Thứ ba, những nghiên cứu của các học giả miền Nam từ năm 1954 đến năm 1975, đây là một giai đoạn xuất hiện nhiều bài viết về mối giao lưu văn hóa Việt Chăm trên nhiều lĩnh vực từ lịch sử
Trang 1Lêi Cam ®oan T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu vµ kÕt qu¶ trong luËn v¨n lµ trung thùc Nh÷ng ý kiÕn khoa häc trong luËn v¨n cha ®îc ai c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c
Hµ Néi, ngµy th¸ng n¨m 2009
T¸c gi¶ luËn v¨n
§inh §øc TiÕn
Trang 2Mục lục
mở đầu
Chương 1: Tổng quan về qua hệ Việt - Chăm ở Thăng Long - Hà Nội
trong bối cảnh lịch sử Việt Nam Cổ Trung đại
1.2.1 Quan hệ với Đại Việt thời Lý - Trần 20
1.2.3 Quan hệ với chúa Nguyễn ở Đàng Trong 30
Chương 2: Những dấu ấn văn hóa Chăm ở Thăng Long - Hà Nội
2.1.1 Dấu ấn Chăm qua hiện vật khảo cổ học ở Thăng Long - Hà Nội 45
2.2.1 Dấu ấn về con người, ngôn ngữ, văn chương 68
3.2 Đặc điểm dấu ấn văn hóa vật thể và phi vật thể Chăm ở Thăng Long 96 3.2.1 Đặc điểm của dấu ấn văn hóa vật thể 96 3.2.2 Đặc điểm của dấu ấn văn hóa phi vật thể 99
3.3 Đặc điểm biến đổi của những dấu ấn văn hóa Chăm ở Thăng Long - Hà
Nội
105 3.3.1 Sự Việt hóa những dấu ấn văn hóa Chăm ở Thăng Long - Hà Nội 105 3.3.2 Sự cộng cư Việt - Chăm ở Thăng Long - Hà Nội 107
Trang 4mở đầu
1 Tính cần thiết của đề tài
Việt Nam có vị trí cầu nối giữa đông và tây, giữa hải đảo và lục địa, nằm trong tầm ảnh hưởng của các nền văn minh lớn,nên giao thoa - tiếp biến văn hóa đã trở thành một đặc điểm thường xuyên và nổi bật trong lịch sử quốc gia nói chung và của Thăng Long - Hà Nội nói riêng Đã có nhiều công trình nghiên cứu về các mối giao thoa giữa văn hóa Việt với các nền văn hóa khác, trong đó có giao thoa văn hóa Việt - Chăm Tuy nhiên, nghiên cứu giao thoa văn hóa Việt -Chăm ở Bắc Bộ nói chung và Thăng Long - Hà Nội nói riêng chưa được các học giả chú ý một cách đầy đủ và có hệ thống
Năm 2010, Thủ đô kỷ niệm tròn 1000 năm tuổi (1010 - 2010), việc nghiên cứu, tìm hiểu và nhận diện sâu sắc quá trình giao thoa văn hóa Việt - Chăm thông qua những dấu ấn để lại trên địa bàn Hà Nội chính là góp phần sinh
động, sâu sắc thêm quá trình lịch sử, văn hoá của mảnh đất ngàn năm văn hiến này
Bên cạnh những lý do khách quan như vậy, sau khi thực hiện khóa luận
tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành Lịch sử văn hóa Cụm di tích ở Phú Gia, Phú Thượng, Tây Hồ và lễ hội chính của nó vào năm 2000 đã giúp tôi nhận thấy
những dấu vết văn hóa Chăm ở đây Khi về công tác tại tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, có điều kiện mở rộng nghiên cứu tôi đã nhận thấy những dấu vết văn hoá Chăm còn xuất hiện ở nhiều khu vực khác trên địa bàn Hà Nội Những chuyên đi công tác và khảo sát khu vực miền Trung tạo điều kiện cho tôi so sánh những dầu tích văn hoá Chăm ở Hà Nội với địa bàn gôc văn hoá gốc, đặc biệt là ở Ninh Thuận - địa bàn cư trú lâu đòi, liên tục của người Chăm (trong lịch sử và cho đến tận ngày nay)
Tích hợp những kiến thức trên, tôi đã đề xuất đề tàì Những dấu ấn văn hóa Chăm ở Hà Nội
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Trang 5- Hệ thống tư liệu lịch sử thành văn (Biên niên sử, các tư liệu khác như: bia ký, gia phả ) về các dạng quan hệ Việt- Chăm diễn ra ở khu vực Thăng Long - Hà Nội
- Tìm hiểu những dấu tích văn hóa Chăm trong xã hội Việt ở khu vực Thăng Long - Hà Nội
Phạm vi không gian nghiên cứu của đề tài tập trung vào địa bàn Hà Nội trước khi mở rộng vào ngày 1 tháng 8 năm 2008, gồm 9 quận Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Thanh Xuân, Tây Hồ, Cầu Giấy, Hoàng Mai, Long Biên; và 5 huyện ngoại thành: Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn
Về thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu dấu ấn Chăm để lại ở Thăng Long - Hà Nội thời kỳ phong kiến Việt Nam tự chủ từ thế kỷ 10 đến trước thế
kỷ 19
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tiếp xúc văn hóa Việt- Chăm nói chung và dấu ấn văn hóa Chăm ở Thăng Long - Hà Nội là chủ đề không mới nhưng luôn hấp dẫn các nhà nghiên cứu khoa học bởi tính bất ngờ mỗi khi những tư liệu mới được phát hiện và nhận diện
Nhìn lại quá trình tìm hiểu, nghiên cứu có liên quan đến chủ đề này, chúng tôi thấy nổi bật:
Thứ nhất, là các học giả Pháp tìm hiểu về vương quốc Chămpa từ hồi
đầu thế kỷ XX, qua những phát hiện về những ngôi tháp Chăm nằm rải rác miền Trung Việt Nam Bên cạnh đó đã có học giả nghiên cứu mối giao thoa văn hóa Việt - Chăm, tuy nhiên, đã diễn ra muộn hơn so với các nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử, văn hóa Chăm ở miền Trung Các nghiên cứu về mối giao lưu này chỉ tìm hiểu trên tổng thể chung nhất, mà không đi sâu vào những trường hợp cụ thể của khu vực Thăng Long - Hà Nội Có thể kể đến
Gravelle H với L’art Annamite (Nghệ thuật Annam) xuất bản năm 1915;
Trang 6Claeys J.Y với Introdution à l’étude de l’Annam et du Chapa Les Cham Les Annamites (Nhập môn nghiên cứu về Annam và Champa Người Chăm Người Việt) công bố năm 1934; Parmentier Henri, Mercier R với élements anciens d’architecture au nord Viet Nam (Yếu tố cổ đại trong kiến trúc miền Bắc Việt Nam) công bố vào năm 1945; Bezacier L với Attitude inhabituelle commune aux arts Cam et Vietnam du dragon - makara et du lion (Tư thế khác thường
của rồng - makara và sư tử bắt gặp trong nghệ thuật Chăm lẫn Việt Nam) công
bố vào năm 1961
Thứ hai, đó là các học giả "Tây học" người Việt, tuy nhiên những công trình nghiên cứu của họ cũng chỉ dừng lại ở những mối quan hệ Việt - Chăm nói chung, mà chưa đi vào tìm hiểu quá trình giao thoa - tiếp biến ở Thăng Long - Hà Nội nói riêng, hay Bắc Bộ nói chung Chủ yếu, các công trình này
đề cập đến quá trình Nam tiến của người Việt và những tác động của văn hóa
Chăm đối với văn hóa Việt
Thứ ba, những nghiên cứu của các học giả miền Nam từ năm 1954 đến năm 1975, đây là một giai đoạn xuất hiện nhiều bài viết về mối giao lưu văn hóa Việt Chăm trên nhiều lĩnh vực từ lịch sử, ngôn ngữ, văn học, khảo cổ và nghệ thuật học… Các công trình được xuất bản dưới dạng sách hoặc được
đăng tải trên các tạp chí như Văn Đàn, Phổ thông, Văn hóa nguyệt san… Do trong hoàn cảnh chiến tranh, đất nước bị chia cắt làm hai miền, nên những nghiên cứu của các học giả miền Nam vào thời kỳ này chỉ dừng lại ở khu vực vương quốc Chămpa trong lịch sử và những cuộc Nam tiến của cha ông mà thôi Những mối quan hệ và giao thoa văn hóa Việt Chăm ở phía Bắc và khu vực Thăng Long hầu như chưa thấy đề cập tới Tuy nhiên, tác giả Tạ Chí Đại
Trường với Thần người và đất Việt được công bố lần đầu lần đầu vào năm
1970, rồi sau này được xuất bản tại California, Mỹ vào năm 1989 (và xuất bản
ở Việt Nam vào năm 2006) có nhiều chi tiết nhắc tới những dấu ấn tôn giáo
tín ngưỡng của Chăm trên đất Thăng Long - Hà Nội Hay Triều đình, đất
Trang 7nước Lê Trịnh ở thế kỷ XVII: Từ Bà Đanh đến thần Bạch Mã, công bố vào
tháng 9 năm 2007 trên talawas, đề cập đến những tác động của đời sống xã hội đến đời sống tôn giáo, tín ngưỡng, đặc biệt có nhắc tới hình ảnh thờ phồn thực của Chăm đã ảnh hưởng tới hệ thống thờ thần Bạch Mã ở Đại Việt nói chung và Thăng Long nói riêng
Thứ tư, những công trình nghiên cứu của giới học giả Việt Nam nói chung (gồm một vài công trình xuất hiện ở miền Bắc và đặc biệt là từ sau ngày giải phóng cho đến nay) đã có những tìm hiểu về văn hóa Chăm nói riêng và mối quan hệ giao thoa Việt Chăm nói chung Các công trình được
đăng tải nhiều trên các tạp chí khoa học như: Sử Địa, Nghiên cứu Lịch sử, Dân tộc học, Khảo cổ học, Văn hóa Nghệ thuật, Văn học, Nghiên cứu Đông Nam
á, Xưa Nay… cùng rất nhiều các cuốn sách lần lượt được xuất bản Có thể chia thành hai nhóm nghiên cứu, thứ nhất là các học giả xuất hiện sau năm
1954 cho đến trước năm 1975 Tuy nhiên số lượng công trình nghiên cứu giao lưu văn hóa Việt Chăm không nhiều, chủ yếu nằm trong các cuốn giáo trình lịch sử Việt Nam Và được nhắc tới rất chung chung mà không đi vào nghiên cứu trường hợp cụ thể ở Hà Nội Thứ hai là các học giả sinh sống sau năm
1975, khi đất nước đã được thống nhất, các nhà nghiên cứu có nhiều điều kiện tiếp cận trực tiếp với văn hóa Chăm trên nhiều lĩnh vực: sử học, dân tộc học, khảo cổ học, văn học, ngôn ngữ học, nghệ thuật học Rất nhiều công trình nghiên cứu về quá trình giao thoa văn hóa Việt - Chăm nói chung đã được để tâm nghiên, cứu với một khối lượng tài liệu không nhỏ Tuy nhiên, những công trình hay bài viết có tính hệ thống về những dấu ấn văn hóa Chăm ở Thăng Long - Hà Nội lại không thấy xuất hiện Chúng ta chỉ bắt gặp những phát hiện hay những nghiên cứu trường hợp đơn lẻ về dấu ấn/ mối giao thoa Việt Chăm này Có thể điểm lại một vài bài viết, công trình mà nội dung có liên quan ít nhiều đến đề tài của luận văn như: phát hiện khảo cổ học của
Nguyễn Xuân Diện về Những pho tượng phỗng Chàm trong các di tích ở Hà
Trang 8Nội; Công Phương Khương với Làng Phú Gia từ truyền thống tới hiện tại vào năm 1999; Nguyễn Tiến Đông và Nguyễn Hữu Thiết về Hai bức tượng Chăm
ở chùa Bạch Sam (Hà Nội) vào năm 2004, Trần Anh Dũng, Trần Thị Trúc
