1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo án Trao duyên tiết 1

17 568 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 47,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiến thức - Cảm nhận được bi kịch tình yêu, thân phận bất hạnh và sự hi sinh quên mình của Kiều vì hạnh phúc của người thân qua lời "trao duyên" đầy đau khổ.. Người quốc sắc,

Trang 1

Ngày soạn:

Người soạn: Bùi Thị Phương Lan

Tiết 82: Văn bản

TRAO DUYÊN

(Trích Truyện Kiều )

Nguyễn Du

I MỤC TIÊU BÀI HỌC

1 Kiến thức

- Cảm nhận được bi kịch tình yêu, thân phận bất hạnh và sự hi sinh quên mình của Kiều vì hạnh phúc của người thân qua lời "trao duyên" đầy đau khổ

- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, sử dụng thành công lời độc thoại nội tâm

2 Kĩ năng:

- Đọc diễn cảm, giọng phù hợp với tâm lí nhân vật.

- Hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại

3 Thái độ: Trân trọng Nguyễn Du và giá trị văn chương cổ

=> PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC: đọc hiểu văn bản, cảm thụ thẩm mĩ, sử dụng ngôn

ngữ tiếng Việt, tự học, giải quyết vấn đề,sáng tạo, giao tiếp, hợp tác; Trân trọng, đồng cảm với tình yêu và bi kịch của người phụ nữ xưa

II CHUẨN BỊ BÀI HỌC

1 Phương tiện dạy học

- Giáo viên: SGK, giáo án, phiếu học tập,máy tính, máy chiếu

- Học sinh: SGK, sản phẩm của hoạt động trước lớp học

2 Phương pháp dạy học

- Phương pháp đàm thoại, gợi mở, giải quyết vấn đề, thảo luận

-3 Hình thức dạy học

- Trên lớp: cá nhân, thảo luận nhóm

- Ngoài lớp: Tự học

Trang 2

III TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

HOẠT ĐỘNG TRƯỚC LỚP HỌC

Giao trước nhiệm vụ tự học:

Nhiệm vụ cá nhân

1 Đọc kĩ văn bản, chú thích

2 Tìm hiểu văn bản

- Vị trí của đoạn trích, bố cục

- Nguyên nhân Thúy Kiều phải trao duyên cho Thúy Vân

HOẠT ĐỘNG TRONG LỚP HỌC

* Ổn định lớp: (1p) TS:……….vắng ……….ngày dạy……….

1 HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG:

- Mục tiêu: thu hút sự tập trung chú ý, tư duy, nhận thức, gợi hứng thú, chuẩn bị

tâm thế; huy động kiến thức cũ, kiến thức liên quan làm hành trang để tiếp nhận kiến thức mới

- Phương pháp: phỏng vấn bằng câu hỏi

- Thời gian: 5 phút

Hoạt động của gv và học sinh Nội dung kiến thức cần đạt

GV: GV tổ chức trò chơi “ Truyện

Kiều cùng nhân vật”

Câu 1: Điền vào chỗ trống:

Tiếng thơ ai động đất trời,

Nghe như non nước vọng lời ngàn

thu.

Nghìn năm sau nhớ …

Tiếng thương như tiếng mẹ ru

những ngày.

Hỡi người xưa của ta nay,

Khúc vui xin được so dây cùng

người!

 Đáp án: Nguyễn Du

HS trả lời được các câu hỏi mà GV đưa ra

Trang 3

Câu 2: Điền vào chỗ trống:

xem trang trọng khác vời, Khuân trăng đầy đặn, nét ngài nở

nang.

Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường

màu da.

 Đáp án: Vân

Câu 3: Nhân vật được nhắc đến trong câu thơ là ai?

Thông minh vốn sẵn tính trời Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm Cung thương lầu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một

chương.

 Đáp án: Thúy Kiều

Câu 4: Nhân vật được nhắc đến trong câu thơ là ai?

Nền phú hậu, bậc tài danh, Văn chương nếp đất, thông minh

tính trời.

Phong tư tài mạo tót vời, Vào trong phong nhã, ra ngoài hào

hoa.

 Đáp án: Kim Trọng

Câu 5: Những nhân vật nào được nhắc đến qua câu thơ?

