Câu 1: Nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam?Trả lời:Nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính tri đầu tiên của Đảng Thứ nhất, Mục đích chiến lược cách mạng: Từ việc phân tích một cách khách quan tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam vào những năm đầuthế kỷ XX, Cương lĩnh đã vạch ra phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam: Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Tính chất giai đoạn và lý luận cách mạng không ngừng đã được thể hiện trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng: ( cách mạng tư sản dân quyền là thời từ kỳ dự bị để tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đây là con đường cứu nước mới, khác với những chủ trương, những con đường cứu nước của những nhà yêu nước thời đã đi vào bế tắc và thất bại. Đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam được phản ánh trong Cương lĩnh đã thể hiện được tư tưởng độc lập tân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hộiCâu 1: Nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam?Trả lời:Nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính tri đầu tiên của Đảng Thứ nhất, Mục đích chiến lược cách mạng: Từ việc phân tích một cách khách quan tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam vào những năm đầuthế kỷ XX, Cương lĩnh đã vạch ra phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam: Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Tính chất giai đoạn và lý luận cách mạng không ngừng đã được thể hiện trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng: ( cách mạng tư sản dân quyền là thời từ kỳ dự bị để tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đây là con đường cứu nước mới, khác với những chủ trương, những con đường cứu nước của những nhà yêu nước thời đã đi vào bế tắc và thất bại. Đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam được phản ánh trong Cương lĩnh đã thể hiện được tư tưởng độc lập tân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Trang 1PHẦN TRIẾT HỌC
Câu 1: Tại sao nói: Khi xem xét sự vật hiện tượng phải có quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử cụ thể Liên hệ với cương vị công tác của đ/c.
Trả lời:
(Mở đầu)
* Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
+ Liên hệ là khái niệm chỉ sự phụ thuộc lẫn nhau, sự ảnh hưởng, sự tương
tác và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới hay giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính của một sự vật, hiện tượng, một quá trình
+ Liên hệ phổ biến là khái niệm nói lên rằng mọi sự vật, hiện tượng trong thế
giới (cả tự nhiên, xã hội và tư duy) dù đa dạng phong phú, nhưng đều nằm trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác
Cơ sở của mối liên hệ này là tính thống nhất vật chất của thế giới
Thế giới vật chất dù đa dạng đến đâu thì cũng đều là những hình thức tồn tại cụ thể của vật chất nên đều sự chi phối của quy luật vật chất.
+ Tính chất của các mối liên hệ:
Tính khách quan: mối lien hệ không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của
con người, chỉ phụ thuộc vào bản thân sự vật, hiện tượng Mối lien hệ là mối liên
hệ vốn có của bản than sự vật, hiện tượng
Tính phổ biến: mối liên hệ tồn tại trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy; có ở
mọi lúc, mọi nơi
Trong cùng một sự vật, trong bất kỳ thời gian nào, không gian nào luôn có mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành nên nó
Tính đa dạng, phong phú: tùy vào góc độ xem xét mà có những mối liên hệ
khác nhau Mối lien hệ bên trong – bên ngoài, tất nhiên – ngẫu nhiên, trực tiếp – gián tiếp,….Mỗi cặp mối lien hệ này có vai trò khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, sự phân chia các cặp mối liên hệ này cũng chỉ mang tính tương đối
Ý nghĩa phương pháp luận:
Yêu cầu phải rút ra và quán triệt nguyên tắc toàn diện Với yêu cầu đó, đòi hỏi:
Trang 2- Về nhận thức: yêu cầu khi xem xét sự vật phải xem xét tất cả các mặt, các
yếu tố của nó, tuy nhiên phải có trọng tâm, trọng điểm; xem xét sự vật trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác
- Trong hoạt động thực tiễn: muốn cải tạo sự vật phải thực hiện đồng bộ
nhiều giải pháp; phải xác định, đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng mối liên hệ đối với sự vận động, phát triển của sự vật
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện -một quan điểm phương pháp luận cơ bản trong nhận thức khoa học và trong hoạt động cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội
Quan điểm toàn diệnđòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ
qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt các mối liên hệ, phải biết chú ý đến các mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong sự phát triển của bản thân Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác Đồng thời chúng ta phải biết
sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất
* Nguyên lý về sự phát triển
+ Khái niệm: phát triển là quá trình vận động theo hướng đi lên từ thấp đến
cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
+ Đặc điểm: không chỉ là sự tăng lên, giảm đi về lượng mà còn là sự nhảy
vọt về chất
+ Nguồn gốc của sự phát triển chính là sự thống nhất và đấu tranh của những
mặt đối lập bên trong sự vật quy định
+Tính chất:
Tính khách quan: phát triển của sự vật là tự than, nguồn gốc của phát triển
nằm ngay trong sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, chỉ phụ thuộc vào mâu thuẫn bên trong sự vật
VD: Sự phát triển của xã hội loài người
Tính phổ biến: phát triển diễn ra trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy; diễn ra ở
mọi lúc, mọi nơi
Trang 3Tính đa dạng, phong phú: tùy thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể của các dạng
vật chất mà quá trình phát triển diễn ra cũng khác nhau
VD: Ở thế giới hữu cơ, phát triển thể hiện ở sự tăng trưởng, hoàn thiện hơn
khả năng thích nghi của cơ thể đối với môi trường;
Trong xã hội, phát triển thể hiên ở khả năng chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội của con người nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của chính con người
Trong tư duy, thể hiện tròn việc nhận thức trước một vấn đề hoặc trước thế giới khách quan của con người ngày càng đầy đủ, đúng đắn hơn
Ý nghĩa phương pháp luận:
- Chủ thể phải xây dựng cho mình quan điểm phát triển, tức là nhận thức sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động, phát triển; không nhìn nhận sự vật một cách đứng im, chết cứng
- Trong hoạt động thực tiễn cần chống bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới… khi
gặp khó khăn, thất bại tạm thời phải biết tin tưởng vào tương lai (Tác động vào sự vật, hiện tượng bằng những biện pháp phù hợp với từng giai đoạn phát triển nhất định).
- Nhận thức sự vật phải thấy được khuynh hướng phát triển của nó để có những phương án dự phòng, chủ động trong hoạt động
Mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển, nên
trong nhận thức và hoạt động của bản thân chúng ta phải có quan điểm phát triển.
- Điều đó có nghĩa là khi xem xét bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng phải đặt chúng trong sự vận động, sự phát triển, vạch ra xu hướng biến đổi, chuyển hoá của chúng
- Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại ở sự vật, mà còn phải thấy rõ khuynh khái quát những biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật
- Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn Trên cơ sở ấy để tìm ra phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó, tuỳ theo sự phát triển đó có lợi hay có hại đối với đời sống của con người
Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của chúng ta Nếu chúng ta tuyệt đối hoá nhận thức, nhất là nhận thức khoa học về sự vật hay hiện tượng nào đó thì các khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn sẽ không thể phát triển và thực
Trang 4tiễn sẽ dậm chân tại chỗ Chính vì thế, chúng ta cần phải tăng cường phát huy nỗ lực của bản thân trong việc hiện thực hoá quan điểm phát triển vào nhận thức và cải tạo sự vật nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của chúng ta và của toàn xã hội
Quan điểm lịch sử cụ thể:
Đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra tồn tại và phát triển.Một luận điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này nhưng sẽ không phải là luận điểm khoa học trong điều kiện khác
Liên hệ: liên hệ công tác cán bộ:
- Đánh giá vấn đề: được, chưa được
- Đưa ra biện pháp thực hiện dựa theo các yêu cầu của quan điểm
Câu 2: Đ/c hãy Phân tích nguồn gốc, động lực của sự phát triển (Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập) ý nghĩa phương pháp luận?
Trả lời:
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hay còn gọi là quy luật mâu thuẫn) là hạt nhân của phép biện chứng Quy luật này chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển các sự vật hiện tượng
* Khái niệm:
- Mặt đối lập là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt có những đặc
điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy
Chính các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan
và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy
- Hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong sự thống nhất
với nhau Sự thống nhất của các mặt đối lập được hiểu theo ba nghĩa