Đào về Tượng uyên ương thời Lý ở chùa Bà Tấm, Phật tích, Dạm… vào năm
2007 Hay công trình nghiên cứu của Chu Xuân Giao về Nhà vua giữa dòng xoáy đa chiều: truyện Hà Ô Lôi từ nhiều góc nhìn, với trung tâm là sex và vương quyền Khẳng định một câu truyện Hà Ô Lôi trong Lĩnh Nam Chích quái vào năm 2007, với một người Chăm điển hình đại diện cho những “tù
binh Chiêm Thành” sống ở Đại Việt nói chung và Thăng Long nói riêng về quá trình hòa huyết, tiếp nhận văn hóa của người Việt
Nhìn chung những nghiên cứu về giao thoa văn hóa Việt - Chăm có một khối lượng khá nhiều và liên tục trong suốt thể kỷ XX và đầu thế kỷ XXI Tuy nhiên, những nghiên cứu trường hợp về giao thoa văn hóa Việt - Chăm ở Thăng Long - Hà Nội chỉ diễn ra trong giai đoạn sau này (vào khoảng những năm 90 của thế kỷ XX và đầu những năm 2000) Mặc dù vậy trong tổng thể các công trình nghiên cứu có tính chất chung như vậy đã xuất hiện một số tác phẩm tìm nhắc tới trường hợp giao thoa - tiếp biến tại Hà Nội Có thể nói, những dấu ấn hay quá trình giao thoa văn hóa Việt - Chăm ở Thăng Long - Hà Nội chỉ dừng lại ở những nghiên cứu trường hợp nhỏ lẻ, thiếu hệ thống Những phát hiện, nghiên cứu giao thoa văn hóa Việt - Chăm ở Thăng Long - Hà Nội chỉ thông qua những phát hiện khảo cổ học là chủ yếu
Trang 9+ Tổng hợp lại tư liệu thư tịch và đối chiếu lại với tư liệu hiện vật, rồi mô tả, rút ra những kết luận khoa học để hoàn thành luận văn
Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng những kỹ năng của các chuyên ngành khác như: mỹ thuật, kiến trúc, khảo cổ học, văn học, ngữ âm học…
5 Đóng góp của luận văn
Qua tìm hiểu những dấu ấn văn hóa Chăm của Hà Nội, luận văn :
+ Giới thiệu và hệ thống những dấu tich văn hoá (vật thể, phi vật thể) của văn hoá Chăm trên địa bàn Thăng Long - Hà Nội
+ Góp phần nhận diện các yếu tố văn hóa Chăm trên đất Thăng Long- Hà Nội
từ quá khứ tới hiện tại
+ Góp phần làm cụ thể, đa dạng hơn quá trình và nội dung Giao thoa văn hóa Việt Nam tại Thăng Long- Hà Nội
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận án gồm có:
Trang 10Chương 1
Tổng quan về quan hệ Việt - chăm ở Thăng long - hà nội
trong bối cảnh lịch sử việt nam cổ -trung đại
1.1 Trước năm 1010
1.1.1 Quan hệ với chính quyền đô hộ
Việc phân chia niên đại thành các giai đoạn lịch sử trong bối cảnh giao lưu với văn hóa Việt - Chăm chúng tôi dựa trên những sự kiện/ dấu mốc lớn của lịch sử Việt Nam Những dấu mốc này như một căn cứ cho chúng tôi dựa vào tìm hiểu trong mối quan hệ giữa Đại Việt và Chămpa trong lịch sử Hơn nữa, trong giai đoạn này, Thăng Long chưa trở thành kinh sư - trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội của Đại Việt Việc định hình một thành Đại La - Tống Bình, giai đoạn tiền Thăng Long cho thấy những giao lưu ban đầu, nhưng quá trình giao thoa - tiếp biến văn hóa giữa Việt với Chăm ở khu vực này chưa có nhiều dấu ấn sâu đậm Hơn nữa với nguồn sử liệu hạn chế, chỉ cho phép rút ra những kết quả hiện thời mà thôi
Quan hệ với chính quyền đô hộ thời kỳ đầu lập quốc (từ trước 192
đến 248)
Quan hệ giữa chính quyền đô hộ với Chămpa trong giai đoạn này chủ yếu xảy ra theo con đường chiến tranh, trong sử chép gần như không thấy xuất hiện những mối quan hệ giao hảo, triều cống nào Mặc dù vậy, mối quan hệ này được bắt đầu từ rất sớm, khi đó, nhà nước Chămpa chưa định hình, cư dân Chăm vẫn là người của quận huyện dưới sự cai trị của chính quyền đô hộ Hơn nữa, do địa hình hiểm trở, Lâm ấp (Chămpa) lại ở quá xa xôi, chính quyền đô
hộ lại chưa có đủ mạnh để có thể với tới trực tiếp và mạnh mẽ Tuy nhiên, những sự kiện ít ỏi lại chủ yếu dựa trên những hoạt động quân sự này cũng cho ta có thể nhận thấy rằng, quá trình giao thoa - tiếp biến văn hóa đã diễn ra
từ rất sớm Theo Phan Khoang thì “đời vua Quang Võ nhà Đông Hán, năm 40,
ở Giao Chỉ, hai chị em Bà Trưng khởi nghĩa, man di ở Nhật Nam có hưởng
Trang 11ứng Nhà Hán sai Mã Viện sang đánh dẹp, không đầy 3 năm bình định hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân, nhưng quân Hán vào đến hai huyện Cự Phong, Vô Công của quận Cửu Chân rồi trở lui, chứ không vào đến quận Nhật Nam (tuy nhiên, Mã Viện cũng lập được cột trụ đồng để đánh dấu cương vực ở Hà Tĩnh
ngày nay - Đ.Đ.T chi tiết này có chép trong Toàn thư, tập 1, trang 93, sđd)
Đời vua Chương đế, năm 84, man di ở Nhật Nam có dâng tê và bạch trĩ lên vua Hán để tỏ lòng cung thuận” [53;17]
Năm 137 “Người Man ở huyện Tượng Lâm quận Nhật Nam (ở địa giới nước Việt Thường xưa) là bọn Khu Liên đánh quận huyện, giết trưởng lại Thứ
sử Giao Châu là Phàn Diễn đem quân châu và quận Cửu Chân hơn 10.000 người đến cứu” [74;94] Năm 138, “Mùa hạ, tháng 5, Thự ngự sử Giả Xương cùng với các châu quận hợp sức đánh bọn Khu Liên không được, bị Khu Liên
đánh vây, hơn một năm binh lương không tiếp tế được [74;94] Liên tục vào các năm 144, 160, 178, …(Các sách chính sử có chép khác nhau về niên đại các lần nổi dậy của người Lâm ấp (Chămpa) với chính quyền đô hộ) là các cuộc nổi dậy của người Nhật Nam chống lại triều đình Hán đô hộ Thông qua các sự kiện này, nhiều học giả như Georges Maspéro, Phan Khoang, Đào Duy Anh, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn… trong các công trình nghiên cứu đã
đều khẳng định, vào khoảng nửa cuối thế kỷ 2, với sự nổi dậy của Khu Liên, nhà nước Lâm ấp (tức vương quốc Chămpa) đã chính thức ra đời Mặc dù các học giả chưa thống nhất về niên điểm Chămpa chính thức lập quốc (G Maspéro cho rằng vào năm 192; Đào Duy Anh cho rằng vào năm 183; Phan Khoang vào năm 192…) Trong luận văn này, tôi tạm lấy niên điểm năm 192
là thời điểm lập quốc của Chămpa, như một dấu mốc quan trọng để có căn cứ làm việc
Sau khi lập quốc, tự nhận mình là Chàm/Chăm (Cam, Chămpa), sử Trung Hoa và Việt gọi là Lâm ấp, thì mối quan hệ/ giao thoa giữa chính quyền
đô hộ với Chămpa bắt đầu Những lần triều cống ít ỏi vào buổi đầu thành lập
Trang 12quốc gia khiến cho quá trình giao thoa bằng con đường hòa bình diễn ra rất hạn chế Tuy nhiên, nó cũng chính là căn cứ để cho các nhà khoa học sau này
đoán định về thời điểm lập quốc của Chămpa mà thôi “Năm 183, nước ở ngoài cõi Nhật Nam trở lại cống hiến, câu ấy có ám chỉ rằng người Man Di ở ngoài cõi Nhật Nam nổi lên bấy giờ đã lập thành nước, nhưng Hậu Hán Thư
chưa nói rõ là nước Lâm ấp mà thôi” [143;123] Trong rất nhiều sách sử của Trung Hoa, như Hậu Hán Thư, Tấn Thư… đều có chép việc Lâm ấp (Chămpa) sang triều cống Tuy nhiên, rất nhiều sự kiện như vậy không thấy có ghi trong
các cuốn sử Việt như Toàn Thư, Việt Sử lược… Có thể do đó là mối bang giao
trực tiếp giữa Lâm ấp (Chămpa) với triều đình phương Bắc mà không liên quan tới nước ta thời bị đô hộ Mặc dù vậy, sự kiện năm 248, “thừa dịp ở đất Cửu Chân, bà Triệu khởi binh đánh nhà Ngô, Lâm ấp đem quân xâm lấn hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân, phá hai thành này thành Bình địa… Lâm ấp chiếm
được thành Khu Túc” [53;20] Do không được ghi chép trong sử Việt, học giả
Phan Khoang phải trích nguồn từ Tam Quốc Chí, Ngô Chí, Lữ Đại truyện, do
Bắc thuộc thời kỳ đích Việt Nam, chương 59
Quan hệ với chính quyền đô hộ từ sau 248 đến năm 938
Việc định hình quốc gia Chămpa là một dấu mốc vô cùng quan trọng,
nó đánh dấu sự trưởng thành của một tộc người đã hội tụ đủ những tiêu chí cần thiết về thiết chế bộ máy nhà nước, hệ tư tưởng, luật pháp, chữ viết và cả
tổ chức quân đội nữa…, đặc biệt là tiêu chí khẳng định được một nền văn hóa
độc lập Chính vì vậy, khi quan hệ với chính quyền đô hộ trong thời gian tiếp theo, Chămpa đã mang tư cách là một quốc gia độc lập với đời sống văn hóa riêng biệt Khi quốc gia Chămpa đã được định hình thì chỉ một thời gian sau
đó, ở đất Việt, khởi nghĩa bà Triệu nổ ra (năm 248) Cho đến khi Ngô Quyền vương chấm dứt nghìn năm Bắc thuộc, đã liên tục xảy ra những cuộc đụng độ giữa Chămpa và chính quyền đô hộ
Trang 13Sau nhiều thế kỷ định hình và phát triển, Chămpa liên tục đem quân ra xâm lấn đất đai của Giao Chỉ và Cửu Chân, điều này làm chính quyền đô hộ vừa bực tức vừa lo sợ, nên đã cử quân đánh đuổi hoặc chống đỡ Sau sự kiện
248, đến “năm Quý sửu (353), mùa xuân, tháng 3 Nguyễn Phu nhà Tấn làm thứ sử Giao Châu, Phu đánh nước Lâm ấp, phá được hơn 50 lũy (Khi trước nhà Tấn bình nước Ngô, gọi quân ở Giao Châu về, thứ sử Giao Châu là Đào
Hoàng dâng thư nói: Giao Châu bên ngoài cách nước Lâm ấp chỉ độ vài nghìn dặm Tướng Di là Phạm Hùng đời đời trốn tránh làm giặc, tự xưng vương, nhiều lần đánh phá nhân dân Vả lại liền với nước Phù Nam, chủng loại rất nhiều, bè đảng dựa nhau, cậy thế đất hiểm không chịu thần phục Khi trước còn phụ thuộc nước Ngô thì nhiều lần cướp bóc, đánh phá quận huyện, giết hại trưởng lại…” [74;110 - 111]
Trong những năm cai trị của mình, nhà Tấn liên tục phải dẹp yên sự quấy nhiễu của Chămpa, liên tục phải chống đỡ vào năm 399 “mùa xuân, tháng 3 vua nước Lâm ấp là Phạm Hồ Đạt đánh lấy Nhật Nam và Cửu Chân, rồi lại cướp Giao Châu Đỗ Viện đánh phá được [74;111] Năm 413, “mùa xuân, tháng 2 vua nước Lâm ấp là Phạm Hồ Đạt cướp quận Cửu Chân Tuệ Độ