Người quốc sắc, kẻ thiên tài Tình trong như đã, mặt ngoài con e

 Đáp án: Thúy Kiều và Kim Trọng

Giới thiệu bài mới: Mộng Liên

Đường chủ nhân đã khái quát về

thân thế Thúy Kiều: “Khi la láng tình thơ, người tựa án khen tài

Trang 4

châu ngọc; khi duyên ưa kim cải

non biển thề bồi; khi đất nổi ba

đào, của nhà tan tác; khi lầu xanh,

khi rừng tía cõi đi về nghĩ cũng

chồn chân; khi kinh kệ, khi can

qua, mùi từng trải nghĩ càng tê

lưỡi ” Thật vậy, Thúy Kiều đã

phải trải qua hầu hết những đau khổ

của người phụ nữ dưới chế độ

phong kiến: gia đình li tán, tình yêu

tan vỡ, làm gái thanh lâu, làm nô tì,

làm vợ lẽ, tu hành bất đắc chí và rồi

không chồng không con giữa 30

tuổi đời Bài học hôm nay, chúng ta

sẽ cùng tìm hiểu đoạn trích Trao

duyên để thấu hiểu nỗi đau vì bi

kịch tình yêu tan vỡ của nàng

2 HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC

- Mục tiêu: Trình bày những nét chính về đoạn trích; Hiểu được lí do và ý nghĩa

việc Kiều trao duyên cho Thúy Vân; Nghệ thuật sử dụng từ ngữ của Nguyễn Du

- Phương pháp và kĩ thuật: Thảo luận, nêu vấn đề, gợi mở, giảng bình

- Thời gian: 30 phút

Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt

GV: Dựa vào phần tiểu dẫn trong SGK và

phần chuẩn bị bài ở nhà em hãy nêu vị trí

đoạn trích?

HS: Trả lời

GV dẫn: Mở đầu tác phẩm Nguyễn Du có

đôi lời giãi bày:

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Lạ gì bỉ sắc tư phong

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

I.TÌM HIỂU CHUNG

1 Vị trí đoạn trích

+ Thuộc phần II “Gia biến và lưu lạc” của Truyện Kiều.

+ Trích từ câu 723 – 756 trong tác phẩm

Trang 5

Như vậy, ngay từ mở đầu tác phẩm Nguyễn

Du đã mang đến cho người đọc tư tưởng

“hồng nhan bạc mệnh” và những câu thơ

tiếp theo cho ta biết về xuất thân của Thúy Kiều:

Có nhà viên ngoại họ Vương

Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung

Một trai con thứ rút lòng

Vương Quan là chữ nối dòng nho gia

Đầu lòng hai ả tố nga

Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân

Mai cốt cách tuyết tinh thần

Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười Trong những ngày xuân “lễ là tạo mộ, hội

là đạp thanh” chị em Thúy Kiều “sắm sửa

bộ hành chơi xuân” và khi gặp mộ Đạm

Tiên Kiều băn khoăn vì mọi ngôi mộ đều được chăm sóc chu đáo, duy chỉ có mộ Đạm

Tiên là “hương khói vắng tanh thế mà” khiến Thúy Kiều “tuôn châu, nhỏ lệ” Và

cũng trên đường về đã có cuộc gặp gỡ giữa Thúy Kiều và Kim Trọng

Trông chừng thấy một văn nhân

Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng

Đuề huề lưng túi gió chăng

Sau chân theo một vài thằng con con.

Kim Trọng xuất hiện dường như làm bừng sáng cả một vùng trời Đến khi nghe lời giới thiệu:

Nguyên người quanh quất đâu xa,

Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh Nền phú hậu, bậc tài danh,

Văn chương nết đất, thông minh tính trời.

Trang 6

Phong tư tài mạo tót vời

Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.

Dường như lúc này hai người “tình trong

như đã mặt ngoài còn e”, hai trái tim đa

tình, đa cảm đã tìm thấy tiếng nói chung

Cũng đêm hôm ấy, Thúy Kiều xuất hiện với

suy nghĩ Một là nghĩ về Đạm Tiên, lo lắng

cho kiếp đoạn trường Hai là nghĩ về Kim

Trọng “Người đâu gặp gỡ làm chi/ Trăm

năm biết có duyên gì hay không” Dự báo về

một cuộc đời không bằng phẳng đang chờ

đợi ở phía trước, và tình cảnh trao duyên là

sự việc đầu tiên mở ra kiếp đoạn trường của

Thúy Kiều

GV: Như vậy, em hãy cho biết nội dung

khái quát của đoạn trích?