+ các mặt đối lập làm tiền đề tồn tại cho nhau sự thống nhất của các mặt đối lập là sự kết hợp với nhau, sự nương tựa với nhau, đòi hỏi có nhau của các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề Như vậy, cũng
có thể xem xét sự thống nhất của hai mặt đối lập là tính không thể tách rời của hai mặt đó
+ Các mặt đối lập ngang nhau, cân bằng nhau.Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau Với ý nghĩa
đó, "sự thống nhất của các mặt đối lập” còn bao hàm cả sự “ đồng nhất” của các mặt
đó Sự thống nhất này được hiểu là sự gắn bó ở mức độ cao nhất
Trang 5Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang nhau của chúng Song đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một giai đoạn phát triển khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập Nhưng sự thống nhất chỉ là tương đối, tạm thời, thoáng qua và cũng không có sự cân bằng nào là vĩnh viễn, vì bản thân các mặt đối lập tự nó đã chứa đựng những sự khác biệt
- Tồn tại trong một thể thống nhất, hai mặt đối lập luôn tác động qua lại với
nhau, đấu tranh với nhau Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại
theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức phong phú, đa dạng, tuỳ thuộc vào tính chất, vào mối liên hệ qua lại giữa các mặt đối lập và tuỳ điều kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng Không thể hiểu đấu tranh của các mặt đối lập chỉ là sự thủ tiêu lẫn nhau của các mặt đó Sự thủ tiêu lẫn nhau của các mặt đối lập chỉ là một trong những hình thức đấu tranh của các mặt đối lập
Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là 2 xu hướng tác động khác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn Như vậy, mâu thuẫn biện chứng cũng bao hàm cả “sự thống nhất” lẫn “đấu tranh” của các mặt đối lập
* Nội dung của quy luật mâu thuẫn
Khái niệm:
- Mâu thuẫn biện chứng là sự tác động, sự liên hệ của các mặt đối lập trong môt thể thống nhất Những mặt đối lập là những mặt có khuynh hướng, thuộc tính biến đổi, phát triển trái ngược nhau trong cùng SV,HT hay hệ thống sv,ht
- Thống nhất của các mặt đối lập được hiểu là sự tác động liên hệ của các mặt đối lập, là điều kiện, tiền đề tồn tại cho nhau của các mặt đối lập
-Thống nhất của các mặt đối lập được hiểu theo 3 nghĩa:
+ Các mặt đối lập làm đk, tiền đề tồn tại cho nhau, không có mặt này thì không có mặt kia và ngược lại
+ Các mặt đối lập tác động ngang nhau , cân bằng nhau
+ Giữa hai mặt đối lập có có điểm chung nhau, tương đồng nhau Do vậy trong một mức độ, một chừng mực nhất định nó có thể chuyển hóa lẫn nhau
- Đấu tranh của các mặt đối lập được hiểu là sự tác động, liên hệ theo khuynh hướng bài trừ, phủ định hay sự triển khai của các mặt đối lập
Nội dung quy luật:
- Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có vai trò là nguồn gốc của quá trình vạn động, phát triển của sv Khi hai mặt đối lập thống nhất với nhau thì
sự vật vận động từ từ, chậm chạp, mâu thuẫn chưa gay gắt Nhưng xu hướng của
Trang 6hai mặt đối lập là đấu tranh với nhau, đi ngược nhau Do vậy, đến một thời điểm nhất định thì cả hai mặt đối lập đều biến đổi, mâu thuẫn biến đổi Nếu mâu thuẫn được giải quyết thì >< cũ mất đi làm sự vật không còn là nó Từ sv cũ ra đời sv mới, >< mới lại xuất hiện ><mới này rồi lại được giải quyết Cứ như vậy, sv vận động, phát triển Như vậy, chính sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc của sự vận động, phát triển của sự vật
* Ý nghĩa
+ Ý nghĩa phương pháp luận:
- Mâu thuẫn là khách quan, do vậy không nên né tránh mâu thuẫn.
- Có nhiều loại mâu thuẫn, chẳng hạn như mâu thuẫn cơ bản ( là mâu thuẫn quy định bản chất của sv, nó tồn tại từ khi sv ra đời đến khi sv mất đi) và mâu thuẫn không cơ bản (mâu thuẫn không quy định bản chất của sv); mâu thuẫn chủ yếu (mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của sv) và mâu thuẫn không chủ yếu (mâu thuẫn mà việc giải quyết nó không quyết định việc giải quyết các mâu thuẫn khác ở giai đoạn đó của sv); mâu thuẫn đối kháng (mâu thuẫn giữa những giai cấp, tâp đoàn người, những nhóm xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau không thể điều hòa) và mâu thuẫn không đối kháng (mâu thuẫn giữa lực lượng, khuynh hướng xã hội có đối lập về lợi ích nhưng đó không phải là lợi ích cơ bản, mà chỉ là lợi ích cục bộ tậm thời) Do vậy, trong hoạt động thực tiễn cần xác định đúng mâu thuẫn Giải quyết mâu thuẫn không được chủ quan, thỏa hiệp, không nóng vội, phải xác định đúng trạng thái chín muồi của mâu thuẫn để lựa chọn phương án, chuẩn bị tốt lực lượng giải quyết mâu thuẫn
Liên hệ
Các vấn đề nảy sinh trong công tác: tranh chấp đất đai, công tác cán bộ, xử
lý các vi phạm, vấn đề đạo đức nghề nghiệp…
- Đánh giá vấn đề: mặt được, mặt hạn chế, nguyên nhân (do cơ chế, do cán
