Những vấn đề được xem xét trong QHMT vùng bao gồm: sử dụng đất đai, phát triển công nghiệp, phát triển đô thị và giao thông vận tải, phát triển dân số, chính sách của nhà nước về định cư
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Quy hoạch môi trường là khái niệm còn khá mới mẻ tại Việt Nam Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu
về vấn đề này Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có phương pháp luận cũng như nội dung thống nhất cho việc lập quy hoạch môi trường vùng
Trong cuốn sách này nhóm tác giả giới thiệu một công trình nghiên cứu về quy hoạch môi trường, bao gồm cơ sở lý thuyết và ứng dụng thực tế tại Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung và thành phố Đà Nẵng
Cuốn sách này sẽ cung cấp một cách tiếp cận mới và hoàn chỉnh về quy hoạch môi trường, là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh tại các trường đại học, cơ sở đào tạo và phục vụ các khóa học bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ quản lý môi trường
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn GS.TSKH Đặng Trung Thuận, GS.TS Lâm Minh Triết, PGS TS Đinh Xuân Thắng, TS Mai Trọng Thông và nhiều nhà khoa học khác đã tham gia nghiên cứu
và đóng góp nhiều ý kiến quí báu cho công trình này
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách này với độc giả và mong nhận được sự quan tâm, góp ý của các đồng nghiệp
Nhóm tác giả
Trang 3PHẦN THỨ NHẤT
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VỀ QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG
Trang 4CHƯƠNG I NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG
1.1 Quá trình hình thành quy hoạch môi trường trên thế giới 1.1.1 Những quan điểm về quy hoạch môi trường trên thế giới
Thuật ngữ quy hoạch môi trường (QHMT) (Environmental Planning) ra đời vào những năm 60 và phổ biến rộng rãi vào những năm 90 của thế kỷ XX Trong từ điển về môi trường và phát triển bền vững (Dictionary of Environment and Sustainable Development), Alan Gilpin (1996) cho rằng QHMT là “sự xác định các mục tiêu mong muốn về kinh tế - xã hội đối với môi trường tự nhiên và tạo ra các chương trình, quy trình quản lý để đạt được mục tiêu đó” Những vấn đề được xem xét trong QHMT vùng bao gồm:
sử dụng đất đai, phát triển công nghiệp, phát triển đô thị và giao thông vận tải, phát triển dân số, chính sách của nhà nước về định cư, chính sách bảo vệ môi trường trong vùng, những vấn đề về ô nhiễm môi trường và các tác động của chúng
Theo Susan Buckingham- Hatield & Bob Evans (1962) QHMT có thể hiểu rất rộng, là quá trình hình thành, đánh giá và thực hiện các chính sách môi trường
Westman (1978), xem xét QHMT trên phương diện xác định giá trị của tài nguyên thiên nhiên và dự báo các thay đổi do các biến động của tự nhiên và hoạt động của con người gây ra
Khái niệm QHMT của tác giả Baldwin (1984) cho rằng việc khởi thảo và điều hành các hoạt động nhằm hướng dẫn, kiểm soát việc thu nhập, biến đổi, phân bố và đổ thải một cách phù hợp với các hoạt động của con người sao cho các quá trình tự nhiên, sinh thái và xã hội tổn thất một cách ít nhất
Quan niệm của Ortolano (1984), gần với quan niệm của Alan
Trang 5Gilpin “QHMT là một công việc hết sức phức tạp và để thực hiện QHMT phải sử dụng kiến thức liên ngành”, ông cho rằng nội dung của QHMT bao gồm sử dụng đất, quản lý chất tồn dư và kỹ thuật đánh giá tác động môi trường (ĐTM)
Faludi (1987), nhìn nhận QHMT như “tổng hợp của tất cả các biện pháp bảo vệ môi trường mà cấp có thẩm quyền về môi trường
có thể sử dụng“
Beer (1990) nhìn nhận vai trò của nhà quy hoạch trong lĩnh vực môi trường là làm như thế nào để có thể duy trì hoặc vừa bảo đảm phúc lợi con người về mặt kinh tế xã hội (KTXH), vừa nâng cao nhận thức của họ về bảo vệ môi trường nhằm nâng cao chất lượng môi trường sống song song với việc bảo tồn và duy trì thiên nhiên là mục đích cơ bản của QHMT
Theo ADB (1991) trong quy hoạch phát triển vùng, các thông
số môi trường cần được đưa vào quy hoạch ngay từ đầu và sản phẩm cuối cùng là quy hoạch phát triển KTXH cùng với những cân nhắc cần thiết tới nhu cầu phát triển bền vững bằng cách nhất thể hóa quản lý tài nguyên và môi trường
Toner (1996) cho rằng QHMT là việc ứng dụng các kiến thức
về khoa học tự nhiên và sức khỏe cộng đồng trong các quyết định
về sử dụng đất đai
Malone - Lee Lai Choo (1997) cho rằng để giải quyết những
“xung đột” về môi trường và phát triển cần thiết phải xây dựng hệ thống quy hoạch trên cơ sở những vấn đề môi trường
Về cách tiếp cận, QHMT cần được xem xét theo chiều rộng, dựa trên các cân nhắc liên quan đến tài chính và phi tài chính Faludi (1987) cho rằng quy hoạch cần phụ thuộc vào bối cảnh trong
đó QHMT được tiến hành Theo Ryding (1994) đề xuất mô hình ra quyết định và quy hoạch chung cho tất cả các khía cạnh bảo vệ môi trường, với đầu vào cho mô hình là các ưu tiên riêng rẽ được phân tích dựa trên các nhân tố chi phí/lợi ích của người sử dụng
Trang 6Mặc dù có nhiều cách diễn giải khác nhau về QHMT, nhưng trong những nghiên cứu ứng dụng của nhiều nước trên thế giới vẫn
có nhiều điểm chung là trong QHMT phải xem xét tổng hợp các yếu tố kinh tế-xã hội, tài nguyên và môi trường, các mục tiêu phát triển phải gắn với mục tiêu BVMT theo định hướng phát triển bền vững
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển QHMT trên thế giới
Xuất phát từ những quan điểm khác nhau nêu trên quá trình hình thành và phát triển cũng như phương pháp tiến hành QHMT trên thế giới cũng khác nhau rất nhiều, có thể nêu một số ví dụ như sau:
1) Tại châu Mỹ La Tinh
Tại châu Mỹ La Tinh báo cáo quy hoạch tổng hợp phát triển vùng được thực hiện bởi Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (năm 1984) Báo cáo này chỉ rõ sự cần thiết phải kết hợp quản lý môi trường (QLMT) vào phát triển bền vững (PTBV) kinh tế vùng ngay
từ đầu
Ở phía Bắc của nước Mỹ cụm từ QHMT được dùng để chỉ một phương pháp quy hoạch tổng hợp và kết hợp nhiều vấn đề nhiều bên liên quan
Ngay tại Mỹ nhiều lúc các nhà quy hoạch đã từng coi nhẹ vai trò của quy hoạch môi trường đối với quy hoạch phát triển vùng Lịch sử hòa nhập các thông số môi trường vào quy hoạch phát triển ở Mỹ được chia thành 4 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn I (trước năm 1960) : Vấn đề môi trường trong quy hoạch phát triển vùng ít được quan tâm mà chỉ được nhắc đến đối với một số dự án đặc thù;
- Giai đoạn II (từ năm 1960 đến trước năm 1975) : Trong quy hoạch phát triển vùng một số dự án đặc biệt đã được lập báo cáo