HS: Phát hiện

GV: Em hiểu thế nào là trao duyên và

nhan đề Trao duyên ở đây có gì đặc biệt?

HS: Suy nghĩ, trả lời

GV: Lần đầu tiên trong văn học ta thấy một

cảnh tượng trao đi – đó là trao duyên Cho

đi công sức, cho nước mắt, mồ hôi đã xót xa

rồi vậy mà ở đây là trao duyên – trao người

yêu và tình yêu cho kẻ khác Hơn nữa mối

tình Kim – Kiều không phải là mối tình

thoảng qua, mà nó đang ở độ nồng nàn say

đắm nhất của 1 đôi “người quốc sắc – kẻ

thiên tài” Vậy có đau đớn và xót xa hay

không? Dù cho việc “trao duyên” này là

2 Nội dung

Miêu tả tình cảnh trớ trêu của Kiều khi phải trao duyên cho em Đồng thời làm rõ diễn biến tâm trạng đau khổ tuyệt vọng của nàng khi tình yêu tan vỡ, buộc phải phụ tình với Kim Trọng

3 Nhan đề

- Trao duyên: Gửi tình duyên của mình cho người khác

- Duyên cớ của tình huống:

+ Gia đình gặp tai biến + Kiều hi sinh mối tình với Kim Trọng, bán mình để có tiền chuộc cha

+ Nhờ Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng

 Tình huống tế nhị, gây khó xử

Trang 7

trao cho em ruột thì vẫn là một việc hết sức

đau lòng

GV: Em hãy cho biết đoạn trích đọc với

giọng điệu như thế nào?

HS: Suy nghĩ, trả lời

GV đọc mẫu, mời HS đọc tiếp

HS: Đọc bài

GV chú giải một số từ khó, điển tích điển cố

trong bài

GV: Qua phần đọc bài em hãy xác định

bố cục của đoạn trích và nêu nội dung

từng phần?

HS: Xác định kết cấu

GV dẫn: Sau khi chấp nhận bán mình làm

lẽ Mã Giám Sinh, Thúy Kiều

“Một mình nàng ngọn đèn khuya

Áo dầm giọt lệ, tóc xe mái sầu”

….

“Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân

Dưới đèn ghé xuống ân cần hỏi han”.

Lúc này, Thúy Kiều mới bộc lộ hết tâm sự, ý

nguyện của mình với em:

“Ngó môi ra cũng thẹn thùng

Để lòng thì phụ tấm lòng với ai”

GV: Phát phiếu học tập

Nhóm………….

PHIẾU HỌC TẬP

( thời gian… )

“Cậy em em có chịu lời

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”

1 Ý nghĩa từ “cậy”, “chịu”, “lạy”, “ thưa”

cho cả người trao và người nhận.

4 Đọc – chia bố cục

a Đọc

- Giọng đọc: Chậm rãi, buồn, tha thiết, đau đớn, càng về sau càng tha thiết, não nùng hơn

b Bố cục: 3 phần + Phần 1: (12 câu thơ đầu) Kiều

tìm cách thuyết phục, trao duyên cho Thúy Vân

+ Phần 2: (14 câu thơ tiếp) Kiều

trao kỉ vật và dặn dò em

+ Phần 3: (8 câu cuối) Kiều tạ từ

Kim Trọng

II ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN

1 12 câu thơ đầu: Lời thuyết phục, trao duyên cho Thúy Vân.

* 2 câu đầu: Lời nhờ cậy.

“Cậy em em có chịu lời Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”

- Lời nói:

Trang 8

………

2.Có thể thay thế bằng các từ ngữ khác không? vì sao? ………

………

3.Cách dùng từ của tác giả có gì đặc biệt? ………

GV: Thúy Kiều đã có lời nói như thế nào

để nhờ cậy Thúy Vân?

HS: suy nghĩ, trả lời

GV: Tại sao tác giả không dùng từ “nhờ”

– “nhận” mà lại dùng từ “cậy” – “chịu”?

