Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm khảo sát khảo sát hình thái giải phẫu đa dạng của vách ngăn xoang bướm bằng phân tích hình ảnh CTscan. Qua đó nêu tính ứng dụng trong phẫu thuật qua xoang bướm hố yên.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU NGOẠI KHOA VÁCH NGĂN XOANG BƯỚM -
ỨNG DỤNG PHẪU THUẬT QUA XOANG BƯỚM HỐ YÊN
Huỳnh Lê Phương*
TÓM TẮT
Mục đích: Chúng tôi khảo sát hình thái giải phẫu đa dạng của vách ngăn xoang bướm bằng phân tích hình
ảnh CTscan, Qua đó nêu tính ứng dụng trong phẫu thuật qua xoang bướm hố yên
Đối tượng và phương pháp: Với những tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ, chúng tôi có 80 người trưởng
thành chụp CT scan đầu đưa vào khảo sát Với phần mềm phân tích các yếu tố liên quan về vách trong xoang bướm được khảo sát và phân tích trên các mặt phẳng 3D
Kết quả: Tất cả xoang bướm trong mẫu khảo sát đều có vách chính chia xoang với khoảng 40% vách có
dạng chử C và 36,5% vách có dạng chử S theo hướng trước sau Hướng bám của vách được ghi nhận có gần 20% vách bám trước giữa nhưng lệch trái phía sau và 30% lệch phải Đặc biệt có 11,5% vách lệch trái và 13,7% lệch phải hoàn toàn Vách phụ được ghi nhận trong 80% các trường hợp Khảo sát chân bám của vách trên thành xoang cho thấy khoảng 50% các trường hợp chân bám vách liên quan đến động mạch cảnh trong Các yếu tố khác cũng được ghi nhận
Kết luận: Tính đa dạng của vách trong xoang bướm là một trong những đặc thù giải phẫu của xoang
bướm Khảo sát và đánh giá trước mổ vùng xoang bướm bằng CT scan giúp phẫu thuật viên chủ động thao tác
và tránh những biến chứng trong phẫu thuật qua xoang bướm hố yên
Từ khóa: Xoang bướm; Vách xoang bướm; CTscan
ABSTRACT
SURGICAL ANATOMY OF SPHENOID SEPTATIONS – APPLICATIONS IN TRANSSPHENOIDAL
SURGERY
Huynh-Le Phuong* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 4 - 2012: 282 - 288
We sought to investigate the surgical anatomy of the sphenoid septations Through that we delineate the surgical applications in transsphenoidal surgery
Methods: CT scan imaging studies obtained in 80 healthy adults who have no sellar and sphenoid sinus
lesions were reviewed The anatomical measurements were made on various dimensions using the multiplanar reconstruction technique that were analyzed
Results: All of sphenoid sinuses in this radiological study had at least one septum and out of those 40% and 36,5% septa had shaped as C and S word, respectively The direction of the septa was evaluated The number of
septa that were non-completed septa of the sphenoid sinuses was analyzed (80%), along with the incidence of septations directly to the internal carotid arteries
Conclusion: This study highlights the surgical anatomy, variants and the relationship of the sphenoid
septations to internal carotid arteries Therefore, axial and coronal CT sections should always be obtained prior to any surgery in the sphenoid sinus area
Key words: Sphenoid sinus; Sphenoid septations; Computed tomography
* Khoa ngoại thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy
Tác giả liên lạc: TS BS Huỳnh Lê Phương, ĐT: 0909225188 Email: phuongsb5@yahoo.com
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Phẫu thuật xoang bướm qua mũi để điều
