Kiến thức chính xác về giải phẫu TM gan và quan hệ với TM chủ dưới rất quan trọng trong phẫu thuật gan, bao gồm cắt gan bán phần, chấn thương gan và ghép gan. Hiểu biết này giúp giới hạn chảy máu khối lượng lớn, thuyên tắc khí do rách các TM lớn, duy trì cung lượng máu TM ra khỏi gan (hepatic venous outflow, HVO) sau khi mổ.
Trang 1GIẢI PHẪU NGOẠI KHOA ỨNG DỤNG TRONG GHÉP GAN PHÂN THÙY
Trần Vĩnh Hưng
Kiến thức chính xác về giải phẫu TM gan và
quan hệ với TM chủ dưới rất quan trọng trong
phẫu thuật gan, bao gồm cắt gan bán phần, chấn
thương gan và ghép gan22 Hiểu biết này giúp
giới hạn chảy máu khối lượng lớn, thuyên tắc
khí do rách các TM lớn, duy trì cung lượng máu
TM ra khỏi gan (hepatic venous outflow, HVO)
sau khi mổ
Ảnh hưởng của tắc cung lượng máu TM ra
trên chức năng gan là phần ít được hiểu biết
nhất trong phẫu thuật gan Duy trì HVO giữ vai
trò chủ yếu trong ngăn ngừa rối loạn chức năng
gan hoặc suy gan, tùy theo mức độ bế tắc HVO
Tuy nhiên, thành phần tạo nên HVO đầy đủ sau
phẫu thuật gan vẫn còn nhiều bàn cải(21)
Cột 2 TM gan có thể chịu được, đã thực hiện
ở 2 bệnh nhân chấn thương(24) Các nghiên cứu
huyết động trên người cho thấy sau khi cột 1 TM
gan, một cầu nối tắt (shunt) TM-TM trong gan
tạo ra trong vùng TM gan bị tắc(24,32) (có thể có
hoặc không đảo ngược dòng máu trong hệ TM
cửa) Điều này gây tổn thương chức năng gan
nhẹ hoặc trung bình, làm phản ứng tái tạo tế bào
gan xảy ra Thậm chí có thể teo phần gan liên
quan, kèm đảo ngược dòng máu trong hệ TM
cửa ở một mức độ nhất định Mặc dù khả năng
tái tạo ở gan bình thường rất lớn, khả năng này
không đồng đều ở tất cả mọi người Ở bệnh
nhân xơ gan, vàng da tắc mật hoặc ở bệnh nhân
ghép gan (mẫu ghép có kích thước tạm đủ), có
thể có tắc HVO ở một phần gan, ảnh hưởng lớn
đến dự hậu Do đó, hiểu biết giải phẫu TM gan
trước mổ cho phép hoạch định cuộc mổ, mở
rộng biên độ an toàn cho phẫu thuật
Mặt khác, kết quả khả quan trong ghép
gan đã mở rộng chỉ định, dẫn tới thiếu hụt
mảnh ghép trên toàn thế giới Sự cải tiến kỹ
thuật trong ghép gan chia (split liver
transplantation, SLT) và ghép gan từ người cho sống (living donor liver transplantation, LDLT) đã giúp tăng nguồn gan ghép cho người lớn và trẻ con(5,16) LDLT có nguy cơ gây biến chứng ở người cho, và quan trọng là giảm tối thiểu biến chứng ở cả người cho và người nhận, để làm tăng tỉ lệ thành công và áp dụng của kỹ thuật ghép gan Hầu hết các biến chứng về đường mật và mạch máu sau mổ gắn liền với kỹ thuật mổ và các bất thường giải phẫu
Mặc dù có nhiều phương tiện như siêu âm trong mổ, chụp mạch máu, CT, MRI được dùng thường quy trong người cho sống để vẽ sơ đồ mạch máu và đường mật(18), quy trình này không thực hiện thường quy trong chia gan tử thi Hơn nữa, không phải tất cả các bất thường có thể chứng minh chắc chắn bằng những phương tiện này, nhiều trường hợp chỉ rõ ràng khi nhìn thấy
cụ thể Do đó, PTV ghép phải hiểu rõ GPH bình thường của gan và có năng nhận biết sự hiện diện và ý nghĩa của các biến thể giải phẫu
TĨNH MẠCH GAN (HP) VÀ TM CHỦ DƯỚI
(IVC)
Bao gồm 3 TM đổ vào phần trên gan của IVC, và 1 loạt các TM gan phụ đổ vào phần sau gan của IVC RHV, TM dài nhất của gan, là nhánh đơn trong 94% và nằm trong mặt phẳng gian phân thùy của phân thùy trước và sau của thùy (P)(22) Nhánh đơn này tạo ra do sự hội tụ
của thân trước nằm trong khe cửa (P), dẫn lưu chủ yếu hpt V và VI, với thân sau (dẫn lưu chủ
yếu hpt VII)(8) MHV nằm dọc theo đường Cantlie trong khe cửa chính và tạo thân chung với LHV ở 85% trường hợp(8,22) MHV dẫn lưu
khu trung tâm (central sector) của gan, nhận các
nhánh hằng định từ các hpt IV bên trái và hpt V, VIII bên phải(12) Đây thường là TM dẫn lưu
* Bệnh viện Bình Dân
Tác giả liên lạc: TS.BS.Trần Vĩnh Hưng ĐT: 0903.744.565 Email: hungsurgeon2021@yahoo.com
Trang 2chính của phân thùy trước của thùy (P)
Hình 1 Giải phẫu phân thùy gan cho thấy kiểu dẫn
lưu TM gan, các nhánh của TM cửa và các mặt