HS: suy nghĩ, trả lời

- Cậy bao hàm nghĩa nhờ, tin cậy, trông cậy

- Chịu: bao hàm nghĩa nhận (tự nguyện),

nài ép, bắt buộc

GV phân tích: Đây là một hoàn cảnh đặc

biệt: Thúy Kiều nhờ em một việc thiêng

liêng, tế nhị – một việc thật không dễ thực

hiện, cho nên việc dùng từ “cậy” và từ

“chịu” ở đây vừa gẫn gũi, thể hiện được

tình chị em ruột thịt, vừa khẩn thiết, quan

trọng Nếu thay bằng các từ khác, nội dung

và tính chất cuộc tâm sự sẽ giảm nhẹ, vì

+ Cậy: đặt sự tin tưởng vào việc hệ

trọng

+ Chịu: nhận lời mà không thể từ

chối

Từ tác giả sư dụng

Từ có thể thay

thế Cậy: Thanh trắc

tạo âm điệu nặng

nề, gợi sự quằn quại, đau đớn, vật vã trong nội tâm của Thúy Kiều

 Nhờ vả, trông mong tin tưởng, gửi gắm niềm hi vọng thiết tha

Nhờ: Thanh bằng làm giảm phần nào cái quằn quại, đau đớn, khó nói của Kiều

Chịu: Bị bắt

buộc, bị nài ép, thua thiệt

 Cầu em hãy

Nhận: Có phần

nào tự nguyện

Trang 9

người được nhờ có thể có quyền từ chối –

tức có thể không nhận Theo mạch truyện,

việc mà Thúy Kiều sắp nói ra là hệ trọng, là

không có cách giải quyết nào khác, cho nên

người được “cậy” không có quyền chối từ,

mà là ở tình thế “chịu lời”.

GV: Sau khi lựa lời đặt em gái vào tình

huống tâm sự, Thúy Kiều còn dùng các từ

“lạy” và “thưa”, em có nhận xét gì về

cách dùng từ này?

HS : Suy nghĩ trả lời

GV phân tích: Từ “lạy” thường báo hiệu

một việc rất quan trọng – mà ở đây là sắp

được trình bày nhưng vai vế có sự đảo

ngược khi Thúy Kiều lạy Thúy Vân – chị

lạy em Thái độ “lạy” rồi mới “thưa” đầy

kính cẩn, trang trọng

GV: Sự thay bậc đổi ngôi này có đi ngược

lại với lễ giáo phong kiến không? Tại sao?

Trong lễ giáo phong kiến xưa rất nghiêm

ngặt, bề dưới lạy bề trên, em thưa gửi lễ

phép khi nói chuyện với chị Vậy mà ở tình

huống này, mọi thứ lại bị đảo lộn như càng

chứng tỏ cho ta thấy được sự hệ trọng của

lắng nghe mình, chấp nhận, chịu thiệt thòi

 Sử dụng thanh trắc tạo âm điệu nặng nề, gợi sự đau đớn, khó nói

 Thể hiện sự tin tưởng, gửi gắm niềm hi vọng vào Thúy Vân

- “Lạy”: Trang nghiêm, hệ trọng.

- “Thưa”: Kính cẩn, trang trọng với

bề trên hoặc với người mình hàm ơn

 Sự thay bậc đổi ngôi, đi ngược với lễ giáo phong kiến nhưng chấp nhận được

 Không khí trao duyên trang trọng, thiêng liêng Thúy Kiều trân trọng tình yêu của mình với Kim Trọng Coi Thúy Vân như ân nhân của mình

 Với việc sử dụng từ ngữ chuẩn xác

đã thể hiện được hành động trang nghiêm và tình cảm chân thành, lời nhờ cậy của Thúy Kiều đối với Thúy Vân trước sự việc vô cùng thiêng liêng, trang trọng sắp được nói ra

Trang 10

việc nhờ này Sự việc tưởng chừng bất ngờ,

phi lí mà hợp lí biết bao! Bởi đây là người

chịu ơn, tỏ lòng biết ơn trước sự hi sinh to

lớn và cao quý của em mình Thái độ kính

cẩn đã cho thấy Kiều coi em là ân nhân số 1

đời mình

GV dẫn: Sau khi Kiều đã mở lời nhờ cậy

Thúy Vân thì mười câu thơ tiếp theo là

điều cần nói và ước nguyện của Kiều ngay

sau thái độ khẩn thiết, yêu cầu ở hai câu

trên Thúy Kiều đưa ra ước nguyện của

mình: Mong Thúy Vân thay mình nối duyên

cùng Kim Trọng, giải thích ngay cho thái

độ khẩn khoản, nhún mình, kính cẩn với

Thúy Vân rất khác thường ở trên

GV: Chia lớp làm 4 nhóm, cho HS thảo luận

trong từng bàn Thời gian: 3 phút

Nhóm 1: Tìm hiểu cảnh ngộ của Thúy

Kiều?