trị bệnh lý vùng xoang bướm và u tuyến yên
đã có từ lâu trên thế giới và ngày càng được
sử dụng rộng rãi Vài thập niên qua, sự phát
triển của phương tiện nội soi được ứng dụng
trong phẫu thuật mũi xoang đã có những tiến
bộ vượt bậc đã giúp các nhà phẫu thuật mũi
xoang, phẫu thuật sàn sọ tiến xa trong các
đích đến qua đường mổ nội soi trong mũi qua
xoang bướm(1,7,8,9,10,12)
Từ lâu, xoang bướm đã được xem là một cấu
trúc giải phẫu có biến đổi đáng kể về kích thước,
hình dáng và không đối xứng Trong y văn thế
giới, có nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo
bằng cách khảo sát phẫu tích trên xác có kết hợp
nội soi hoặc phân tích trên hình ảnh CT scan về
giải phẫu của vùng xoang bướm và hố yên(1, 6, 7)
Từ đó, đã đưa ra những nhận định về tính đa
dạng biến đổi cấu trúc giải phẫu, các mối liên
quan mốc giải phẫu với hành lang phẫu thuật
nhằm giúp ứng dụng thực hành phẫu thuật
xoang bướm qua nội soi Tuy nhiên, cũng đã có
những báo cáo cảnh báo về những tai biến có
thể tránh do chính những biến đổi giải phẫu
vùng xoang bướm gây ra trong phẫu thuật(3, 5,9,
11)
Về hình thái, cấu trúc giải phẫu vùng xoang
bướm, tại Việt Nam đã có vài công trình nghiên
cứu(6,8,13) Tuy nhiên, nhận thấy lợi ích của việc
nắm vững kiến thức về hình thái giải phẫu đa
dạng của xoang bướm sẽ hữu ích trong việc
đánh giá trước khi thực hiện phẫu thuật vùng
xoang bướm hay qua xoang bướm hố yên cũng
như có thể góp phần tránh những biến chứng
phẫu thuật, chúng tôi thực hiện nghiên cứu
khảo sát hình thái giải phẫu vách ngăn trong
CT scan vùng đầu mặt Mẫu nghiên cứu được thu thập từ hai nhóm mẫu người đến chụp CT scan vùng đầu mặt:
- Nhóm (1) bao gồm 50 người có yêu cầu đến chụp CT scan đầu với lý do nhức đầu không rõ nguyên nhân, chọn ngẫu nhiên trong khoảng tháng 9/2010 đến 10/2010 tại Bệnh viện Chợ Rẫy
- Nhóm (2) bao gồm 30 bệnh nhân đến chụp
CT scan vùng đầu mặt với lý do nhức đầu không rõ nguyên nhân, chọn ngẫu nhiên trong thời gian tháng 6/2010 đến 9/2010 tại Bệnh viện Ngoại Thần Kinh Quốc Tế
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Bệnh nhân nam nữ, tuổi từ 18 trở lên Bệnh nhân được chụp CT scan đầu khảo sát
cả vùng mũi xoang
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân có tiền sử chấn thương vùng đầu mặt
Bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật vùng đầu mặt
Bệnh nhân được phát hiện bệnh lý vùng đầu mặt, xoang qua hình ảnh CT scan
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Phương tiện nghiên cứu
Các hình ảnh CT scan vùng đầu ghi được từ máy CT scan đa lát cắt (64 row detector) Thông
số kỹ thuật xác lập trên máy CT để đạt hình ảnh tối ưu: Eff.maS: 180; KV: 120; Collimation: 40 × 0.6; Slice: 0.9mm, Re.increment: 0.4 mm; Kernel: H70h Very sharp; Window: (Osteo.) C: 400; W: 2.000 Hình ảnh được dựng lại MPR cho 3 mặt phẳng: mặt phẳng trục (Axial); mặt phẳng trán
Trang 3KẾT QUẢ
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Phân bố mẫu theo tuổi
Mẫu nghiên cứu trên CT scan ngẫu nhiên
cắt ngang của 80 đối tượng
Bảng 1 Phân bố theo nhóm tuổi
Tuổi 18-20 21-30 31-40 41-50 51-60 61-70 71-80 81-90 TS
Tỉ lệ % 8.3 16.6 21.6 25 20 1.6 5 1.6 100