đánh chém được” Năm 415, “người Lâm ấp Cướp Giao Châu, châu tướng
đánh lại được” Năm 420 “mùa thu, tháng 7 Tuệ Độ sang đánh nước Lâm ấp, phá được, chém giết đến quá nửa Nước Lâm ấp xin hàng, Tuệ độ cho Những người bị Lâm ấp trước sau bị Lâm ấp cướp bắt đều trả lại cả Tuệ Độ ở Giao Châu, mặc áo vải ăn cơm rau, cấm thờ nhảm, làm nhà học, năm đói kém thì lấy lộc riêng để chẩn cấp Làm việc quan cẩn thận chu đáo cũng như việc nhà, lại dân sợ mà yêu Cửa thành đêm vẫn mở, ngoài đường không ai nhặt của rơi Khi Tuệ Độ chết, tặng tả tướng quân, cho con là Hoàng Văn làm Thứ sử" [74;112]
Sang đến triều Tống (thời Nam Bắc triều), chính quyền đô hộ đã từ chối nhận cống nạp của Chămpa Sự kiện năm 431 vào “mùa hạ, tháng 5, vua Lâm
Trang 14ấp là Phạm Dương Mại sai sứ sang cống nước Tống, xin lĩnh Giao Châu Tống
đế trả lời vì đường xa không cho” [74;113] Tiếng là triều cống nhưng thực chất Chămpa đang có ý đồ nhòm ngó Giao Châu, điều này khiến vua Tống sợ nhận cống nạp sẽ hợp thức hóa địa vị của Lâm ấp (Chămpa) về vùng đất mình
đang cai trị Năm 436, “mùa xuân, tháng 2, Tống đế sai Thứ sử Giao Châu là
Đàn Hòa Chi đánh nước Lâm ấp Trước kia vua Lâm ấp sang cống nhưng việc cướp bóc vẫn không thôi cho nên Tống đế sai Hòa Chi đi đánh… Dương Mại nghe tin quân Tống sang, sai sứ dâng biểu xin những người dân Nhật Nam bị bắt trước và nộp một vạn cân vàng, mười vạn cân bạc… Hòa Chi đến đồn Chu Ngô, sai Hộ tào tham quân của phủ là bọn Khương Trọng cơ đi trước đến gặp Dương Mại Dương Mại bắt lấy Hòa Chi giận tiến vây tướng của Lâm ấp là Phạm Phù Long ở thành Khu Túc Dương Mại sai tướng là Phạm Côn sa đạt
đến cứu Xác đem quân lẻn đường đón đánh Côn Sa Đạt phá tan được Tháng
5, bọn Hòa Chi lấy được thành Khu túc, chém Phù Long, thừa thắng tiến vào Tượng Phố Dương Mại đem quân cả nước đến đánh, lấy đồ bọc mình voi, trước sau không hở Xác nói: Ta nghe nước ngoài có giống sư tử, các giống thú đều sợ Mới chế hình sư tử để chống lại voi Quả nhiên, voi thấy đều sợ chạy Quân Lâm ấp thua to Hòa chi lấy được Lâm ấp Dương Mại cùng với con chỉ thoát được thân Lấy được đồ châu báu lạ không biết bao nhiêu mà kể Xác không lấy một thứ gì, ngày về nhà cũng chỉ có áo lược mà thôi” [74;113 - 114]
Sự kiện duy nhất xảy ra đánh dấu mối quan hệ giữa chính quyền đô hộ nhà Tùy với Lâm ấp (Chămpa) là vào năm 605, “mùa xuân, tháng giêng, Lưu Phương mới bình định đất nước ta, bầy tôi nhà Tùy có người nói rằng nước Lâm ấp có nhiều của báu lạ, Tùy đến bèn cho Phương làm Hoan Châu đạo hành tổng quản, trù tính việc đánh Lâm ấp Phương sai bọn thứ sử Khâm châu Ninh Trường chân đem hơn 1 vạn quân bộ và quân kỵ mã xuất tự Việt Thường, Phương thân suất lãnh bọn đại tướng quânTrương Tốn đem thủy quân
Trang 15xuất tự quận Ti ảnh Tháng ấy quân đến cửa Hải Khẩu Tháng 3, vua Lâm ấp
là Phạm Chí sai quân ra giữ nơi hiểm yếu, Lưu Phương đánh chạy tan Quân của Phương qua sông Đồ Lê Quân của Lâm ấp cỡi voi lớn bốn mặt kéo đến, quân của Phương đánh không lợi, mới đào nhiều hố nhỏ, phủ cỏ lên trên, cho quân khiêu chiến, đương đánh giả thua chạy Quân Lâm ấp đuổi theo, voi nhiều con sập xuống hố, thành ra kinh hãi, quân rối loạn Phương cho bắn nỏ, voi lùi chạy, xéo giẫm vào hàng trận Phương nhân thế cho quân tinh nhuệ tiếp theo Quân Lâm ấp thua to, bị bắt và chém đến hàng vạn người Phương tiến quân đuổi theo, đánh mấy trận đều được cả, quá phía nam cột đồng (của Mã Viện) đi 8 ngày mới đến kinh đô của nước ấy Mùa hạ, tháng 4, Phạm Chí bỏ thành chạy ra biển Phương vào thành lấy được 18 bộ thần chủ trong miếu,
đều đúc bằng vàng (tức 18 đời vua), khắc đá để ghi công rồi về Binh sĩ thũng chân, 10 phần chết 4, 5 phần Phương cũng bị ốm, chết ở đường” [74;127 -
128]
Quan hệ giữa Chămpa với chính quyền đô hộ thời Đường cũng không
mấy sáng sủa như các triều đại trước Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì cho đến
trước năm 938, thì chỉ có lần đụng độ duy nhất vào 722 khi Mai Thúc Loan nổi dậy liên kết với người Lâm ấp để chống lại chính quyền đô hộ
Trong gần 1000 năm, số lần va chạm giữa Chămpa với chính quyền đô
hộ đóng trên lãnh thổ Đại Việt sau này không nhiều, nhưng nó cũng đánh dấu
sự lớn mạnh của Chămpa và những mối quan hệ đầu tiên, dù là chiến tranh hay triều cống (hòa bình, với những toan tính chính trị khác nhau) Đây cũng chính là tiền đề mở ra những quan hệ sau này với người Việt và nhà nước Đại Việt trong thời tự chủ
1.1.2 Quan hệ với người Việt
Vào thời kỳ này, quan hệ giữa cư dân Việt với Chămpa không xảy ra nhiều, vì tư liệu không cho phép có những suy diễn, đoán định về mối quan hệ này đa dạng phong phú và tính chất sâu đậm của nó đến đâu Nhưng những
Trang 16lần xâm lấn, cướp bóc của quân đội Lâm ấp (Chămpa) cũng đã để lại những dấu ấn nhất định Vì thời gian quá dài, lại xảy ra quá nhanh chóng nên cho
đến nay chúng ta khó có thể tìm thấy những dấu vết vật chất còn lại Duy trong chính sử của các Đại Việt có ghi lại hai sự kiện về mối quan hệ đầu tiên giữa cư dân Việt với người Chămpa
Sau khi Lý Bí lên ngôi tự xưng là Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, thì vào năm 543, “mùa hạ, tháng 4 vua Lâm ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng là Phạm Tu đi đánh tan ở quận Cửu Đức” [74;118] Sau sự kiện này phải đến gần 200 năm sau, vào năm 722, Mai Thúc Loan đã liên kết với
người Chăm để chống lại triều đình đô hộ nhà Đường Sự kiện này, Đại Việt
sử ký toàn thư đã dẫn theo Tân Đường Thư: “tướng giặc là Mai Thúc Loan
chiếm giữ châu, xưng là Hắc Đế, bên ngoài liên kết với nước Lâm ấp, Chân Lạp, số quân nói đến 30 vạn người Đường đế sai nội thị tả giám môn vệ tướng quân là Dương Tư Húc và đô hộ sở là Quang Sở Khách đánh dẹp được" [74;130]
Hai sự kiện ít ỏi trong một quãng thời gian quá dài khó có thể cho phép chúng ta đưa ra những nhận định có tính chất khách quan về mối quan hệ Việt Chăm và những giá trị văn hóa đã được giao thoa Chúng ta chỉ có thể lờ mờ nhận thấy rằng quá trình hỗn dung này còn rất yếu bởi những nguyên nhân sau đây: Thứ nhất, những gì mà sử chép được chỉ gồm có các sự kiện một nhà nước Lâm ấp (Chămpa) đã được định hình và có những hoạt động quân sự quấy nhiễu phần lãnh địa phía Nam thuộc Hán mà thôi (tương đương với vùng Nghệ - Tĩnh sau này) Thứ hai, lúc này đối với cư dân Việt yếu tố văn hóa Hán
đang xâm thực vào cuộc sống trên kết cấu thượng tầng kiến trúc mà chưa thể tri phối đến những sinh hoạt đời thường Với tinh thần là chống Hán hóa để bảo tồn gốc Việt của mình, mặc dù người Hán đã rất cố gắng, nhưng cũng không để lại nhiều dấu ấn như mong muốn Với tâm thế đóng kín để tự bảo
vệ, nên các sóng năng văn hóa Chăm chưa có nhiều dịp tiếp cận với văn hóa
Trang 17Việt Thứ ba, do người Việt chưa "tái" định hình được nhà nước hay chưa khẳng định được một nền văn hóa tự chủ, khu biệt với văn hóa Hán nên chưa
có cơ hội và điều kiện giao thoa với Chămpa với tư cách là một quốc gia độc lập Đặc biệt, đối với Tống Bình - Đại La lại với tư cách là trung tâm của Giao Châu - sở lỵ của chính quyền đô hộ có lẽ cũng chỉ có những va chạm, ảnh hưởng nhỏ lẻ nên chưa để lại nhiều dấu ấn sâu đậm Nhưng với các sự kiện xảy ra không nhiều lại kéo dài trong khoảng thời gian gần 1000 năm cũng đủ
để ta có thể tạm nhận định rằng, những hoạt động quân sự cũng như ngoại giao đã diễn ra từ đây và là tiền đề cho quá trình giao thoa văn hóa Việt - Chăm ở giai đoạn sau này [Phụ lục 2; bảng 1]
1.1.3 Thời Đinh - Tiền Lê
Đây là giai đoạn quan hệ giữa Đại Cồ Việt và Chămpa với tư cách là hai quốc gia độc lập, tự chủ Điều này khẳng định rất nhiều cho vị thế của văn hóa Việt với Chăm vốn đã định hình từ trước đó rất lâu và có nhiều thành tựu đáng
kể Việc Đại Cồ Việt tự chủ đã tạo điều kiện cho quan hệ giữa hai quốc gia
được đẩy lên mức độ cao nhất, đó là các hoạt động ngoại giao Mặc dù lúc này kinh đô đặt tại Hoa Lư, Ninh Bình; Thăng Long chưa được biết đến với tư cách là kinh sư như sau này Nhưng thời Đinh, Tiền Lê đã được coi là bước
đệm, gạch nối để Thăng Long sau này trở thành trung tâm của Đại Việt, đầu mối của mọi quá trình giao thoa - tiếp biến văn hóa với các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là với văn hóa Chămpa
Cũng giống như quan hệ với chính quyền đô hộ phương Bắc vào thời Bắc thuộc Đến giai đoạn sau này, quan hệ giữa Chămpa với Đại Cồ Việt cũng không mấy suôn sẻ Các cuộc "gặp gỡ" chủ yếu diễn ra bằng bạo lực và gây chiến ở khu vực biên giới giữa hai nước Sự kiện năm 979, "Phò mã Ngô Nhật Khánh dẫn hơn nghìn chiếc thuyền thủy quân của Chiêm Thành (Chămpa) vào cướp, muốn đánh thành Hoa Lư Do hai cửa biển Đại ác và Tiểu Khang, qua một đêm gặp gió nổi lên, thuyền đều chìm đắm, Nhật Khánh và người Chiêm
Trang 18(Chăm) đều chết đuối, duy chỉ có thuyền vua Chiêm được trở về nước Nhật Khánh là con cháu của Ngô Tiên chúa Quyền, trước đây xưng là An Vương, cùng với 12 sứ quân chiếm giữ một chỗ Tiên hoàng dẹp yên, lấy mẹ của Nhật Khánh làm hoàng hậu, lấy em gái Nhật Khánh làm vợ cho Nam Việt vương Liễn, còn sợ sinh biến nên đem công chúa gả cho, ý muốn dập hết lòng oán vọng của hắn Nhưng Nhật Khánh thì bên ngoài nói cười như không, mà trong bụng vẫn bất bình, mới đem vợ chạy sang Chiêm Thành, khi đến cửa biển
