Cả cuộc đời cầm bút, Hồ Biểu Chánh đã để lại cho nền văn học Việt Nam một khối lượng sáng tác không nhỏ: 64 tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn, 12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập tản văn và t
Trang 1Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN PHONG NAM
Đà Nẵng, năm 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của luận văn 9
6 Bố cục của luận văn 10
CHƯƠNG 1 HỒ BIỂU CHÁNH – NHÀ VĂN NAM BỘ 11
1.1 HỒ BIỂU CHÁNH – NHÀ TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU GIAI ĐOẠN ĐẦU THẾ KỶ XX 11
1.1.1 Vài nét về tiểu sử Hồ Biểu Chánh 11
1.1.2 Sự nghiệp văn học 13
1.2 HỒ BIỂU CHÁNH TRONG TIẾN TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA
VĂN XUÔI QUỐC NGỮ NAM BỘ 23
1.2.1 Văn xuôi Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX 23
1.2.2 Vị trí của Hồ Biểu Chánh trong văn xuôi quốc ngữ giai đoạn đầu thế kỷ XX 36
CHƯƠNG 2 CHÂN DUNG CUỘC SỐNG NAM BỘ - NHỮNG
GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH 41
2.1 CẢNH QUÊ NAM BỘ TRONG TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH 41
2.1.1 Thiên nhiên gần gũi, thơ mộng 41
2.1.2 Đời sống của người dân Nam Bộ 44
2.2 TÍNH CÁCH NGƯỜI DÂN NAM BỘ TRONG TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH 49
2.2.1 Nét cần cù, chất phác 50
Trang 42.3 PHONG TỤC, TẬP QUÁN TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN
NAM BỘ 59
2.3.1 Lối sống của người dân quê 59
2.3.2 Nếp sống của thị dân đầu thế kỷ XX 68
CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT – MỘT ĐÓNG
GÓP QUAN TRỌNG VỀ PHƯƠNG DIỆN VĂN HÓA CỦA
HỒ BIỂU CHÁNH 73
3.1 TÍNH CHẤT TRUYỆN KỂ TRONG TIỂU THUYẾT HỒ
BIỂU CHÁNH 73
3.1.1 Cốt truyện theo mô hình truyện kể truyền thống 73
3.1.2 Nét riêng trong thủ pháp kể chuyện của Hồ Biểu Chánh 79
3.2 “SẮC THÁI NAM BỘ” TRONG NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT CỦA HỒ BIỂU CHÁNH 88
3.2.1 Dấu ấn phương ngữ Nam Bộ 88
3.2.2 Cách vận dụng thành ngữ 91
3.2.3 Chất Nam Bộ qua cách gọi tên đất, tên người 95
3.2.4 Lối văn giản dị, mang hơi thở cuộc sống 97
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO).
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hồ Biểu Chánh (1885 – 1958) là nhà văn lớn của vùng đất Nam Bộ với một di sản văn học đồ sộ Cả cuộc đời cầm bút, Hồ Biểu Chánh đã để lại cho nền văn học Việt Nam một khối lượng sáng tác không nhỏ: 64 tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn, 12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập tản văn và truyện thơ, 3 vở cải lương, 4 vở hát bội, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu và phê bình,… Hồ Biểu Chánh là tác giả tiêu biểu, có vị trí quan trọng trong đời sống văn học những năm đầu thế kỷ XX không chỉ vì số lượng sáng tác nhiều mà còn bởi vì ông
có ảnh hưởng lớn đến văn học đương thời Trong lời giới thiệu tiểu thuyết
Tiền bạc bạc tiền của Hồ Biểu Chánh, GS Nguyễn Huệ Chi đã khẳng định:
“Nhà tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đã tạo được một khu vực ảnh hưởng lâu dài cho riêng mình, trong đời sống văn học Từ góc độ tâm lý học sáng tạo và tiếp nhận văn học mà nói thì đó là một thành công đáng cho ta suy nghĩ mà không phải hễ cứ là người cầm bút có tên tuổi đều dễ dàng đạt được”[6, tr.5-6] Trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, nét đặc sắc nhất mà những nhà văn khác không có được chính là chất Nam Bộ Đọc tiểu thuyết của ông, độc giả nhận ra dấu ấn địa phương, chất vùng miềm đậm đặc trong từng trang viết “Ông đã đem vào văn học dân tộc một mảng đề tài mà trước ông còn tương đối trống vắng: cuộc sống trên mảnh đất Lục tỉnh với những nét riêng
về phong tục tập quán, cung cách sinh hoạt, đặc điểm thiên nhiên và tính cách con người ”[6, tr.7] Có lẽ, chính vì thế mà độc giả thời bấy giờ và ngay cả bây giờ vẫn luôn yêu thích tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
Gần một thế kỷ đã qua đi, văn chương Hồ Biểu Chánh vẫn luôn là đề tài thu hút sự quan tâm của rất nhiều người, nhất là tiểu thuyết Số lượng công trình nghiên cứu, bài tham luận về ông có thể nói là phong phú Các sáng tác của ông đã được nghiên cứu, tìm hiểu dưới nhiều góc độ Chất Nam Bộ trong
Trang 6tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến Tuy nhiên, cho đến nay nội dung này vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, chưa được lý giải và phân tích cặn kẽ, và đặc biệt là ít được tiếp cận dưới góc độ văn hóa học
Chính những lí do trên đã thúc đẩy chúng tôi lựa chọn và thực hiện đề
tài: Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh Với đề tài này,
chúng tôi cố gắng làm rõ chất Nam Bộ – một trong những nguyên nhân làm nên sức hấp dẫn của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Về lịch sử quá trình nghiên cứu tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh dưới góc
độ văn hóa, xã hội và phong tục, nhiều nhà phê bình nghiên cứu đã đề cập đến, tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này hoặc là điểm qua sơ lược, hoặc
là viết chung với nhiều vấn đề khác xoay quanh tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
Hồ Biểu Chánh là một trong những nhà văn chủ đạo, mở đường cho văn xuôi quốc ngữ những năm đầu thế kỷ XX Ông được đề cập đến trong rất
nhiều những công trình nghiên cứu như: Phê bình và cảo luận (1933) của nhà nghiên cứu Thiếu Sơn; Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan; Lịch sử
văn học Việt Nam (1962) của Nguyễn Đình Chú; Bản lược đồ văn học Việt Nam (1967) của Thanh Lãng; Mảnh vụn văn học sử (1974) của Bằng Giang; Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1974) của Phan Cự Đệ; Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ mới (2002), Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam từ khởi thủy đến cuối thế kỷ XX (2005) của Bùi Đức Tịnh; Văn học Việt Nam nơi miền đất mới (2007) của Nguyễn Quang Thắng
Trong công trình nghiên cứu Nhà văn hiện đại (1942), tuy Vũ Ngọc
Phan viết về Hồ Biểu Chánh còn khá sơ lược nhưng cũng đã khẳng định Hồ Biểu Chánh là một nhà tiểu thuyết nổi tiếng và “tiểu thuyết của Hồ Biểu
Trang 7Chánh lại là những tiểu thuyết có tính bình dân, bình dân cả từ những nhân vật ông chọn đến những lời văn ông viết nữa Hạng người ông tả là hạng tiểu công chức, tiểu phú hào hay hạng thuyền thợ, hạng dân quê Những hạng người ấy không phải những hạng người sống về tư tưởng, mọi cách hành vi của họ không có gì là sâu sắc”[42, tr.337] Khi nhận xét về nội dung tư tưởng
và phương thức thể hiện trong các sáng tác của Hồ Biểu Chánh, Vũ Ngọc Phan đã so sánh Hồ Biểu Chánh với Hoàng Ngọc Phách:
Về đường lý tưởng, tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh cũng giống như tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách, nghĩa là cả hai nhà văn này đều lấy luân lý làm gốc, lấy cổ gia đình làm khuôn mẫu, lấy
sự trung hậu làm điều cốt yếu trong mọi việc ở đời Nhưng tiểu thuyết của họ Hồ lại khác tiểu thuyết của họ Hoàng về mấy phương diện Tiểu thuyết của họ Hoàng thiên về tả tình và giọng văn nhiều chỗ ủy mị cầu kỳ, không tự nhiên, còn tiểu thuyết của
họ Hồ thiên về tả việc và lời văn mạnh mẽ, giản dị, nhiều chỗ như lời nói thường[42, tr 335-336]
Phan Cự Đệ trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1974) cũng đánh giá
cao nhưng đồng thời cũng chỉ ra một số mặt hạn chế của Hồ Biểu Chánh Phan Cự Đệ cho rằng: Trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, khuynh hướng đạo lý tuy có ảnh hưởng tích cực nhưng đồng thời cũng lại hạn chế nội dung hiện thực và “chương trình “khai hóa” của Hồ Biểu Chánh ít nhiều có mang tinh thần dân tộc tự chủ, nhưng lại rơi vào lập trường của chủ nghĩa cải lương
tư sản, không đặt vấn đề đấu tranh để giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước”[14, tr 37,40]
Nguyễn Khuê trong Chân dung Hồ Biểu Chánh (1974) cũng cho rằng:
“Tính chất luân lí bao trùm trong mọi tiểu thuyết của ông (Hồ Biểu Chánh) Ông viết tiểu thuyết phong tục cũng chỉ nhằm đạt chủ đích luân lí Thế nên,