Trang 7đánh giá tác động môi trường;
- Giai đoạn III (từ năm 1975 đến trước năm 1980) : Các vấn
đề môi trường đã được lồng ghép vào báo cáo nghiên cứu khả thi của các dự án phát triển vùng;
- Giai đoạn IV (từ năm 1980 đến nay) : Quy hoạch phát triển kinh tế vùng đã kết hợp chặt chẽ với quy hoạch môi trường vùng
2) Tại châu Âu
Tại Châu Âu thì QHMT thường áp dụng cho quá trình quy hoạch sử dụng đất cho từng khu vực hoặc địa phương Ví dụ, ở Hà Lan việc QHMT là cầu nối quy hoạch không gian với việc lập chính sách môi trường
3) Tại châu Úc
Ở Úc các yếu tố môi trường được đưa vào quy hoạch vùng ngay từ năm 1941 Cục Xây dựng sau chiến tranh của Úc đã phân chia nước Úc thành 93 vùng và triển khai khảo sát thống kê các nguồn tài nguyên, khuyến khích các cơ quan và chính quyền địa phương lập kế hoạch bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên
theo đơn vị vùng, kết hợp phát triển từng vùng với chính sách kinh
tế của từng bang và toàn liên bang
4) Tại châu Á
Ở châu Á, quy hoạch phát triển vùng phát triển nhất là tại Nhật Bản Khởi đầu từ 1957, quy hoạch phát triển cho các vùng nông thôn kém phát triển nhằm đạt được hiệu quả cao trong việc sử dụng đất và các nguồn tài nguyên thông qua sự đầu tư của công chúng vào cơ sở hạ tầng, tạo môi trường sống trong lành và thông qua các biện pháp bảo tồn thiên nhiên Trung tâm phối hợp quốc gia về Phát triển vùng (UNCRD) ở Nagoya, Nhật Bản có nhiều kinh nghiệm thực tế về thực hành quy hoạch vùng Theo kinh nghiệm này UNCRD đã xây dựng một mô hình khung phát triển vùng bao gồm 7 bước: dự báo, quy hoạch tổng thể, quy hoạch ngành, phối hợp liên ngành, kế hoạch phân bổ kinh phí, xây dựng
Trang 8chương trình hành động và kế hoạch thực hiện
Quy hoạch vùng ở các nước châu Á tập trung vào cả vùng nông thôn và thành thị Quy hoạch vùng nông thôn thường bao gồm định cư, phát triển tài nguyên nước Giai đoạn nhận thức môi trường ở châu Á và các nước phát triển khác là từ khi xảy ra hàng loạt vụ khủng hoảng môi trường những năm 50 và 60 của thế kỷ trước, nổi lên là nhiễm độc thủy ngân ở Minamata, Nhật Bản, những ảnh hưởng liên quan đến thuốc trừ sâu, tràn dầu và nhiều sự
cố môi trường khác đã tác động lên một vùng rộng lớn gây sự chú ý của công chúng Tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, sau Hội nghị môi trường Liên Hợp quốc tại Stockholm, cuộc họp liên quốc gia tại Bankok năm 1973 đã thông qua Kế hoạch hành động Châu
Á về môi trường
Hiện nay, vấn đề QHMT đã được nhiều tổ chức quốc tế quan tâm và phát triển tại các nước châu Á Một số tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) … đã ban hành nhiều tài liệu hướng dẫn và giới thiệu kinh nghiệm về QHMT trên thế giới Trong thời gian qua ADB đã xuất bản 3 tập tài liệu liên quan tới QHMT và quản lý tài nguyên thiên nhiên tại khu vực Châu Á –Thái Bình Dương Tập 3 của ADB là
“Hướng dẫn quy hoạch thống nhất phát triển kinh tế kết hợp với môi trường vùng – Tổng quan về các nghiên cứu quy hoạch phát triển môi trường vùng tại châu Á” (“Guidelines for Intergrated Regional Economic-cum-Environmental Development Planning –
A Review of Regional Environmental Development Planning Studies in Asia”) Trong tập tài liệu này ADB cũng đã phân tích kinh nghiệm QHMT vùng cho 8 dự án khác nhau bao gồm: Lưu vực hồ Laguna và vùng Palawan (Philipin, 1984); Lưu vực sông Hàn (Hàn Quốc, 1986); Lưu vực hồ Songkla (1985); vùng ven biển phía Đông -Eastern Seabord (1986), vùng công nghiệp Samutprakarn (1987) (Thái Lan); vùng Segara Anakan (Indonesia, 1986); thung lũng Klang (Malasia, 1987) Trên cơ sở phân tích các kinh nghiệm nêu trên, ADB đã xây dựng Hướng dẫn quy hoạch thống nhất phát triển kinh tế kết hợp với môi trường vùng
Trang 91.2 Quá trình hình thành quy hoạch môi trường tại Việt Nam 1.2.1 Những quan điểm về quy hoạch môi trường tại Việt Nam
Ở nước ta hiện nay quy hoạch phát triển KTXH thường đi trước một bước so với QHMT, do vậy nội dung của QHMT cần phải gắn kết với các nội dung của quy hoạch phát triển KTXH, đồng thời đưa ra những kiến nghị điều chỉnh quy hoạch phát triển
để phù hợp với sức chịu tải của môi trường, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững
Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa nào tương đối rõ ràng và đầy đủ về khái niệm “Quy hoạch môi trường” Tuy nhiên các nhà khoa học và quản lý môi trường có chung một ý tưởng là tất cả các hệ tự nhiên, môi trường, kinh tế và xã hội trong phạm vi một vùng lãnh thổ phải được quản lý như những hệ hoàn chỉnh trong sự tác động tương hỗ lẫn nhau và cần phải được xem xét các vấn đề môi trường một cách tổng hợp ở tất cả các giai đoạn của quá trình phát triển để đạt được cân bằng giữa bảo tồn và phát triển Một số quan điểm chung về QHMT như sau:
- QHMT khác với quy hoạch tổng thể phát triển KTXH hoặc quy hoạch một ngành kinh tế Các quy hoạch này thường định ra một loạt các chỉ tiêu phát triển kinh tế trong một thời gian và không gian xác định Khiếm khuyết nổi bật nhất của kiểu quy hoạch này là
cố gắng tối đa hóa các lợi ích về mặt kinh tế và xã hội mà thường
bỏ qua hoặc xem nhẹ các vấn đề liên quan đến cạn kiệt tài nguyên
và ô nhiễm, suy thoái chất lượng môi trường
- QHMT là một kiểu quy hoạch hoặc hệ thống quy hoạch đặc biệt, có tác dụng như là một công cụ quản lý thống nhất và tổng hợp tài nguyên và môi trường trong phạm vị một vùng lãnh thổ xác định QHMT với việc xem xét và lồng ghép hợp lý các khía cạnh đan xen về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường và kinh tế –
xã hội sẽ giúp tạo ra một “công cụ” có hiệu quả để đạt đến các mục tiêu với chi phí thấp nhất Mục tiêu cơ bản của QHMT là nhằm hợp
lý hóa, tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn tài nguyên (dưới dạng vật
Trang 10chất và năng lượng) sẵn có của vùng đang xem xét mà không vượt quá khả năng chịu tải của vùng đó Môi trường tự nhiên chỉ có khả năng hạn chế, chỉ chịu đựng nổi các mức sử dụng như thu hoạch, khai thác và chứa chất thải nhất định; mức giới hạn này được gọi là khả năng chịu tải (carrying capacity)
- Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của một vùng, cần phải có QHMT để định hướng cho việc quyết định các vấn đề cốt lõi sau:
+ Các ngưỡng giới hạn phát triển của vùng là bao nhiêu để không vượt quá khả năng chịu tải của môi trường tự nhiên và khả năng tái tạo, phục hồi tài nguyên?
+ Khai thác, sử dụng tài nguyên như thế nào cho hợp lý và hiệu quả?
