổ bụng, không cần đặt dẫn lưu
6 Cắt bỏ đại tràng trái.
Cắt bỏ đại tràng trái là phẫu thuật lấy bỏ từ nửa trái kết tràng ngang đến cuối kết tràng sigma Cắt bỏ đại tràng trái khi có khối u ác tính ở đại tràng trái mà có di căn vào các hạch bạch huyết quây quanh gốc động mạch mạc treo tràng dưới
6.1 Phương pháp mổ và chỉ định của phương pháp:
+ Mổ 1 lần:
- Làm khi khối u chưa gây tắc, không có tình trạng nhiễm trùng ổ phúc mạc, sức khỏe bệnh nhân tốt, công tác chuẩn bị trước mổ tốt
- Mổ một lần tức là mổ cắt bỏ đại tràng trái và hồi phục lưu thông đại tràng ngay
+ Mổ nhiều lần: nếu khối u gây bán tắc hoặc gây tắc ruột, đại tràng giãn, khối
u bị thủng, sức khoẻ bệnh nhân yếu
- Lần 1: làm HMNT ở kết tràng ngang
- Lần 2: cắt bỏ đại tràng trái, vẫn giữ lại đầu ra của HMNT
- Lần 3: cắt bỏ HMNT, nối tận - tận kết tràng ngang với kết tràng sigma (đoạn cuối) hoặc với trực tràng
Có thể lần 2 và lần 3 thực hiện trong một lần mổ Tuy là phẫu thuật nhiều lần nhưng tiến hành được mấy lần, có hoàn chỉnh hay không còn tùy thuộc vào tình trạng di căn của khối u, sức khỏe của bệnh nhân
Hình 9.36
Trang 3747
6.2 Kỹ thuật cắt bỏ đại tràng trái và nối ngay (mổ 1 lần):
+ Phẫu thuật này thực ra gồm kỹ thuật cắt bỏ kết tràng góc lách và kỹ thuật cắt bỏ kết tràng sigma Các kỹ thuật này đã được trình bày ở trên
Những điểm chính của kỹ thuật là:
+ Mở thành bụng theo đường trắng bên bên trái hoặc mở theo đường trắng giữa + Giải phóng kết tràng góc lách
+ Giải phóng kết tràng xuống và kết tràng sigma, bóc tách mạc treo của kết tràng xuống vào tới tận bờ trái của
động mạch chủ bụng
+ Thắt buộc các mạch máu
(hình 9.37), nâng toàn bộ đại tràng
trái, mạc treo đại tràng trái lên: thắt
và cắt đứt nhánh động mạch bên
trái của động mạch kết tràng giữa
(thắt ngang cung mạch Riolan)
- Tìm gốc động mạch mạc treo
tràng dưới trong gốc mạc treo, chỗ
xuất phát của nó ở trên thành trước
động mạch chủ bụng, phẫu tích
động mạch này ngay sát gốc của nó
và cắt đứt nó giữa các mối buộc
chắc chắn
- Lấy bỏ hết các hạch bạch
huyết lớn nằm dọc phía trước gốc động mạch mạc treo tràng dưới
+ Giải phóng kết tràng góc gan và kết tràng lên để miệng nối không bị căng
+ Cắt bỏ đại tràng trái (từ giữa kết tràng ngang đến cuối kết tràng sigma) theo nguyên tắc kỹ thuật chung và cắt đứt mạc treo thuộc về nó sao cho tất
cả các nhánh mạch của nó (thân động mạch mạc treo tràng dưới, nửa trái cung Riolan) nằm trong phần lấy bỏ
đi cùng với phần đại tràng bỏ đi (hình
9.38)
Hình 9.37
Hình 9.38
Trang 38+ Đóng ổ bụng theo từng lớp
7 Cắt bỏ toàn bộ đại tràng
Thực hiện khi toàn bộ đại tràng bị
xâm nhiễm ung thư hoặc bị bệnh lý
- Cắt bỏ toàn bộ đại tràng, nối hồi
tràng - hậu môn, giữ nguyên cơ thắt