Nhận xét: Tuổi nhỏ nhất là 18, tuổi lớn nhất
là 88 Tuổi trung bình (mean) là 42,4 Tuổi
thường gặp tập trung (median) là 42
Phân bố mẫu theo giới
Bảng 2 Phân bố theo giới
Nhận xét: trong mẫu nghiên cứu, nữ giới
chiếm tỉ lệ 2:1 so với nam giới
Khảo sát vách xoang bướm
Qua khảo sát chúng tôi ghi nhận đặc điểm
vách XB theo các đặc điểm sau:
Vách chính chia ngăn xoang bướm
Số lượng vách:
- Trong mẫu nghiên cứu tất cả đều có 1 vách
chính Đây là vách hoàn toàn chia ngăn xoang
bướm thành phải và trái: 80 (100%)
Bảng 3: Hình dáng vách chính chia ngăn xoang
bướm
Vách có dạng gần như mặt phẳng 7 (8,5%)
Nhận xét: Vách có dạng như chữ C và S
chiếm đa số
Hình 1: Hình CT scan, thiết diện phẳng ngang
(axial) của một đối tượng trong nghiên cứu, minh họa vách trong XB Một vách giữa hình dáng cong như chữ S, kéo dài từ giữa của mỏm bướm ra sau bám gần đường giữa có hai vách phụ (không hoàn toàn): một bám vào ống động mạch cảnh bên phải đoạn lên (xương đá) và một bám vào thành sau XB
Bảng 4: Hướng bám của vách:
1 Trước và sau bám ở / gần đường giữa 8 (10%)
2 Trước bám giữa; Sau bám lệch trái 16 (20%)
3 Trước bám giữa; Sau bám lệch phải 24 (30%)
4 Trước bám lệch trái; Sau bám giữa 3 (3,7%)
5 Trước bám lệch trái; Sau bám lệch phải 3 (3,7%)
6 Trước bám lệch trái; Sau bám lệch trái 9 (11,5%)
7 Trước bám lệch phải; Sau bám lệch phải 11 (13,7%)
8 Trước bám lệch phải; Sau bám lệch trái 4 (5%)
9 T rước bám lệch phải; Sau bám giữa 2 (2,5%)
Nhận xét: Qua bảng 4, nghiên cứu ghi nhận
có 2 loại hướng vách cần chú ý: loại bắt chéo băng ngang (nhóm 5 và 8) chiếm gần 8,3%; và loại lệch hẳn một bên xoang (nhóm 6 và 7) chiếm 25% các trường hợp
Trang 4Hình 2: Hình CT scan, thiết diện phẳng ngang (axial)
của một đối tượng trong nghiên cứu, minh họa hướng
của vách chính liên xoang trong XB Vách có hình
dáng thẳng, kéo dài từ mỏm bướm lệch bên trái ra sau
bám vào thành sau XB lệch phải (nhóm 5, bảng 4)
Hình 3: Hình CT scan, thiết diện phẳng ngang (axial)
của một đối tượng trong nghiên cứu, minh họa hướng của vách chính liên xoang trong XB Vách có hình dáng thẳng, kéo dài từ mỏm bướm lệch bên trái ra sau bám vào thành sau XB lệch trái (nhóm 6, bảng 4)
Bảng 5: Sự phân chia từ vách giữa:
Vách chính có nhánh chia đôi ở trước 6 (7,5%)
Vách chính có nhánh chia đôi ở sau 8 (10%)
Vách chính không có nhánh chia đôi 62 (77,4%)
Chia tách phức tạp từ vách giữa 4 (5,1%)
Nhận xét: Hầu hết vách chính không có chia
nhánh (77,4%)
Vách phụ trong xoang bướm
Số lượng vách:
Vách phụ không hoàn toàn ngăn chia xoang,
được ghi nhận như Bảng 6
Bảng 6: Số lượng vách không hoàn toàn
Nhận xét: Qua bảng 6, nghiên cứu ghi nhận
có khoảng 80% các trường hợp xoang có tồn tại
Nhận xét: Bằng phép kiểm thống kê
(Wilcoxon signed and ranks, P<0,05) cho thấy có
ý nghĩa khác nhau về sự có vách phụ cùng bên xoang khí hóa tốt, vách phụ bị chi phối bởi bên xoang khí hóa tốt hay kém
Bảng 8: Vị trí bám phải / trái của vách phụ
Vách phụ có ở xoang bên phải 14 (17,5%) Vách phụ có ở xoang bên trái 28 (35%) Vách phụ có cả hai bên xoang 28 (47,5%)
Sự liên quan giữa chân vách xoang với động mạch cảnh trong
Bảng 9: Số lượng vách có chân bám vào thành ống
động mạch cảnh trong trong XB
ĐMCT trái 39 (48,7%) 1 (1,3%) 40 (50%)