+ Cách thức quản lý, BVMT có hiệu quả nhất trong phạm vi một vùng;
+ Tính hợp lý và bình đẳng trong việc phân chia các nguồn tài nguyên (ví dụ như tài nguyên nước) giữa các tiểu vùng trong phạm
+ Các ưu tiên đầu tư và cách thực hiện các ưu tiên này như thế nào;
+ Chính sách định giá kinh tế tài nguyên của quốc gia và chính sách hoàn vốn áp dụng đối với vùng đang xét hay các tiểu vùng của vùng đó như thế nào;
+ Các phí và lệ phí môi trường
Trang 11Liên quan chặt chẽ với QHMT là các hệ thống đo đạc, giám sát hay các mô hình toán nhằm cung cấp thông tin về động thái tài nguyên và diễn biến chất lượng môi trường, các xu thế và ảnh hưởng của các hoạt động phát triển KTXH trong vùng đến tài nguyên và môi trường Những hệ thống thông tin này (hay còn gọi
là cơ sở dữ liệu môi trường) có thể sử dụng như là một công cụ hỗ trợ rất tích cực cho việc ra quyết định khi lập QHMT
Khi tiến hành quy hoạch QHMT cho một địa phương hay một vùng kinh tế các nhà quy hoạch cần tính đến hai nhóm yếu tố cơ bản sau:
- Các yếu tố tác động đến quá trình phát triển KTXH;
- Các yếu tố sinh ra trong quá trình phát triển KTXH
Các yếu tố tác động đến quá trình phát triển KTXH bao gồm tài nguyên thiên nhiên, các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội:
- Tài nguyên thiên nhiên như: quỹ đất, trữ lượng nước mặt, nước ngầm, rừng, khoáng sản, thủy hải sản ;
- Các điều kiện tự nhiên như: khí hậu, tai biến môi trường (bão, lũ, lụt, động đất, đứt gãy, nứt đất );
- Các yếu tố thuộc về kinh tế, xã hội như: hiện trạng phát triển kinh tế, dân số, trình độ dân trí, phong tục tập quán, dân tộc Các yếu tố sinh ra trong quá trình phát triển KTXH làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường sống của con người
Có thể nêu một vài ví dụ như sau:
- Cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học;
- Suy thoái đất, nguồn nước, rừng;
- Ô nhiễm môi trường do nước thải, khí thải và chất thải rắn;
- Thay đổi phong tục tập quán và văn hóa của người dân… Tuy có nhiều cách diễn giải khác nhau về QHMT, nhưng đều
có điểm chung là trong quy hoạch phát triển phải xem xét các yếu
Trang 12tố tài nguyên và môi trường, các mục tiêu phát triển phải gắn với mục tiêu bảo vệ môi trường theo định hướng phát triển bền vững QHMT là một công cụ quan trọng và có quan hệ khăng khít với các công cụ khác trong hệ thống quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường Phương pháp và các hoạt động triển khai QHMT phải dựa vào luật pháp, quy định về bảo vệ môi trường
1.2.2 Những nghiên cứu và ứng dụng quy hoạch môi trường tại Việt Nam
Do tính cấp bách của vấn đề QHMT, tại Việt Nam một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này đã được triển khai,
cụ thể như sau:
1.2.2.1 Giai đoạn 1996 – 2000
Trong giai đoạn này có các công trình nghiên cứu sau:
1) Phương án quy hoạch môi trường vùng Hạ Long, Quảng Ninh (do GS.TSKH Đặng Trung Thuận làm chủ nhiệm trong giai đoạn 1996-1997 )
2) Nghiên cứu về phương pháp luận quy hoạch môi trường (do Khoa Môi trường, Trường ĐHKHTN, ĐHQG Hà Nội chủ trì thực hiện trong giai đoạn 1998-1999)
3) Hướng dẫn quy hoạch môi trường và xây dựng quy hoạch môi trường đồng bằng sông Hồng (do Khoa Môi trường, Trường ĐHKHTN, ĐHQG Hà Nội chủ trì thực hiện trong giai đoạn 1998-1999)
4) Nghiên cứu xây dựng quy hoạch bảo vệ môi trường vùng Đồng bằng sông Cửu Long (do PGS.TS Phùng Chí Sỹ , Viện Kỹ thuật Nhiệt đới và Bảo vệ Môi trường làm chủ nhiệm trong năm 1999)
5) Quy hoạch môi trường vùng Đông Nam Bộ (do Cục Môi trường phối hợp với Viện Môi trường và Tài Nguyên, Trung tâm Công nghệ Môi trường ENTEC, Trung tâm Công nghệ và Quản lý Môi trường CENTEMA thực hiện trong giai đoạn 2000-2001)
Trang 131.2.2.2 Giai đoạn 2001 – 2005
Trong các Chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm của Nhà nước đã triển khai nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến quy hoạch môi trường vùng, như:
1) Nghiên cứu xây dựng quy hoạch môi trường phục vụ phát triển KTXH vùng đồng bằng sông Hồng (Đề tài cấp nhà nước mã
số KC.08.02 thuộc chương trình "Bảo vệ Môi trường và Phòng tránh thiên tai" (KC-08) do cố GS.TS.Lê Qúi An làm chủ nhiệm) 2) Nghiên cứu xây dựng quy hoạch môi trường Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (TP Đà Nẵng, các tỉnh Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi), (Đề tài cấp nhà nước mã số KC.08.03 thuộc chương trình "Bảo vệ Môi trường và Phòng tránh thiên tai" (KC-08) do PGS.TS Phùng Chí Sỹ làm chủ nhiệm)
3) Nghiên cứu xây dựng quy hoạch môi trường vùng Đông Nam Bộ (Nhiệm vụ trọng điểm cấp Bộ KH&CN do GS TS Lâm Minh Triết chủ trì thực hiện)
4) Nghiên cứu những vấn đề kinh tế – xã hội – môi trường vùng sinh thái đặc thù Quảng Bình – Quảng Trị (Đề tài cấp nhà nước mã số KC.08.07 thuộc chương trình "Bảo vệ Môi trường và Phòng tránh thiên tai" (KC-08) do GS.TSKH Trương Quang Học làm chủ nhiệm)
5) Nghiên cứu xây dựng quy hoạch môi trường phục vụ phát triển KTXH thành phố Đà Nẵng (Đề tài nghiên cứu khoa học TP
Đà Nẵng do PGS.TS Phùng Chí Sỹ làm chủ nhiệm)
1.2.2.3 Giai đoạn từ 2006 đến nay
Từ năm 2006 đến nay hàng loạt các tỉnh, thành phố trong cả nước cũng đã triển khai các chương trình, đề tài nghiên cứu và các nhiệm vụ liên quan đến QHMT
Cục Bảo vệ Môi trường (Nay là Tổng cục Môi trường) đã triển khai nghiên cứu cơ sở khoa học, xây dựng phương pháp luận lồng ghép các khía cạnh môi trường vào quy hoạch sử dụng đất, áp
Trang 14dụng thí điểm cho đảo Phú Quốc
Trong giai đoạn 2009-2011 Tổng cục Môi trường đã chủ trì
và phối hợp với Trung tâm Tư vấn Công nghệ Môi trường, Viện Khí tượng Thủy văn và Môi trường, Trung tâm Công nghệ Môi trường (ENTEC) triển khai lập quy hoạch môi trường cho 3 lưu vực sông bao gồm lưu vực sông Cầu, lưu vực sông Nhuệ-sông Đáy và lưu vực hệ thống sông Đồng Nai Hiện nay Bộ TN-MT đang hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt QHMT cho 3 lưu vực sông này
Trang 15CHƯƠNG II CÁCH TIẾP CẬN VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA
QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG
2.1 QUY HOẠCH VÀ QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG
2.1.1 Khái niệm về quy hoạch và các loại hình quy hoạch
Quy hoạch là sự lựa chọn, tổ chức và sắp xếp những hoạt động phát triển, bảo vệ và bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên và hệ thống hạ tầng kỹ thuật môi trường theo không gian, theo chức năng hợp lý nhằm thực hiện những định hướng, những mục tiêu chiến lược
Trong hệ thống kế hoạch hóa của Việt Nam gồm các bước :Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21), tầm nhìn/lộ trình, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và dự án thì quy hoạch là một khâu nằm giữa chiến lược và kế hoạch
Hiện nay, chúng ta thường thấy có các loại hình quy hoạch sau đây :
1) Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội:
Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH là một khâu quan trọng trong toàn bộ quá trình kế hoạch hóa của nền kinh tế quốc dân Quy hoạch này phải gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển KTXH chung của một quốc gia, của một vùng hay một địa phương và làm căn cứ cho việc xây dựng các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn
Trong quá trình nghiên cứu xây dựng quy hoạch phát triển KTXH, nguồn tiềm năng phát triển cần được điều tra, đánh giá một cách đầy đủ; hệ thống các quan điểm phát triển và các yếu tố tác động đến quá trình phát triển được thiết lập và định hình; các