Trang 8nếu cần phải xác định một ý hướng làm nền tảng cho sự sáng tác của Hồ Biểu Chánh thì đó chính là ý hướng luân lí và ông là một nhà văn đạo lí”[23, tr 260]
Năm 1989, khi viết lời tựa cho cuốn tiểu thuyết Tiền bạc bạc tiền, GS
Nguyễn Huệ Chi đánh giá cao những giá trị mà tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đạt được nhất là ở phương diện phản ánh hiện thực đời sống xã hội:
Hồ Biểu Chánh đã làm được những điều có lẽ chính ông cũng không ngờ tới: lần đầu tiên ông đem vào văn học dân tộc một mảng đề tài mà trước ông vẫn còn tương đối trống vắng: Cuộc sống trên mảnh đất lục tỉnh với những nét riêng về phong tục tập quán, cung cách sinh hoạt, đặc điểm thiên nhiên, và tính cách con người Không chỉ có thế, ông còn cung cấp cho ta hình ảnh cuộc sống người dân Nam bộ trong cái bối cảnh chuyển động gấp rút vài ba thập kỷ đầu thế kỷ XX ( ) Đặt trong tình hình văn học 30 năm đầu thế kỷ XX, rõ ràng không có một nhà văn nào có khả năng bao quát hiện thực rộng rãi đến như vậy[6, tr 7-9]
Trong bài viết “Hồ Biểu Chánh với tiểu thuyết Tiền bạc bạc tiền”, Phạm
Ngọc Lan đã có cái nhìn cụ thể về thế giới nhân vật và bức tranh xã hội miền Nam trên con đường tư sản hóa trong một tác phẩm cụ thể của Hồ Biểu Chánh Đồng thời Phạm Ngọc Lan cũng đã chỉ ra mục đích luân lí đạo đức chính là mục đích chính trong những sáng tác của nhà văn này: “Đối với Hồ Biểu Chánh, “viết tiểu thuyết là để cảm hóa, đặng lần lần dẫn dắt quần chúng
về đường chính đại quang minh” Con đường ấy là đạo làm người, lấy sự hiếu nghĩa, nhân ái, trung hậu, trong sạch làm gốc ( ) và mục đích đạo lí đã như sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ các tác phẩm của ông”[6, tr 18]
Trang 9Nhận xét về tác phẩm tiểu thuyết bằng thơ của Hồ Biểu Chánh là U tình
lục, Bùi Đức Tịnh trong công trình nghiên cứu Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và Thơ mới (1865 – 1932) đã khẳng định: “Cốt truyện có một số
tình tiết không tránh được tính cách giả mạo, nhưng mục đích chính của tác giả là tiếp nối truyền thống luân lý của các truyện cổ điển: đề cao hiếu nghĩa
và chứng minh định luật làm lành gặp lành, làm dữ gặp dữ”[51, tr 162] Cùng
với việc tìm hiểu nội dung và hình thức tiểu thuyết Vậy mới phải, Bùi Đức
Tịnh cũng đã đưa ra những đánh giá chung về Hồ Biểu Chánh: “Tóm lại, tác giả đã đổi mới loại truyện cổ điển bằng cách chọn nhân vật trong xã hội Việt Nam ở thời trước tác giả không lâu”[51, tr 163]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Thắng trong công trình nghiên cứu Văn
học Việt Nam nơi miền đất mới (2007) cũng đã đề cập đến Hồ Biểu Chánh
Nguyễn Quang Thắng cho rằng: “Hồ Biểu Chánh là một nhà văn sung sức nhất ở Nam Bộ hồi đầu thế kỷ XX với một văn phong đậm màu sắc “Miệt vườn Lục tỉnh Nam Kỳ””[46, tr.1010] Tuy nhiên, nhà nghiên cứu này cũng chỉ mới dừng lại ở việc giới thiệu một số tác phẩm mà chưa đi sâu làm rõ sắc thái “miệt vườn Lục tỉnh” trong sáng tác của nhà văn Hồ Biểu Chánh
Khi nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh, nhà nhiên cứu Nguyễn Phong Nam
đã cho rằng:
Hồ Biểu Chánh chính là gương mặt sáng giá nhất của xu hướng văn chương thế sự thời điểm đầu thế kỷ XX Ông đã kế tục được tinh thần của truyện thơ Nôm đạo lí, đạo đức trong thể loại tiểu thuyết; đã nối mạch văn chương vệ đạo, tải đạo một cách tự nhiên nhất; chuyển tải được nội dung tư tưởng có tính truyền thống đến người đọc dưới một hình thức diễn đạt mới, hiện đại hơn: tiểu thuyết văn xuôi Hồ Biểu Chánh cũng là nhà văn thể hiện rất thành công cái diện mạo văn hóa Nam Bộ xưa
Trang 10trong tác phẩm của mình Hồ Biểu Chánh đã rất thành công ở thể loại tiểu thuyết phong tục – điều không nhiều nhà văn đương thời làm được Đây cũng là nét độc đáo của văn chương Hồ Biểu Chánh[34, tr 92]
Ngày 17 và 18 tháng 11 năm 1988, tại Tiền Giang, Hội thảo khoa học
về cuộc đời và văn nghiệp của Hồ Biểu Chánh đã được tổ chức Trong hội thảo này, 30 bản tham luận của các nhà nghiên cứu như Trần Văn Giàu, Hồ Sĩ Hiệp, Nguyễn Lộc, Lê Ngọc Trà, Nguyễn Ngọc Thạch, Nguyễn Ngọc Hiếu,
Cù Đình Tú, Hoài Anh đã đề cập nhiều đến cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Hồ Biểu Chánh; đặc biệt là các nhà nghiên cứu này đã chỉ ra nhiều giá trị mới về nội dung tư tưởng cũng như những đặc sắc nghệ thuật trong các sáng tác của nhà văn, nhất là trong lĩnh vực tiểu thuyết
Năm 2005, nhóm tác giả Trang Quang Sen, Phan Tấn Tài, Huỳnh Thị
Lan Phương đã thành lập website http://www.hobieuchanh.com Trang
website này đã đăng tải hầu như toàn bộ những sáng tác của Hồ Biểu Chánh
và hơn 70 bài viết có giá trị liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp văn chương của nhà văn từ trước tới nay Tiêu biểu có thể kể tới một số bài viết như: “Hồ Biểu Chánh – nhà văn Nam bộ” của Vân Trinh; “Xã hội, văn hóa Việt Nam trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh” của Nguyễn Thanh Liêm; “Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hồ Biểu Chánh” của Huỳnh Thị Lan Phương; “Một vài cảm nghĩ về Hồ Biểu Chánh” của Trần Hữu Tá; “Hồ Biểu Chánh và tiểu
thuyết Tiền bạc bạc tiền” của Phạm Ngọc Lan; “Một vài suy nghĩ về ngôn
ngữ tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh” của Cù Đình Tú; “Hồ Biểu Chánh, cây cầu nối những giá trị cổ truyền với con người hiện đại” của Hoài Anh; “Sài Gòn xưa dưới ngòi bút của Hồ Biểu Chánh” của Trần Vĩnh An; “Từ những ảnh hưởng của thể loại truyện thơ Nôm đến những cách tân theo hướng hiện đại của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh thời kì đầu” của Đinh Trí Dũng; “Cuộc
Trang 11sống ở nông thôn Nam bộ trong một số tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh” của
Huỳnh Thị Lan Phương; “Hồ Biểu Chánh với tiến trình tiểu thuyết Việt Nam
hiện đại” của Nguyễn Quang Thắng; “Nghệ thuật kết cấu trong tiểu thuyết
của Hồ Biểu Chánh” của Trà Thị Lam Vân; “Hồ Biểu Chánh (1885-1958),
nhà văn tiên phong xây dựng nền tiểu thuyết hiện đại Việt Nam” của Thụy Khuê
Nhìn chung, qua các công trình nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh đã được
công bố từ trước tới nay, có thể thấy, các nhà nghiên cứu chủ yếu tìm hiểu về
Hồ Biểu Chánh theo phương pháp tiếp cận văn học sử nhằm làm sáng rõ vị trí
văn học sử của Hồ Biểu Chánh trong nền văn học dân tộc và khẳng định vai
trò mở đường của Hồ Biểu Chánh đối với tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Vấn
đề về văn hóa Nam Bộ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh cũng đã được
nghiên cứu nhưng còn rải rác, chưa được hệ thống Trên cơ sở tiếp thu thành
tựu của những người đi trước, trong luận văn Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong
tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh chúng tôi sẽ tập trung đi sâu làm rõ và khái quát
một cách có hệ thống hơn những dấu ấn văn hóa trong tiểu thuyết của nhà
văn này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là dấu ấn văn hóa Nam Bộ
trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh Cụ thể là chân dung cuộc sống Nam Bộ qua
cảnh quê, qua hình tượng người nông dân, qua những phong tục tập quán
trong đời sống của người dân Nam Bộ Ngoài ra, luận văn còn tập trung làm
rõ nghệ thuật tiểu thuyết – một đóng góp quan trọng về phương diện văn hóa
của Hồ Biểu Chánh
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong tất cả các sáng tác của Hồ Biểu Chánh, văn hóa Nam Bộ được thể hiện xuyên suốt Song, với phương châm chọn điểm lấy đích, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số tiểu thuyết mà trong đó nhà văn đã làm nổi bật những vấn đề về văn hóa Nam Bộ Tác phẩm của Hồ Biểu Chánh được chia
ra làm hai loại: tác phẩm phỏng tác và tác phẩm hư cấu Ở mảng tác phẩm
phỏng tác, chúng tôi lựa chọn khảo sát một số tác phẩm sau: Cay đắng mùi
đời, Chút phận linh đinh, Ngọn cỏ gió đùa, Thầy thông ngôn, Cha con nghĩa nặng Ở mảng tác phẩm hư cấu, chúng tôi lựa chọn khảo sát tác phẩm: Ai làm được, Những điều nghe thấy, Đại nghĩa diệt thân, Nặng gánh cang thường, Tiền bạc bạc tiền, Tân phong nữ sĩ