phẳng chia gan A-A: mặt phẳng chia phân thùy trái
bên và thùy phải (mở rộng) B-B: mặt phẳng chia
thùy phải và thùy trái
LHV phát xuất từ chỗ hợp lưu của 1 TM
ngang dẫn lưu hpt 2, và 1 TM dọc dẫn lưu hpt
3(8) Đôi khi LHV nhận thêm nhánh bên từ hpt 4
Thân chung, đa số hợp với MHV, đỗ vào IVC
đoạn trên gan Đôi khi, LHV đổ độc lập vào IVC
như là 1 nhánh của phân thùy bên (T), riêng biệt
với MHV
Các TM gan phải phụ (sau), nhỏ và ngắn,
(không nên lầm với các TM của thùy đuôi)
dẫn lưu máu từ phân thùy sau (hpt VI, VII) đổ
trực tiếp vào bên phải IVC đoạn sau gan Thùy
đuôi được dẫn lưu về phía trái bởi 1 tĩnh mạch
ở 50% trường hợp, hoặc 2 hay 3 tĩnh mạch ở
các trường hợp còn lại Hơn nữa, có thể có đến
20 tĩnh mạch nhỏ, ngắn nối thùy đuôi với IVC
đoạn sau gan(9)
Các biến thể và bất thường
Năm 1981, Nakamura và Tsuzuki(22) nghiên
cứu về các dạng phân nhánh của TM gan, và
nhận thấy rằng kích thước của thân chính
RHV dường như quyết định số lượng và
đường kính của các TM gan phụ Khi hiện
diện 1 tĩnh mạch gan lớn dẫn lưu 1 vùng rộng
của thùy (P), thì chỉ có 1 tĩnh mạch nhỏ sau dẫn lưu 1 vùng nhỏ của phân thùy sau thùy phải, đôi khi không có tĩnh mạch nhỏ này Nếu thân chính RHV có kích thước trung bình, 1 TM sau hay sau dưới, đường kính 0,5-1cm, dẫn lưu hpt sau dưới (hpt VI) đỗ riêng vào IVC (Hình 2) Tuy nhiên, khoảng 25% các trường hợp RHV nhỏ và ngắn, chỉ dẫn lưu hpt VII, trong khi 1 TM sau hoặc sau ngoài lớn, đường kính lên tới 1,8cm, dẫn lưu phần lớn hpt sau dưới (hpt VII) Trong những trường hợp này, phân thùy trước có thể chỉ dẫn lưu vào MHV
Hình 2 Mặt sau gan với TM cửa tách đôi, cho thấy 1
TM gan dưới lớn (mũi tên) đổ trực tiếp vào TM chủ (CL: thùy đuôi)
MHV và LHV hợp thành thân chung trong
đa số trường hợp Hơn nữa, các TM nhỏ dẫn lưu hpt III hoặc phần trên của hpt IV (hpt IVa)
có thể đổ trực tiếp vào IVC đoạn trên gan, gần thân chính của LHV Đặc điểm này thường không thấy ở bên phải(22) Mặt phẳng phân cách giữa hpt IV và phân thùy bên trái tạo thành ranh giới giữa 2 khu vực dẫn lưu của MHV và LHV Mặt phẳng này dẫn lưu hơn 60% gan qua 1 nhánh của LHV chạy ngang qua dây chằng liềm, và trên 30% qua các nhánh của LHV và MHV Khoảng 10% các trường hợp, hpt III được dẫn lưu bằng TM riêng, nối với MHV thay vì nối với TM của hpt II(22)
Trang 3Ý nghĩa lâm sàng
Loại chia gan thường nhất là lấy phân thùy
trái bên, dựa vào LHV, và lấy thùy phải mở
rộng, dựa vào MHV và LHV(2,6) Đường chia gan
đi qua vùng phân cách, các nhánh bên của MHV
và LHV dẫn lưu vùng này khá cố định.Các
nhánh này có thể cột mà không sợ ảnh hưởng
đường ra của phân thùy trái bên hoặc hpt IV
Tuy nhiên, phải cẩn thận khi xử lý TM hpt III đổ
vào MHV Sau khi cắt rời nhu mô, có thể không
thể tái tạo đường ra của các TM hpt III và LHV
thành 1 thân chung, nếu các lỗ TM này cách xa
nhau Do đó, có thể cắm riêng các TM này vào
IVC người nhận Vấn đề này cũng gặp trong lấy
gan giảm thể tích, lấy mảnh ghép phân thùy trái
bên Chảy máu có thể xảy ra lúc chia gan tại chỗ
hoặc lấy mảnh ghép phân thùy trái bên từ người
sống, khi 1 nhánh lớn của LHV dẫn lưu 1 phần
hpt IV chạy ngang qua dây chằng liềm(22) Sự
hiện diện của TM hpt II cho phép cắt hpt này để
giảm mảnh ghép phân thùy bên trái xuống
mảnh ghép 1 hpt để ghép cho trẻ rất nhỏ(37), vượt
qua tỉ lệ không tương thích về kích thước giữa
người cho và người nhận lên đến 15:1
Sự khác biệt về các dạng dẫn lưu của LHV
ở người cho và người nhận có thể gây biến
dạng miệng nối sau khi cắm mảnh ghép, dẫn
đến bế tắc đường ra Đường ra đủ rộng cực kỳ
quan trọng trong cầm máu mặt cắt và chức
năng mảnh ghép Kỹ thuật tam giác trong nối
tĩnh mạch gan giúp giải quyết vấn đề này(11)
Siêu âm Doppler trong mổ sau tái tưới máu
gan có lợi trong đánh giá đường vào và đường
ra của mạch máu, và giúp xác định vị trí tối ưu
để cắm mảnh ghép
Trong kỹ thuật chia gan 2 thùy phải và trái,
mặt phẳng bóc tách nằm bên phải của MHV, tạo
2 mảnh ghép đủ về khối lượng cho 2 người