Trang 16phương án phát triển được xây dựng, và như vậy hệ thống mục tiêu kinh tế vĩ mô đã được xác lập trong từng phương án quy hoạch Năm 1993, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành văn bản hướng dẫn tạm thời về nội dung và phương pháp lập quy hoạch tổng thể KTXH cấp tỉnh
Cũng theo hướng dẫn này, rõ ràng là vấn đề đánh giá các tác động môi trường của các mục tiêu phát triển KTXH chưa được đề cập tới Vì vậy công tác lập quy hoạch tổng thể KTXH trước kia vẫn chưa được gắn kết với công tác bảo vệ môi trường và do đó quá trình phát triển khó có thể đạt được sự bền vững
Từ khi Luật Bảo vệ môi trường 2005 được Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước ký lệnh công bố, các vấn đề môi trường đã được lồng ghép vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển thông qua công cụ đánh giá môi trường chiến lược
2) Quy hoạch phát triển ngành:
Cho đến nay, hầu hết các ngành/lĩnh vực KTXH đều đã xây dựng quy hoạch phát triển của ngành mình So với quy hoạch tổng thể phát triển KTXH, tiềm năng phát triển của từng ngành được nghiên cứu đánh giá kỹ càng hơn và chi tiết hơn và ở một mức độ nào đó, các nguồn lực phát triển đã được lượng hóa Đây là một điều kiện tốt để có thể đề xuất, tính toán các mục tiêu phát triển theo hướng hiệu quả và sử dụng tối đa các nguồn lực phát triển, đồng thời có thể thiết lập được một cơ cấu phát triển ngành phù hợp Tuy nhiên trước kia trong phần lớn các quy hoạch phát triển ngành, những vấn đề về bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên vẫn chưa được xem xét một cách đầy đủ và minh bạch Do vậy, phát triển ngành vẫn chưa đảm bảo yếu tố bền vững
Theo Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/04/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường thì các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược
Trang 17chi tiết hay rút gọn dưới hình thức lồng ghép trong báo cáo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch hoặc báo cáo đánh giá môi trường chiến lược dưới hình thức báo cáo riêng
2.1.2 Sự khác biệt cơ bản giữa quy hoạch môi trường và quy hoạch phát triển
Từ những nhận xét và phân tích đánh giá ở trên, có thể nhận thấy được sự khác biệt cơ bản giữa QHMT và các dạng quy hoạch phát triển khác như sau:
Các quy hoạch tổng thể phát triển KTXH và quy hoạch phát triển ngành thường định ra một loạt các dự án phát triển và trong một phạm vi xác định, ở một chừng mực nhất định nào đó, nó có thể chỉ ra được các ảnh hưởng lẫn nhau của các dự án phát triển và các vấn đề khác của vùng quy hoạch Những quy hoạch như vậy thường được xem như là một công cụ phát triển Khiếm khuyết nổi bật nhất của kiểu quy hoạch này là cố gắng tối đa hóa các mục tiêu lợi ích về mặt kinh tế mà thường bỏ qua hoặc xem nhẹ các vấn đề liên quan đến cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm, suy thoái chất lượng môi trường
Trong khi đó quy hoạch môi trường là việc xây dựng định hướng và đề xuất giải pháp phân vùng các thành phần môi trường
tự nhiên đối với một vùng lãnh thổ trong một thời kỳ xác định nhằm bố trí hợp lý các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội tại vùng lãnh thổ đó
2.1.3 Mối quan hệ giữa quy hoạch môi trường và quy hoạch phát triển
Trong tài liệu “Hướng dẫn về Phương pháp luận quy hoạch môi trường” do Cục Môi trường ban hành năm 1998, đã xác định mối quan hệ giữa quy hoạch môi trường với các dạng quy hoạch khác, đặc biệt là quy hoạch phát triển KTXH như sau:
“Các hoạt động phát triển bao giờ cũng gây ra những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực với các mức độ khác nhau đến tài
Trang 18nguyên và môi trường ở một phạm vi không gian và thời gian xác định Do đó, QHMT cần phải gắn chặt với quy hoạch tổng thể KTXH và các quy hoạch phát triển ngành trên một vùng lãnh thổ xác định Sự gắn bó này phải được thể hiện ngay từ giai đoạn đầu của quá trình quy hoạch QHMT phải luôn luôn bám sát quy hoạch phát triển KTXH ở tất cả các giai đoạn quy hoạch để có sự thống nhất thay đổi, điều chỉnh kịp thời Sự thống nhất hay thay đổi, điều chỉnh các hợp phần trong cả hai loại quy hoạch trên được thực hiện tại các cuộc họp xác định phạm vi, dàn xếp giữa những người làm công tác chính sách phát triển với những nhà quản lý và bảo vệ môi trường
Những khó khăn sẽ xảy ra khi gắn kết QHMT vào quy hoạch phát triển Những khó khăn thường gặp phải là quyền lợi được hưởng về môi trường của các cộng đồng khác nhau giữa những người gây ô nhiễm và những người phải gánh chịu ô nhiễm… QHMT không phải là một quy hoạch độc lập với quy hoạch phát triển kinh tế hay quy hoạch phát triển ngành bởi vì QHMT đụng chạm đến nhiều lĩnh vực khác nhau: tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính sách, thể chế, và tất nhiên cũng không lệ thuộc vào hai loại quy hoạch trên Nếu QHMT rơi vào một trong hai vị trí độc lập hay lệ thuộc thì mục tiêu phát triển bền vững sẽ không đạt được hoặc là phát triển cứ phát triển còn môi trường bị xem nhẹ hay là độc tôn” Phân tích những nhận định trên có thể thấy rõ mối quan hệ mật thiết giữa QHMT với quy hoạch phát triển Môi trường vừa là tác nhân thúc đẩy, vừa là mục đích của sự phát triển, đảm bảo không những cho sự phát triển bền vững mà còn đảm bảo cho sự tái tạo tiềm năng, tái tạo nguồn lực theo các chu trình phát triển cao hơn Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển KTXH là mối quan
hệ thuận – nghịch khăng khít với nhau Trên thực tế, người ta có thể đánh giá được trình độ phát triển, trình độ tiên tiến của một nền kinh tế hoặc của một vùng lãnh thổ thông qua việc đánh giá cách ứng xử với những vấn đề môi trường và tài nguyên
Qua phân tích mối quan hệ giữa quy hoạch phát triển với
Trang 19QHMT nêu trên, người làm công tác QHMT trước khi tiến hành công việc cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng các phương án quy hoạch phát triển để xác định một số vấn đề môi trường cần được xem xét
và giải quyết trong phương án quy hoạch của mình Cụ thể là:
Xác định những vấn đề môi trường ưu tiên (ví dụ: sử dụng tài nguyên thiên nhiên; sử dụng đất đai; bố trí các khu công nghiệp, khu đô thị đảm bảo cân bằng sinh thái…);
Xác định những ảnh hưởng đến môi trường do các phương
án phát triển (xu thế diễn biến chất lượng môi trường, các loại chất thải phát sinh; sự tác động đến sức khỏe và điều kiện sống của cộng đồng; xu hướng về các rủi ro và sự cố môi trương; sự suy giảm đa dạng sinh học, các hệ sinh thái, các loài và môi trường sống của sinh vật, sự suy giảm các nguồn tài nguyên,…)
Kết hợp giữa QHMT và các dạng quy hoạch khác nhằm cân đối hài hoà các mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường được coi là nguyên tắc bắt buộc Tuy nhiên chúng ta cũng không nên quá nhấn mạnh vào bảo vệ môi trường để hạn chế việc đầu tư phát triển và ngược lại Đây là một mâu thuẫn thực sự trong quá trình phát triển Để giải quyết những mâu thuẫn giữa phát triển
và bảo vệ môi trường cần xem xét vấn đề từ nhiều khía cạnh và phải nằm trong phạm vi chiến lược phát triển chung của toàn khu vực
Trong quá trình QHMT cũng cần phải thống nhất quan điểm
là phát triển đa ngành và quản lý liên ngành Phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường luôn trong tình trạng mâu thuẫn của quá trình phát triển Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do tồn tại hệ thống quản lý đơn ngành trong lúc kinh tế phát triển theo hướng đa ngành
Chính sách phát triển của mỗi ngành có ảnh hưởng trực tiếp
và mạnh mẽ đến môi trường như chính sách phát triển lâm nghiệp, chính sách phát triển giao thông, đô thị và công nghiệp Các chính