Nhận xét: Qua bảng 9, nghiên cứu ghi nhận
có khoảng 50% các trường hợp, động mạch cảnh trong có chân vách xoang bám
Vách chính chia XB
Vách chính chia XB
Trang 5Nhận xét: Kiểm định thống kê, cho thấy
không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai bên
phải trái về số lượng và loại vách bám trên
ống ĐM
BÀN LUẬN
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Tuổi
Xoang bướm hình thành từ giai đoạn phôi
thai, phát triển dần sau khi sanh và thường kết
thúc ở tuổi dậy thì(7). Dân số trong mẫu nghiên
cứu lấy từ tuổi trưởng thành từ 18 tuổi đến 88,
lứa tuổi XB đã phát triển đầy đủ Do đó, mẫu
nghiên cứu không bị ảnh hưởng bởi yếu tố tuổi
Đã có tác giả cho rằng yếu tố tuổi có ảnh hưởng
đến sự khí hóa của XB(2,11), chúng tôi sẽ tiếp tục
nghiên cứu vấn đề này sau với một mẫu dân số
đông hơn
Giới
Nghiên cứu của chúng tôi theo thiết kế mô
tả cắt ngang, và mẫu dân số được lấy theo tiêu
chí đưa ra (phần phương pháp và đối tượng)
ngẫu nhiên không lựa chọn trong một thời điểm
ngẫu nhiên Dù vậy, qua thống kê theo biến giới
tính cho thấy tỉ lệ Nam và Nữ: ½ Tuy nhiên, với
phép kiểm thống kê (Mann-Whitney U) chúng
tôi vẫn có thể phân tích và tìm hiểu có hay
không có sự khác nhau giữa giới tính trong các
biến nghiên cứu (phần sau) Tuy nhiên, tỉ lệ dân
số nữ lớn hơn dân số nam cũng có thể lý giải,
nữ giới quan tâm đến bệnh tật nhiều hơn nam
(chụp hình kiểm tra sớm khi có triệu chứng bất
thường; triệu chứng nhức đầu cũng là yếu tố
tâm lý thường gặp ở phụ nữ nên CT scan đầu
cũng được chỉ định theo yêu cầu nhiều) Ngoài
ra, nam giới là thành phần lao động chính nên ít
có thời gian hơn
Vách ngăn xoang bướm
Trong XB luôn có một vách ngăn chính phân
chia thành hai xoang phải trái Vách chính,
thường kéo dài từ trước ra sau và ngăn cách
hoàn toàn hai bên, phải được lấy đi để bộc lộ
mặt dưới yên bướm Theo nghiên cứu này,
chúng tôi ghi nhận vách chính liên xoang luôn
có một vách, không ghi nhận trường hợp nào có trên một vách hay không có vách Điều này cũng tương đồng với nhận xét của tác giả Tan H.K.K.(11) Hình thái của vách trong XB đa dạng
và tùy thuộc vào quá trình khí hóa và phát triển của XB Ngoài vách chính phân chia xoang, còn
có những vách phụ không hoàn toàn trong xoang Chúng tôi xem những vách xương mỏng bám trong XB có chiều dài từ chân bám trên 1cm gọi vách phụ không hoàn toàn Những vách phụ không hoàn toàn này có hình dạng và kích thước biến đổi khác nhau và chân bám hay nơi phát sinh là những chỗ kết nối của những trung tâm tạo xương trước bướm (presphenoid) và sau bướm (postsphenoid) Bằng khảo sát trên CT scan, Tác giả N.H Dũng cũng ghi nhận XB có vách phụ chiếm 59% của 65 trường hợp mẫu nghiên cứu(8) Trong một nghiên cứu về mối liên
hệ giữa động mạch cảnh và thần kinh thị trong xoang bướm, T.T.T Hồng(13) ghi nhận 75,4% có vách phụ trong XB Tuy nhiên, tác giả này lại chỉ ghi nhận có 23,9% các trường hợp XB có vách chính Chúng tôi đã khảo sát và ghi nhận về sự hiện diện vách phụ không hoàn toàn chiếm 64 trường hợp (80%) của 80 trường hợp mẫu nghiên cứu (Bảng 6-8) Chúng tôi cũng khảo sát
về vị trí theo bên phải / trái của vách phụ cũng như bên xoang có khí hóa tốt hay kém