Nam giới, lấy gươm xẻo má vợ kể tội rằng: Cha mày lừa dối hiếp tróc mẹ con
ta, ta há lại vì mày mà quên đức tính của cha mày ư? Mày về đi, ta đi đằng khác để tìm người có thể cứu ta Nói xong bỏ đi Đến đây nghe tin Tiên hoàng
băng mới dẫn người Chiêm vào cướp" [74;160] chỉ là một cái cớ khởi binh hợp lý cho Chămpa vốn có dã tâm xâm lấn Đại Cồ Việt từ rất lâu rồi
Sau biến cố của nhà Đinh, lại vướng vào sự xâm lấn "hụt" của Chămpa,
Lê Hoàn lên ngôi, rồi phải đương đầu với cuộc tiến công của người Tống ở phương Bắc (năm 981) Ngay sau khi đánh dẹp được người Hán, thanh thế của
Lê Hoàn cũng như vương triều Tiền Lê được đẩy lên rất cao Ngay lập tức,
ông đã thân dẫn quân đi đánh Chămpa Quyết định của Lê Hoàn cho phép chúng ta đưa ra nhiều lý do khác nhau: thứ nhất, ông nhận thấy được mối hiểm họa mà Chămpa đem lại từ trước đó đối với an nguy của đất nước Thứ hai với việc thắng Tống, nhưng chưa đủ uy vũ để thể hiện sức mạnh của nhà nước; hơn nữa, ông cũng muốn Chiêm Thành (Chămpa) thần phục như một giải pháp đối trọng quyền lực với phương Bắc Chính vì vậy ngay sau khi phá Tống, Lê Hoàn gấp rút chuẩn bị lực lượng và tiến hành bình Chiêm (Chămpa) Năm 982, "Vua Thân đi đánh nước Chiêm Thành thắng được Trước đây vua sai Từ Mục và Ngô Tử Canh sang sứ Chiêm Thành, bị họ bắt giữ Vua giận, mới đóng thuyền chiến, sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh, chém được Phê Mị Thuế tại trận; Chiêm Thành thua to; bắt sống được binh sĩ không biết bao nhiêu mà kể; bắt được kỹ nữ trong cung trăm người và một người thầy tăng
Trang 19người Thiên Trúc; lấy các đồ quý mang về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn; san phẳng thành trì, phá hủy tôn miếu, vừa một năm thì trở về kinh sư" [74;168 - 169] Lần chinh phạt của Lê Hoàn đã mở đầu cho một chuỗi liên tục các sự kiện chiến tranh sau này với cách thức thông thường là dùng quân
sự để đè bẹp đối phương và bắt người, lấy của cải mang về Việc có mặt của nhà sư người Thiên Trúc cũng chính là một trong những dấu hiện cho thấy Phật giáo đã được tiếp nhận và phát triển mạnh ở Hoa Lư - kinh đô của Đại Cồ Việt khi đó Vì vậy, những hoạt động giao thoa - tiếp biến văn hóa Việt - Chăm không diễn ra ở Thăng Long - Hà Nội Điều này cho phép chúng ta có thể suy diễn rằng, những dấu ấn văn hóa Chăm ở Hà Nội từ thời Tiền Lê trở về trước không nhiều, rất ít hoặc không có gì đặc biệt Mặc dù vậy những dấu ấn
về con người, văn hóa Chăm để lại ở Hoa Lư không ít, và có vẻ sâu đậm
Cũng từ sau lần đại chinh phạt của Lê Hoàn cho đến trước năm 1010 là các hoạt động ngoại giao xen lẫn một vài lần va chạm quân sự không đáng kể Mặc dù những hoạt động ngoại giao mang tính chất triều cống không xảy ra nhiều nhưng nó cũng cho thấy sức mạnh quân sự của Đại Cồ Việt đã tỏ ra ưu trội hơn Chămpa Và, đặc biệt là thể hiện tư cách một nhà nước có chủ quyền
độc lập trước Đại Tống Sự kiện năm 986, "sai Ngô Quốc Ân sang thăm nước Tống để đáp lễ, và nói về việc người Chiêm Thành là Bồ La át đem hơn trăm
người đến quy phụ" [74;171] Cũng từ những cái cớ Chiêm Thành quy phụ
nhỏ bé ấy để Đại Cồ Việt có thể chính danh là nhà nước độc lập, tự chủ quan
hệ trực tiếp với Đại Tống
Sức mạnh của vương triều Tiền Lê khi đó không những đã tạo được uy thế ban đầu cho Đại Cồ Việt, mà sau này là Đại Việt trước Chămpa Các sự kiện vào năm 989 ghi việc Dương Tiến Lộc làm loạn và quy phụ Chiêm Thành, Chiêm Thành không nhận; năm 994, "cháu vua nước Chiêm Thành là Chế Cai vào chầu Trước đây nước Chiêm Thành sai Chế Đông đem dâng sản vật địa phương, vua trách là trái lễ, không nhận Vua nước Chiêm sợ, sai Chế
Trang 20Cai vào chầu" [74;173 - 175] đã cho thấy uy vũ của Đại Cồ Việt ngay từ buổi
lập quốc và sự thần phục đến mức sợ hãi của Chiêm Thành Tuy nhiên, sự
thần phục của Chiêm Thành chỉ thể hiện ra bề ngoài với chiêu thức triều cống sản vật, nhưng bên trong lại là sự chống đối ngầm, nó sẵn sàng trỗi dậy mỗi khi Đại Cồ Việt (sau này là Đại Việt) suy yếu Những năm cuối của vương triều Tiền Lê, tức vào năm 997, "mùa thu, tháng 7 Chiêm Thành đem quân nhòm ngó biên giới nước ta" [74;177] Rồi bản thân trong nội tại của vương triều Tiền Lê cũng xảy ra những mâu thuẫn chính trị, đến nỗi năm 1005, "mùa
đông, tháng 10, Đông Thành Vương thua chạy vào đất Cử Long Vua (Lê Hoàn) đuổi bắt chạy sang Chiêm Thành " [74;197]
Trong một thời gian ngắn ngủi (968 - 1009) của nhà nước Đại Cồ Việt trải qua hai vương triều Đinh - Tiền Lê giao thiệp với Chiêm Thành không nhiều Tuy nhiên nó cũng là những dữ kiện đầu tiên về mối quan hệ Việt - Chăm với tư cách là hai quốc gia Hơn nữa cũng trong thời gian này, hai chính quyền đang cố gắng củng cố sức mạnh quân sự là chủ yếu để tạo uy thế ban
đầu mà chưa bỏ nhiều tâm sức đến phát triển văn hóa xã hội của đất nước Chính vì vậy mà Hoa Lư đã được lựa chọn và xây dựng thành kinh đô của Đại
Cồ Việt Mặc dù vậy, sự kiện của cuộc Đại chinh phạt Chiêm Thành do Lê
Hoàn tổ chức, đã bắt được kỹ nữ trong cung trăm người và một thầy tăng người Thiên Trúc ấy cho thấy hiệu quả ban đầu của quá trình giao thoa Vào
thời gian đó kinh đô Thăng Long - Hà Nội chưa xuất hiện và định hình Chính vì thế, như đã nói ở trên, văn hóa Chăm chưa có ảnh hưởng và để lại dấu trực tiếp như các giai đoạn sau này [Phụ lục 2; bảng 2]
1.2 Từ sau năm 1010
1.2.1 Quan hệ với Đại Việt thời Lý - Trần
Sau sự kiện 1010, Lý Thái Tổ định đô Thăng Long đã tạo nên một khuôn diện, vị thế khác cho Đại Việt khi đó Kinh đô Thăng Long trở thành trung tâm của các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nơi trực tiếp
Trang 21thực hiện các chính sách ngoại giao, quân sự với các quốc gia láng giềng nói chung và Chămpa nói riêng Cũng chính tại kinh sư của Đại Việt, đã chứng kiến những lần sứ thần Chămpa đến triều cống và những đoàn sứ thần của Đại Việt sang Chiêm (Chămpa) để giao hảo, úy lạo Bên cạnh các hoạt động ngoại giao có tính chất giao hảo/hòa bình như vậy, kinh sư Thăng Long cũng
là nơi lên kế hoạch, chuẩn bị quân binh, lương thảo tiến đánh Chiêm Thành (Chămpa) Và cũng không ít lần, Thăng Long đã trở thành chiến địa khi người Chăm kéo ra đốt phá, cướp bóc Sự lớn mạnh của một quốc gia dựa trên sự tự tin vào tiềm lực quân sự, bản lĩnh chính trị và nền tảng kinh tế xã hội Vương triều Lý (1009 - 1225), rồi Trần (1225 - 1400) là kết quả tiếp nối của vương triều Đinh, Tiền Lê Nếu như sau sự kiện Ngô Quyền, vương triều Đinh, Tiền
Lê đã xây dựng những viên gạch đầu tiên cho đất nước, mở ra thời kỳ phát triển cho những vương triều sau này Thì thời Lý, Trần là sự tiếp nối, là kết quả của tiền đề xã hội trước đó để lại Có thể tạm chia tách mối quan hệ Việt - Chăm theo hai phương thức cơ bản: qua con đường ngoại giao và con đường chiến tranh (các hoạt động quân sự) Cũng như sự phát triển và lớn mạnh của quốc gia, kinh sư Thăng Long là hệ quả của quá trình phát triển từ giai đoạn Tiền Thăng Long (Tống Bình - Đại La) Quá trình giao thoa văn hóa ban đầu giữa Việt với Chăm dù còn yếu, mờ nhạt nhưng cũng đã đặt những dấu ấn đầu tiên cho toàn bộ hệ thống giao thoa văn hóa Việt Chăm kể từ sau năm 1010
Các hoạt động ngoại giao
Đây là thời kỳ bang giao giữa Đại Việt và Chămpa diễn ra sôi nổi nhất trên nhiều phương diện Sự thần phục của Chămpa chủ yếu diễn ra thông qua hình thức: triều cống sản vật địa phương Mặc dù số lượng các sản vật ấy không nhiều nhưng nó đã trở thành biểu tượng thần phục của nước nhỏ, yếm thế hơn với một quốc gia cường thịnh khác Mặt khác, qua các hoạt động cống nạp của Chămpa, để đáp lễ, Đại Việt cũng sử sứ thần của mình sang để bày tỏ
sự giao hảo, úy lạo và cả phong vương cho các vua Chiêm Thành (Chămpa)
Trang 22nữa Cùng với các hoạt động ngoại giao có tính chất nghi lễ nhà nước như vậy,
là các nhóm người Chăm (có thể tướng lĩnh, thân vương, cư dân ) bị thất thế,
sợ nguy hại tới bản thân và gia đình nên kéo nhau sang thần phục Xu hướng này cũng không chỉ diễn ra một chiều, mà đôi lúc quan, quân, thân vương của
Đại Việt bị thất sủng cũng chạy sang Chămpa để nương náu
Thông qua con đường ngoại giao giữa hai nhà nước bằng con đường triều cống, thăm hỏi lẫn nhau diễn ra vào thời Lý Trần rất mạnh mẽ Ngay sau khi định đô ở Thăng Long, vào năm 1011, "mùa hạ tháng 4, nước Chiêm Thành sang dâng sư tử" [74;193] được coi là sự triều cống đầu tiên cho đến năm vương triều Lý kết thúc vào năm 1225, đã xảy ra 20 lần triều cống liên tiếp của Chămpa xen lẫn sự phong vương của Đại Việt cho vua Chiêm (Chăm) Sử chép vào năm 1198, "mùa thu, tháng 7 sứ Chiêm Thành sang cống và xin sách phong cho vua nước ấy"; và, năm 1199, "mùa đông, tháng
10, vua (Lý Cao Tông) ngự đến phủ Thanh Hóa bắt voi Rồi sai sứ sang phong vua nước Chiêm Thành" [74; 298] Bên cạnh con đường ngoại giao chính thống như vậy, các biểu hiện khác của phương thức này như quy phụ cũng