Trang 20sách ngành nhiều khi chồng chéo lên nhau, gây ra mâu thuẫn tranh chấp trong sử dụng tài nguyên và môi trường
Mỗi chính sách, quyết định đưa ra đều có tác động nhất định đối với môi trường, nhất là trong các ngành liên quan đến khai thác
và sử dụng tài nguyên Ngược lại những chính sách, quyết định kịp thời phù hợp với thực tiễn sẽ nhanh chóng giải toả được những vấn
đề gay cấn nhất về tài nguyên và môi trường Do vậy vấn đề môi trường phải được cùng phối hợp giải quyết theo hướng đa ngành, để các vấn đề nẩy sinh về môi trường được giải quyết triệt để đảm bảo cho sự phát triển
Sẽ không giải quyết được triệt để về mặt môi trường nếu chúng ta không đưa vấn đề QHMT vào trong quy hoạch phát triển KTXH vùng Quy hoạch lãnh thổ có nhiệm vụ phải xác định khả năng chịu tải của môi trường tự nhiên để không vượt quá ngưỡng chịu đựng của nó Đồng thời cũng phải dự báo được sự biến động của tài nguyên và môi trường trong tương lai khi quy hoạch kinh tế
xã hội
Mục tiêu của quy hoạch cũng là nhằm vào việc sử dụng hợp
lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo Vấn đề tài nguyên và môi trường phải được xem là một điểm xuất phát của dự án quy hoạch Các nhà quy hoạch và người ra quyết định phải tránh cách làm kế hoạch theo lợi ích ngắn hạn, mà gây tổn hại đến việc thực hiện các mục tiêu lâu dài Vì vậy để bảo
vệ môi trường, phát triển bền vững lãnh thổ cần có những biện pháp
kỹ thuật trước mắt và giải pháp chiến lược hướng tới tương lai Vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế phải luôn đi trước một bước và phải được đặt trong một tổng thể thống nhất của quá trình phát triển của một địa phương, một vùng hay một quốc gia Tất cả các cấp, các ngành trong khi tập trung mọi nỗ lực để phát triển kinh tế cần phải quan tâm đến vấn đề môi trường và QHMT và phối hợp để quản lý và thực hiện trong thực tế nhằm mục tiêu đưa đất nước phát triển một cách bền vững
Trang 212.2 QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG VÀ VỊ TRÍ VAI TRÒ CỦA
NÓ
2.2.1 Vị trí của quy hoạch môi trường
Theo quan điểm hiện nay, để hoạch định chính sách phát triển KTXH cho một quốc gia, một vùng lãnh thổ hay một địa phương thường thấy có những bước tiếp cận như sau (Hình 2.1):
Hình 2.1 Sơ đồ hoạch định chính sách phát triển KTXH
1 Tầm nhìn (Vision): là định hướng phát triển dài hạn từ 20 năm trở lên Ví dụ, định hướng phát triển của Việt Nam đến năm
2020 là một nước công nghiệp đã được Đảng và Nhà nước ta xác định từ năm 2001
2 Chiến lược (Strategy): là việc xác định các mục tiêu phát triển trong từng giai đoạn 10 năm và đề ra các giải pháp chính để đạt được những mục tiêu đó
3 Quy hoạch (Planning): là sự lựa chọn, sắp xếp, bố trí những đối tượng được quy hoạch theo không gian, theo thời gian và theo
cơ cấu hợp lý nhằm thực hiện những mục tiêu của chiến lược và phù hợp với tầm nhìn
4 Kế hoạch (Plan): là sự hoạch định các hành động cụ thể gắn với tiến trình thời gian thực hiện các ý đồ của quy hoạch
Ngày nay với cách tiếp cận mới là “Phát triển bền vững”, do vậy việc hoạch định các chính sách phát triển KTXH phải được gắn kết với việc hoạch định các chính sách bảo vệ môi trường và bao gồm các bước như trong Hình 2.2
Tầm
nhìn
Chiến lược
Quy hoạch
Kế hoạch
Trang 22Hình 2.2 Sự gắn kết chính sách phát triển KTXH với chính sách
BVMT
Từ Hình 2.2 cho thấy rất rõ ràng rằng, QHMT là bước tiếp theo của chiến lược BVMT và phải được tiến hành song song cùng với quy hoạch phát triển KTXH Công việc bảo vệ môi trường được thực hiện trên quy mô không gian lớn, thời gian dài, có ảnh hưởng đến mọi ngành, mọi người, nó chỉ được thực hiện tốt khi được kế hoạch hóa Điều đó có nghĩa là các mục tiêu phát triển KTXH được xem xét một cách tổng hợp với các mục tiêu cụ thể về môi trường
2.2.2 Vai trò của quy hoạch môi trường
Các vấn đề môi trường đang đặt ra sự lựa chọn đầy khó khăn trong quá trình phát triển Các mục tiêu môi trường phải được ưu tiên trong quy hoạch phát triển KTXH để tìm kiếm các giải pháp có hiệu quả nhất nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững Chính
vì vậy cần thiết phải tiến hành QHMT vì nó là cầu nối không gian giữa các chính sách BVMT với chính sách phát triển KTXH
Hoạt động phát triển của con người gắn liền với quá trình khai thác tài nguyên thiên nhiên và diễn ra ngày càng mạnh mẽ, liên tục Đồng thời môi trường cũng là nơi chứa đựng các loại chất thải sinh
ra từ các hoạt động của con người Quá trình khai thác tài nguyên
và xả thải dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về môi trường mà
về lâu dài rất khó khắc phục Vì vậy, cần phải xem xét mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên
Kế hoạch phát triển KTXH
Trang 23với các biện pháp quản lý và bảo vệ môi trường QHMT chính là cơ
sở khoa học quan trọng để ngay từ đầu chúng ta có thể đề xuất được các biện pháp và chính sách bảo vệ môi trường phù hợp với các mục tiêu phát triển được đề ra trong quy hoạch phát triển KTXH Như vậy, vai trò của QHMT là sự sắp xếp, tổ chức sử dụng lãnh thổ được lồng ghép trong quy hoạch phát triển KTXH làm sao
để đạt được sự cân bằng một cách tương đối giữa các hoạt động phát triển của con người với khả năng bảo vệ môi trường tự nhiên
2.3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG
2.3.1 Mục tiêu của quy hoạch môi trường
Mục tiêu cơ bản của QHMT là nhằm hợp lý hóa, tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn tài nguyên (dưới dạng vật chất và năng lượng) sẵn có của vùng đang xét mà không vượt quá khả năng chịu tải của vùng đó Môi trường tự nhiên chỉ có khả năng hạn chế, chỉ chịu đựng nổi các mức sử dụng, như thu hoạch, khai thác và chứa chất thải nhất định; mức giới hạn này được gọi là khả năng chịu tải (carrying capacity)
Quy hoạch môi trường phải đạt các mục tiêu chủ yếu sau đây:
- Đảm bảo chất lượng môi trường phù hợp với từng đơn vị không gian chức năng môi trường (có 4 chức năng cơ bản là: cung cấp tài nguyên, tổ chức sản xuất, tổ chức dân cư và chứa thải)
- Điều chỉnh các hoạt động phát triển và quản lý chất thải nhằm đảm bảo môi trường sống trong sạch cho con người
- Nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên
- Tổ chức quản lý môi trường theo khu vực hoặc theo vùng quy hoạch
2.3.2 Nhiệm vụ của quy hoạch môi trường vùng
Thực chất của công tác QHMT là việc tổ chức không gian lãnh thổ và sử dụng các thành phần môi trường phù hợp với chức
Trang 24năng môi trường và điều kiện tự nhiên trong vùng quy hoạch Mặt khác, không gian lãnh thổ đều được sử dụng cho các hoạt động kinh
tế – xã hội của con người Vì vậy, QHMT ngoài việc quy hoạch mới về chức năng môi trường không gian còn có thể điều chỉnh không gian và các thành phần môi trường đã có làm sao để việc khai thác sử dụng chúng phù hợp với chức năng môi trường của mình Như vậy, công tác QHMT là sự điều hòa sư phát triển của hệ thống Kinh tế – Xã hội – Môi trường đang tồn tại ở đó Mục tiêu của sự điều hòa này là đảm bảo một cách bền vững sự phát triển KTXH mà không vượt quá khả năng chịu đựng của môi trường tự nhiên
Dựa vào quy hoạch phát triển KTXH của một quốc gia, của từng ngành và từng vùng lãnh thổ, thực hiện việc xem xét đầy đủ mọi mặt về môi trường sinh thái, từ đó xây dựng QHMT Trong bản quy hoạch này, cần thiết phải đưa ra những khuyến nghị nhằm hợp lý hóa, tối ưu hóa quy hoạch phát triển KTXH
Để đảm bảo được sự thống nhất và phù hợp với mối quan hệ giữa QHMT với quy hoạch phát triển KTXH, trong quá trình xây dựng QHMT phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