lớn(39) Điều này làm gián đoạn đường ra TM của
hpt V và VIII, có thể gây ứ máu và chảy máu mặt
cắt thùy phải sau tái tưới máu, ảnh hưởng đến
thể tích chức năng của mảnh ghép Mặc dù IVC
có thể dành cho bất kỳ thùy nào, nhưng thường
được giữ cho thùy phải khi có các TM gan phải
phụ lớn Các tiếp cận thay thế gồm có mở IVC theo chiều dọc và đặt mảng (patch) chứa tất cả các nhánh bên vào, và thực hiện nối chủ - chủ với người nhận(13)
GS Tôn Thất Tùng(42), trong nghiên cứu “Kỹ thuật cắt bỏ gan”(42) đã đưa ra một số nhận xét về hình dạng và kích thước cũng như liên hệ của chúng trong nhu mô gan GS T.T.Tùng cũng có nhận xét về các tĩnh mạch của thùy đuôi (thùy Spiegel)
Trong kỹ thuật phân chia nửa gan phải, nửa gan trái, vấn đề là cắt bên phải hay bên trái TM gan giữa? Xu hướng chung có vẻ đã theo Bismuth(2) cắt ở bên trái Tuy nhiên, Trịnh Văn Minh(45) nhận xét: trong đa số các trường hợp, MHV phát triển bình thường và nằm hơi lệch sang trái chỗ chia đôi TM cửa, do đó nên cắt bên phải MHV Kỹ thuật này cũng dành cả thân chung MHV – LHV cho nửa gan trái, và tránh được những bất thường giải phẫu của 1 nhánh khe rốn của LHV đổ vào MHV Địa hạt bên phải sẽ được dẫn lưu qua RHV nhờ những nhánh nối phong phú luôn được thành lập một cách dễ dàng(45)
Lấy mảnh ghép thùy phải từ người cho sống có thể gặp các vấn đề tương tự Nên vẽ ra (map out) lộ trình trong gan của các TM gan bằng siêu âm trong mổ(8), đặc biệt là MHV và các TM gan phụ phải ở người cho thùy phải Đoạn ngoài gan của TM gan (P) của người cho dài #1cm có lợi vì dễ bóc tách và cắm vào IVC của người nhận Nếu TM gan phải phụ lớn, nên cắm riêng rẻ vào IVC người nhận Cắt gan phải mở rộng ít dùng, do khối lượng gan còn lại không đủ với người cho Ngoài ra, phẫu thuật có thể làm tổn thương hoặc xoắn LHV, đặc biệt là khi MHV chung thân với LHV Giải phẫu học MHV đặc biệt quan trọng trong lấy thùy phải gan ở người sống Khoảng 10%, khi RHV có khẩu kính nhỏ, MHV có thể giữ vai trò chính trong dẫn lưu phân thùy trước của gan phải Điều này là cấm chỉ định lấy thùy phải gan(25) Ứ máu (congestion) phân thùy trước
Trang 4chắc chắn xảy ra sau cắt nhu mô Tuy vậy, tình
trạng thiếu máu (ischemia) thường xảy ra sau tái
tưới máu, hơn là ứ máu(7) Tình trạng này không
kéo dài nếu đường vào và đường ra đầy đủ và
khối lượng gan chức năng hoạt động tốt
Cuối cùng, không có IVC bẩm sinh, gặp ở teo
đường mật, là thách thức duy nhất trong ghép
gan trẻ con Trong một số trường hợp, IVC có thể
được tái tạo bằng TM chậu của người chết não(36)
TĨNH MẠCH CỬA (Hình 1)
Ở rốn gan, TM cửa chia đôi thành 2 cuống
cho thùy phải và trái Một mặt phẳng lý thuyết,
khe giữa (khe cửa chính), ngăn cách 2 thùy này(8)
TM cửa phải (RPV), ngắn hơn, nằm trước mõm
đuôi, vào rốn gan và chia 2 nhánh trước sau
Nhánh trước cong về phía trước, nằm trong mặt
phẳng đứng dọc, chia thành nhánh lên và nhánh
xuống, vào HPT VIII và V Nhánh sau cong ra
phía sau ngoài, nằm trong mặt phẳng ngang,
chia lần lượt cho HPT VII và VI(12) TM cửa trái
(LPV) dài hơn nhiều và gồm 2 phần: phần ngang
dài 3 – 5cm trong rốn gan, và phần đi vòng cung
về phía trái trước đến nền của khe rốn và nối với
dây chằng tròn ở phía trước Giải phẫu của hệ
thống LPV khá ổn định Tĩnh mạch HPT II
thường đơn độc, trong khi HPT III có thể có đến
3 tĩnh mạch(12) Cung tĩnh mạch này uốn cong về
trước và cho 1 số nhánh lên và xuống đến HPT
IV, nằm giữa dây chằng liềm và khe chính Thùy
đuôi thường được nhánh trái phân phối máu, chỉ
có vài trường hợp là từ nhánh phải(8)
Các biến thể và bất thường
RPV có nhiều biến thể TM cửa chia 3 có ở 10
– 15% các trường hợp, khi RPV chia ngay thành
2 nhánh phân thùy (Hình 3) Đôi khi, 1 trong 2
nhánh này, thường là nhánh phải trước cho HPT
V và VIII, phát xuất từ LPV sau khi đi 1 khoảng
ngắn (Hình 4a) Biến thể thứ 3 là sự trượt ra
sau của phân thùy phải sau, khiến cho nhánh
TM cửa phải sau phát xuất trực tiếp từ thân