Sự khác nhau này có thể do sự qui ước như thế nào là vách phụ, số lượng mẫu và phương tiện khảo sát Đặc biệt với phương tiện hiện nay
CT scan đa lát cắt (multi slice 64) tái tạo 3D cùng với mặt cắt nhuyễn 0.5 mm đã cho thấy có sự khác nhau ý nghĩa về số lượng vách (P<0,05) nếu chỉ khảo sát một mặt phẳng ngang (Axial)
Đã có nhiều nghiên cứu về vách trong XB Sirikci và cộng sự(10) trong một nghiên cứu XB bằng khảo sát CT scan khoảng cách mặt cắt 2,5mm nhận thấy vách chính ngăn liên xoang nằm bên phải đường giữa chiếm 19 (20,6%) trường hợp của 92 mẫu nghiên cứu, nằm bên trái 20 (21,7%) trường hợp và nằm trên đường giữa có ở 35 (39%) trường hợp Tác giả Tan và cộng sự(11) sử dụng nội soi kết hợp phẫu tích trên xác người ghi nhận có 8/48 trường hợp
Trang 6(16,6%) vách chính liên xoang nằm trên đường
giữa, 13/48 trường hợp (27,1%) vách chính liên
xoang lệch phải và 27/48 (56,3%) trường hợp
vách lệch trái Trong nghiên cứu này, thực tế
hình ảnh CT scan trên khảo sát hướng của vách
chính liên xoang đã đưa chúng tôi có một phân
loại chi tiết hơn (Bảng 4) Tỉ lệ vách chính liên
xoang nằm đường giữa từ trước ra sau chỉ
chiếm 10% Thường vách chính ngăn liên xoang
sẽ bám không ngay giữa, và tần suất các trường
hợp có thể trong ghi nhận của khảo sát đã liệt kê
trong bảng 4 Chúng tôi chú ý nhấn mạnh đến
trường hợp 5 và 8: vách chính chia xoang lệch
chéo từ bên này phía trước qua đối bên phía
sau; và trường hợp 6 và 7: vách chính chia
xoang lệch cùng bên từ phía trước ra sau Đây là
những trường hợp vách chính chia xoang bị lệch
dễ gây lệch hướng cho phẫu thuật viên Nếu
không chủ động nắm trước những biến đổi giải
phẫu này trước mổ bằng phân tích CT scan,
phẫu thuật viên dễ bị lệch đường giữa, đặc biệt
cho những trường hợp qua XB vào hố yên để
lấy u tuyến yên
Thêm nữa, với kết quả ghi nhận ở Bảng 9 và
10, có khoảng 50% của các trường hợp động
mạch cảnh trong đoạn trong xoang bướm cả hai
bên phải / trái có liên quan đến chân bám phía
sau của vách chính hoặc / và vách phụ bên của
xoang Vì vách phụ liên quan đến sự khí hóa và
luôn xuất hiện bên của xoang phải / trái, do đó
tần suất động mạch cảnh trong có chân vách
phụ bám cao hơn vách chính ngăn chia xoang
Tuy nhiên, như kết quả ở Bảng 2, tỉ lệ chân bám
phía sau của vách chính ngăn xoang lệch bên rất
cao, phẫu thuật viên trong dộng tác bẻ vách
trong xoang bướm cần cẩn trọng dù đó là vách
chính hay vách phụ bên Biến chứng tổn thương
động mạch cảnh trong qua thao tác trên là một
mũi xoang đã khuyến cáo chụp CT scan như một phương tiện chẩn đoán “tiêu chuẩn vàng”
để đánh giá trước mổ (15) Đã có những nghiên cứu báo cáo về giá trị của CT scan trong việc khảo sát giải phẫu XB, đánh giá tiên lượng những biến đổi giải phẫu vốn thường gặp của
XB(3), giúp phẫu thuật viên thực hiện phẫu thuật nội soi XB dễ dàng xác định các mốc giải phẫu định hướng cũng như nhằm giảm thiểu các nguy cơ biến chứng có thể xảy ra trong phẫu thuật XB(4,2,9,12,14)
Sự phát triển và cải tiến kỹ thuật trong CT scan đã trải qua nhiều thế hệ máy, từ những CT scan 4 lát cắt, độ phân giải thấp đến những thế
hệ máy đa lát cắt gần đây với những lát cắt nhuyễn cùng những phần mềm xử lý nâng cấp