được nhắc đến rất nhiều trong chính sử Kể từ sự kiện năm 1039, "mùa hạ, tháng 4, con vua Chiêm Thành là Địa Bà Lạt, cùng Lạc Thuấn, Sạ Đẩu, Sa Kế,
A Thát Lạt 5 người sang quy phụ nước ta" [74; 215] cho đến cuối triều Lý có tới 4 lần sang quy phụ, có những lần, số người quy phụ lên đến hơn trăm người [Phụ lục 2; bảng 3]
Sang đến thời Trần (1225 - 1400), là một giai đoạn đặc biệt trong quan
hệ Việt Chăm, nửa đầu thì hữu hảo, ấm áp; nửa sau thì nguội lạnh và liên tục chiến tranh Hoàn cảnh ngoại giao vào đầu thời Trần với chính sách đối ngoại khôn khéo với Chămpa ở phương Nam, xây dựng lực lượng lo đối phó với phương Bắc Đặc biệt sau 3 lần kháng chiến chống Nguyên Mông thắng lợi,
uy thế của Đại Việt được tăng lên gấp bội Cũng chính trong cuộc chiến với kẻ thù hùng mạnh như vậy, Đại Việt và Chămpa đã phải bắt tay nhau để cùng đối
Trang 23phó với kẻ thù chung, đây cũng là một trong những lý do cơ bản để mối bang giao trở nên nồng ấm giữa hai quốc gia Và đỉnh cao của sự hữu hảo này chính
là cuộc hôn nhân của Chế Mân với Huyền Trân Công chúa Trong khoảng thời gian từ 1225 đến trước khi xảy ra các cuộc đụng độ vào khoảng những năm 50 của thế kỷ XIV, sử chép có tới 21 sự kiện liên quan đến hoạt động ngoại giao, trong đó 16 sự kiện người Chiêm Thành sang triều cống [10; 38], 3 sự kiện liên quan đến việc người Chiêm quy phụ, số còn lại nói về cuộc hôn nhân giữa Huyền Trân và Chế Mân Ngay sau khi nhà Trần giành được quyền lực từ tay nhà Lý, thì vào năm 1228 "mùa đông, tháng 10 nước Chiêm Thành sang cống" [75; 9] Bắt đầu từ đây, liên tiếp các năm 1242, 1262, 1265, 1266, 1267, 1269,
1270, 1282, 1293, 1301, 1303, 1305, 1306, 1307, 1342, 246, liên tiếp sứ thần hai nước được cử đi qua lại lẫn nhau Đặc biệt vào năm 1301, "tháng 3, thượng hoàng (Trần Nhân Tông) đi chơi các địa phương, sang Chiêm Thành Mùa đông, tháng 11, thượng hoàng từ Chiêm Thành về" [75; 96] Chuyến đi này, Thái Thượng Hoàng "đã trót hứa gả con gái cho" Chế Mân vua nước Chiêm Thành [75; 102] Việc Huyền Trân công chúa lấy Chế Mân khi đó đã gây ra nhiều tranh cãi trong nội bồ vương triều, và bản thân cuộc hôn nhân này đã mang đậm màu sắc chính trị Để lấy được Huyền Trân, Chế Mân đã
"đem hai châu ấy (châu Ô, Lý) làm lễ vật dẫn cưới"; nhà Trần được đất đai và
đặc biệt là an ninh biên giới quốc gia được bảo đảm [Phụ lục 2; bảng 4]
Bên cạnh những hoạt động ngoại giao có tính chất đi sứ và hôn nhân
như vậy dưới thời Lý - Trần, thì còn có những sự kiện quy phụ của người Chăm sang đất Việt và ngược lại Tuy nhiên những cá nhân người Việt lưu vong sang Chăm lại thường gắn với các cuộc chiến tranh nên tôi không nhắc
đến ở đây Mà chỉ đề cập đến những quy phụ của người Chăm sang Đại Việt Nếu như thời Lý có 4 lần quy phụ thì triều Trần cũng xảy ra 4 lần Lần thứ nhất, vào năm 1279, "mùa xuân, tháng giêng, nước Chiêm Thành sai Chế Năng và Chế Diệp sang cống Bọn Chế Năng xin ở lại làm nội thần, vua không
Trang 24nhận" [75; 48] Lần thứ hai, vào năm 1352, "mùa xuân, tháng 3 Chế Mỗ nước Chiêm Thành chạy sang nước ta" [75; 154] Lần thứ ba, vào năm 1390 "tháng
6, con của Chế Bồng Nga là Chế Ma Nô và em là Chế Sơn Nô sợ bị giết, bèn chạy sang nước ta" [75; 207] Và lần thứ tư, vào năm 1397, "mùa đông, tháng
11, tướng Chiêm Thành là Chế Đa Biệt cùng với em là Mộ Hoa Tử Ca Diệp
đem cả nhà sang hàng nước ta" [75; 222] Những lần quy phụ như vậy không cho ta nhiều thông tin để suy đoán, nhưng nó lại cho thấy một kênh ngoại giao khác mỗi khi có biến động từ phía bên kia Đây cũng chính là những tình huống nhạy cảm dẫn đến chiến tranh hoặc quan hệ căng thẳng giữa hai nước [Phụ lục 2; bảng 5]
Các hoạt động quân sự
Bên cạnh các hoạt động ngoại giao qua lại giữa hai nhà nước Chămpa
và Đại Việt thời Lý - Trần thông qua triều cống, quy phụ, hôn nhân Thì chiến tranh là con đường thứ hai khiến cho việc giao thoa văn hóa diễn ra hết sức mạnh mẽ Người Chiêm Thành (Chămpa) một mặt tỏ ra thần phục Đại Việt, nhưng mặt khác lại tổ chức quân đội quấy rối, thậm chí tiến công trực tiếp ra kinh sư Thăng Long Điều này làm cho các vương triều của Đại Việt luôn phải lưu tâm và tổ chức những cuộc đại chinh phạt nhằm trấn áp sự quấy nhiễu đó Trong thời Lý, người Chămpa liên tục có những hành động xâm lấn biên giới phía Nam Đại Việt Các tướng lần lượt cử đi trấn áp, đánh tan, dẹp yên; tuy nhiên, không được lâu dài, sự quấy nhiễu vẫn diễn ra Chính vì vậy, vào năm
1044, "mùa xuân, tháng giêng, phát khí giới trong kho ban cho các quân Ngày quý mão, vua (Lý Thái Tông) thân đi đánh Chiêm Thành" [74; 223] nhằm giải quyết tận gốc vấn đề an ninh biên giới cho Đại Việt Trong cuộc chinh phạt này, vua Lý Thái Tông đã "đem quân vào thành Phật Thệ Sai sứ
đi khắp các hương ấp phủ dụ nhân dân" [74; 224] Sau cuộc chinh phạt ấy, Chămpa triều cống đều đặn, nhưng năm 1068, "Chiêm Thành dâng voi trắng, sau lại quấy nhiễu biên giới" [74; 233] Đây cũng chính là cái cớ trực tiếp để
Trang 25vua Lý Thánh Tông mở cuộc đại chinh phạt lần hai vào năm 1069 Sử chép
"mùa xuân, tháng 2 vua thân đi đánh Chiêm Thành, bắt được vua nước ấy là Chế Củ và dân chúng 5 vạn người" Sau cuộc chinh phạt Chiêm Thành này, bên cạnh khối lượng "tù binh" Chăm khá lớn, Đại Việt còn lấy được đất đai do Chế Củ dâng để chuộc tội Việc "Chế Củ dâng ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính để chuộc tội Vua bằng lòng tha cho Chế Củ về nước" [74; 233] làm cho lãnh thổ của Đại Việt được mở rộng và đặc biệt những hiểm hoạ về an ninh quốc gia cũng được đẩy ra xa hơn Nhưng chỉ sau đó vài năm, vào năm
1074, "Chiêm Thành lại quấy rối biên giới" [74; 236] "Mùa thu, tháng 8, sai
Lý Thường Kiệt đi đánh Chiêm Thành, không được Thường Kiệt bèn họa địa
đồ hình thế núi sông của 3 châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh rồi về" [74; 237] Tuy trận này không thắng, lại không phải là cuộc đại thảo phạt nhưng nó cũng cho ta thấy rằng quan hệ giữa hai nước phụ thuộc rất nhiều vị thế quân sự và tiềm lực kinh tế xã hội
Bên cạnh những hoạt động quấy nhiễu ở vùng biên giới là cái cớ cho
Đại Việt tiến công Chămpa, thì còn xảy ra những sự kiện quy phụ của người Việt sang Chămpa (về hình thức thì cũng giống với sự quy phụ của người Chăm sang Đại Việt nhưng về bản chất lại hoàn toàn khác), đây là lý do thứ hai để Đại Việt xuất quân Sử chép năm 1104, "mùa xuân, tháng 2, sai Lý Thường Kiệt đi đánh Chiêm Thành Trước đây Lý Giác trốn sang Chiêm Thành, nói tình hình hư thực của nước ta Vua Chiêm Thành là Chế Ma Na nhân thế đem quân vào cướp lấy ba châu Địa Lý Chế Củ đã dâng Đến đây sai
Lý Thường Kiệt đi đánh phá được, Chế Ma Na lại nộp đất ấy" [74; 244]
Sau những cuộc đại chinh phạt lớn của vương triều Lý, cho đến đầu thời Trần, những hoạt động quấy nhiễu lẻ tẻ của người Chăm vẫn diễn ra ở biên giới Đại Việt Sang nửa đầu thời Trần, những hoạt động quân sự diễn ra rất ít giữa hai quốc gia, hơn nữa những lần đụng độ này lại thường giải quyết bằng con đường hòa bình Sau lần chinh phạt vào năm 1252, "mùa xuân, tháng
Trang 26giêng, vua (Trần Thái Tông) thân đi đánh Chiêm Thành Mùa đông, tháng 12 bắt được vợ vua Chiêm Thành là Bố Da La và các thần thiếp nhân dân rồi về" [75; 25] Thì đến năm 1311, "mùa đông, tháng 12, vua (Trần Anh Tông) thân
đi đánh Chiêm Thành" [75; 109] Nhưng "trận đánh này không mất một mũi tên mà bình được Chiêm Thành" [75; 110]
Những va chạm quân sự giữa hai quốc gia diễn ra ác liệt lại chủ yếu vào cuối thời Trần, đặc biệt sau khi Chế Mân chết, xảy ra sự kiện Trần Khắc Chung được cử đi đón công chúa Huyền Trân vào năm 1307 Kể từ đây những rạn nứt trong quan hệ hai nước càng bộc lộ rõ nét Những cuộc va chạm ban
đầu, phần thắng thường nghiêng về Đại Việt, những hoạt động ngoại giao cũng thưa dần và xuất hiện nhưng mâu thuẫn sâu sắc Đặc biệt, ngay trong lúc bối cảnh của Đại Việt đang suy vi tột độ đến nỗi "bây giờ thái bình đã lâu, biên thành không có phòng bị, giặc đến không có quân để chống lại" [75; 179] Thì Chămpa đột ngột hưng khởi dưới triều đại của một ông vua có tài thao lược, đầy tham vọng và bản lĩnh chính trị - Chế Bồng Nga Chế Bồng Nga
đánh ra Thăng Long vào năm 1371, "tháng 3 nhuận, người Chiêm Thành sang cướp, do cửa biển Đại An tiến thẳng đến kinh sư Vua (Trần Nghệ Tông) đi thuyền sang Đông Ngàn để tránh quân giặc vào thành, đốt phá cung điện
đồ thư trụi cả" [75; 179] Sau đó, vào năm 1377, "tháng 11, người Chiêm Thành vào cướp, giặc biết có phòng bị, mới do cửa biển Thiên Phù tiến thẳng đến Kinh Sư" [75; 188] Rồi, năm 1378 "tháng 6, giặc đánh sông Đại Hoàng, vua sai hành khiển Đỗ Tử Bình chống giữ Quan quân tan vỡ Giặc tiến đánh kinh sư, bắt người cướp của rồi về" [75; 191] Sau khi Chế Bồng Nga
ba lần tiến ra Thăng Long, kể từ đây trở đi những trận đánh giằng co liên tục ở khu vực biên giới giữa hai nước vẫn diễn ra, cho đến khi Bồng Nga tử trận vào năm 1390 [Phụ lục 2; bảng 6]
1.2.2 Quan hệ với Đại Việt thời Lê sơ