TM cửa, trước khi chia đôi(8) (Hình 4b)
Trong các trường hợp này, phần ngang của
LPV thường ngắn hơn bình thường Cuối
cùng, LPV có thể không có (Hình 5)
Hình 3 Thân chính TM cửa qua X quang chụp mạch
máu
Hình 4 Bất thường của hệ TM cửa chia 3 a) TM cửa
phải trước dẫn lưu vào thân chính TM cửa trái b)
TM cửa phải sau phân nhánh từ thân TM cửa chính trước khi chia đôi
Hình 5 Thân TM cửa không chia, không có nhánh
chính TM cửa trái riêng biệt
Trường hợp này, thân chính TM cửa không chia khi đi vào gan, mà cho các nhánh phân thùy phải rồi rẽ trái, bắt ngang khe rốn
Trang 5trong nhu mô, thành LHV và cho các nhánh
phân thùy trái
Ý nghĩa lâm sàng
Chia gan phân thùy trái bên và thùy phải
(mở rộng) có thể làm gián đoạn TM cửa ở HPT
IV gây thiếu máu (Hình 7b) Vấn đề loại bỏ HPT
này hay không vẫn còn đang bàn cải Cắt ngang
TM phân thùy phải phát xuất từ LPV có thể làm
thiếu máu một phần phân thùy trước của thùy
phải, nếu gan chia làm 2 thùy trái phải cho 2
người lớn, hoặc lấy thùy phải từ người cho sống
Điều này không có ý nghĩa lâm sàng và không
nên coi là chống chỉ định phẫu thuật Sự hiện
diện TM cửa không chia ở rốn gan là chống chỉ
định tuyệt đối trong hiến thùy phải gan hoặc
SLT Tuy nhiên, vấn đề được khắc phục khi lấy
thùy trái bên giảm thể tích bằng cách tiếp cận
TM cửa trong nhu mô khi TM này đi vào thùy
trái, và sau đó ghép TM (phần ghép) tận – bên(20)
Không nhận ra TM cửa chia 3 có thể làm tổn
thương nhánh giữa, chạy như 1 trong 2 nhánh
TM phân thùy của RPV Điều này có thể làm ảnh
hưởng TM cửa đến phân thùy trước hoặc sau
của thùy phải Tuy nhiên, TM cửa chia 3, ngay cả
khi nhận biết trước mổ, không phải là chống chỉ
định trong hiến thùy phải TM cửa cần được chia
ngay bên phải của chỗ chia 3, để lại thùy phải 2
nhánh TM riêng Khi các nhánh này ở gần nhau,
nên làm kỹ thuật back – table venoplasty để tạo
thành 1 TM duy nhất Hoặc, 2 nhánh có thể nối
riêng hay nối vào chỗ chia 2 của TM cửa người
nhận, kèm hay không kèm ghép chuyển vị
(interposition graft)(15), hoặc vào thân chính TM
cửa với ghép Y chuyển vị (interposition Y
graft)(43) Phần ngang ngắn của LHV trong TM
cửa chia 3 có thể gây khó khăn trong lấy và ghép
phân thùy trái bên, thường phải cắt các nhánh
của HPT I ở người cho để có được chiều dài cần
thiết để nối
GIẢI PHẪU ĐỘNG MẠCH
ĐM gan chung (CHA), nhánh của ĐM thân
tạng (CT), đôi khi phát xuất từ ĐM mạc treo trên
(SMA) cấp máu cho gan qua 2 nhánh phải và
trái Tuy nhiên, nguyên ủy của 2 nhánh này có nhiều biến thể, thường nhất là ĐM gan trái
(LHA) từ ĐM vị trái (LGA) (Hình 6) và ĐM gan
phải (RHA) từ SMA(19) Các ĐM gan phụ (aHA)
từ LGA và SMA thường có và có thể thay thế các nhánh chính(19) CHA có thể phân nhánh bất kỳ
từ nơi xuất phát đến rốn gan Phân nhánh thường bên trái rốn gan, nên nhánh RHA thường hơi dài hơn(12) RHA đi ra ngoài, sau ống mật chính (CBD) và ống gan phải (RHD) và đi vào nhu mô gan LHA đi dọc theo mặt dưới của thùy trái, cùng với ống gan trái (LHD) và TM cửa trái (LPV), một khoảng trước khi vào thùy trái ở khe rốn Thùy đuôi và mõm đuôi nhận các nhánh từ RHA và LHA ở dạng cung hoặc cây mạch máu(38)
Hình 6 Chụp ĐM thân tạng cho thấy chỗ xuất phát
của ĐM gan trái thay thế từ ĐM vị trái
Ý nghĩa lâm sàng
Các bất thường trong hệ thống ĐM cũng
đa dạng như đường mật, nhưng quan trọng hơn trong cả ghép gan toàn phần và ghép gan phân thùy Các bất thường ngoài gan dễ nhận thấy do kỹ thuật tiêu chuẩn trong thu thập đa
cơ quan và phương pháp tái tạo động mạch được thực hiện thường quy, dù làm tăng nguy
cơ biến chứng Bất thường động mạch ở người cho và người nhận có thể ảnh hưởng phẫu thuật ghép gan Khoảng 55% người có giải phẫu động mạch bình thường(19)
Trang 6Biến thể thường gặp nhất là LHA phát xuất
từ LGA, gặp ở 25% ĐM gan trái phụ này có thể
cung cấp toàn bộ máu cho phân thùy bên trái ở
50% trường hợp RHA phụ từ SMA có ở 17%, và
12% cấp máu cho toàn bộ gan phải Thân ĐM
gan phát xuất hoàn toàn từ SMA ở 2,5%, và một