1) Phối hợp lồng ghép với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch quản lý tài nguyên thiên nhiên, sử dụng đất
2) Đảm bảo chất lượng môi trường tại từng đơn vị không gian phù hợp với các tiêu chuẩn về môi trường: QHMT sẽ xem xét từng hoạt động phát triển (KTXH và quốc phòng an ninh), đánh giá các tác động tới môi trường từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm ngăn chặn và giảm thiểu những tác động bất lợi tới môi trường từ các hoạt động này Những đối tượng đánh giá ở đây là các yếu tố môi trường trong vùng quy hoạch dưới tác động đồng thời của nhiều hoạt động phát triển
3) Điều chỉnh các hoạt động phát triển: Trên cơ sở khoa học các chuyên gia môi trường sẽ tính toán, dự báo những tác động xấu
có hại tới môi trường trên diện rộng của các hoạt động trong tương
Trang 25lai, trong trường hợp không giải quyết được bằng những giải pháp công nghệ, sẽ kiến nghị điều chỉnh quy hoạch phát triển nhằm ngăn chặn những hiểm hoạ về môi trường
4) Tiết kiệm chi phí đầu tư xử lý môi trường: Theo tính toán của các chuyên gia, việc đầu tư cho công tác xử lý ô nhiễm sẽ tốn kém hơn rất nhiều so với việc ngăn chặn ô nhiễm ngay từ đầu QHMT sẽ đề xuất những giải pháp nhằm ngăn chặn ô nhiễm môi trườngngay từ đầu, vì vậy sẽ tiết kiệm được chi phí đầu tư cho công tác BVMT về sau này
5) Nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và đất đai tại vùng quy hoạch: QHMT sẽ giải quyết mối quan
hệ giữa khai thác và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, giữa việc phát triển KTXH và quốc phòng an ninh với bảo vệ môi trường nhằm duy trì “đời sống” của tài nguyên thiên nhiên và đất đai về lâu dài 6) Tổ chức quản lý môi trường theo vùng quy hoạch: Hệ thống quản lý môi trường và kiểm soát ô nhiễm cũng được đặc biệt quan tâm trong QHMT, nó sẽ đề xuất những giải pháp về nâng cao năng lực quản lý môi trường và quy hoạch mạng lưới giám sát môi trường cụ thể phù hợp với từng vùng quy hoạch
Tóm lại, nhiệm vụ chính của QHMT là đưa ra những cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống và không mâu thuẫn với mục tiêu phát triển KTXH ở tầm vĩ mô
2.4 KHÁI NIỆM VÙNG TRONG QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG
2.4.1 Vùng không gian và phân vùng lãnh thổ
Khái niệm “quy hoạch” thường được gắn liền với khái niệm
“vùng”, do vậy khi tiến hành QHMT thường được hiểu là QHMT cho một vùng
Vùng là gì ? vấn đề này đang tranh luận và có nhiều quan
Trang 26điểm khác nhau Tuy nhiên có lẽ quan niệm sau đây được nhiều người chấp nhận “Vùng là một bộ phận thuộc cấp phân vị của lãnh thổ có những đặc điểm về mặt tự nhiên và kinh tế - xã hội làm cho
nó có thể phân biệt với các vùng khác”
Từ cách đặt vấn đề trên, có thể đi đến việc xác lập các nguyên tắc phân vùng như sau:
- Thứ nhất là tính đồng nhất tương đối;
- Thứ hai là trình độ phát triển kinh tế- xã hội;
- Thứ ba là tính hữu hiệu của các điều kiện đảm bảo sự quản
lý lãnh thổ
Ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 1992, Bộ Khoa học, Công nghệ
& Môi trường đã đề xuất chương trình tổ chức lãnh thổ toàn Việt Nam, đấy là phương hướng tổ chức lãnh thổ hay còn gọi là quy hoạch lãnh thổ Về thực chất , tổ chức lãnh thổ là một phương hướng nhằm cải thiện và sửa chữa bằng những hành động nhằm sử dụng một cách có hiệu quả nhất các tài nguyên có trong một lãnh thổ nhất định, nó cũng còn có nhiệm vụ xóa bỏ dần các sự mất cân bằng về mặt kinh tế - xã hội giữa các đơn vị tham gia tạo vùng, nó cũng đòi hỏi phải có dự báo cho tương lai với các kịch bản nhất định cho sự phát triển của lãnh thổ không phải chỉ bằng các tỷ lệ tăng trưởng mà bằng tính hợp lý của sự phân bố không gian
Tổ chức lãnh thổ có 2 tính chất chủ yếu, đó là :
- Tính tổ chức: Tổ chức là sự sắp xếp, có tính phù hợp bên trong của tác động qua lại giữa các bộ phận ít nhiều được phân hóa
và độc lập của chỉnh thể nhất định được thể hiện ở sự giới hạn tính
đa dạng trong hoạt động của các bộ phận cấu thành chính thể với 2 mặt: tính sắp xếp và tính định hướng Tính sắp xếp được xác định
về lượng như độ lớn, quy mô của nó Tính định hướng đặc trưng là
sự phù hợp của hệ thống với các điều kiện của môi trường xung quanh
- Tính lãnh thổ: Lãnh thổ của đối tượng là độ lớn không gian
Trang 27của nó Trong bất cứ một lãnh thổ nào với một trình độ sản xuất nhất định, một tổng thể tự nhiên nhất định, một kết cấu tài nguyên nhất định sẽ có một cơ cấu kinh tế tương ứng Việc sử dụng các điều kiện tự nhiên kinh tế, lịch sử, vị trí địa lý khác nhau, là cơ sở của sự tác động qua lại các thành phần đó
Với cách nhìn về “ Vùng “và “ Tổ chức lãnh thổ “ như trên, trong vài ba thập niên tới, quá trình chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ cần định hướng căn bản và vững chắc vào việc tạo lập các “ Vùng động lực”, ”Cực phát triển” và “ Tuyến lực“
- Vùng động lực bao gồm các địa bàn trọng điểm, các vùng đô thị công nghiệp, các vùng sản xuất chuyên môn hóa, các khu công nghiệp, các khu chế xuất và các không gian kinh tế đặc biệt khác
- Cực phát triển bao gồm các thành phố lớn, vừa và nhỏ, các cửa khẩu, đặc biệt là các cảng biển nước sâu
- Tuyến lực thể hiện các mối liên hệ không gian giữa các cực phát triển, giữa và trong nội bộ các vùng động lực, bao gồm các hệ thống cấu trúc hạ tầng
Để giải quyết vấn đề phát triển của vùng, người ta bắt buộc phải sử dụng một cách hợp lý nhất các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiền, kinh tế, xã hội và đó cũng chính là mục tiêu cơ bản của QHMT
Trong phạm vi một quốc gia, vùng có thể được phân chia như sau (Hình 2.3):
Hình 2.3 Phân chia vùng trong phạm vi một quốc gia
Quốc gia
Trang 28- Theo lưu vực sông (LVS): bao gồm các tỉnh/thành phố nằm trong lưu vực sông như LVS Đồng Nai, LVS Hồng, LVS Cửu Long,
- Theo vùng kinh tế (VKT): bao gồm các vùng kinh tế trọng điểm, vùng kinh tế mở, vùng kinh tế đặc biệt, vùng đô thị công nghiệp tập trung…
- Theo đơn vị hành chính (ĐVHC): bao gồm tỉnh/thành, huyện/thị, phường/xã
2.4.2 Lựa chọn vùng trong quy hoạch môi trường
Như phân tích ở trên, vùng có qui mô rất khác nhau, có thể là một lưu vực sông hoặc một vùng kinh tế bao gồm rất nhiều tỉnh/thành phố, hoặc chỉ giới hạn trong một không gian nhỏ (hòn đảo) Trong một vùng lớn có thể được xem xét phân chia thành những tiểu vùng để công tác quy hoạch được thuận lợi hơn và chi tiết hơn Vì vậy, khi lựa chọn vùng cho việc lập QHMT trước tiên cần xem xét đến các yếu tố sau:
- Ranh giới không gian của vùng quy hoạch: những vấn đề môi trường có thể là không biên giới Ví dụ như việc khai thác tài nguyên ở đầu nguồn sẽ có những tác động mạnh mẽ đến hạ lưu, hoặc sự lan truyền chất ô nhiễm trong nước và không khí có thể từ vùng này sang vùng khác…Tuy nhiên, khi tiến hành lập quy hoạch môi trường cần xác định không gian cho vùng quy hoạch, có thể gọi là không gian qui ước, ranh giới của vùng thường được xác định theo ranh giới hành chính để thuận lợi cho việc quy hoạch Những vấn đề môi trường trong vùng được xem xét đồng thời với những tác động từ bên ngoài (vùng lân cận)
- Tổ chức và thể chế: để QHMT có tính khả thi cần có một hoặc một số cơ quan quản lý hành chính có đủ thẩm quyền chịu trách nhiệm về nhưng vấn đề phát triển vùng như việc khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên và giải quyết các vấn đề môi trường trong vùng; có quy hoạch phát triển KTXH và quy hoạch sử dụng đất được một hoặc một số cơ quan có thẩm quyền của nhà nước phê
Trang 29duyệt Do vậy, các câu hỏi sau đây cần phải được làm rõ: Cơ quan nào chịu trách nhiệm lập QHMT ? Cơ quan nào phê duyệt QHMT ?