đã cho khả năng tái tạo 3 thiết diện giúp tạo những hình ảnh chi tiết thực về giải phẫu Thật vậy, với thiết diện mặt phẳng trục ngang, mặt phẳng trán và mặt phẳng trán dọc, hình ảnh XB trên CT scan có thể khảo sát theo 3 trục không gian Qua đó, CT scan có thể khảo sát chính xác được số lượng, kiểu dáng của vách XB và các cấu trúc giải phẫu khác cũng như mối liên quan của các mốc giải phẫu này (chúng tôi sẽ trình bày trong báo cáo khác)
Ngày nay, trong sự phát triển vũ bão của lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh, cộng hưởng từ (MRI) đã góp phần hữu hiệu trong chẩn đoán các bệnh lý đầu sọ, không ngoại trừ XB Tuy nhiên, giá trị thiết thực của CT scan trong việc đánh giá trước phẫu thuật nội soi mũi xoang vẫn không thay đổi Cùng quan điểm với các tác giả nghiên cứu trước (2,8,10), chúng tôi cho rằng việc thực hiện chụp một CT scan có tái tạo 3 thiết diện trước phẫu thuật nội soi xoang bướm / qua xoang bướm hố yên là một điều cần thiết
Trang 7trước một tiên lượng cho một kế hoạch mổ cũng
như hạn chế tối đa các nguy cơ biến chứng có
thể xảy ra của một phẫu thuật nội soi qua xoang
bướm hố yên
KẾT LUẬN
Vách ngăn xoang bướm rất đa dạng về chiều
hướng và tùy thuộc vào khí hóa Về hướng bám,
có 2 loại hướng vách cần chú ý: loại bắt chéo
băng ngang xoang (nhóm 5 và 8) chiếm gần
8,3%; và loại lệch hẳn một bên xoang (nhóm 6 và
7) chiếm 25% các trường hợp Về chân bám của
vách, khoảng 15% các trường hợp vách ngăn
chính có chân bám vào động mạch, và khoảng
30% các trường hợp vách phụ trong xoang có
chân bám vào động mạch cảnh trong
Hình ảnh CT scan giúp phẫu thuật viên
nhận định trước mổ cấu trúc giải phẫu hay
những biến đổi giải phẫu thường gặp của xoang
bướm cụ thể trong từng trường hợp Phân tích
CT scan trước mổ còn giúp đánh giá tiên lượng
về mối liên quan của thương tổn bệnh lý với các
cấu trúc giải phẫu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Abdullah BJ, Arasaratum S, et al (2001) “The sphenoid sinuses:
Computergraphic assessment of septation, relationship to the
internal carotid arteries, and sidewall thichness in the Malaysian
population” JHK Coll Radiol 4, pp:185-188
2 Cappabianca P, Cavallo LM, et al (2008) “Endoscopic pituitary
surgery” Pituitary 11, pp:385-390
3 Danielsen A, Reitan E, Olofsson J (2006) “The role of computed tomography in endoscopic sinus surgery: A review of 10 years’ practice” Eur Arch Otorhinolaryngol 263, pp:381-389
4 Grosvenor AE, Laws ER (2008) “The evolution of extracranial
approaches to the pituitary and anterior skull base” Pituitary 11,
pp:337-345
5 Harday J (1971) “Transsphenoidal hypophysectomy” J
neurosurg 34, pp:580-594
6 Lê Quang Tuyền, Phạm Quang Diệu, cs (2010) Nghiên cứu giải phẫu ứng dụng xoang bướm và các cấu trúc quanh xoang bướm trên sọ xác người Việt Nam Y Học Tp Hồ Chí Minh, Phụ bản số
2, tr: 174-180
7 Mosher HP (1903) “The anatomy of the sphenoidal sinus and the
method of approaching it from antrum” Laryngoscope 13,
pp:177-202
8 Nguyễn Hữu Dũng (2008) Phẫu thuật nội soi điều trị tổn thương trong xoang bướm Luận văn tiến sĩ Y học Đại học Y Dược TP.HCM
9 Nguyễn Phong và cộng sự (2004) Phẫu thuật vi phẫu qua mũi
xoang bướm trong điều trị u tuyến yên tại Bệnh viện Chợ Rẫy Báo
cáo khoa học Hội nghi Ngoại Thần Kinh Toàn quốc 2004