bộ, do người dân, lãnh đạo…)
- Đề xuất giải pháp giải quyết
VD: Thực hiện chỉ thị đánh giá phân loại Đảng viên cuối năm của các chi bộ Đảng trong toàn quốc đều tổ chức thực hiện đánh giá và tự đánh giá Đảng viên thường kì Viêc đánh giá chất lượng Đảng viên của Đấu tranh phê bình, tự phê bình trong tập thể đơn vị và trong Đảng hiện nay ở trường học (Là quá trình đấu tranh giữa các mặt đối lập)
- Mặt được:
+ Đấu tranh phê bình và tự phê bình trong tập thể, trong chi bộ Đảng với mục đích là đi đến sự thống nhất
Trang 7+ Đấu tranh trong Đảng góp phần thúc đấy sự phát triển của tập thể, cá nhân được phê bình được góp ý thì phải tiến bộ hơn
- Mặt hạn chế:
+ Có đồng chí khi được chi bộ phê bình, đóng góp ý kiến về công tác chuyên môn thì không chịu nhận sai sót về mình để sửa chữa từ đó làm cho mâu thuẫn giữa đồng chí đó với chi bộ trở nên gay gắt hơn khi đó mâu thuẫn sẽ chưa được giải quyết
- Nguyên nhân:
+ Có thể do chi bộ chưa đánh giá đúng về đồng chí đó (Nguyên nhân chủ quan)
+ Có thể do đồng chí đó chưa hiểu rõ ý kiến đóng góp của chi bộ về mình nên nóng nảy phản ứng (Nguyên nhân khách quan)
- Đề xuất giải pháp: Trong quá trình nhận xét đánh giá cần xác định đúng nguyên nhân chủ quan và khách quan để gải quyết mâu thuẫn Khi giải quyết mâu thuẫn không được chủ quan, nóng vội, chụp mũ, phải xác định đúng trạng thái, tâm
lý và tính chất sự việc để lựa chọn phương án , kế hoạch giải quyết mâu thuẫn
Câu 3: Nội dung Quy luật lượng - chất? ý nghĩa phương pháp luận
Trả lời:
* Khái niệm
- Khái niệm chất
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của
sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó
mà không phải là cái khác Chất là chất của mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan, cái làm nên sự vật, để phân biệt nó với vô vàn các sự vật, hiện tượng khác cùng tồn tại trong thế giới
Quan hệ giữa chất và thuộc tính, thuộc tính là đặc trưng (khía cạnh) của chất được bộc lộ ra trong các mối quan hệ với sự vật khác Mỗi sự vật có nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính lại là sự tổng hợp của những đặc trưng và trở thành một chất Điều đó có nghĩa sự vật có thể có nhiều chất Ph Ăngghen: “Những chất lượng không tồn tại, mà những sự vật có chất lượng, hơn nữa, những sự vật có vô vàn chất lượng mới tồn tại”
Chất của sự vật không chỉ được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành
sự vật mà còn được xác định bởi trật tự sắp xếp, phương thức liên kết giữa các yếu
tố
- Khái niệm lượng
Trang 8Lượng là phạm trù triết học để chỉ tính quy định vốn có của sự vật biểu thị
số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của nó
Lượng và chất thống nhất với nhau trong mỗi sự vật tồn tại khách quan, do
đó lượng cũng mang tính khách quan, phong phú như chất Trong thực tế, lượng có thể được xác định bằng những đơn vị, các đại lượng và được nhận thức thông qua các đơn vị và đại lượng , có những lượng không được xác định bằng đơn vị, đại lượng, nhưng chúng ta vẫn nhận thức được nhờ ở khả năng trừu tượng hóa
Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ là tương đối 1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
* Nội dung quy luật:
- Lượng đổi dẫn đến chất đổi Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng đều là một thể thống nhất giữa chất vàlượng Trong quá trình tồn tại và phát triển của sự vật, chất và lượng cũng không ngừng biến đổi Sự thay đổi của lượng và chất không diễn ra độc lập với nhau, mà chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau Khi sự vật còn tồn tại trong một chất xác định, nghĩa là sự vật còn tồn tại trong khuôn khổ của một
độ
Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là giới hạn mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của
sự vật Độ biểu hiện khuôn khổ ổn định tương đối của sự vật, độ của sự vật có thể thay đổi khi điều kiện thay đổi
Trong khuôn khổ của độ, lượng biến đổi từ từ, tiệm tiến tăng dần hoặc giảm dần, khi lượng biến đổi đạt tới giới hạn, chất của sự vật sẽ thay đổi, giới hạn
đó gọi là điểm nút Điểm nút là giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi về chất của sự vật Bất kỳ độ nào cũng được giới hạn bởi hai điểm nút Ví dụ: Trạng thái nước lỏng (chất), 00c và 1000c là những điểm nút Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới, sự chuyển hóa từ chất cũ sang chất mới gọi là bước nhảy
Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của các
sự vật do sự thay đổi về lượng trước đó gây ra Các hình thức của bước nhảy diễn