số ít hơn, từ LGA(43) hoặc ĐM chủ Những dạng
này dễ có bất thường ở rốn gan hơn là các dạng
cổ điển
Ý nghĩa lâm sàng
Các ĐM phụ hoặc ĐM thay thế phải được
giữ lại do có khu vực cấp máu riêng, mỗi ĐM là
1 ĐM tận, không có thông nối trong gan(19).Tái
tạo ĐM gan thường cần thiết và khó hơn nhiều trong LTLD và SLT so với ghép gan toàn phần,
vì các ĐM ghép nhỏ hơn và ngắn hơn, và đôi khi phải lấy nhiều ĐM vào mảnh ghép phân thùy bên trái mà không làm tổn thương RHA của người cho(14) Cấp máu kép (dual blood supply) phân thùy bên trái từng được coi là chống chỉ định tương đối trong hiến gan(4), nhưng nhiều tác giả đã vượt qua trở ngại này bằng tái tạo ĐM
vi phẫu thường quy(40) Chính sách chọn lọc, tránh phải tái tạo ĐM phức tạp, có thể thực hiện
ở các nước có hiến gan từ người chết não
Hình 7 a) thì ĐM của CT xoắn ốc cho thấy ĐM HPT IV (mũi tên) phát xuất từ ĐM gan trái b) thì TM của CT
xoắn ốc cho thấy tĩnh mạch cửa HPT IV đổ vào TM cửa trái, bị gián đoạn do chia gan phân thùy trái bên
Mặc dù HPT IV thường nhận máu từ LHA
(Hình 7a), nhưng cũng có thể nhận máu hoàn
toàn từ RHA (Hình 8) xuyên qua đường
Cantlie(38) Khi có kích thước lớn, ĐM này có thể
cho các nhánh nhỏ đến HPT II và III Không
nhận ra bất thường này, có thể làm thiếu máu
HPT IV khi hiến gan phải, có thể kết hợp dò mật
Do các nhánh này có 1 lộ trình ngoài gan ở rốn
gan, nên xác định và bảo tồn mạch máu này
bằng cách cắt ĐM này ở chỗ vượt qua nguyên ủy
của ĐM HPT IV Tuy nhiên, nên tránh bóc tách
quá sạch (squeletonizating) các ống mật ở rốn
gan Các bất thường hiếm gặp gồm có 1 ĐM phụ
đến HPT bên trái từ CHA trước khi chia đôi(38)
Hình 8 Chụp ĐM thân tạng cho thấy động mạch
HPT IV phát xuất từ ĐM gan phải lớn hơn
Trang 7Một ĐM phụ phải từ LHA chạy sau TM cửa
cũng đã được mô tả(27), và là nguy cơ khi lấy thùy
trái gan từ người cho sống RHA phụ từ CHA đi
về phía dưới ngoài, cấp máu cho phần dưới HPT
V, VI có thể cản trở việc hiến thùy phải từ người
cho sống(30)
Hầu hết các bất thường ĐM quan trọng
nên được nhìn thấy ở người cho sống bằng CT
hoặc cộng hưởng từ mạch máu trước mổ,
nhưng không được thực hiện thường quy ở
chia gan thi thể Do cấp máu HPT IV rất thay
đổi, người ta đề nghị chia gan thi thể nên giới
hạn ở HPT II và III(38) Phải ghi nhớ các đám
rối mạch máu ở gần rốn gan cấp máu cho
đường mật trong và ngoài gan để giảm thiểu
bóc tách cuống gan, do đó giảm nguy cơ hẹp
đường mật do thiếu máu sau mổ
GIẢI PHẪU ĐƯỜNG MẬT
Các biến thể của giải phẫu đường mật ở
rốn gan và cách kết hợp của các ống gan thùy
và phân thùy có thể là 1 thách thức thú vị Chỉ
có 50% giải phẫu đường mật “bình thường”
(34) Thường, RHD ngắn và dọc nối với LHD
ngang và dài hơn tạo thành CHD RHD do
ống mật phân thùy trước và sau hợp lại ở 1
điểm thay đổi trong nhu mô gan Các ống này
chạy dọc theo cuống mạch máu dẫn lưu phân
thùy trước (V, VIII) và sau (VI, VII) của thùy
phải gan LHD do ống gan HPT II và III hợp
lại Ống gan HPT IV thay đổi nhiều hơn,
nhưng thường nhất là đổ vào LHD
Hiểu biết về cấp máu của hệ mật ngoài gan
quan trọng khi bóc tách cuống gan (Hình 9) ĐM
cấp máu cho ống mật trên tá tràng chủ yếu theo
trục (98% liên hệ với các mạch máu cực trên và
cực dưới), Trung bình, 8 mạch máu nhỏ, đường
kính 0,3mm, cấp máu cho ống mật trên tá tràng
Các mạch máu quan trọng nhất nằm ở 3 giờ và 9
giờ chạy dọc theo các bờ của CBD Khoảng 60%
mạch cấp máu cho ống mật trên tá tràng chạy
lên trên từ cung ĐM vị tá, 38% chạy xuống chủ
yếu từ RHA 2% còn lại không theo trục từ ĐM
gan chung Các nguồn cấp máu cho đám rối này
chủ yếu từ ĐM sau tá tràng bên dưới và RHA bên trên Một đám rối tạo bởi các nhánh trực tiếp
từ RHA, LHA và các ĐM gan phụ, nếu có, bao quanh rốn gan và các ống mật trong gan Đám rối này liên tục trực tiếp với các đám rối bao quanh CHD và CBD Đám rối bao quanh các ống mật trong gan kết hợp chặc chẽ với ĐM cấp máu cho thùy đuôi(23,38)
Hình 9 Cấp máu động mạch cho hệ ống mật ngoài
gan