Trang 27Thời gian tồn tại của nhà Hồ quá ngắn, hơn nữa nước ta lại chịu họa xâm lăng, đô hộ của nhà Minh đến 20 năm Quãng thời gian không dài đối với diễn trình của toàn bộ dân tộc Việt Nam, nhất là những dấu ấn quan hệ Việt - Chăm lại càng mờ nhạt Nhưng cũng sau 20 năm Minh thuộc, Đại Việt có nhiều thay đổi trong bản thân nội tại của nó Theo tôi, sự thay đổi này đã manh nha và phát triển vào cuối thời Trần Trải qua 20 năm Minh thuộc, với
cú hích của văn hóa Hán khiến nó càng bộc lộ rõ nét hơn nữa trong văn hóa
Đại Việt Từ triều Lê sơ, mô hình của Đại Việt đã hoàn toàn được Hán hóa
Đặc biệt là trên phương diện thượng tầng kiến trúc và quan niệm của triều
đình quan phương hoàn toàn hành xử theo tư tưởng Khổng Mạnh Rồi dần dà
nó cũng ảnh hưởng trực tiếp tới lối sống của dân chúng phi quan phương Chính vì thế, quan hệ Việt - Chăm về hình thức không nhiều thay đổi, nhưng bên trong Đại Việt đã có một vị thế, tiềm lực, suy nghĩ và cách thức hành xử
đã khác trước kia rất nhiều Nó càng được khẳng định vào triều vua Lê Thánh Tông, vị quân vương có quyền uy nhất trong lịch sử Việt Nam thời Trung đại
Về quan hệ ngoại giao, các hình thức cử sứ thần giữa hai quốc gia vẫn diễn ra đều đặn Chiêm Thành (Chămpa) vẫn triều cống để tỏ ra thần phục trước thiên triều Cũng giống với thời kỳ trước những hoạt động ngoại giao luôn xen giữa các cuộc đụng độ quân sự Tuy nhiên, như đã nói ở trên, tâm thế, nội lực của Đại Việt đã có những thay đổi lớn và hoàn thiện mạnh mẽ về mọi mặt của đời sống chính trị, xã hội cũng như quân sự Khi giao hảo với Chămpa, thì Đại Việt tự coi mình là thiên triều và gọi họ dân man Bên cạnh
đó, việc chiến đấu chống người Minh vào năm 1427 thành công đã làm cho uy lực của vương triều Lê sơ trở nên mạnh hơn bao giờ hết Nên ngay sau khi chiến thắng, "Nước Chiêm Thành cho người sang cống" và để tỏ rõ uy thế của mình, vua Lê Thái Tổ đã "cho ngựa và lụa bảo về, sai thiêm tri khu mật là Hà Lật cùng đi" [76; 32] Cũng trong năm ấy, vào "mùa thu, tháng 7 Người Chiêm Thành dâng sản vật địa phương", và ngay sau đó, "tháng 8 lấy viên
Trang 28ngoại lang là Lê Khắc Hài và Bùi Tất Ưng làm chánh phó sứ mang ngựa và đồ uống rượu bằng pha lê màu xanh trắng sang cho vua Chiêm Thành" [76; 40]
Sự cống nạp của Chiêm Thành và sự đáp lễ có tính chất ban phát của vua Lê cho chúng ta nhận định rằng, sức mạnh, uy thế cũng như suy nghĩ của Đại Việt khi đó đã được đẩy cao lên một tầm mới Sang năm 1434 đã xảy ra một biến cố kép, "Chiêm Thành bắt người ở châu Hóa" [76; 86] Nhưng vụ bắt người đã không chót lọt, nên ngay lập tức đã "sai sứ mang thư và sản vật địa phương sang hiến để cầu hòa thân" [76; 87] Mặc dù triều thần Đại Việt có hặc tội, quở trách, nhưng khi sứ thần trở về nước Chiêm vào năm 1435, vua Lê vẫn "ban cho lụa tấm" [76; 110] Kể từ những sự kiện vào những năm đầu của vương triều Lê sơ cho đến khi suy vào đầu thế kỷ 16, Chiêm Thành cho sứ thần sang cống nạp, dâng các sản vật địa phương vào các năm 1448, 1449,
1467 Tuy nhiên quan hệ ngoại giao vào thời kỳ này có vẻ không suôn sẻ như thời Lý - Trần, sứ thần được cử sang mỗi khi Chiêm Thành (Chămpa) phạm vào điều gì đó với Đại Việt Việc cử sứ thần sang chỉ có tính chất hòa hoãn xung đột quân sự giữa hai quốc gia mà thôi Điều này làm triều đình nhà Lê liên tục hặc tội sứ thần của Chămpa về lễ giáo, việc cướp phá ở vùng biên giới Sử chép năm 1449, "mùa thu, tháng 7 sứ Chiêm Thành là bọn Bô Sa Phá Tham Tốt cùng đi với Nguyễn Hữu Quang sang Vua sai tư khấu Lê Khắc Phục và nạp ngôn Nguyễn Mộng Tuân hỏi vặn sứ Chiêm thành về tội giết vua
Sứ Chiêm Thành không trả lời được, chỉ lạy tạ mà thôi" [76; 156] Rồi năm
1467, "tháng 3, sai thượng thư Lễ bộ Lê Hoàng Dục đặt yến đãi sứ thần Chiêm Thành ở quán Bắc sứ Sai nội quan hỏi sứ thần nước Chiêm về lẽ nước nhỏ
kính thờ nước lớn Sứ Chiêm Thành trả lời: Nước Chiêm tôi đối với thánh triều như là con nhờ cậy cha mẹ, bảo thế nào thì nghe theo thế." [76; 204] Bên
cạnh các hoạt động ngoại giao chính thống như vậy, dưới triều Lê sơ cũng xảy
ra một vài lần quy phụ vào các năm 1434, 1448 Riêng lần quy phụ năm 1448,
Trang 29sử chép "người Chiêm Thành là Phan Mỗ đem đàn ông đàn bà hơn 340 người sang hàng Xuống chiếu cho ở các đạo" [76; 148] [Phụ lục 2; bảng 7]
Mặc dù uy vũ của triều Lê sơ đối với Chămpa đã lớn mạnh đến mức
"bảo thế nào thì nghe theo thế", nhưng các hoạt động quấy nhiễu vẫn liên tiếp xảy ra ở khu vực biên giới hai nước Năm 1434, "Chiêm Thành bắt người Châu Hóa Vua Chiêm Thành là Bố Đề nghe tin Thái Tổ băng, thấy vua mới lên ngôi, ngờ rằng trong nước có biến loạn, bèn thân đem quân ra đóng ở cõi gần" [76; 86] Năm 1445, "mùa hạ, tháng 4, người Chiêm Thành đến cướp thành An Dung ở châu Hóa" [76; 135] Những lầm quấy nhiễu như vậy ngay lập tức triều đình Đại Việt lại tổ chức phản công; "tháng 12, sai Bình chương
sự Lê Khả đem quân đi đánh Chiêm Thành" [76; 136] Lần chinh phạt này kéo dài cho đến năm 1446, thì "mùa hạ tháng 4, các quân của Lê Thụ đánh phá
được thành Chà Bàn, bắt được vua Chiêm là Bí Cai, và các phi tần, bộ thuộc, ngựa voi, đồ quân khí của các tướng đầu hàng rồi về" [76; 136]
Sự kiện năm 1469, "tháng 3 người Chiêm Thành đi thuyền vượt biển để
đến quấy châu Hóa" [76; 224] Và việc năm 1470, "tháng 8, quốc vương Chiêm Thành là Bàn La Trà Toàn thân đem quân thủy bộ voi ngựa hơn 10 vạn
đánh úp châu Hóa" [76; 228] Đã trở thành cái cớ hợp lý cho Lê Thánh Tông tiến hành cuộc đại chinh phạt Chiêm Thành lớn nhất trong lịch sử Trung đại Việt Nam Sự kiện năm 1471 đã trở thành niên điểm vô cùng quan trọng trong lịch sử quan hệ giữa Đại Việt và Chămpa Rất nhiều học giả đã đồng thuận với quan điểm, sau trận chiến này, Chiêm Thành không còn đủ sức gượng dậy
được nữa Để chuẩn bị cho cuộc chinh phạt với quy mô lớn, Lê Thánh Tông đã cất công làm rất nhiều thủ tục khác nhau, từ việc năm 1470, "mùa đông, tháng
10 sai sứ sang nước Minh Nguyễn Đình Mỹ tâu việc Chiêm Thành quấy nhiễu biên giới" [76; 229] Cho đến việc, "tháng 11, ngày 6, vua xuống chiếu thân đi đánh Chiêm Thành" [76; 229 - 232] Sự chu đáo về mọi mặt, đã khiến vua Lê Thánh Tông tổ chức cuộc chinh phạt được chính danh, thuận lẽ đứng
Trang 30từ nhiều góc độ Việc chinh thảo đã được đặc biệt mô tả trong các pho chính
sử của Đại Việt Ngay sau khi giành được thắng lợi to lớn, Lê Thánh Tông đã nhanh chóng "lấy đất Chiêm Thành đặt làm thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa Đặt chức án sát ở 12 thừa tuyên và đặt 3 ty" [76; 239] Việc làm mạnh tay về quân sự, bài bản về hành chính và tham vọng chính trị của Lê Thánh Tông đã gần như làm cho Chiêm Thành kiệt quệ, không gượng dậy
được nữa Mặc dù trong thời gian sau này, cũng có một vài lần người Chiêm vẫn quấy nhiễu ở vùng biên giới Nhưng những cố gắng đó không kéo dài
được bao lâu [Phụ lục 2; bảng 8]
1.2.3 Quan hệ với chúa Nguyễn ở Đàng Trong
Sau vương triều Lê sơ, lịch sử Việt Nam cũng như Chămpa xảy ra nhiều bước ngoặt có tính chất thay đổi cục diện Đặc biệt sự kiện 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa Quan hệ Việt - Chăm được đặt vào một bối cảnh mới Bối cảnh phức tạp trong nội bộ vương triều của người Việt với nhiều thế lực cát cứ, soán đoạt Sự lớn mạnh của chính quyền Đàng Trong đã phân chia cục diện Đại Việt thành hai nửa Đàng Ngoài vua Lê, chúa Trịnh với quyền uy, bề thế đã được xây dựng từ nhiều thế kỷ Đàng Trong là đất mới, lưu dân thưa thớt, tiềm lực kinh tế cũng như quân đội không mạnh; lại vẫn còn đó một Chămpa tuy nhỏ bé - "thoi thóp", nhưng cũng khiến các chúa Nguyễn phải phiền lòng Sức ép từ phía Bắc liên quan an nguy đến sự tồn vong của mình, các chúa Nguyễn phải hết sức khôn khéo, cởi mở trong chính sách cai trị, thực dụng trong cách thức dùng người Và đặc biệt Nam tiến để mở rộng lãnh thổ, trừ đi mối hậu họa từ phía sau lưng Chính vì vậy, quan hệ với Chămpa thời kỳ này của các chúa Nguyễn trở thành nhân tố chủ động trong mọi quan hệ Mặc dù, Chămpa cũng chống trả quyết liệt, nhưng đến năm 1693
"chúa Nguyễn đã chiếm hết đất Chiêm Thành (Chămpa), chỉ để lại cho họ một khoảnh đất Thuận Thành và một tước Phiên vương, cũng do quan ta kiểm soát,
để an ủi họ mà thôi Nhưng rồi sau đó cũng chẳng bao lâu, biến cố dồn dập,
Trang 31Thuận Thành cũng bỏ và Chămpa bị xóa hẳn tên trên bản đồ" [53; 393] Liên tiếp vào các năm 1611, “bắt đầu đặt phủ Phú Yên Bấy giờ quân Chiêm Thành xâm lấn biên giới, chúa sai chủ sự là Văn Phong đem quân đi đánh lấy được” [108; 36] Năm 1629, “Văn Phong ở Phú Yên dùng quân Chiêm Thành Làm phản Phó tướng Nguyễn Phúc Vinh đi đánh dẹp yên và lập dinh Trấn Biên” [108; 44] Một chính sách rất khôn khéo của các chúa Nguyễn đã được thực thi vào năm 1648, sau khi cuộc Nam chinh của quân Trịnh bị đại bại Chúa Nguyễn đã bắt được nhiều tướng Trịnh và 3 vạn quân, để thuận một công lại
được nhiều việc Chúa nói: “Hiện nay từ miền Thăng (tức phủ Thăng Bình)
Điện (tức phủ Điện Bàn) trở vào Nam đều là đất cũ của người Chàm, dân cư thưa thớt, nếu đem chúng vào an tháp đất ấy, cấp cho canh ngưu điền khí chia
ra từng bộ từng xóm, tính nhân khẩu cấp cho lương ăn để chúng khai khẩn ruộng hoang, thời trong khoảng mấy năm, thuế má thu được có thể đủ giúp quốc dụng, và sau sau hai mươi năm, sinh sản ngày nhiều, có thể thêm quân