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã vận dụng kết hợp một
Phương pháp hệ thống – cấu trúc: Sử dụng phương pháp này, chúng tôi xác định được đặc điểm chung và riêng về nội dung và hình thức của những tác phẩm thuộc thể tài này Từ đó, có cái nhìn cụ thể và toàn diện về dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong tiểu thuyết của nhà văn Hồ Biểu Chánh
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Nghiên cứu từng tiểu thuyết, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp phân tích để tìm hiểu tác phẩm được cụ thể trên
Trang 13cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Sau đó, phương pháp tổng hợp sẽ được dùng để khái quát lại vấn đề
Phương pháp so sánh: Phương pháp này giúp chúng tôi nhận ra điểm tương đồng và khác biệt giữa dấu ấn văn hóa trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh với dấu ấn văn hóa trong các sáng tác của các tác giả khác
Phương pháp tiếp cận văn học dưới góc độ văn hóa học, dân tộc học: Trong quá trình nghiên cứu tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, việc sử dụng xuyên suốt phương pháp tiếp cận văn hóa học, dân tộc đã giúp chúng tôi tìm hiểu rõ về vai trò sáng tạo những mô hình văn hóa, cũng như những phê phán
có tính văn hóa trong những tiểu thuyết của nhà văn Hồ Biểu Chánh Đồng thời, phương pháp tiếp cận này cũng đã giúp ích rất nhiều trong việc xác định những điểm mới của văn hóa được phản ánh trong văn học ở từng thời kì
5 Đóng góp của luận văn
Đề tài “Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh” được chúng tôi thực hiện nhằm khảo sát những bản sắc địa phương của Nam Bộ được phản ánh trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Trên cơ sở đó luận văn
sẽ cho thấy rõ những thành tựu của nhà văn này trong việc phản ánh hiện thực đời sống xã hội, những đóng góp tiến bộ đậm chất nhân văn và cả những quan điểm còn lệch lạc về vấn đề văn hóa qua cái nhìn nghệ thuật của tác giả
Ngoài ra, qua các tác phẩm chúng tôi còn có mong muốn tìm ra những nét đặc sắc riêng của tác giả trong nghệ thuật miêu tả những nét văn hóa của Nam Bộ để thấy rõ những giá trị của chúng được khắc họa, lưu giữ bằng nghệ thuật ngôn từ Luận văn vì vậy có thể sẽ góp phần để hiểu thêm về những tinh hoa đẹp đẽ của bản sắc dân tộc Điều này cũng đồng nghĩa với việc giúp cho quá trình giảng dạy về những đóng góp của văn chương Hồ Biểu Chánh đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong nhà trường phổ thông đi vào chiều sâu
Trang 146 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có ba chương chính như sau:
- Chương 1: Hồ Biểu Chánh – nhà văn Nam Bộ
- Chương 2: Chân dung cuộc sống Nam Bộ – những giá trị văn hóa trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
- Chương 3: Nghệ thuật tiểu thuyết – một đóng góp quan trọng về phương diện văn hóa của Hồ Biểu Chánh
Trang 15CHƯƠNG 1
HỒ BIỂU CHÁNH – NHÀ VĂN NAM BỘ
Vào những năm đầu thế kỷ XX, văn xuôi quốc ngữ bắt đầu xuất hiện, phát triển ở Nam Bộ và dần dần trở thành một bộ phận máu thịt của văn học Việt Nam Có thể nói, ở giai đoạn này, Hồ Biểu Chánh chính là nhà văn tiêu biểu nhất Tuy Hồ Biểu Chánh không phải là người tiên phong, mở ra một loại hình mới (văn xuôi quốc ngữ) như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản nhưng ông chính là người góp phần tích cực trong việc hiện thực hóa những ý tưởng văn chương mà các bậc tiền bối đã phác thảo Bằng sự nghiệp trứ tác
đồ sộ của mình, Hồ Biểu Chánh đã chứng minh một cách hùng hồn sự đúng đắn của chủ trương cách tân văn chương Việt; bước đầu đưa văn chương Việt Nam chuyển từ phạm trù văn học trung đại sang văn học hiện đại
1.1 HỒ BIỂU CHÁNH – NHÀ TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU GIAI ĐOẠN ĐẦU THẾ KỶ XX
1.1.1 Vài nét về tiểu sử Hồ Biểu Chánh
Hồ Biểu Chánh (1885 – 1958) tên thật là Hồ Văn Trung, bút hiệu Thứ Tiên, tự là Biểu Chánh Ông sinh vào ngày 01 tháng 10 năm 1885 tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay là tỉnh Tiền Giang) Thân phụ ông là cụ Hồ Hữu Tạo từng làm Hương Chủ và Chánh Bái, có công tranh đấu với làng Bình Xuân, giành được hơn sáu trăm mẫu ruộng làm công điền cho làng Bình Thành Hồ Biểu Chánh là con thứ năm trong số mười hai anh chị em
Sinh trưởng trong một gia đình nghèo, thuở thiếu thời, Hồ Biểu Chánh phải chịu nhiều vất vả, thiếu thốn Năm lên 9 tuổi, ông bắt đầu theo học chữ Nho tại trường làng Quãng thời gian theo các lớp ấu học dùi mài chữ nghĩa
và đạo lý thánh hiền không lâu, đến năm 13 tuổi thì ông chuyển sang học chữ quốc ngữ, chữ Pháp tại trường Vĩnh Lợi Năm 1905, Hồ Biểu Chánh thi đậu
Trang 16bằng Thành chung Theo lời khuyên của một vị thầy giáo cũ, ông bỏ ý định xin đi làm giáo viên để đăng ký thi ngạch ký lục Năm 1906, ông thi đậu Ký lục soái phủ Nam kỳ và được sơ bổ làm việc tại dinh Thượng thư ở Sài Gòn
Năm 1911, do bị nghi ngờ là thân thiện với nhóm Nghịch Pháp nên ông bị đổi
đi Bạc Liêu Dù rằng rất dễ kiếm tiền từ nghề ký lục tại Bạc Liêu nhưng ông
đã giữ cho mình một cuộc đời thanh bạch
Năm 1912, Hồ Biểu Chánh tình nguyện đi làm việc tại Cà Mau thay cho một đồng liêu có con nhỏ, làm việc tại đây được 8 tháng thì lại đổi đi Long Xuyên Trong khoảng thời gian này, ông đã cùng bạn bè trong hội Khuyến
học Long Xuyên thành lập Đại Việt tạp chí Đây là một sự kiện mang ý nghĩa
rất quan trọng trong cuộc đời trứ tác của ông
Năm 1918, Hồ Biểu Chánh về làm việc tại Gia Định Hai năm sau đó, ông làm việc tại văn phòng Thống đốc Nam kỳ Năm 1921, ông thi đậu Tri huyện Sáu năm sau, ông được thăng Tri phủ, nhậm chức chủ quận Càng Long (Vĩnh Bình) Năm 1932, ông làm chủ quận Ô Môn (Cần Thơ) Năm
1934, do bất đồng ý kiến với viên chủ tỉnh nên ông đổi đi quận Phụng Hiệp Năm 1935, ông đổi về Sài Gòn đến năm 1936, được thăng Đốc Phủ Sứ Năm
1937, ông xin được về hưu trí tuy nhiên chính phủ Pháp viện cớ không có người thay thế nên tiếp tục bổ nhiệm ông cho đến cuối tháng 6 năm 1941 Tháng 8 năm 1941, Hồ Biểu Chánh lại được cử làm Nghị viên Hội đồng Liên bang Đông Dương, sau đó ít ngày, ông được cử làm Nghị viên Hội đồng thành phố Sài Gòn kiêm chức phó Đốc lý Từ năm 1942 đến năm 1944, ông là Nghị viên Hội đồng quản trị Sài Gòn – Chợ Lớn đồng thời giữ cương vị giám
đốc tờ báo Nam Kỳ tuần báo Tờ báo thực hiện được 85 số thì bị đình bản Cũng trong những năm này, ông cho khôi phục lại Đại Việt tạp chí dưới hình
thức bộ mới, phát hành được 54 số thì cũng bị đình bản
Trang 17Năm 1946, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh mời Hồ Biểu Chánh lãnh Bộ Nội
Vụ hoặc Bộ Thông Tin trong Chính phủ Nam kỳ Cộng Hòa tự trị, nhưng vì tuổi cao sức yếu lại có bệnh nên ông chỉ tạm nhận làm cố vấn và Đổng lý văn phòng
Cuối năm 1946, chán ngán cuộc đời hoạn lộ, Hồ Biểu Chánh từ giã chính trường, thật sự bắt đầu cuộc sống hưu nhàn và dành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp viết văn Hồ Biểu Chánh mất ngày 04 tháng 11 năm 1958 (ngày 23 tháng 9 năm Mậu Tuất) tại tư thất Phú Nhuận, hưởng thọ
74 tuổi Linh cữu của ông được an táng tại xã Thông Tây Hội, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định
Vì đã có một thời gian dài Hồ Biểu Chánh làm việc cho Chính phủ Pháp nên nhiều nhà phê bình đều “phiền trách” cuộc đời chính trị của ông Tuy nhiên dù làm việc cho Pháp nhưng ông luôn giữ cho mình một cuộc sống thanh tao, lấy tấm lòng hiền đức để đối đãi với mọi người Ông quan niệm
“tuy làm tay sai cho Pháp, nếu mình cứ lấy lòng siêng năng, ngay thẳng mà làm việc, đừng a dua, đừng bợ đỡ, phải thì ở, không phải thì đi, nói oán dám giận, nói bậy dám cãi thì phận mình khỏi hổ mà thiên hạ được nhờ”[dẫn theo
24, tr 18] Ngày nay, bên cạnh những người phê phán cuộc đời hoạn lộ của
Hồ Biểu Chánh thì vẫn có những người nhìn nhận nó một cách cởi mở hơn Mặc dù có nhiều bàn luận “vào ra” về cuộc đời chính trị của Hồ Biểu Chánh nhưng xét trên phương diện văn học thì không ai có thể phủ nhận những đóng góp của ông cho văn học nước nhà