Biến thể và bất thường (Hình 10)
Smadja và Blumgart(34) đã xếp các biến thể này thành 6 loại chính Loại A (57%) là giải phẫu bình thường Loại B (12%), CBD có 1 trẽ 3: ống gan phải trước, sau và LHD, không có RHD Loại C (20%) có 1 ống gan lạc chỗ của các ống
gan HPT phải sau đổ vào CHD (Hình 11) Loại D
(6%) có 1 ống gan lạc chỗ của các ống gan HPT phải sau đổ vào LHD Ống gan phải sau thường lạc chỗ hơn ống gan phải trước trong các loại C
và D Loại E (3%) không có hội lưu ống gan, chỉ
có 2 hay nhiều ống gan từ 2 thùy để tạo ống gan chung Loại F (2%) không có RHD, chỉ có nhánh lạc chỗ của ống gan phải sau đỗ vào ống túi mật
Trang 8Hình 10 Các biến thể và bất thường giải phẫu của cây đường mật liên hệ với SLT và LDLT
Hình 11 Chụp đường mật trong lúc mổ lúc cắt gan
người hiến cho thấy tổ thường ở dạng C1, có dẫn lưu
bất thường ở ống gan phải sau, hơi quá chỗ chia đôi,
vào ống gan trái
Ý nghĩa lâm sàng
Tỉ lệ biến chứng đường mật sau SLT(28) và
LDLT nhiều hơn ghép gan toàn phần, mặc dù
sau này có giảm nhờ “in situ splitting”(6) CHD
nên dành cho mảnh ghép thùy phải vì nguồn
cấp máu duy nhất là từ trên, đám rối ĐM gan
phải Khi hiến thùy phải từ người sống, biến
chứng mật thường xảy ra hơn do bất thường giải
phẫu của RHD(41)
Khoảng 69% các trường hợp loại A và B
thường không có vấn đề đặc biệt trong chia gan
tryền thống (conventional split), hoặc hiến gan
phân thùy trái bên ở người sống, hay chia gan
trung tâm (central split), nhất là khi LHD dài
Các loại C và D, kết hợp với dẫn lưu lạc chỗ từ
các ống gan phân thùy phải, hiện diện ở 26%; ống gan phải sau bất thường ở 21%, ống gan phải trước 5% Về loại C và vài trường hợp loại
D, có sự phân nhánh thấp của CBD thành RHD nhỏ và LHD lớn, hơn là dẫn lưu bất thường của ống gan phân thùy phải vào CBD Ý nghĩa của 2 loại này là nguy cơ tổn thương ống gan phân thùy phải khi chia gan trung tâm Hiến gan từ người sống, tuy nhiên, đặt ra các thử thách rất đặc trưng Lấy thùy phải có bất thường loại C hoặc D tạo ra 2 ống gan trên bề mặt, lấy thùy trái
có thể cắt 1 trong các ống gan phân thùy của thùy phải còn lại
Trong loại E, mặc dù giải phẫu đường mật phức tạp hơn, chia gan tiêu chuẩn (standard split) không ảnh hưởng dẫn lưu mật trong nhu
mô, nhưng tạo ra 2 ống gan riêng biệt trên mặt cắt của phân thùy trái bên Renz(31) đã tổng kết giải phẫu đường mật của phân thùy trái bên qua nghiên cứu phẫu tích thi thể và tiêu bản ăn mòn Giải phẫu tương tự như trên chỉ có 10%, không
có ống gan phân thùy trái bên vì ống gan HPT II, III nối nhau ở gần rốn gan Do đó, cũng cho 2 ống riêng biệt trên mặt cắt phân thùy trái bên, phải nối riêng trên quai Roux Nhìn chung, không cố gắng đạt được 1 ống duy nhất mà hy sinh sự lưu thông mật bình thường của người cho(15) Bất kể biến thể giải phẫu nào, kiểu nối mật ở người nhận, suất độ và loại biến chứng mật sau ghép gan phân thùy tùy thuộc phần lớn vào mặt phẳng phẫu tích Chia gan tiêu chuẩn
Trang 9thường tạo ra 2 ống riêng trên bề mặt của phân
thùy bên trái, như đã nói ở trên; tuy nhiên, nguy
cơ tổn thương ống gan phân thùy phải bất
thường nhỏ hơn khi chia gan 2 thùy phải, trái
cho 2 người lớn Ống mật bị cắt dễ xác định ở
người cho sống hay chia gan tại chỗ (in situ split)
vì dò mật thấy được ở bề mặt, ngược lại với chia
gan ex situ (ex situ split) Trong hiến gan thùy
phải ở người sống, CBD phải giữ lại người cho
và mặt phẫu tích bên phải nên to hơn trong chia
gan trung tâm (central split) cho 2 người lớn Hai
ống gan hoặc nhiều hơn thường gặp ở mặt cắt
thùy phải, 1 trong các ống này thường gặp nhất
là ống gan phải sau lạc chỗ, cần nối với đường
mật người nhận
Dẫn lưu bất thường HPT IV vào RHD, nếu
không nhận thấy lúc lấy thùy phải gan ở người
cho sống, có thể gây dò mật ở cả người nhận và
người cho, hoặc cả 2 người nhận nếu chia gan
trung tâm cho 2 người lớn Dò mật thường lành
tự nhiên ở người cho, nhất là khi ống gan nhỏ,
và ở người nhận nếu miệng nối đủ rộng Dò mật