(phương pháp Ravith)
- Cắt bỏ đại tràng, nối hồi - trực
tràng
+ Mổ nhiều lần:
- Làm HMNT hồi tràng rồi cắt bỏ toàn bộ đại tràng (mổ 2 lần)
- Làm HMNT hồi tràng rồi cắt bỏ toàn bộ đại tràng (mổ 3 lần)
Mổ theo phương pháp nào còn tùy thuộc vào tình trạng viêm phúc mạc, sức khoẻ bệnh nhân, trình độ phẫu thuật viên Tùy từng trường hợp cụ thể mà lựa chọn phương pháp thích hợp
7.2 Kỹ thuật cắt bỏ toàn bộ đại tràng và làm HMNT hồi tràng (mổ 1 lần) (hình 9.40):
Kỹ thuật cắt bỏ toàn bộ đại tràng gồm các
kỹ thuật cắt bỏ đại tràng phải và đại tràng trái
Hình 9.40
Hình 9.38
Trang 39+ Nội dung cuộc mổ gồm có 4 bước chính sau:
- Giải phóng nửa đại tràng phía bên phải (hình 9.41): từ hồi - manh tràng đến hết nửa phải kết tràng ngang
Cắt đứt mạc nối dạ dày - kết tràng ngang, mạc treo kết tràng lên, nửa phải mạc treo kết tràng ngang giữa các mối buộc ở gần kết tràng, không lấy bỏ các hạch mạc treo, cố gắng bảo tồn sự nguyên vẹn của bề mặt phúc mạc
Cắt đứt hồi tràng cách van
hồi - manh tràng khoảng 10cm
giữa các hàng móc bấm kim loại
hoặc giữa hai mối buộc
Gói toàn bộ đại tràng phải
vào một khăn mổ
Khâu mép mạc treo kết
tràng lên vào với mép phúc mạc
thành bên còn lại để phục hồi phúc
mạc thành sau
- Giải phóng nửa đại tràng
phía bên trái:
Giải phóng hoàn toàn đại
tràng trái, tiếp theo nửa phải của
kết tràng ngang, kết tràng xuống, kết tràng sigma
Cắt đứt các dây chằng và mạc treo như cách thức đã làm ở trên
Hình 9.41
Trang 4050
Nâng đại tràng trái đã được giải phóng từ ổ bụng lên và gói tất cả đại tràng
từ góc hồi - manh tràng đến kết tràng sigma vào trong một khăn mổ
Khâu mép cắt phía dạ dày của mạc nối dạ dày - kết tràng ngang vào mép cắt
phía trung tâm của mạc treo kết tràng ngang (hình 9.42) Để dễ khâu, không nên
cắt ngắn ngay các mối chỉ thắt buộc ở mạc treo khi cắt mạc treo và mạc nối mà nên kẹp chúng vào một cái kìm để giữ lại, sẽ dễ làm hơn ở các bước tiếp theo Phục hồi phúc mạc thành
bụng sau phía bên trái như đã
làm ở phía bên phải
- Cắt bỏ trực tràng:
Bàn mổ được đưa về tư thế
bệnh nhân nằm ngửa, đầu thấp
Lấy bỏ toàn bộ đại tràng từ
đoạn cuối hồi tràng đến hậu môn
Phục hồi phúc mạc chậu
hông
Đặt dẫn lưu hố chậu
- Mở thông hồi tràng:
Vị trí tạo lỗ mở trên thành bụng: vùng hạ sườn phải, phía ngoài cơ thẳng
bên phải, cao hơn rốn một chút (hình 8.33)
Tạo đường đi của hồi tràng qua thành bụng: ở chỗ đã đánh dấu trên thành bụng, khoét da, tổ chức dưới da, cân, cơ một lỗ có đường kính khoảng 3cm Đến đây có 2 cách làm:
Khoét thẳng từ ngoài vào qua mạc ngang, phúc mạc để vào ổ bụng
Hoặc tạo đường hầm xiên: từ lỗ đã tạo ở trên, bóc tách phúc mạc thành ra khỏi mặt trong của thành bụng trước độ vài centimet
Hình 9.42