1.1.2 Sự nghiệp văn học
Hồ Biểu Chánh đã làm phong phú sự nghiệp văn học của mình bằng cách thử sức trên nhiều lĩnh vực khác nhau Ông đã để lại cho đời 64 tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn, 12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập tản văn và truyện thơ, 3 vở cải lương, 4 vở hát bội, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu và phê bình,…
Trang 18Trong các lĩnh vực ấy, tiểu thuyết chính là thể loại mang đến thành công
nhiều nhất cho ông Có thể nói, Hồ Biểu Chánh chính là một trong những tiểu
thuyết gia tiêu biểu giai đoạn đầu thế kỷ XX Ông có những đóng góp to lớn
cho tiểu thuyết quốc ngữ giai đoạn đầu cả trên phương diện phỏng tác và
hư cấu
a Những tác phẩm theo lối phỏng tác
Phỏng tác là một trong những hướng đi ban đầu để nhà văn và cả độc giả
có thể làm quen với một loại hình văn chương mới – văn xuôi quốc ngữ buổi
đầu Xuất phát từ ý tưởng, từ sự kiện, từ cốt truyện của một tác phẩm có
trước, nhà văn tạo dựng nên một tác phẩm mới với tên gọi khác và đương
nhiên ý nghĩa, giá trị, mục tiêu cũng sẽ khác Phỏng tác chính là “dạng sáng
tác dựa trên những yếu tố có sẵn (kể cả ý tưởng, cốt truyện cho đến tình tiết,
sự kiện); nghĩa là tác phẩm mới hình thành này có một phần “chất liệu” lấy từ
tác phẩm tiền thân, gồm nhiều yếu tố, nhiều cấp độ khác nhau”[34, tr 53]
Trong chặng đường đầu tiên của văn xuôi quốc ngữ, sự xuất hiện của tác
phẩm theo lối phỏng tác tương đối nhiều Hầu hết những tác phẩm này được
chế tác lại trên cơ sở những đoản thiên, truyện ngụ ngôn, tiểu thuyết của
phương Tây; những thoại bản của Trung Quốc; hay những truyền thuyết của
Việt Nam Có thể kể đến một số nhà văn tiêu biểu cho dạng sáng tác này như:
Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Trọng Thuật và
đặc biệt là Hồ Biểu Chánh
Hồ Biểu Chánh chính là nhà văn tiêu biểu nhất trong hoạt động nghệ
thuật phỏng tác Khác với Nguyễn Trọng Thuật, chủ yếu lấy cảm hứng từ các
truyện truyền kỳ của Việt Nam, Hồ Biểu Chánh chọn các tác phẩm của văn
học phương Tây làm cơ sở để sáng tạo nên những tác phẩm mới Trong số 64
tiểu thuyết thì đã có 12 tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh dựa theo tiểu thuyết
phương Tây, gồm:
Trang 191 Chúa tàu Kim Quy phỏng theo Le Comte de Monte Crixto (Dumas)
2 Cay đắng mùi đời phỏng theo Sans Famille (Hector Malot)
3 Thầy Thông ngôn phỏng theo Les Amours Desteves (Theuriet)
4 Ngọn cỏ gió đùa phỏng theo Les Miserables (Victo Hugo)
5 Chút phận linh đinh phỏng theo En Famille (Hector Malot)
6 Kẻ làm người chịu phỏng theo Les deux Gosses (Decourselle)
7 Vì nghĩa vì tình phỏng theo Fanfan et Claudinet (Decourselle)
8 Cha con nghĩa nặng phỏng theo Le Calvaire (Decourselle)
9 Ở theo thời phỏng theo Topaze (Marcel Pagnol)
10 Ông Cử phỏng theo Lartiste (Marcel Pagnol)
11 Đóa hoa tàn phỏng theo Le Rosaire (Marcel Pagnol)
12 Người thất chí phỏng theo Crimes et Châtiment (Dostoevski)
Tuy dựa trên những tác phẩm của phương Tây nhưng những tác phẩm phỏng tác của Hồ Biểu Chánh vẫn mang những nét riêng, độc đáo, gần gũi với người dân Nam Bộ vì vậy độc giả vẫn luôn yêu thích tác phẩm của ông
Để làm được điều này, Hồ Biểu Chánh đã dựa trên những cảm quan tích cực, nhân đạo của đạo lí Việt Nam từ đó ông đã thay đổi khá nhiều trong đề tài, cốt truyện, tính cách nhân vật Chính Hồ Biểu Chánh cũng đã nói rõ quan
điểm phỏng tác của mình trong cuốn hồi kí Đời của tôi về văn nghệ: “Đọc
tiểu thuyết hay tuồng Pháp văn hễ tôi cảm thì tôi lấy chỗ tôi cảm đó mà làm
đề, rồi phỏng theo ít nhiều hoặc tách riêng ra mà sáng tác một tác phẩm hoàn toàn Việt Nam Tuy tôi nói phỏng theo song kỳ thiệt tôi lấy đại ý mà thôi, mà
có khi tôi lật ngược tới đại ý, làm cho cốt truyện trái hẳn tâm lý khác xa với truyện Pháp”
Khảo sát một số tác phẩm phỏng tác của Hồ Biểu Chánh trong sự so sánh, đối chiếu với những tác phẩm tiền thân, chúng tôi nhận thấy sự dày
Trang 20công của ông trong quá trình Việt hóa những tác phẩm phương Tây, làm cho những tác phẩm ấy trở nên gần gũi với công chúng Nam Bộ
Năm 1922, Hồ Biểu Chánh cho ra mắt độc giả tiểu thuyết Chúa tàu Kim
Quy Tác phẩm này được phỏng theo truyện Le Comte de Monte Cristo của A
Dumas So sánh hai tác phẩm này, chúng tôi nhận thấy, Hồ Biểu Chánh vẫn giữ lại một số nhân vật trọng tâm như:
- Edmonde Dantès – Lê Thủ Nghĩa
- Fernand – Trần Tấn Thân
- Danglars – Lý Thiên Hùng
- Mercédès – cô Tư Chuyên
- Linh mục Maria – chú khách Mạc Tiễn Tuy nhiên, nhà văn đã đơn giản hóa câu chuyện ly kỳ của A Dumas để cho câu chuyện trở nên phù hợp với tâm lý, thị hiếu của người dân Nam Bộ
Xét về dung lượng, Chúa tàu Kim Quy chỉ bằng một phần sáu số trang của Le
Comte de Monte Cristo Xét về cốt truyện, Hồ Biểu Chánh đã bỏ đi phần lớn
những chi tiết rườm rà Cách xây dựng tình tiết truyện của nhà văn cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng tiểu thuyết kiếm hiệp của Trung Quốc Đặc biệt, lối kết
thúc của Chúa tàu Kim Quy mang đậm cảm quan nhân đạo của người Việt Nếu như trong Le Comte de Monte Cristo của A Dumas, Dantès thực hiện
hành động đền ơn báo oán bằng một kế hoạch tỉ mỉ, chi tiết và tự mình ra tay
thì Thủ Nghĩa trong Chúa tàu Kim Quy lại hoàn toàn ngược lại Tuy sự báo
oán của Thủ Nghĩa cũng có sự chuẩn bị trước nhưng đến phút cuối cùng bao
giờ Thủ Nghĩa cũng nhờ sự can thiệp của pháp luật
Năm 1923, dựa trên tác phẩm Sans Famille của Hector Malot, Hồ Biểu Chánh viết tiểu thuyết Cay đắng mùi đời Xét về dung lượng, Cay đắng mùi
đời có dung lượng ngắn hơn Sans Famille; tính cách nhân vật cũng đơn giản
hơn; không gian miêu tả cũng thu hẹp hơn Nếu như trong tác phẩm Sans
Trang 21Famille, Hector Malot miêu tả xã hội tư bản Pháp thế kỷ XIX với sự phát
triển mạnh mẽ về kinh tế bên cạnh đó là sự bóc lột và bần cùng hóa người dân lao động; không gian được miêu tả trong tác phẩm là một không gian rộng
lớn, qua nhiều quốc gia thì trong Cay đắng mùi đời, Hồ Biểu Chánh lại miêu
tả xã hội Việt Nam thời thực dân nửa phong kiến; không gian bó hẹp ở một số địa phương của Nam Bộ Hồ Biểu Chánh vẫn giữ lại một số nhân vật chính và chi tiết quan trọng nhưng tên nhân vật đã được thay đổi cho phù hợp với cách xưng hô của người Việt như:
- Rémi – Được
- Mère Barberin – Ba Thời
- Barberin – Hữu
- Vtalis – thầy Đàng
- Madame Milligan – bà hội đồng Nhàn
- Jame Milligan – Phan Đức Lợi
- Mattia – Bỉ
- Drisscoll – gia đình ở Khánh Hội Bên cạnh đó, Hồ Biểu Chánh cũng lược bỏ đi một số nhân vật như: Gaspard, gia đình Acquin và các con, Bejamin, Alexis Một số chi tiết cũng được thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh xã hội Việt Nam như con bò cái của Mère Barberin được thay bằng con heo Quắn của Ba Thời, nhân vật Mattia có tài kéo violon thành nhân vật Bỉ có tài thổi kèn lá Nhân vật của Hồ Biểu Chánh cũng mang đậm tính cách, tâm lý của người Việt Hành động và cách
cư xử của Hữu đối với Ba Thời phản ánh tính cách gia trưởng, độc đoán của một lớp đàn ông trong xã hội nông thôn miền Nam Việt Nam Cách hành xử
và tình cảm của Được thể hiện tính chân chất, thật thà của những đứa trẻ miền quê
Trang 22Khác với Sans Famille, được viết theo lối tự thuật, nhân vật Rémi tự kể lại cuộc đời mình, Cay đắng mùi đời được kể lại theo ngôi thứ 3 Qua những
vấn đề mang tính xã hội trong tác phẩm, Hồ Biểu Chánh đã bày tỏ thái độ, đề cao tình nghĩa, đạo lý làm người
Tương tự như Chúa tàu Kim Quy và Cay đắng mùi đời, tác phẩm Ngọn
cỏ gió đùa được phỏng tác từ tác phẩm Les Misérables của Victor Hugo Về
cơ bản, Hồ Biểu Chánh vẫn giữ nguyên cốt truyện của Les Misérables nhưng
cách xây dựng nhân vật, không gian nghệ thuật, tư tưởng chủ đề thì lại hoàn toàn Việt Nam Hồ Biểu Chánh giữ lại một số nhân vật chính nhưng gọi tên theo cách gọi của người Việt như:
- Giám mục Myriel – hòa thượng Chánh Tâm
- J.Valjean, Madeleine – Lê Văn Đó, Trần Chánh Tâm
- Fantine – Ánh Nguyệt
- Cosette – Thu Vân