HPT IV cũng có thể xảy ra lúc chia phân thùy
trái bên hoặc hiến gan từ người cho sống có giải
phẫu bình thường, nếu không cột đầu xa ống
gan HPT IV (Hình 12) Dò mật loại này có thể
lành tự nhiên ở người cho, hậu quả của teo HPT
IV do tổn thương mạch máu Suất độ biến chứng
này trong chia gan cổ điển hoặc lấy gan phải từ
người cho sống có thể tránh được bằng cách cắt
LHD càng gần mặt nhu mô càng tốt, do đó, cắt
ống gan này ở phần xa của bất cứ ống gan phân
thùy phải bất thường nào dẫn lưu vào LHD
Phải giới hạn bóc tách rốn gan, để tránh làm
tổn thương các ống mật bất thường và bảo tồn
các mạng mạch máu bên dưới, cấp máu cho ống
mật trong và ngoài gan Hẹp miệng nối và ống
gan muộn gặp ở ghép gan toàn phần và phân
thùy thường do tổn thương các mạng mạch máu
này(17) Hợp lưu ống gan đặc biệt nhạy với loại
hẹp do thiếu máu này(33)
MRCP trước mổ và chụp đường mật trong
mổ có khả năng phát hiện các bất thường và làm
giảm thiểu dò mật và hẹp đường mật sau mổ
Chụp đường mật có lợi trong phát hiện giải phẫu bất thường, nhưng không được dùng phổ biến Thăm dò nhẹ nhàng đường mật bằng que giúp phát hiện thông tin quan trọng về bất thường Bơm rửa các ống mật chính áp lực thấp bằng nước muối hoặc phẩm xanh lợt có thể phát hiện dò mật từ bề mặt nhu mô
Hình 12 Gan nhìn dưới, với hình chiếu của hệ ống
mật, chỉ rõ ranh giới trong cắt gan tiêu chuẩn
Kiến thức về giải phẫu đường mật và thao tác cẩn thận khi phẫu tích cuống gan và nhu mô giúp phát hiện bất thường và giải quyết được trên 95% trường hợp, do đó làm giảm nhu cầu chụp đường mật Tuy nhiên, nguy cơ tổn thương
1 ống mật phân thùy phải bất thường đổ vào LHD lớn hơn khi gan được chia trung tâm cho 2 người lớn, trái với chia gan truyền thống thùy phải – phân thùy trái bên, do đó, nên chụp đường mật trong những trường hợp này
KẾT LUẬN
Các biến chứng hậu phẫu, như dò mật, chảy máu mặt cắt và biến chứng mạch máu là quan trọng trọng SLT cà LDLT, nhất là trong thời gian đầu Trong những năm 2000, biến chứng mật là
20 – 25% ở SLT(1,35) và 15 – 30% ở LDLT(3,10,44) ở người nhận Hơn nữa, biến chứng mật cũng xảy
ra ở 5 – 10% người cho sống ở cả người lớn cho
Trang 10trẻ con và trẻ con cho người lớn(29) Biến chứng
mạch máu, như thuyên tắc ĐM và tắt đường ra,
có thể dẫn tới mất mảnh ghép quý giá Biến
chứng mạch máu và đường mật muộn gây giến
chứng và tử vong cao Các biến chứng này phải
được giảm thiểu
Sự phát triển của SLT và LDLT đòi hỏi ôn lại
giải phẫu hệ mạch mật để áp dụng vào các
phương pháp này Hy vọng rằng sự tích lũy
kinh nghiệm, sự cải tiến kỹ thuật và kiến thức
giải phẫu sẽ cải thiện kết quả của các bệnh nhân
ghép gan phân thùy
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Azoulay D et al (2001): (Adult to adult living-related liver
transplantation The Paul-Brousse Hospital preliminary
experience) Gastroenterol Clin Biol, 25(8-9): 773-80,
2 Bismuth H; Morino M.; Castaing D; Gillon M ; Descorps
Declere A.; Saliba F.; and Samuel D (1989): Emergency
orthotopic liver transplantation in two patients using one
donor liver Br J Surg, 76(7): 722-4,
3 Broelsch C, Malago M (2000): Living donor liver
transplantation in adults: outcome in Europe Liver Transpl, 6:
S64-5
4 Broelsch C E; Whitington P F; Emond J C ; Heffron T G;
Thistlethwaite J R.; Stevens L; Piper J; Whitington S H; and
Lichtor J L (1991): Liver transplantation in children from
living related donors Surgical techniques and results Ann
Surg, 214(4): 428-37; discussion 437-9
5 Broering D C; Walter J; Braun F.; and Rogiers X ( 2008):
Current status of hepatic transplantation Anatomical basis for
liver transplantation Curr Probl Surg, 45(9): 587-661
6 Busuttil R, Goss JA (1999): Split liver transplantation Ann
Surg, 299: 313-21
7 Cui, D et al (2001): Microcirculatory changes in right lobe
grafts in living-donor liver transplantation: a near-infrared
spectrometry study Transplantation, 72(2): 291-5