GV: Thành ngữ đứt gánh tương tư (người

không thể tiếp tục tình yêu) và điển cố keo

loan (máu chim loan tương truyền có thể nổi

dậy cung – đời Vua Hán Vũ Đế - sứ thần

Tây Hải) là một sự kết hợp tài tình giữa

ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ bác học

nhằm diễn đạt nhuần nhị, kín đáo, sâu sắc ý

muốn nhờ cậy của Kiều: Vân như keo loan

thay chị kết mối tơ thừa với chàng Kim

GV bình: “Sự đâu sóng gió bất kì” – đó là

biến cố rất lớn và bất ngờ, đột ngột đối với

gia đình Thúy Kiều Đó là câu chuyện gia

đình nàng bị thằng bán tơ vu oan “Một ngày

* 10 câu tiếp: Lời giãy bày và thuyết phục.

- Cảnh ngộ của Kiều:

+ “Đứt gánh tương tư”: mối tình dở

dang, đứt quãng

+ “Mối tơ thừa”: mối tình duyên Kim – Kiều; + “Chắp mối”: Thúy

Vân là người nhận lại mối tình dang dở đó

+ “Sóng gió bất kì”: tai họa ập đến

gia đình nàng

+“Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”: Lựa chọn giữa hiếu và tình.

“Mặc em”: phó mặc, ủy thác  vừa

có ý mong muốn vừa có ý ép buộc Thúy Vân phải nhận lời

Trang 11

lạ thói sai nha/Làm cho khốc hại chẳng qua

vì tiền”, bọn sai nha ập đến vét cho đầy túi

tham, cha và em Thúy Kiều bị bắt giam

nếu không được cứu thoát thì có thể sẽ nguy

hại đến tình mạng cho nên bằng mọi giá

phải cứu cha và em Kiều chấp nhận bán

mình chuộc cha, trao lại duyên cho em

GV: Hiếu và tình là hai thứ không thể đặt

lên bàn cân được Vậy mà ở đây điều đó

đã buộc Kiều phải lựa chọn, theo em qua

đó đã phản ánh điều gì về thực trạng xã

hội lúc bấy giờ?

GV bình: Qua lời Thúy Kiều, Nguyễn Du

đay nghiến cả một xã hội phong kiến xưa

Hiếu – tình là hai giá trị tinh thần không thể

đặt lên bàn cân được Một xã hội bắt con

người phải lựa chọn những giá trị không thể

lựa chọn được thì xã hội đấy là một xã hội

tàn bạo Thúy Kiều đã cay đắng lựa chọn

chữ “hiếu”

Cho nên hi sinh chữ tình, nàng Kiều coi như

không tồn tại trên cõi đời này nữa Mỗi lời

của nàng không phải là nước mắt mà là máu

đang rỉ ra trong lòng

Nhóm 2: Phân tích mối tình Kim – Kiều

qua lời kể của Thúy Kiều?

GV bình: Kiều đã kể về tình yêu đẹp của

mình và chàng Kim: Khi ngày quạt ước, khi

đêm uống rượu thề nguyền cùng nhau

Liên hệ những đoạn thơ nói về tình yêu

Kim- Kiều:

 Lời nói chân thành, ngắn gọn, gợi

sự cảm thông nhằm thuyết phục Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng

- Kể vắn tắt về mối tình với Kim Trọng:

+ “Khi gặp chàng Kim”,

+ “Khi ngày quạt ước”, + “Khi đêm chén thề”.

 Điệp từ “khi” nhấn mạnh tình yêu sâu nặng, gắn bó bền chặt của Kim – Kiều

 Những kỉ niệm, hẹn ước của Kiều với với Kim Trọng nay trở nên dang dở

- Lời lẽ thuyết phục Thúy Vân:

Ngày đăng: 25/03/2020, 19:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w