- Gillenormand – ông ngoại Đàm Tự Chấn
- Colonel de Ponmercy – Vương Thế Hùng
- Marius – Vương Thế Phụng
- Thénardier – Đỗ Cẩm
- Javert – Phạm Văn Kỳ Bên cạnh đó, nhà văn cũng thêm bớt một số nhân vật nhằm thực hiện tư tưởng chủ đề của mình Một số chi tiết được nhà văn sửa đổi cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội Việt Nam như: thay vì J.Valjean ăn cắp bộ chân nến ở nhà giám mục, Lê Văn Đó ăn cắp bộ chén trà của nhà chùa; J.Valjean giàu lên nhờ khai thác kỹ nghệ và được bầu làm thị trưởng, Lê Văn Đó giàu lên nhờ khai thác rừng hoang và được triều đình phong tước; Fantine không ngần ngại khi bán cả thân mình để lấy tiền nuôi con, Lý Ánh Nguyệt dù trong bất cứ
Trang 23hoàn cảnh nào vẫn quyết giữ gìn trinh tiết theo đúng quan niệm của phương Đông
Nhìn chung, có thể nhận thấy, nghệ thuật xây dựng truyện phỏng tác của
Hồ Biểu Chánh có một số đặc trưng cơ bản như: bối cảnh được xây dựng chủ yếu là ở nông thôn, thành thị các tỉnh Nam Bộ trong những năm đầu thế kỷ
XX dưới những ảnh hưởng của nền văn hóa phương Tây; nhà văn tập trung vào miêu tả những cử chỉ, hành động của nhân vật mà không quan tâm lắm đến việc miêu tả tâm lí; nhân vật trong những tác phẩm tiền thân đã được Việt hóa, mang những nét đặc trưng của người dân Nam Bộ; kết cấu được xây dựng theo kiểu kết cấu truyền thống: hội ngộ – lưu lạc – đoàn viên và kết thúc
có hậu
Tuy Hồ Biểu Chánh đã mô phỏng lại một số tác phẩm phương Tây nhưng với tinh thần dân tộc mạnh mẽ trong quá trình phỏng tác, những tác phẩm ấy vẫn mang đậm dáng dấp Nam Bộ vì vậy nó rất gần gũi và phù hợp với tinh thần đạo lí Việt Nam Đúng như nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá đã từng nhận định:
Dù là ở Ý, ở Pháp hoặc ở phương trời Châu Âu xa lạ nào trong các tác phẩm của V Hu-gô và A Dumas, của H Malot và A.Thơ-ri-ê, nhưng qua sự cảm thụ tinh tế của Hồ Biểu Chánh và
khả năng phóng tác tài hoa của ông, những Cay đắng mùi đời,
Chúa tàu Kim Quy, Ngọn cỏ gió đùa vẫn có sắc thái riêng, có
giá trị riêng Người đọc vẫn cứ ngỡ là gặp ở đây những vùng đất Nam Bộ, sống lại không khí một thời của vùng đất này với những con người chất phác trung thực, hiền lương đã đổ mồ hôi
và máu trên các miệt đồng, các kênh rạch đồng bằng sông Cửu Long[70]
Trang 24b Những tác phẩm hư cấu
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Hư cấu là một hoạt động vận dụng trí
tưởng tượng để sáng tạo nên những nhân vật, câu chuyện, những tác phẩm nhằm phản ánh cuộc sống và thực hiện những mục đích nghệ thuật nhất định”
[18, tr.128] Như vậy, tiểu thuyết hư cấu là thuật ngữ được dùng để chỉ các tác
phẩm thuộc hình thái tự sự, được tác giả tưởng tượng ra và trình bày dưới hình thức những câu chuyện có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi
giới hạn không gian và thời gian Thuật ngữ tiểu thuyết hư cấu trong trường hợp này chủ yếu là dùng để phân biệt với thuật ngữ tiểu thuyết phỏng tác và
nhằm nhấn mạnh đến tính chất mới mẻ, không lặp lại của sự tích cốt truyện trong các sáng tác của nhà văn
Cùng với những tiểu thuyết phỏng tác, tiểu thuyết hư cấu đã góp phần khẳng định tên tuổi của Hồ Biểu Chánh trong sự nghiệp văn chương Bắt đầu
bằng tiểu thuyết bằng thơ U tình lục đến Ai làm được ? (1912) Hồ Biểu
Chánh đã thu được một số thành tựu bước đầu
Vấn đề hiện thực được đề cập đến trong U tình lục chính là sự bóc lột tàn
ác của giới địa chủ người Hoa lai Ấn; lòng tham lam, sự thối nát của bọn địa chủ, công chức địa phương Bên cạnh đó, qua những hành động táo bạo trong tình yêu của hai nhân vật chính Cúc Hương và Tấn Nhơn, vấn đề tự do yêu đương cũng được đặt ra
Tiếp nối quan niệm tự do yêu đương trong U tình lục, Bạch Tuyết trong
Ai làm được ? đã dám chống lại cuộc hôn nhân được sắp đặt của dì ghẻ Nàng
đã bỏ nhà ra đi, tìm Chí Đại và hai người đã chung sống với nhau dù không
có hôn thú Trước cuộc sống vợ chồng của đứa cháu gái, Bạch Khiếu Nhàn cũng tỏ ra thông cảm, ủng hộ và tạo mọi điều kiện để giúp đỡ Điều ấy đã thể hiện một quan niệm xã hội mới, rất phóng khoáng của tác giả
Trang 25Không chỉ là vấn đề tình yêu, nhìn chung, Hồ Biểu Chánh đã đem vào trong 52 tiểu thuyết hư cấu của mình tất cả hình ảnh cuộc sống của người dân lục tỉnh Nam Kỳ Đó là đời sống, tâm tư, tình cảm của con người Nam Bộ với những chuyển biến trước sự tác động của văn hóa phương Tây Điều này đã được chính nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi khẳng định:
Đề tài gần như bao quát phần lớn tác phẩm của Hồ Biểu Chánh
là cuộc sống Nam Bộ từ nông thôn đến thành thị những năn đầu thế kỷ XX cho đến sau đại chiến I, với những xáo trộn do chủ nghĩa thực dân mang lại Cuộc sống đó diễn ra khẩn trương, hối
hả, bị chi phối bởi tâm lý làm giàu, sự háo hức bon chen trên con đường tư sản hóa, và do đó, cũng bộc lộ những mặt trái xấu xa nhất: cướp đoạt, lừa phỉnh, đầu cơ trục lợi, buôn gian bán lận, mua danh bán tước, nịnh bợ, luồng lọt, xa hoa trác táng, hãm hiếp, giết người, thất nghiệp, khủng hoảng, bần cùng ( ) Nhân vật của ông ( ) là những con người đa diện, đầy hoạt động, lắm dục vọng, sản phẩm đích thực của xã hội thuộc địa ở miền Nam đầu thế kỷ XX Họ là những Hội đồng, điền chủ, Nghị viên, chủ quận, Tri phủ, Cai tổng, chủ nhà máy, chủ hãng xe, chủ tàu, ký lục, thông ngôn, Kĩ sư, bác vật, commi, hương chức, thầu khoáng, học sinh, thợ thuyền, tá điền, trộm cướp, gái đĩ, me Tây ( ) Hồ Biểu Chánh đã vạch khá đúng tính cách lớp người giàu sang, thống trị, không chỉ ở chỗ chúng vô luân, dâm ác, thất đức, chạy theo tiền bạc, danh lợi, mà còn giở nhiều thủ đoạn để làm giàu, như cho vay cắt cổ, cướp ruộng Ông cũng nhìn khá đúng đện mạo của lớp người nghèo, không chỉ ở tính tình thật thà, chất phác, là nạn nhân của mọi sự đè nén, áp bức, mà còn là những con người có tấm lòng nhân ái, cao thượng, biết giữ vững
Trang 26phẩm chất, đặc biệt, đôi khi cũng biết phản kháng, cho dù tự phát
và liều lĩnh, để chống lại sự tàn ác của kẻ giàu[39, tr.631]
Bên cạnh việc phản ánh thực tế đời sống, tiểu thuyết hư cấu của Hồ Biểu Chánh còn là “những chuyến đò chở đầy phong tục tập quán” của người dân Nam Bộ Khi tìm hiểu về Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Quang Thắng trong công
trình nghiên cứu Văn học Việt Nam nơi miền đất mới đã khẳng định Hồ Biểu
Chánh chính là “nhà văn của miệt vườn Nam Kì” Những tác phẩm tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh dường như đã dựng lại toàn bộ cuộc sống của người dân lục tỉnh với những đặc điểm nổi bật về cung cách sinh hoạt như:
ăn, mặc, ở, đi lại, cách xưng hô, quan niệm tình yêu và hôn nhân,
Vào những năm đầu thế kỷ XX, ở Nam Bộ, Hồ Biểu Chánh chính là một trong những nhà văn có sức viết dồi dào nhất Hầu hết các tác phẩm của ông đều được công chúng Nam Bộ lúc bấy giờ đón nhận và yêu thích Một trong những yếu tố góp phần làm nên thành công ấy của ông chính là vì ông đã nắm bắt được sở thích của người dân Nam Bộ lúc bấy giờ Với những đức tính như chất phác, thật thà, bộc trực, thẳng thắng, yêu ghét rõ ràng, người dân Nam
Bộ rất ủng hộ những quan điểm luân lí, đạo đức mà tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh thể hiện Tác phẩm của Hồ Biểu Chánh luôn đề cao, cổ xúy cho sự trung hậu, nhân ái, ngay thẳng, trong sạch Những bài học về đạo lí, nhân nghĩa của ông không có gì cao xa mà rất thực tế, đời thường
Với những tác phẩm tiểu thuyết hư cấu mang đậm chất địa phương, vùng miền đáp ứng sở thích của người dân Nam Bộ, phản ánh sinh động thực tế đời sống và phong tục tập quán của người dân Nam Bộ những năm đầu thế kỷ
XX, Hồ Biểu Chánh trở thành một trong những cây bút chủ lực trong thể loại tiểu thuyết phong tục, xã hội lúc bấy giờ Những tác phẩm của ông đã tạo nên
dáng dấp của xã hội Nam Bộ dưới chế độ thuộc Pháp những năm đầu thế kỷ
Trang 271.2 HỒ BIỂU CHÁNH TRONG TIẾN TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA VĂN XUÔI QUỐC NGỮ NAM BỘ
1.2.1 Văn xuôi Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX
a Vài nét về Nam Bộ đầu thế kỷ XX
Sau Hòa ước 1884, chủ quyền của Việt Nam đã nằm trong tay thực dân Pháp Để dễ bề cai trị, thực dân Pháp thực hiện các chính sách khác nhau đối với ba miền Bắc – Trung – Nam Nam kỳ trở thành xứ thuộc Pháp vì vậy vùng đất này có điều kiện phát triển về mọi mặt Nhằm nắm giữ nhiều nguồn lợi từ vùng đất này, đặc biệt là nguồn lợi về lúa gạo, Pháp đã xây dựng nhiều công trình như: cảng Sài Gòn, cầu trên sông Vàm Cỏ, đường xe lửa Sài Gòn –
Mỹ Tho, các công xưởng đóng thuyền, nhà máy xay lúa, vận tải đường sông ở Sài Gòn, Chợ Lớn Những cơ sở kinh tế ban đầu này khiến kinh tế Nam kỳ lúc bấy giờ phát triển mạnh mẽ Bên cạnh đó, nền văn hóa phương Tây cũng bắt đầu du nhập vào Nam kỳ; số người học tiếng Pháp và đi du học ở Pháp tăng nhanh; các yếu tố văn hóa như báo chí, nhà in, nhà xuất bản xuất hiện sớm đã tạo tiền đề cho sự ra đời những tác phẩm văn xuôi quốc ngữ đầu tiên
ở Nam kỳ
Hai lần khai thác thuộc địa của Pháp đã làm biến đổi sâu sắc xã hội Việt Nam nói chung và Nam kỳ nói riêng Một bộ phận người nông dân bị bần cùng phải từ bỏ làng quê để lên thành thị kiếm sống Họ làm đủ mọi nghề như phu xe, bồi bếp, công nhân, một số cùng quẫn trở thành lưu manh, gái điếm hình thành nên tầng lớp dân nghèo thành thị Những người tham gia hoạt động kinh tế ở các lĩnh vực thương mại, sản xuất thu được nhiều lợi nhuận trở thành tầng lớp tiểu tư sản và tư sản Việc thay đổi hình thức và nội dung thi
cử từ năm 1906 đã dần làm thay đổi cách học, cách nghĩ cũng như cách sống của tầng lớp trí thức Sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây cùng với hình thức đào tạo và thi cử mới đã hình thành đội ngũ tri thức tân học khác hẳn tầng lớp
Trang 28nho sĩ trước kia Họ có nhu cầu nắm bắt những thông tin về chính trị, văn hóa,
xã hội và thể hiện tâm tư tình cảm của mình về những vấn đề ấy vì vậy, sách báo trở thành một đòi hỏi thiết yếu trong cuộc sống hằng ngày của họ
Bên cạnh việc đào tạo ra một lớp công chúng mới, các nhà trường Pháp – Việt còn hình thành một đội ngũ sáng tác mới tạo nên những tác phẩm đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của đông đảo quần chúng lúc bấy giờ Tất cả những điều kiện trên chính là cơ sở ban đầu để hình thành một loại hình văn học mới – văn xuôi quốc ngữ trên miền đất Nam kỳ
Song song với những hoạt động về kinh tế, chính trị, thực dân Pháp cũng đặc biệt chú trọng truyền bá văn hóa Pháp nhằm hạn chế những ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa Vì thế, không chỉ là công cụ truyền đạo của các giáo
sĩ phương Tây, chữ quốc ngữ còn là phương tiện lôi kéo người Việt ra khỏi ảnh hưởng lâu đời của văn hóa Trung Hoa Bên cạnh việc phải dùng những biện pháp cưỡng chế, thực dân Pháp còn sử dụng nhiều biện pháp khuyến khích việc học chữ quốc ngữ để nhằm mục đích dùng chữ quốc ngữ thay thế dần chữ Hán và chữ Nôm Theo thời gian, với những ưu thế như dễ đọc, dễ viết và tính hữu ích rõ rệt trong đời sống, chữ quốc ngữ đã hoàn toàn chiếm
ưu thế so với chữ Hán và chữ Nôm Các phong trào duy tân của các chí sĩ yêu nước cũng kích thích và cổ vũ nhân dân học chữ quốc ngữ
Sự phát triển của chữ quốc ngữ khiến văn xuôi tiếng Việt nhanh chóng được đổi mới Số người biết đọc chữ quốc ngữ và có nhu cầu đọc sách văn học tăng cao thì vấn đề dịch sách được đặt ra Người dịch sách tiếng nước ngoài ra quốc ngữ sớm hơn cả chính là Trương Vĩnh Ký Bên cạnh việc dịch các sách có chủ đề về đạo đức, lịch sử của Trung Quốc thì các dịch giả còn dịch một số tác phẩm của chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa phê phán của phương Tây, đặc biệt là của Pháp Có thể nói:
Trang 29Văn học dịch có một vai trò rất đáng kể trong sự phát triển văn xuôi quốc ngữ Một mặt nó cung cấp cho độc giả một loại hình văn chương chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thụ hưởng của họ Không những thế, nó còn góp phần nâng cao năng lực tiếp nhận, tức là chuẩn bị tiềm năng phát triển cho văn học dân tộc ( ) Đối với người sáng tác, văn học dịch cũng là một môi trường rèn dũa rất quan trọng Qua văn học dịch, người viết được dịp học hỏi, tiếp thu và cả soi chiếu sáng tác của mình trong đó Văn học dịch
là một yếu tố tạo nên động lực phát triển cho văn xuôi quốc ngữ[34, tr 44]
Việc dịch thuật và sáng tác bằng chữ quốc ngữ không chỉ giúp người đọc khắc phục quan điểm, thị hiếu thẩm mỹ cũ, làm quen, xây dựng quan niệm, thị hiếu thẩm mỹ mới mà còn giúp làm cho chữ quốc ngữ được trau chuốt, trở thành một công cụ ngôn ngữ có khả năng diễn đạt phong phú, chính xác, tinh
tế Như vậy, có thể nói rằng: “Chữ quốc ngữ đã thực hiện được vai trò lịch sử của mình: chất xúc tác hữu hiệu của quá trình Việt Nam hội nhập với văn hóa phương Tây”[1, tr 22]
Một trong những phương tiện đầu tiên phổ biến rộng rãi chữ quốc ngữ ở
Việt Nam chính là báo chí Sự ra đời của Gia Định Báo ngày 15/4/1865 đã
đánh dấu sự mở đầu của báo chí quốc ngữ, mở ra một giai đoạn phát triển mới
trong sinh hoạt văn hóa Sau đó hàng loạt tờ báo lần lượt xuất hiện: Nhật
Trình Nam Kỳ (1883), Bảo Hộ Nam Dân (1888), Thông Loại Khóa Trình
(1888), Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo (1892), Nông Cổ Mín Đàm (1901), Đại
Việt Tân Báo (1905), Lục Tỉnh Tân Văn (1907), Nam Trung Nhật Báo
(1917), Theo thống kê của các nhà nghiên cứu thì tính đến năm 1930 đã có trên 80 tờ báo và tạp chí được lưu hành trong cả nước, riêng ở Sài Gòn đã phát hành 50 tờ
Trang 30Báo chí đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đông đảo tầng lớp nhân dân Nhìn chung, nội dung báo chí Nam Bộ lúc bấy giờ vẫn pha tạp
đủ thứ như: kinh tế, thương mại, khoa học, tôn giáo, văn học tuy thế báo chí quốc ngữ ra đời cũng góp phần không nhỏ cho sự phát trển của văn học Trên các báo, nhiều thể loại văn học mới xuất hiện như: tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận, phê bình Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã không phải không có cơ
sở khi cho rằng: “Báo và tạp chí là nơi thử thách ngòi bút của nhiều người trước khi trở thành nhà văn chuyên nghiệp”[15, tr 16] Có thể nói, trong quá trình vận động và phát triển của mình, báo chí càng lúc càng gắn chặt hơn với văn học, kích thích không khí sáng tác và thưởng thức văn học, thúc đẩy văn học phát triển
Cùng với sự ra đời của báo chí quốc ngữ là sự phát triển của nghề in và nghề xuất bản Trước đây hoạt động in ấn ở Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng chủ yếu là in khắc gỗ Sau khi đặt ách thống trị lên mảnh đất Nam
kỳ, Pháp đã cho xây dựng một số nhà in Năm 1862 nhà in Impériale – nhà in đầu tiên tại Việt Nam ra đời ở Sài Gòn Sau năm 1870, Sài Gòn đã xuất hiện nhiều nhà in, nhà xuất bản Mục đích chủ yếu của các nhà in này là để xuất bản các thư tịch công giáo, kinh sách truyền đạo, tài liệu, báo chí nhưng bên cạnh đó các nhà in này cũng đã in ấn một số lượng tác phẩm văn chương đáng
kể Việc in ấn và phát hành phát triển đã nâng cao nhu cầu đọc sách của công chúng Nhanh nhạy trong việc nắm bắt thị hiếu của đọc giả, các nhà xuất bản mau chóng cho ra đời những tác phẩm tiểu thuyết, truyện thơ, vè, truyện tranh, truyện dịch được ưa chuộng
In ấn và xuất bản nở rộ đã tạo điều kiện cho báo chí phát triển và góp phần vào việc phổ biến chữ quốc ngữ, hoàn thiện và phong phú ngôn ngữ Việt Hiện tượng trên cũng đã ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển của văn xuôi Nam Bộ Những nhà in, nhà xuất bản, tòa soạn báo “mặc nhiên trở
Trang 31thành những trung tâm hoạt động về văn hóa và học thuật lúc bấy giờ”[1, tr
26]
b Sự phát triển của văn xuôi Nam Bộ đầu thế kỷ XX
Khái niệm văn xuôi quốc ngữ vốn được hình thành từ hai thành tố là văn
xuôi và quốc ngữ, mỗi thành tố có thể được hiểu với một số nét nghĩa khác
nhau Thông thường, khi nói đến văn xuôi quốc ngữ các nhà nghiên cứu đều nghĩ đến “những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ trong hình thái văn xuôi được