Cơ quan nào thực hiện QHMT ? Cơ quan nào giám sát QHMT ?
- Mức độ chi tiết của QHMT : phụ thuộc vào qui mô vùng quy hoạch Đối với một LVS, QHMT ở đây chỉ xem xét những vấn
đề mang tính liên tỉnh, ví dụ như những vấn đề về sử dụng và khai thác tài nguyên thiên nhiên chung của toàn bộ lưu vực (rừng đầu nguồn, nước mặt và nước ngầm, khoáng sản,…), các vấn đề về phát triển kinh tế (đô thị và công nghiệp, giao thông vận tải, nông nghiệp, lâm nghiệp…) Để có một bản quy hoạch chi tiết hơn, trong một vùng lớn nên phân chia thành những tiểu vùng đồng thời lựa chọn những tiểu vùng « nóng » để nghiên cứu điển hình, đồng thời đánh giá sự ảnh hưởng giữa các tiển vùng với nhau
Ở cấp độ qui mô một tỉnh hay thành phố, QHMT được lập với mức độ chi tiết cao hơn, các giải pháp phải cụ thể hơn sát thực với địa phương quy hoạch
2.4.3 Phân cấp quy hoạch môi trường vùng
QHMT vùng được lập, tổ chức thực hiện và giám sát thông qua hệ thống quản lý nhà nước về BVMT và được phân cấp như trong Bảng 2.1 sau đây
Trang 30Bảng 2.1 Phân cấp quy hoạch môi trường theo vùng
TT Cấp
QHMT
Cơ quan lập QHMT
Cơ quan phê duyệt QHMT
Cơ quan thực hiện QHMT
Cơ quan giám sát QHMT
Những vấn đề cơ bản của QHMT
1 Cấp VKT Bộ
TN&MT
Chính phủ (Thủ tướng)
Các tỉnh/
thành phố
và các bộ/ngành liên quan
Thanh tra
Bộ TN&MT
- Các vấn đề phát triển KTXH của toàn vùng
- Các vấn đề về quy hoạch sử dụng đất đai của toàn vùng, đặc biệt là quy hoạch hệ thống đô thị
và công nghiệp
- Các vấn đề khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của toàn vùng
- Tỉ lệ bản đồ 1/500.000 – 1/250.000
2 Cấp LVS Bộ
TN&MT
Chính phủ (Thủ tướng)
Các tỉnh/
thành phố
và các bộ/ngành liên quan
Thanh tra
Bộ TN&MT
- Các vấn đề phát triển KTXH của toàn lưu vực
- Các vấn đề về quy hoạch sử dụng đất đai của toàn lưu vực
- Các vấn đề khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của toàn lưu vực Đặc biệt là nguồn nước
Trang 31TT Cấp
QHMT
Cơ quan lập QHMT
Cơ quan phê duyệt QHMT
Cơ quan thực hiện QHMT
Cơ quan giám sát QHMT
Những vấn đề cơ bản của QHMT
- Tỉ lệ bản đồ 1/500.000 – 1/250.000
Chính phủ (Thủ tướng)
Các tỉnh/
thành phố
và sở/ngành liên quan
Thanh tra
Bộ TN&MT
- Các vấn đề phát triển KTXH của địa phương
- Các vấn đề về quy hoạch sử dụng đất đai của địa phương
- Các vấn đề khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của địa phương
- Tỉ lệ bản đồ 1/50.000 – 1/100.000
UBND tỉnh (Chủ tịch)
Các huyện/thị
và các ban/ngàn
h liên quan
Thanh tra
Sở TN&MT
- Các vấn đề phát triển KTXH của địa phương
- Các vấn đề về quy hoạch sử dụng đất đai của địa phương
- Tỉ lệ bản đồ 1/100.000 – 1/50.000
5 Cấp vùng
ĐTCN tập
trung
Sở TN&MT
UBND tỉnh (Chủ tịch)
Các huyện/thị
và các
Thanh tra
Sở TN&MT
- Các vấn đề về quy hoạch sử dụng đất đai của vùng
- Các vấn đề phát triển đô thị và
Trang 32TT Cấp
QHMT
Cơ quan lập QHMT
Cơ quan phê duyệt QHMT
Cơ quan thực hiện QHMT
Cơ quan giám sát QHMT
Những vấn đề cơ bản của QHMT ban/ngàn
h liên quan
công nghiệp của vùng
- Tỉ lệ bản đồ 1/50.000 – 1/25.000
Trang 332.4.4 Khái niệm vùng đô thị công nghiệp
Thực tế tại Việt Nam và trên thế giới cho thấy, phát triển đô thị và phát triển công nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau, chỗ nào phát triển dân cư đô thị thì chỗ đó tất yếu sẽ phát triển sản xuất công nghiệp và ngược lại, đồng thời phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các loại hình dịch vụ kèm theo phục vụ cho đời sống của dân cư và sản
xuất công nghiệp Chính vì vậy xuất hiện khái niệm “Vùng
đô thị công nghiệp (VĐTCN)”, nó đóng vai trò là hạt nhân
phát triển của một địa phương hay một vùng lớn hơn Đồng thời tại đây cũng nảy sinh nhiều vấn đề môi trường liên quan đến quá trình phát triển vùng
Có thể nêu khái niệm VĐTCN như sau: “Vùng đô thị công nghiệp là một vùng không gian thuộc một tỉnh/thành ở
đó quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá có mối quan hệ hữu cơ với nhau, có vai trò lôi kéo, thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh tế xã hội khác trong vùng”
VĐTCN trước tiên phải là một đô thị, ở đó gắn liền với quá trình đô thị hoá là sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp với sự hình thành các khu công nghiệp tập trung và các cụm công nghiệp, tiếp theo là sự phát triển thương mại, dịch vụ và cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội phục
vụ cho đời sống của dân cư và hoạt động sản xuất công nghiệp trong vùng
Về mặt không gian, VĐTCN có ranh giới hành chính
rõ ràng, có thể là một đô thị hoàn chỉnh, có thể là một số quận trong một đô thị hoặc có thể là một vùng được quy hoạch hoàn chỉnh cho mục đích phát triển công nghiệp và
đô thị (ví dụ khu kinh tế Dung Quất, khu kinh tế mở Chu Lai…)
Tại nước ta với tốc độ nhanh chóng của quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá như hiện nay đã và đang xuất hiện
Trang 34nhiều VĐTCN tại các tỉnh, thành phố trên cả nước Đặc biệt tại các đô thị lớn như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng,
Đà Nẵng, Cần Thơ, Biên Hoà, Vũng Tàu…
Để nhận biết những đặc điểm cơ bản của một VĐTCN, chúng ta có thể dựa vào một số chỉ tiêu về sử dụng đất đai, các chỉ tiêu về phát triển công nghiệp – dịch vụ, các chỉ tiêu
về dân số và lao động tham gia vào hoạt động sản xuất công nghiệp và dịch vụ, các chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng kỹ thuật –
xã hội quyết định sự hình thành và phát triển của một đô thị,
…
Căn cứ vào sự phát triển của các đô thị tại Việt Nam hiện nay có thể xem xét các tiêu chí và chỉ tiêu sau để xác định một vùng được coi là VĐTCN:
Bảng 2.2 Tiêu chí xác định vùng đô thị công nghiệp
tiêu cần đạt
1 Tỉ lệ đất sử dụng cho phát triển đô thị và
công nghiệp so với tổng diện tích đất tự
nhiên toàn vùng
≥ 60%
2 Tỉ lệ lao động trong tổng số lao động
tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào sản
xuất công nghiệp và dịch vụ
≥ 80%
3 Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp và
dịch vụ so với tổng giá trị GDP toàn
vùng
≥ 70%
4 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội hoàn
chỉnh phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt
của cư dân trong vùng
Hoàn chỉnh
Về đất đai: Đất đai nằm trong VĐTCN phần lớn được
sử dụng cho mục đích chính là phát triển đô thị, sản xuất
Trang 35công nghiệp và dịch vụ (đất phi nông nghiệp) Ngoài ra, một phần nhỏ đất nông nghiệp được sử dụng cho các mục đích khác như nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản… Tuy nhiên, đất nông nghiệp chỉ tồn tại trong thời kỳ quá độ, sau đó sẽ dần dần được chuyển quyền sử dụng thành đất phi nông nghiệp Điều này thường thấy ở các đô thị Việt Nam khi mà quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đang diễn ra