ra rất đa dạng: có bước nhảy toàn bộ, bước nhảy cục bộ; bước nhảy đột biến, bước nhảy dần dần Như vậy, quá trình phát triển bao gồm sự tiệm tiến về lượng và thông qua những bước nhảy vọt, tạo ra sự chuyển hóa từ chất cũ sang chất mới Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn phát triển của sự vật và là điểm khởi đầu của một giai đoạn phát triển mới Nó là sự gián đoạn trong quá trình vận động và phát triển liên tục của sự vật
- Sự ảnh hưởng của chất mới đến lượng mới
Trang 9Sự thay đổi về chất là kết quả của sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút Khi chất mới ra đời, chất mới tác động trở lại lượng, quy định lượng mới để tạo ra phù hợp giữa chất và lượng mới Chất mới có thể làm thay đổi quy mô tồn tại của sự vật, làm thay đổi nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật
* Ý nghĩa phương pháp luận
Nhận thức đúng mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất sẽ rút ra được ý nghĩa phương pháp luận quan trọng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thức tiễn Để có tri thúc đúng về sự vật, thì phải nhận thức
cả mặt lượng và mặt chất của nó, và đặc biệt về sự thống nhất giữa chất và lượng của sự vật đó Sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất có mối quan hệ với nhau, do vậy trong hoạt động thực tiễn phải hiểu đúng vị trí, vai trò và ý nghĩa của mỗi loại thay đổi về lượng và chất, đặc biệt trong sự phát triển xã hội; phải kịp thời chuyển từ sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, từ những thay đổi mang tính tiến hóa sang thay đổi mang tính cách mạng Xem xét tiến hóa và cách mạng trong quan hệ biện chứng là một trong những nguyên tắc phương pháp luận trong việc xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng Hiểu đúng mối quan hệ đó
là cơ sở để chống lại chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa xét lại hữu khuynh, cũng như chủ nghĩa “tả” khuynh
Chất của sự vật còn phụ thuộc vào trật tự sắp xếp, phương thức liên kết các yếu tố của sự vật.Trong hoạt động thực tiễn phải biết vận dụng để tạo ra sự phát triển đa dạng về chất của các sự vật và quá trình tự nhiên Trong hoạt động xã hội cũng phải tạo ra sự phát triển đa dạng về chất của các tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội
Câu 4: Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Trả lời:
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn
là lý luận suông”2 Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải được hiểu trên tinh thần biện chứng
Phạm trù Thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của
lý luận nhận thức Macxít nói riêng, chủ nghĩa Mac-Lênin nói chung
* Thực tiễn là hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử- xã
hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội
Trang 10Đặc trưng của thực tiễn:
- Không phải là tất cả hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất – cảm tình Đó là những hoạt động mà con người phải sử dựng công cụ vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm thay đổi chúng
- Là những hoạt động có tính lịch sử - xã hội Những hoạt động thực tiễn là hoạt động của con người, diễn ra trong xã hội với sự tham gia của đông đảo người, và trải qua những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định
- Là hoạt động có tính mục đích – nhằm trực tiếp cải tạo tự nhiên và
xã hội phục vụ con người tiến bộ Nói lên tính mục đích, tính tự giác của hoạt động thực tiễn
Thực tiễn có 3 hình thức cơ bản:
- Sản xuất vật chất: là những hoạt động sản xuất ra của cải vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và trao đổi của con người;
- Hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động cải tạo các quan hệ chính trị
xã hội như đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh giai cấp
- Hoạt động thực nghiệm khoa học: tạo ra những điều kiện nhân tạo
để vận dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào nhận thức và cải tạo thế giới
Trong đó, sản xuất vật chất là có sớm nhất, quan trọng nhất, quyết định các hình thức kia Hai hình thức kia có ảnh hưởng quan trọng đối với sản xuất vật chất
* Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm
thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới và được biểu đạt bằng hệ thống nguyên
lý, quy luật, phạm trù
Đặc trưng của lý luận:
- có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính logic chặt chẽ;
- Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh mối quan hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan Lý luận không phải là tổng số các kinh nghiệm, là con
số cộng các kinh nghiệm; lý luận là sự chuyển biến về chất trong nhận thức thông qua sức mạnh khái quát hóa và trừu tượng hóa của tư duy
- xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất sự vật, hiện tượng
Lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao, nhờ đó, nó đem lại sự hiểu