kí chép bằng chữ quốc ngữ”[34, tr 5] Những thể loại chủ yếu của văn xuôi quốc ngữ là tiểu thuyết, truyện và kí Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu tập trung tìm hiểu sự phát triển và dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong văn xuôi Nam Bộ trên bình diện tiểu thuyết
Trong văn học trung đại, tuy văn xuôi không nhiều nhưng vẫn có những tiểu thuyết dưới hình thức văn xuôi chữ Hán Đề tài của những tác phẩm này
là lịch sử, nội dung chủ yếu xoay những vấn đề về cương thường, đạo lí, ca ngợi trung hiếu, tiết nghĩa Nhìn chung, nhân vật trong các tác phẩm này thường có những nét khuôn sáo về phẩm chất, tính cách, thậm chí cả ngoại hình; kết cấu truyện thường đơn giản
Song hành với các tác phẩm văn xuôi bằng chữ Hán, vào khoảng cuối
thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX một số truyện Nôm xuất hiện như: Truyện
Song Tinh (Nguyễn Hữu Hào), Hoa tiên (Nguyễn Huy Tự), Sơ kính tân trang
(Phạm Thái), Truyện Tây sương, Bất phong lưu truyện, Ngọc Kiều Lê, Cừu
Loan nương (Lý Văn Phức), Mai Đình mộng ký (Nguyễn Huy Hổ), Truyện Kiều (Nguyễn Du), Lục Vân Tiên, Ngư Tiều y thuật vấn đáp, Dương Từ Hà Mậu (Nguyễn Đình Chiểu), Bích Câu kỳ ngộ (Vũ Quốc Trân), và một số
truyện Nôm khuyết danh như: Lục súc tranh công, Trinh Thử, Chàng Chuối,
Phạm Công Cúc Hoa So với văn xuôi chữ Hán, truyện Nôm đã có những
biến đổi về nghệ thuật, “cái tôi” cá nhân đòi quyền sống, quyền yêu bắt đầu
Trang 32xuất hiện; thi pháp của những tác phẩm thuộc loại hình truyện Nôm đã có sự chuyển biến những “câu chuyện đã được kể lại theo một cách thức riêng, phù hợp với tâm thức văn hóa Việt, có ích cho người Việt Có thể nói, đấy cũng là một dấu hiệu tiêu biểu thể hiện nguyên lý tiếp biến văn chương của người Việt”[33, tr 214] Hay nói cách khác, từ những tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ Hán đến những tác phẩm truyện Nôm, văn xuôi Việt Nam đã có sự manh nha trong việc cách tân thể loại và nội dung tư tưởng
Khi chữ quốc ngữ bắt đầu phổ biến, những tác phẩm văn xuôi quốc ngữ dần xuất hiện Ban đầu những tác phẩm này vẫn mang đậm dấu ấn của văn
xuôi trung đại như thường viết về các truyện trai anh hùng, gái thuyền quyên
với lối kết cấu chương hồi, lối kể theo trình tự thời gian, lối kết thúc có hậu theo quan niệm dân gian Về sau, cùng với sự phát triển về kinh tế, văn hóa, giáo dục và sự giao lưu văn hóa phương Tây, văn xuôi quốc ngữ chuyển biến theo hướng hiện đại hóa
Từ năm 1858, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, cùng với sự phổ biến chữ quốc ngữ, sự ra đời và phát triển của báo chí cũng đã tạo điều kiện cho
văn xuôi quốc ngữ hình thành, phát triển Gia Định Báo ra đời năm 1865 đã
tạo điều kiện thuận lợi cho giới trí thức tham gia đời sống viết lách Giai đoạn Trương Vĩnh Ký làm chủ bút, bên cạnh phần “công vụ”, tờ báo này còn mở thêm phần “tạp vụ” nhằm đăng “các bài có ích cho sự học và vui thích với các bài sử-học, luân-lý, thời-sự để có thể đọc trong các trường bản xứ và làm cho dân chúng An-nam chú ý” Đó là những chuyện thuộc “chuyện ăn cướp, ăn trộm; bệnh-hoạn, tai-nạn; sự rủi-ro, hùm tha, sấu bắt; cháy chợ, cháy nhà; mùa màng thể nào; tại sở nghề nào thạnh hơn, vân vân ” Thể lệ bài vở cũng được quy định cụ thể: “chớ quên đề ngày, đề chổ cho hẳn hòi Phép làm chuyện phải kể tại chổ nào? Ngày nào, tháng nào? Nhơn cớ làm sao? Ban đầu làm sao? Khúc giữa thế nào? Sau hết ra việc gì? Lợi hay hại, may hoặc rủi,
Trang 33vân vân ”[dẫn theo 34, tr.24] Những câu chuyện kiểu này chính là những bản tin, bài báo đồng thời cũng là những tiểu phẩm văn xuôi đầu tiên
Được khởi nguồn từ phần “tạp vụ” của Gia Định Báo, những tiểu phẩm, tạp bút được đăng trên tập san Thông loại khóa trình đã được viết công phu,
kĩ càng hơn Chủ trương của tờ báo này là đăng những bài “tạp văn hay những bài đọc giáo dục cho học sinh các trường tiểu học, làng xã, địa phương
do Trương Vĩnh Ký chủ trương” Trong lời Bảo ở số đầu tiên (số 1 năm 1888)
Trương Vĩnh Ký nêu rõ:
Coi sách dạy lắm, nó cũng nhàm; nên phải có cái chi vui pha vào một hai khi nó mới thú Vậy ta tính làm ra một tháng đôi ba kỳ, một tập mong mỏng nói chuyện sang – đàng, chuyện tam hoàng quốc chí, phá phách lộn – lạo xài – bần để cho học trò coi chơi cho vui Mà chẳng phải là chơi không vô – ích đâu; cũng là những chuyện con người – ta ở đời nên biết cả Có ý, có chí thì lâu nó cũng thấm nhứt là trí trẻ con còn đang sáng – láng, sạch
sẽ, tinh – thần còn minh – mẫn, tươi – tốt, như tờ giấy bạch, như sáp mềm, vẽ – vời, uốn – sửa sắc thế nào cũng còn đặng; tre còn măng để uốn, con trẻ nhỏ dễ dạy[dẫn theo 34, tr 26]
Sự mở rộng của dạng thức bài vở này có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình phát triển của văn xuôi hiện đại, nhất là tiểu thuyết
Năm 1901 báo Nông cổ mín đàm ra đời càng tạo điều kiện cho văn xuôi
quốc ngữ phát triển Tờ báo này đã tổ chức một cuộc thi rất độc đáo là thi sáng tác tiểu thuyết quốc âm (1906 – 1907) Tuy thất bại nhưng sự kiện này đáng được coi là cái mốc đánh dấu một bước tiến bộ của văn học quốc ngữ
Chỉ sau một thời gian ngắn, hàng loạt tác phẩm như: Thất Kim ngư, Tự
truyện, Hoàng Tố Oanh hàm oan của Trần Chánh Chiếu; Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân, Lý Thời Oai túy tửu thọ oan hình của Trương Duy Toản;
Trang 34Thoại Thiều Anh xuất đầu y cẩm, Kỳ duyên xảo ngộ của Ô Môn Nguyễn Bửu
Hạp xuất hiện trên các báo tạo nên một dòng chảy hối hả, mạnh mẽ hơn
Có thể khẳng định chặng đường đầu tiên của văn xuôi quốc ngữ có sự góp mặt của các nhà văn theo đạo Ki Tô Tiểu thuyết đầu tiên viết bằng chữ
quốc ngữ chính là Thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản Đây là
một tác phẩm có ý nghĩa rất quan trọng về phương diện văn học sử; đánh dấu
sự xuất hiện của tiểu thuyết hiện đại Tính chất hiện đại của Thầy Lazarô
Phiền được thể hiện ở nhiều phương diện Về mặt nguyên tắc sáng tác, đây là
một câu chuyện hư cấu, tạo ra cái mới chứ không phải là “thuật lại” như văn chương cũ Đây chính là câu “truyện đời nay”; chuyện về cái đang diễn ra, sự thường hằng ngày chứ không phải truyện anh hùng hào kiệt đời xưa Về mặt
thể loại, Thầy Lazarô Phiền thuộc thể loại của văn xuôi mới Nguyễn Trọng
Quản gọi tác phẩm của mình là truyện, không phải là truyện theo nghĩa sử truyện, truyện kể mà là một thể loại cụ thể được xác định bởi những đặc điểm, tính chất đặc thù (của tiểu thuyết) Về mặt ngôn ngữ, tác giả sử dụng lời nói thường chứ không dùng văn vần, văn biền ngẫu đồng thời cũng đưa nhiều yếu
tố kĩ thuật mang tính tự sự vào mạch lời nói (đánh số phân đoạn, tổ chức lời đối thoại, mô tả phát ngôn của nhân vật ) Kết cấu truyện cũng không theo lối chương hồi, kết thúc không có hậu Xét về mặt cốt truyện, có đến hai câu chuyện diễn theo hai “lớp” khác nhau, đan xen vào nhau Câu chuyện thứ nhất là câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa nhân vật “tôi” và Thầy Phiền; câu chuyện thứ hai là câu chuyện về cuộc đời của Thầy Lazarô Phiền: do ghen tuông mù quáng mà phạm tội giết người khi nhận ra sự thật thì đã quá muộn màng, cuối cùng Thầy Lazarô Phiền bị lương tâm cắn rứt và chết trong đau
khổ Nhìn chung, Thầy Lazarô Phiền đã có nhiều thành công nỗi bật nhưng
bên cạnh đó cũng có một số hạn chế không tránh khỏi của một tác phẩm trong giai đoạn thử nghiệm
Trang 35Sau khi Thầy Lazarô Phiền ra đời cho đến những năm 20 của thế kỷ XX
là giai đoạn bắt đầu những hướng thử nghiệm mới của văn xuôi quốc ngữ Để đến được với công chúng đương thời, văn xuôi quốc ngữ ở Nam Bộ đã phải tìm con đường đi riêng của mình Để chiếm lĩnh được công chúng, phần lớn nhà văn đã chiều theo thị hiếu của độc giả Từ phong trào dịch truyện Tàu, các nhà văn bước đầu sáng tác những tác phẩm theo kiểu truyện ngoại sử và
dị sử như: Hoàng Tố Oanh hàm oan (1910) của Trần Chánh Chiếu; Phan Yên
ngoại sử tiết phụ gian truân (1910) của Trương Duy Toản, Hà Hương phong nguyệt (1912) của Lê Hoằng Mưu, Nghĩa hiệp kỳ duyên (1920) của Nguyễn
Chánh Sắc