8 Delattre J, Avisse C (2000): Anatomic basis of hepatic surgery
Surg Clin North Am, 80: 345-62
9 Dodson T (1993): Surgical anatomy of hepatic transplantation
Surg Clin North Am, 73: 645-59
10 Egawa, H.; Uemoto, S.; Inomata, Y.; Shapiro, A M.; Asonuma,
K.; Kiuchi, T.; Okajima, H.; Itou, K.; and Tanaka, K (1998):
Biliary complications in pediatric living related liver
transplantation Surgery, 124(5): 901-10
11 Emond J C, Heffron T G: Reconstruction of the hepatic vein in
reduced sized hepatic transplantation Surg Gynecol Obstet,
176: 11-17, 1993
12 Ger, R: Surgical anatomy of the liver Surg Clin North Am, 69:
179-92, 1989
13 Gundlach, M; Broering, D; Topp, S; Sterneck, M; and Rogiers,
X (2000): Split-cava technique: liver splitting for two adult
recipients Liver Transpl, 6(6): 703-6
14 Ikegama T, Kawasaki S (1996): Should all hepatic arterial
branches be reconstructed in living related liver
transplantation? Surgery, 119: 431-6
15 Imamura H; Makuuchi M; Sakamoto Y; Sugawarab Y; Sano K; Nakayama A; Kawasaki S; and Takayama T (2000): Anatomical keys and pitfalls in living donor liver
transplantation J Hepatobiliary Pancreat Surg, 7(4): 380-94
16 Jin M B; Shimamura T; Taniguchi M; Nagasako Y; Suzuki T; Kamiyama T; Matsushita M; Furukawa H; and Todo S (2004): (Liver regeneration in living-donor liver transplantation)
Nihon Geka Gakkai Zasshi, 105(10): 674-9
17 Lopez-Santamaria M, Martinez L(1999): Late biliary
complications in pediatric liver transplantation J Pediatr Surg,
34: 316-20
18 Marcos A (2000): Right-lobe living donor liver
transplantation Liver Transpl, 6(6 Suppl 2): S59-63
19 Michels, N(1966): Newer anatomy of liver and its variant
blood supply and collateral circulation Am J Surg, 112: 337-47
20 Mitchell A W, Mirza D (2000): Absence of the left portal vein:
a difficulty for reduction of liver grafts ? Transplantation, 69:
1731-2
21 Nagorney D (2010): The impact of hepatic venous anatomy on
the hepatic remnant: need for assessment ? Surgery, 147:
811-812
22 Nakamura S, Tsuzuki T(1981): Surgical anatomy of the
hepatic veins and the inferior vena cava Surg Gynecol Obstet,
152: 43-50
23 Northover J, Terblanche J(1997): A new look at the arterial
supply of the bile duct in man and its surgical implications Br
J Surg, 66: 379-84
24 Ou Q , Hermann E R(1984): The role of hepatic veins in liver
operations Surgery, 95: 381-391
25 Reichert P R, Renz J.F(2001): Anatomical variations hampering the use of right lobe in living donor liver
transplantation Liver Transpl, 7: C-85
26 Rela, M.; Kota, V.; Shanmugam, V.; and Vadeyar, H (1995): Middle hepatic vein to middle hepatic vein anastomosis in
right lobe living donor liver transplantation Liver Transpl,
19(2): 229-31
27 Rela M; McCall J ; Karani J; and Heaton N (1998): Accessory right hepatic artery arising from the left: implications for split
liver transplantation Transplantation, 66(6): 792-4
28 Rela M, Vougas V (1998): Split liver transplantation: King's
College Hospital experience Ann Surg, 227: 282-8
29 Renz J, Roberts JP (2000): Long-term complications of living
donor liver transplantation liver Transpl, 6(2): S73-6
30 Renz J F; Reichert P R; and Emond J C.( 2000): Hepatic
arterial anatomy as applied to living-donor and split-liver
transplantation Liver Transpl, 6(3): 367-9
31 Renz J F, Reichert P.R (2000): Biliary anatomy as applied to
pediatric living donor and split transplantation Liver Transpl,
6: 801-4
32 Sakaguchi T, Suzuki S (2010): Analysis of intrahepatic
venovenous shunt by the hepatic venography Surgery, 147:
805-810
33 Schlitt H J, Meier PN (1999): Reconstructive surgery for ischemic - type lesions at the bile duct bifurcation after liver
transplantation Ann Surg, 229: 137-45
34 Smadja C, Blumgart H (1994): The biliary tract and the
anatomy of biliary exposure In Surgery of the liver and biliary
tract, pp 11-24 Edited by Blumgart, L H., 11-24, Edinburgh,
Churchill Livingstone