số, có gì mà lo về sau” [108; 59] Năm 1653, “bấy giờ có vua nước Chiêm Thành là Bà Tấm xâm nhập Phú Yên, sai Cai cơ Hùng Lộc làn Thống binh, Xá sai Minh Vũ làm tham mưu, lãnh 3000 quân đi đánh” [108; 62] Trận này quân Nguyễn đại thắng, cuộc xâm lấn sâu vào đất Chămpa đã tiến thêm được một bước nữa Và sau trận này, “chúa y cho, khiến lấy sông Phan Rang làm giới hạn, từ phía đông sông đến địa đầu Phú Yên chia làm hai phủ Thái Khang
và Diên Ninh… Đặt dinh Thái Khang cho Hùng Lộc trấn giữ Phía tây Phan Rang vẫn về Chiêm Thành, bắt giữ lệ chức cống” [108; 62] Từ sau trận đánh này, phải cho đến 1692, “mùa thu, tháng 8, vua nước Chiêm Thành là Bà Tranh làm phản, họp quân đắp lũy, cướp giết cư dân ở phủ Diên Ninh Dinh Bình Khang đem việc báo lên Chúa sai Cai cơ Nguyễn Hữu Kính làm Thống binh, lấy văn chức Nguyễn Đình Quang làm Tham mưu suất lãnh quân Chính dinh, cùng quân Quảng Nam và Bình Khang đi đánh” [108; 106] Trận đánh này kéo dài sang năm 1693, “mùa xuân, tháng giêng, bọn Thống binh Nguyễn
Trang 32Hữu Kính đánh bại Chiêm Thành, Bà Tranh bỏ chạy Tháng 3, Nguyễn Hữu Kính bắt được Bà Tranh và bề tôi là Tả trà viên Kế Bà Tử với thân thuộc là Nàng mi Bà Ân đem về Chúa sai đổi nước ấy làm trấn Thuận Thành” [108;
106 - 107] [Phụ lục 2; bảng 9]
Qua các bảng thống kê và phân tích các sự kiện, quan hệ giữa Đại Việt
- Chămpa trong lịch sử diễn ra với nhiều biến cố phức tạp Có thể nói đây là mối quan hệ của hai vương quốc có cùng cơ tầng văn hóa bản địa Đông Nam
á, nhưng lại tiếp thu hai hệ tư tưởng, hai mô hình nhà nước khác nhau Chính vì vậy, nhà nước Đại Việt vận hành theo cơ chế Đông á, còn Chămpa lại vận hành theo cơ chế Nam á (Đại Việt và Chămpa là hai nền văn hóa có cơ tầng
Đông Nam á) Với mô hình học tập từ Trung Hoa, theo hệ tư tưởng Khổng Mạnh, Đại Việt đã nhanh chóng xây dựng một nhà nước tập quyền vững mạnh Chămpa, xây dựng mô hình một nhà nước phân quyền dựa trên bệ đỡ của hệ tư tưởng Bàlamôn giáo đã khiến họ trở thành một trong những quốc gia thuộc ấn theo cách gọi của các học giả trên thế giới Mối bang giao giữa Đại Việt và Chămpa cũng diễn ra theo hai con đường cơ bản: Hoà bình và Chiến tranh Sự tiếp nhận văn hóa Chăm của người Việt đã trở thành một nhu cầu cần thiết trong giai đoạn đầu của thời tự chủ Sau khi trải qua gần 1000 năm Bắc thuộc, sự áp đặt của người Hán đã khiến người Việt phải tự xây dựng một nền văn hóa của riêng mình để tự khẳng định vị thế độc lập Một mặt vừa tiếp thu có chọn lọc văn hóa Hán, nhưng mặt khác phải tìm đến và tiếp nhận thêm những yếu tố văn hóa phi Hán, có nhiều điểm tương đồng với văn hóa Việt Chămpa như một trong những nhân tố cần thiết cho quá trình tự khẳng định của Đại Việt Tuy nhiên, sau khi đã tự khẳng định được một nền văn hóa độc lập, tự chủ và khá hoàn thiện vào cuối đời Trần, đặc biệt là thời Lê sơ Cộng thêm với sự quấy nhiễu, Bắc tiến liên tục của người Chăm, đã khiến an ninh
Đại Việt bị đe doạ Đại Việt đã có những phản ứng mạnh mẽ với Chămpa, về quân sự cũng như văn hóa Mặc dù vậy, quá trình quan hệ Việt Chăm trong
Trang 33lịch sử đã diễn ra mạnh mẽ, đã khiến Đại Việt tự sản sinh ra những yếu tố văn hóa phi Hán [Phụ lục 1; Bản đồ 1, 2, 3]
1.3 Các hoạt động giao thoa văn hóa Việt - Chăm
Xét trên phương diện lý thuyết đơn thuần thì các học giả chia giao thoa văn hóa thành hai hình thức cưỡng bức và tự nguyện tương ứng với hai con
đường hòa bình (các hoạt động ngoại giao, trao đổi thương mại ), chiến tranh (chiến tranh quân sự, cướp bóc ) Nhưng dưới góc nhìn khác, tôi cho rằng, khi tiếp nhận giá trị của một nền văn hóa khác thì luôn là tự nguyên, không có cái gọi là cưỡng bức hay ép buộc Chỉ có phương thức đưa đến sự giao thoa theo hai con đường hòa bình và chiến tranh Chính vì vậy trong quá trình giao thoa văn hóa, người Việt đã tiếp nhận tự nguyện được một phức hợp những giá trị của nhiều nền văn hóa bao gồm: của người Hán, người ấn Độ và người Chămpa thông qua nhiều con đường khác nhau trong lịch sử Riêng đối với quan hệ Việt - Chăm trong lịch sử cũng diễn ra hết sức phức tạp Nhưng xét trên bình diện chung, thì văn hóa Chăm đã giao thoa và được tiếp viến với văn hóa Việt qua hai phương thức cơ bản: hoạt động ngoại giao và hoạt động quân
sự Và bản thân văn hóa Chăm cũng đã chịu nhiều sự Việt hóa từ văn hóa Việt truyền thống có cùng cơ tầng bản địa Đông Nam á Chính sự đan xen, phức hợp với nhiều nền văn hóa khác nhau trong đó chủ đạo là Hán với tinh thần áp chế, nổi trội của hệ tư tưởng Khổng Mạnh với nền văn hóa ấn thông qua Chăm
đã có sức sống len lỏi, hòa quyện và trầm lắng trong nền văn hóa Việt Điều này làm cho chúng ta hết sức khó khăn khi nhận diện cụ thể đâu là những giá trị văn hóa Chăm, đâu là của Hán…
Tuy nhiên cũng cần nhận định rằng, quan hệ và giao lưu văn hóa Việt - Chăm trong thời Lý - Trần được coi là mạnh mẽ nhất cả về số lượng và chất lượng Có thể lý giải cho việc văn hóa Việt tiếp nhận văn hóa Chăm một cách mạnh mẽ đến như vậy kể từ sau 938, và đặc biệt vào thời Lý, Trần Sau khi chấm dứt nghìn năm Bắc thuộc của người Hán đối với người Việt, việc “tái
Trang 34lập” một nhà nước, khẳng định một nền văn hóa Việt trên nền tảng văn hóa bản địa tiền Bắc thuộc và chống Bắc thuộc là hết sức cần thiết Một thời gian quá dài bị người Hán đô hộ chính là nguyên nhân của một sự khởi đầu muộn mằn của người Việt Chính vì vậy, văn hóa Việt một mặt phải tự khẳng định truyền thống, sự khác biệt với văn hóa Hán, đồng thời phải tiếp nhận có chọn lọc những giá trị ưu trội của văn hóa Hán, đây là nghịch lý dân tộc đã tồn tại
và xuyên suốt trong diễn trình của lịch sử Việt Nam Tuy nhiên, để xây dựng những giá trị văn hóa Việt, phi Hán thì không chỉ đòi hỏi phải có một sự nỗ lực vượt bậc của cả dân tộc, mà còn cần phải mở rộng tiếp nhận những giá trị
đặc sắc của các nền văn hóa khác như ấn Độ, Chămpa như một đối trọng với văn hóa Hán Hơn nữa, những nền văn hóa phi Hán đó lại có nhiều điểm đồng thuận/gần gũi với văn hóa Việt về tư tưởng, tâm lý và cách thức thể hiện Đặc biệt với văn hóa Chăm, vốn là một quốc gia ra đời muộn hơn Văn Lang, Âu Lạc, nhưng lại nhanh chóng định hình và có điều kiện và thời gian để hoàn thiện sau đó Nên vào thời gian mà Đại Việt đang khẳng định, thì Chămpa đã phát triển rực rỡ nhờ tiếp thu giá trị đặc thù của văn hóa ấn Độ Chính vì vậy, bản thân trong văn hóa Chăm ảnh hưởng ấn đã có linh hồn và nhiều giá trị phù hợp với tâm thức Việt Xét về hình thức, thì có thể coi hai thể chế Việt (vỏ bọc Trung Hoa) với Chăm (vỏ bọc ấn Độ) khác nhau tới mức khó có những điểm chung Tuy nhiên, do nằm liền kề nhau về lãnh thổ, lại có những điều kiện tự nhiên và đặc thù về văn hóa bản địa tương đồng, hơn nữa, Đại Việt đang cần những cứu cánh đối chọi với sự áp chế của phương Bắc nên đã nhanh chóng thâu nhận văn hóa Chăm - ấn, bằng nhiều con đường và cách thức khác nhau
Sang đến cuối thời Trần, đặc biệt sau khi chúng ta trải qua 20 năm Minh thuộc và sự xác lập của vương triều Lê sơ, hệ tư tưởng Nho giáo đã dần
định hình phát triển mạnh mẽ, tỏ ra lấn lướt những giá trị văn hóa Chăm vốn
đã ăn sâu vào đời sống Việt Một trong những nguyên nhân cơ bản là sau nhiều thế kỷ định hình, xây dựng, đến thời điểm này văn hóa Việt đã trở thành
Trang 35một cá thể độc lập, hội trong mình nhiều yếu tố ưu việt của các nền văn hóa lân cận Sự kiêu hãnh dân tộc đã khiến người Việt bị mặc cảm trước đám thần dân nô lệ bị mang tiếng là man di kia Chính vì thế mà triều đình ban bố rất nhiều lệnh cấm và bắt bớ giết chóc người Chăm trong thời gian cuối của vương triều Lê sơ Bên cạnh đó còn xảy ra một thực tế là ý thức hệ của người Việt tiếp nhận từ Hán dựa trên Khổng giáo có nhiều điểm mâu thuẫn với giá trị tư tưởng Bà La Môn của cư dân Chăm Chính điều này chúng ta có thể bắt gặp rất rõ nét trong các sự kiện ngoại giao giữa hai nước
Sau khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, chính quyền Đàng Trong được xác lập, quan hệ Việt - Chăm bước sang một giai đoạn mới Trong thời gian này, quá trình Nam tiến diễn ra mạnh mẽ và triệt để hơn bao giờ hết,
số phận của vương quốc Chămpa đã được định đoạt Sau năm 1693, mối quan
hệ Việt - Chăm không diễn ra với tư cách là hai nhà nước nữa, mà cư dân Chăm và văn hóa của họ đã trở thành một phức thể thống nhất với Đại Việt - Việt Nam cho đến tận ngày nay
1.3.1 Các hoạt động ngoại giao
Xét trên bình diện chung trong quá trình giao thoa giữa hai nền văn hóa Việt - Chăm thì phương thức hòa bình diễn ra có phần ít và hạn chế hơn so với phương thức chiến tranh Nhưng nó cũng để lại dấu ấn nhất định trên phương diện nhà nước có tính chất quan phương Tính trong thời Bắc thuộc, các sự kiện ngoại giao không thấy ghi chép nhiều trong chính sử, chỉ duy nhất có một hai sự kiện người Chăm sang triều cống nhà Hán vào các năm 84, 436 Các sự kiện ngoại giao chỉ diễn ra chủ yếu sau khi người Việt giành lại quyền
tự chủ cho đất nước mình Vào thời Đinh - Tiền Lê chỉ xảy ra một lần người Chăm sang triều cống (994) và hai lần quy phụ (986, 992) Sang đến thời Lý