10 Siriki A, Bayarit YA, et al (2000) « Variations of sphenoid and
related structures” Eur Radiol 10, pp:844-848
11 Tan HKK, Ong YK (2007) “Sphenoid sinus: An anatomic and
endoscopic study in Asian cadavers” Clin Anat 20, pp:745-750
12 Thapar K., Laws E.R (2008) Ch Pituitary Surgery in Diagnosis
and management of Pituitary Tumors Humana Press, Totowa, New
Jersey pp: 225-245
13 Trần thị Thanh Hồng (2010) Khảo sát tình trạng lồi thần kinh thị và
động mạch cảnh trong vào xoang bướm qua lâm sàng và CT scan
Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú Đại học Y Dược TP HCM
14 Unal B., Bademci G., et al (2006) “Risk anatomic variations of sphenoid sinus for surgery” Sur Radiol Anat 28, pp:195-201
15 Zinreich SJ, Kennedy DW et al (1987) “Paranasal: CT imaging requirement for endoscopic surgery” Radiology 163, pp:769-775
Trang 8VẾT THƯƠNG HỐC MẮT SỌ NÃO DO DỊ VẬT GỖ XUYÊN THỦNG -
BÁO CÁO CA
Huỳnh Lê Phương*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Vết thương hốc mắt – sọ não do dị vật gỗ xuyên thủng (VTHSDVGXT) là bệnh cảnh hiếm gặp
Chúng tôi báo cáo một trường hợp điển hình, qua đó trình bày hệ thống về bệnh cảnh, chẩn đoán và xử trí của loại vết thương này
Báo cáo ca: Một VTHSDVGXT hiếm gặp được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy Một bệnh
nhân nam 32 tuổi, bi đánh vào vùng mặt bằng một khúc cây tre Bệnh nhân được chuyển tới chúng tôi trể gần 2 tuần sau chấn thương với chẩn đoán dị vật hốc mắt xuyên nội sọ Quá trình chẩn đoán, điều trị cũng như xử trí biến chứng được báo cáo
Bàn luận: Dị vật gỗ của ca báo cáo được lấy thành công Những nét đặc thù của VTHSDVGXT được bàn
luận và tổng quan
Kết luận: VTHSDVGXT ít gặp và là thương tổn chấn thương dễ bỏ xót Chẩn đoán và nhận dạng sớm
thương tổn dị vật là điều cần thiết để tránh nhiễm trùng Điều trị có những nét đặc thù cần phải đánh giá toàn diện trước mổ bằng phương tiện chẩn đoán hình ảnh
Từ khóa: Vết thương hốc mắt – sọ não do dị vật gỗ xuyên thủng; Dị vật gỗ hốc mắt; CT scan; MRI
ABSTRACT
TRANSORBITO-CRANIAL PENETRATING INJURY BY WOODEN FOREIGN BODY
-CASE REPORT -
Huynh-Le Phuong * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 4 - 2012: 289 - 294
Objective: A transorbito-cranial penetrating injury by wooden organic foreign body (TOCPIWFB) case is
rarely We report a single typically case and discuss and describe clinical diagnosis and treatment of TOCPIWFB
in a systematic clinical way
Clinical presentation: To present single typical case of transorbito-cranial penetrating injury by wooden
organic foreign body diagnosed and successfully operated at Cho ray hospital in 2012 A 32-year-old was kicked in the face by a branch of the bamboo The patient was transfer to our hospital with belated diagnosis The course of diagnosis and surgical treatment had been reported
Discussion: Some specific points of a transorbito-cranial penetrating injury by wooden organic foreign body
case have been discussed and considered
Conclusion: A transorbito-cranial penetrating injury by wooden organic foreign body is common follow an
orbital injury However, intraorbital wooden or vegetable foreign bodies are less common, are often not recognized