Về dân cư: Dân cư trong vùng sống và làm việc theo
phong cách và lối sống thành thị do nhu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, thương mại, dịch vụ và giao lưu quốc tế Như vậy, sự tăng trưởng về không gian vùng là kết quả của
sự kết hợp giữa hai yếu tố là: việc phát triển dân số và phát triển sản xuất để tăng trưởng kinh tế, nó kéo theo việc tăng mức sử dụng không gian theo đầu người của dân thành thị
Về sản xuất công nghiệp: Nền công nghiệp được đầu
tư theo chiều sâu, tận dụng các cơ sở công nghiệp sẵn có trong vùng, đồng thời áp dụng công nghệ tiên tiến để phát triển sản xuất, tạo việc làm để thu hút lượng lao động dư thừa ở nông thôn mà không phải di dân vào đô thị; đi đôi với việc phát triển dịch vụ công cộng, cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống cho mọi người dân
Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội: Cần đảm bảo
những yêu cầu cơ bản sau:
1) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: hệ thống giao thông, cấp nước, thoát nước, cấp điện, chiếu sáng, thông tin, viễn thông, bưu điện, v.v
2) Cơ sở hạ tầng xã hội: nhà ở, bệnh viện, trạm y tế, trường học, các công trình phục vụ lợi ích công cộng như công viên, cây xanh và các khu vực giải trí thoả mãn nhu cầu sinh hoạt văn hoá của cộng đồng, v.v
3) Cơ sở dịch vụ: nhà hàng, khách sạn, siêu thị, chợ, v.v
Trang 364) Bảo vệ môi trường: hệ thống thu gom và xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn và chất thải nguy hại, nghĩa trang, v.v
Khi tiến hành quy hoạch sử dụng đất cho một VĐTCN chúng ta không chỉ tính đến những hiệu quả về kinh tế và xã hội do khai thác, sử dụng đất mang lại, mà còn cần phải xem xét đến các tác động bất lợi do khai thác, sử dụng đất tới môi trường Các tác động tổng hợp này có thể gây ra những hậu quả xấu, kìm hãm phát triển KTXH của vùng nói chung
và gây ra các xung đột giữa các ngành nói riêng Để phòng ngừa và hạn chế các xung đột môi trường trong quá trình khai thác, sử dụng đất cần phải lập QHMT gắn với quy hoạch sử dụng đất nhằm tạo ra công cụ pháp lý để điều chỉnh quy hoạch phát triển giữa các ngành theo định hướng phát triển bền vững
Trang 37CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP LẬP QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG
Cụ thể từng bước được triển khai như sau:
1) Giai đoạn chuẩn bị:
Giai đoạn này tập trung chủ yếu vào công tác tổ chức:
- Thành lập Ban chỉ đạo lập QHMT tại vùng quy hoạch, ví dụ tại một địa phương cấp tỉnh/thành bao gồm: đại diện UBND tỉnh/thành phố, Sở TN&MT, UBND các quận/huyện, tổ chức quần chúng và đại diện các sở, ban ngành của địa phương (Khi lập QHMT cho một vùng kinh
tế hoặc một lưu vực sông thì thành phần sẽ khác)
Trang 38- Thành lập nhóm quy hoạch bao gồm: Sở TN&MT, các đơn vị tư vấn về các lĩnh vực quy hoạch, môi trường, địa chính, bản đồ… Đây là nhóm chính triển khai công tác lập QHMT
Các tổ chức nêu trên sẽ tiến hành xây dựng chức năng nhiệm vụ, cơ chế hoạt động, cơ chế phối hợp và phân công nhiệm vụ cho từng thành viên
2) Lập quy hoạch:
Giai đoạn này triển khai các công việc sau đây:
- Xác định quan điểm và mục tiêu QHMT phù hợp với địa phương
- Thu thập và xử lý các thông tin cần thiết cho việc lập quy hoạch: thông tin về điều kiện tự nhiên, thông tin về kinh
tế và xã hội, thông tin về sử dụng đất, thông tin về môi trường…
- Đánh giá hiện trạng và dự báo diễn biến môi trường dưới tác động của quá trình phát triển KTXH
- Xây dựng các kịch bản (phương án) quy hoạch nhằm giảm thiểu các tác động bất lợi tới môi trường
- Phân tích, lựa chọn phương án tối ưu
- Đề xuất những điều chỉnh quy hoạch
- Lập kế hoạch thực hiện quy hoạch
Sản phẩm cuối cùng của giai đoạn này là Báo cáo thuyết minh quy hoạch môi trường kèm theo bộ bản đồ minh hoạ
3) Phê duyệt quy hoạch:
Bản Báo cáo thuyết minh quy hoạch môi trường sẽ được trình lên Ban chỉ đạo xem xét và đóng góp ý kiến
Trang 39Sau khi có ý kiến của Ban chỉ đạo, nhóm quy hoạch chỉnh sửa lần cuối và trình phê duyệt
4) Thực hiện và giám sát quy hoạch:
Sau khi được phê duyệt QHMT, các cơ quan ban ngành sẽ triển khai thực hiện QHMT theo sự phân công Trong quá trình thực hiện quy hoạch Sở TN&MT cần thẩm định tiến độ theo định kỳ và có phản hồi, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch khi cần thiết
Việc giám sát nhằm thu thập các thông tin phản hồi về tình hình thực tế của môi trường sau khi quy hoạch được thực thi Đồng thời, nó còn đóng vai trò xác định các tác động đã được dự báo trước đây có xẩy ra hay không và khả năng xảy ra các tác động đột xuất khác trong quá trình phát triển Những thông tin này cần thiết cho việc điều chỉnh quy hoạch Cơ quan giám sát quy hoạch do Thanh tra Sở TN&MT thực hiện
5) Điều chỉnh quy hoạch:
Trong quá trình triển khai thực hiện QHMT sẽ phát sinh những vấn đề cần phải điều chỉnh xuất phát từ những nguyên nhân sau:
- Quy hoạch phát triển KTXH và quy hoạch các ngành được điều chỉnh;
- Có những tác động phát sinh mà trong quá trình lập quy hoạch chưa dự báo được
Cơ quan lập QHMT sẽ tiến hành điều chỉnh quy hoạch dựa trên những thông tin mới thu thập được sao cho phù hợp với thực tiễn phát triển của vùng quy hoạch
3.1.2 Những nội dung chính của QHMT vùng
1) Điều tra thu thập các thông tin về điều kiện tự
Trang 40nhiên, phát triển KTXH, sử dụng đất, hiện trạng môi trường tại vùng quy hoạch:
Để thực hiện nội dung này cần kế thừa, tổng hợp có chọn lọc tất cả các nghiên cứu có liên quan và các tư liệu về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, tài nguyên và môi trường của vùng quy hoạch từ các cơ quan và các chuyên gia trong
và ngoài nước Đây vừa là một nguyên tắc trong nghiên cứu khoa học, đồng thời cũng sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức và kinh phí
Các tư liệu, số liệu được thu thập thường mang tính riêng lẻ, theo chuyên ngành và thiếu tính đồng bộ, gây nhiều khó khăn cho việc xử lý tổng hợp Vì vậy cần thiết phải kiểm tra lại ngoài thực địa và điều tra, khảo sát bổ sung theo một hệ thống tiêu chí lựa chọn, đặc biệt là đối với các khu vực trọng điểm nghiên cứu và những vùng mang tính chất then chốt
Các thông tin cơ bản cần thu thập như trong Bảng 3.1 dưới đây:
Bảng 3.1 Các thông tin cơ bản cần thu thập
1.3 Khí hậu, thời tiết, thuỷ văn;
1.4 Đặc điểm về tai biến tự nhiên;
1.5 Tài nguyên nước mặt; tài nguyên nước ngầm;
1.6 Tài nguyên đất đai;
1.7 Tài nguyên, khoáng sản…