số lần sứ thần qua lại lên đến 24 bao gồm cả 4 lần người Chăm sang quy phụ Thời Trần, sự kiện ngoại giao qua lại giữa hai nước cũng diến ra đến 22 lần bao gồm cả 4 lần người Chăm sang quy phụ Thời Lê sơ, số lần ngoại giao
Trang 36giảm xuống đáng kể, có lẽ trong một thời gian quá ngắn lại xảy ra sự biến năm 1471 Nên tần suất quan hệ ngoại giao thời kỳ này giảm xuống nhiều so với thời Lý, Trần Theo thống kê thì chỉ có 12 lần qua lại dưới hình thức sứ thần của cả hai nước bao gồm cả 2 lần người Chăm vào quy phụ Nếu nhìn vào con số thống kê thì chúng ta có thể nhanh chóng nhận thấy rằng, phương thức giao thoa văn hóa này sẽ để lại những dấu ấn văn hóa đậm nét lên đời sống của Đại Việt, đặc biệt là ở kinh đô Thăng Long Nhưng có lẽ nhận định như vậy là chưa thấu đáo và chỉ nhìn trên những con số có tính chất bề nổi Chúng tôi tạm nhận định như sau, số lần các sự kiện ngoại giao cũng không ít hơn so với số sự kiện đụng độ giữa hai nước, nếu như không muốn nói nó có phần trội hơn Nhưng những dấu ấn văn hóa theo phương thức hòa bình qua con
đường ngoại giao và quy phụ để lại không sâu đậm Hay có thể khẳng định nó chưa thâm nhập nhiều vào đời sống văn hóa Đại Việt và ngược lại Trừ những
sự kiện quy phụ có tính chất phục quốc, phục thù, đôi khi cả tìm chốn dung thân nữa, thì tất cả những sự kiện ngoại giao cho ta thấy rất ít nhân tố để có thể dẫn đến một quá trình giao thoa văn hóa Có chăng chỉ trên phương diện
bề nổi mang tính chất quan phương của triều đình, dường như nó không tác
động nhiều đến đời sống của nhân dân Số sứ thần ít ỏi như số hiện vật triều cống họ mang sang và thời gian lưu trú không dài, lại gần như chỉ tiếp xúc với tầng lớp trên là chủ yếu Nên có thể chắc chắn rằng lối sống, phong tục của họ chưa có nhiều điều kiện và thời gian xâm nhập vào đời sống dân gian Việt Hơn nữa, quy trình tiếp sứ thần có tính chất triều cống này lại chủ yếu diễn ra
ở Thăng Long hoặc ngược lại là quốc đô của Chămpa nên nó không đủ sức lan tỏa ra toàn bộ lãnh thổ của Đại Việt khi đó được
Tuy nhiên, nếu tính cả những sự kiện quy phụ diễn ra rải rác trong các triều đại từ Đinh- Tiền Lê cho đến Lê sơ cho thấy số lượng người quy phụ cũng không nhiều, duy có một vài lần số người lên đến và trăm hoặc nghìn như năm 992 (hơn 3000 người), 1044 (hơn 100 người) và 1448 (340 người)
Trang 37Có thể nhận thấy rằng với số lượng vừa phải, lại kéo dài trong nhiều thế kỷ, thì chắc chắn rằng nó cũng chỉ ảnh hưởng chút ít tới văn hóa của Đại Việt, đặc biệt là ở Thăng Long mà thôi Mặc dù vậy, nhân tố giao thoa nhiều hay ít, lớn hay mạnh, trong khoảng thời gian nào đó thì nó cũng để lại những dấu ấn văn hóa nhất định về mặt hình thức Còn nội dung cụ thể như thế nào, sâu đậm đến
đâu thì còn là một ẩn số Tuy nhiên cũng phải khẳng định lại rằng, chắc chắn thông qua con đường hòa bình - ngoại giao - quy phụ… này với những dấu ấn
mờ nhạt, về cơ bản văn hóa Chăm chưa/không thể làm thay đổi văn hóa Việt trên nhiều phương diện của cuộc sống
Qua tổng hợp các bảng thống kê trên chúng tôi tạm lên biểu đồ như sau:
0 5 10 15 20 25
Bắc thuộc Đinh - Tiền
Lờ
Lý Trần Lờ sơ
Cỏc triều đại ở Việt Nam
Biểu đồ quan hệ ngoại giao Việt Chăm
Series1 Series2
1.3.2 Các hoạt động quân sự
Giao thoa qua phương thức/con đường chiến tranh giữa Đại Việt và Chămpa trong lịch sử diễn ra mạnh mẽ nhất, nó là nhân tố cơ bản cho quá trình tiếp biến văn hóa Việt - Chăm Nếu như phương thức hòa bình qua con
đường ngoại giao và quy phụ không mấy hiệu quả và không để lại nhiều dấu
ấn có tính chất thay đổi tới nhau của hai nền văn hóa Việt - Chăm Thì thông qua phương thức chiến tranh/ bạo lực, quá trình giao thoa văn hóa Việt - Chăm diễn ra mạnh mẽ, sâu sắc hơn bao giờ hết Nó diễn ra trên quy mô lãnh thổ rộng lớn và kéo dài trong nhiều thế kỷ xây dựng, trưởng thành và tồn tại của cả hai dân tộc Đặc biệt, khu vực Thăng Long với tư cách là trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của cả Đại Việt; tinh hoa văn hóa của Chiêm Thành đã được hội tụ để kết tinh rồi lan tỏa, góp phần làm phong phú nền văn
Trang 38hóa Việt thống nhất trong đa dạng Sau nhiều thế kỷ tranh đấu, chinh phạt, các triều đại trong lịch sử Việt Nam đã mang về Đại Việt nói chung và Thăng Long nói riêng những cá nhân xuất sắc nhất được coi là tinh hoa của Chămpa
để phục vụ cho cuộc sống xa hoa trong cung đình
Theo con số thống kê về các cuộc đụng độ giữa Đại Việt và Chiêm Thành diễn ra qua các triều đại khá nhiều so với các sự kiện ngoại giao Nếu tính cả các cuộc đụng độ dưới thời Bắc thuộc với chính quyền đô hộ thì đây là cả một quá trình chiến tranh lâu dài, giằng co giữa hai quốc gia Nếu gộp thêm cả các sự kiện diễn ra dưới thời các chúa Nguyễn Nam tiến và chính thức xóa
bỏ tên gọi Chiêm Thành (Chămpa) trên bản đồ thế giới vào năm 1693, thì mối giao thoa văn hóa Việt - Chăm qua con đường chiến tranh vượt trội phương thức ngoại giao cả về số lượng và chất lượng Vào thời Bắc thuộc, có 15 sự kiện đụng độ quân sự, trong đó có 1 lần với người Việt dưới triều Lý Nam Đế (543) và 1 lần liên kết với Mai Hắc Đế (722) để chống chính quyền đô hộ nhà
Đường Sang thời Đinh - Tiền Lê các cuộc xung đột diễn ra mạnh mẽ và trực tiếp hơn, như đã nói ở trên, do lúc này Đại Việt mang tư cách là một nhà nước
tự chủ xung đột với Chămpa Chính vì thế đã xảy 5 lần va chạm trong một khoảng thời gian rất ngắn từ năm 979 đến 1005 Sang thời Lý - Trần, số lần
đụng độ quân sự tăng lên gấp bội - 41 cuộc (15 cuộc dưới thời Lý, 21 cuộc dưới thời Trần) nhưng kéo dài đến gần 4 thế kỷ (từ 1009 - 1400) Sang thời Lê sơ, các cuộc đụng độ chỉ xuất hiện có 7 lần, kéo dài khoảng 1 thế kỷ (1427 - 1527) Tuy trong 7 lần đụng độ ít ỏi như vậy, nhưng sự kiện năm 1471 đã thay
đổi cục diện trong quan hệ Việt Chăm Vương quốc Chiêm Thành bị “teo lại” với sức lực tàn tạ không còn gượng dậy để chống lại bất kỳ cuộc chinh phạt nào của người Việt Đây cũng là tiền đề rất quan trọng cho các chúa Nguyễn ở
Đàng cũng mở 7 cuộc tiến công và đánh quỵ hẳn Chiêm Thành vào năm 1693
Trong nhiều thế kỷ chiến tranh như vậy không phải lúc nào Đại Việt cũng thắng trận, giành thế chủ động, mà ngược lại số lần quấy nhiễu và đánh
Trang 39ra Bắc của người Chiêm còn nhiều hơn số lần Đại Việt Nam tiến Nguyên nhân người Chăm Bắc tiến và quấy nhiễu Đại Việt thì có nhiều, nhưng có một
lý do cơ bản nằm trong nội tại tính cách và văn hóa của dân tộc Chăm Đó là
“thuật hàng hải của người Chàm rất phát đạt, việc buôn bán bằng đường bể chắc được mở mang Vì ở trên con đường thương mại quốc tế, Lâm ấp chắc cũng phát triển nghề cướp bể… Đồng thời chiến tranh cũng là một nghề nghiệp của người Chàm…” [143; 128] Tuy nhiên, Chiêm Thành (Chămpa) chỉ có 3 lần đánh ra Thăng Long dưới thời Chế Bồng Nga có quy mô lớn nhất
và được coi là đáng kể nhất Còn lại chủ yếu là những hoạt động quấy nhiễu cướp bóc không làm cho Đại Việt có những biến động lớn, hay có tính chất thay đổi cục diện giữa hai quốc gia Nhưng những lần chinh phạt của Đại Việt vào Chămpa lại rất đáng kể, nó làm thay đổi cục diện tương quan giữa hai nhà nước Và thường Chămpa chịu những thất bại nặng nề về quân sự cũng như con người và kinh tế
Những lần chinh phạt như vậy hàng vạn “tù binh” bị bắt đem về Đại Việt Trong đám người được coi là “tù binh” đó không chỉ đơn thuần là những chiến binh chỉ có kỹ năng chiến đấu và sức khoẻ cơ bắp, mà còn có rất nhiều các trí thức, nghệ nhân, nghệ sĩ,… người Chăm Họ có đôi tay tài hoa và khối
óc chứa đầy tri thức của đất nước Chămpa, được đem ra Thăng Long để phục
vụ Để đề phòng biến loạn, các vương triều đã cho họ rải rác ở từ vùng Thanh
- Nghệ ra đến tận vùng trung, thượng lưu sông Hồng và cả Thăng Long nữa
Có lẽ những binh lính đều xung quân hoặc cho ở những vùng đất mới xa kinh thành để đảm bảo an ninh cho quốc đô, vừa có thể tự khai phá đất đai để tự nuôi sống bản thân và có thể bổ sung được nhiều nguồn lực cho triều đình Số còn lại là những trí thức, nghệ sĩ, nghệ nhân, vũ nữ,… có đôi tay, khối óc, tri thức và tài năng chắc chắn được lưu lại Thăng Long để phục vụ cho cung đình với thân phận nô lệ Họ được coi là “những kẻ kém may mắn mang tinh hoa của dân tộc mình phục vụ cho những người chiến thắng như trường hợp người
Trang 40đốc công vô danh xây dựng tháp Báo Thiên cho Lý Thánh Tông, như tướng Bố
Đông giữ thành Đa Bang cho Hồ Quý Ly” [138; 171] Và mọi chuyện giao thoa không chỉ dừng lại ở riêng Thăng Long; với một số lượng người quá lớn nằm rải rác trên lãnh thổ Đại Việt chắc chắn sẽ diễn ra quá trình tiếp biến văn hóa Việt - Chăm mạnh mẽ nhất và kéo dài trong nhiều thế kỷ Đây là một hợp thể những dấu ấn phức tạp, đan xen lẫn nhau, tạo nên sắc màu cuộc sống trong lòng văn hóa Việt truyền thống Trong đó Thăng Long - Hà Nội là một trong những tâm điểm của quá trình giao thoa - tiếp biến lâu dài đó
Trên cơ sở thống kê các hoạt động quân sự ở trên chúng tôi tạm lên biểu
Đinh Tiền Lờ
-Lý Trần Lờ sơ Đàng
Trong Cỏc triều đại ở Việt Nam
Biểu đồ cỏc cuộc đụng độ Việt Chăm
Series1 Series2