Giai đoạn từ những năm 20 đến những năm 30 của thế kỷ XX là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của văn xuôi quốc ngữ Trước những năm 20, trên văn đàn của mảnh đất Nam Bộ, số lượng các tác phẩm xuất bản chưa nhiều và chưa được đánh giá cao nhưng đến năm 1932 thì trên văn đàn lúc bấy giờ “chỉ tính riêng tiểu thuyết và đoản thiên tiểu thuyết của các nhà văn sáng tác đăng trên báo và xuất bản thành sách đã lên đến con số hàng ngàn”[1, tr 125] Những vấn đề về văn chương, nghệ thuật như: khái niệm về văn chương, vai trò của văn chương được đưa ra bàn luận sôi nổi trên nhiều tờ báo Bên cạnh những tác giả của giai đoạn trước thì ở giai đoạn này cũng đã xuất hiện thêm nhiều tên tuổi mới như: Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Bửu Đình, Phạm Minh Kiên
Có thể nói, ở giai đoạn từ những năm 20 đến những năm 30 của thế kỷ
XX, Hồ Biểu Chánh chính là một trong những cây bút xuất sắc nhất Ông đã
có nhiều đóng góp đáng kể trong việc hình thành và phát triển thể loại văn xuôi quốc ngữ ở miền Nam nói riêng và cả nước nói chung Phần lớn tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh thể hiện bức tranh đời sống hiện thực ở Nam Bộ
Trang 36những năm đầu thế kỷ Ông mạnh dạn vạch trần những tệ nạn đương thời để hướng con người đến những điều tốt đẹp, lánh xa những điều xấu xa, độc ác Trước những thay đổi về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, văn học Việt Nam đã phải nhanh chóng thay đổi để phù hợp với quy luật Văn xuôi quốc ngữ ra đời như một sự tất yếu của lịch sử văn học Xét riêng trong 30 năm đầu của thế kỷ XX, văn xuôi quốc ngữ đã có những chuyển hướng sáng tạo, mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực, phá vỡ dần những quy phạm vốn có của văn học trung đại, đưa văn xuôi bắt kịp với thị hiếu công chúng, góp phần đưa văn học Việt Nam phát triển
Trong quá trình hình thành và phát triển, văn xuôi Nam Bộ ít nhiều đều
thể hiện dấu ấn văn hóa – chất vùng miền của vùng đất Nam Bộ
Văn hóa là một khái niệm rộng, mang nhiều nét nghĩa Theo Từ điển
tiếng Việt, văn hóa là “tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”[43, tr 1079] Hiểu theo
nghĩa này thì có thể xem các giá trị tinh thần là cái làm nên tiểu hệ thống văn hoá - trung tâm sản xuất ra hệ thống các biểu tượng - thông tin xã hội Trong
đó đã hàm chứa toàn bộ những giá trị - chuẩn mực và các “khuôn mẫu hành vi” của đời sống xã hội
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và
nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin
Theo định nghĩa của Unesco, văn hoá không chỉ bao gồm nghệ thuật văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống tín ngưỡng
Trang 37Văn xuôi quốc ngữ ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX ra đời đã đặt dấu ấn khá đậm nét về văn hoá vùng Nam Bộ Các nhà văn Nam Bộ như Trần Quang Nghiệp, Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu, Bửu Đình, Thái Bình Dương, Phú Đức, đã phản ánh chân thực những giá trị rất riêng của cộng đồng dân
Truyện của Trần Quang Nghiệp (1907-1983) đề cao nhân nghĩa thủy chung, hiền hậu của con người nhất là với cái nết na của người con gái Trong
truyện Ông Tơ cắc cớ là những gửi gắm nhẹ nhàng về tình nghĩa thủy chung
giữa vợ chồng mặc dầu, người vợ ấy có xấu, có “đen đúa”, lại là dân “mọi” Bởi một lẽ giản đơn, người vợ ấy rất mực yêu thương chồng dù chồng mình không vẹn lòng chung thủy Và chính tấm lòng chân thành ấy đã làm người chồng kia cảm động và chấp nhận ở lại sống trọn đời với vợ nơi núi rừng Đọc truyện Trần Quang Nghiệp (1907-1983), chúng ta cũng dễ nhận thấy ông phê phán thói tham lam, háo sắc, dâm dục bằng những tình huống
truyện khá độc đáo Trong truyện Lỗi bù lỗi, cô ở mướn đã phải trả giá bằng
Trang 38chính thể xác của mình để thoả mãn bản chất dâm dục của tên quan huyện vì thói tham lam Bên cạnh đó ta còn bắt gặp bọn trưởng giả háo sắc trong truyện ngắn của ông Bọn họ thường phải trả những giá khá đắt cho cái tật cố
hữu ấy của mình (Ba cô áo trắng) Trong xã hội thời bấy giờ cũng đã xuất
hiện ngày càng nhiều những con người hãnh tiến, thích khoác lên mình những danh vị (thực chất là mượn danh, giả danh) để lòe thiên hạ hoặc giả để mưu cầu lợi ích Họ dễ thay đổi khi đời sống vật chất thay đổi Những con người
ấy đã được Trần Quang Nghiệp khắc họa trong Giả thiệt là ai ?, Ăn mày trúng
số,
Trong các sáng tác của Nguyễn Chánh Sắt (1869-1947), dù ở thể tài nào cũng toát lên một tư tưởng chung: đả phá bọn giàu sang bất lương, bên vực người nghèo khổ Mặt khác, ông đề cao hạnh phúc cá nhân, xã hội công bằng
Tiểu thuyết Tài mạng tương đố (1926) hấp dẫn người đọc trước hết là vấn đề
đạo đức, nhân nghĩa ở đời Trong tác phẩm này, nhà văn xây dựng hai tuyến nhân vật rất rõ Một bên là những kẻ giàu có, quyền cao, chức trọng, nhưng lại là một bọn bất lương Đó là quan Đốc phủ sứ Phạm Nhất Thanh, Hai Chanh, vợ quan huyện, Tám Chỉnh, Đỗ Thị Bườn Một bên là con người bé nhỏ trong xã hội nhiều li loạn Đó là những nhân vật mà tác giả có cảm tình như: Đỗ Khắc Xương, Từ Mộ Trinh, Nguyễn Hạo Nhiên, Trần Lệ Dung v.v…
Các nhà văn như Nguyễn Trọng Quản, Trần Chánh Chiếu, Trương Duy Toản là những người có tinh thần dân tộc rất cao Các tác phẩm của các ông cũng mang hơi thở của thời đại, dân tộc mình Điều này góp phần lí giải vì sao văn chương Nam Bộ mang đậm hơi thở của một “thời đại khổ nhục nhưng vĩ đại” (Phạm Văn Đồng)
Trải qua một quá trình đấu tranh sinh tồn gian nan, bền bĩ, người dân Nam Bộ đã hình thành nên một mối quan hệ gắn bó thân thiết giữa con người
Trang 39với con người, con người với thiên nhiên Họ sống gần gũi với thiên nhiên và thuận theo lẽ tự nhiên để mong có cuộc sống yên bình
Văn Nguyễn Chánh Sắt có phong vị Nam Bộ đậm đà Cái phong vị đó bàng bạc khắp các tác phẩm, từ ngôn ngữ, khung cảnh, sinh hoạt, phong tục đến diện mạo tính cách, tâm lý nhân vật Hãy xem một đoạn ông tả cảnh: “Tiết sang trùng cửu, thời đến mộ thu, mận nảy chồi sương, lải rải sân ngõ rơi lá bạc, le the giậu trúc trổ bông vàng Lúc bấy giờ đương buổi đêm thanh gió mát, lại thêm trăng tỏ làu làu, gặp cảnh tượng như vầy, những khách phong lưu ai là người không mượn lấy chén rượu với chung trà mà vui vầy
cùng bạn tiệc” (Tài mạng tương đố)
Về nghệ thuật, hội tụ chung ở các tác phẩm văn xuôi đương thời là chất giọng Nam Bộ đặc thù (phương ngữ Nam Bộ) Có thể dẫn ra vài trường hợp:
“Má nè! Ông nội thằng nhỏ ở bển thiệt dễ quá, từ hồi con có mang thằng nhỏ cho đến đẻ, ổng chẳng hề biểu cúng quảy mụ bà, bà mụ gì hết, vậy
mà nuôi nó lớn nhanh như thổi” (Bình Trọng, Đốt lịch); “Đọ tao
nói trúng lắm, mày cải tao, đờn bà thường hay nhạy miệng lắm” (Trần Phục
Lễ, Chuyện hai anh khùng); “Đi một đỗi thằng Mít mới nói với Xoài, tao ra
uống một ly – Xoài ừ mà biểu Mít phải trả hai chiêm” (Trần Khắc Kỷ,
Chuyện hai anh lái buôn)
Ở tác phẩm Lòng người nham hiểm của Nguyễn Chánh Sắt, một đoạn
văn miêu tả khác cũng phản ánh rõ nét đặc trưng phương ngữ Nam Bộ trong lối hành văn của tác giả: “Còn bà Phủ khi thấy Hoàng Hữu Chí tới nhà thì mừng lắm, chào hỏi lăng xăng, lại hối trẻ bưng trà thết đãi Lúc ấy Hoàng Hữu Chí miệng thì uống trà mà con mắt thì liếc xem tứ phía, thấy nhà bà tuy
là đờn bà góa mặc dầu, mà ăn ở sạch sẽ, trong nhà sắp đặt nghi tiết chỉnh tề ”
Trang 40Đọc truyện Trần Quang Nghiệp, ta bắt gặp rất nhiều từ ngữ Nam Bộ
như: đặng, tiện tặn, quạu quọ, rỉ rả, thủng thẳng, dòm, ngó… Kể cả ngôn ngữ
của người kể chuyện, của tác giả hay của nhân vật hết thảy đều thấm đượm màu sắc chân quê, dân dã Nhiều từ địa phương nếu không dựa vào văn cảnh hoặc nếu không có vốn từ địa phương Nam Bộ sẽ rất khó hiểu: “Ngoài sân
con nít nội chợ xúm lại bu chung quanh mấy cái xe” (Số bạc mười ngàn
đồng), “Dưới chơn đã săn hai dây tơ hồng” (Chọn đá thử vàng)… Lớp từ này
mang màu sắc biểu cảm cao thể hiện sinh động cá tính, tâm lý nhân vật cũng như con người Nam Bộ
Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng nhận xét về nghệ thuật truyện ngắn Trần Quang Nghiệp như sau: “ lối dẫn truyện nhiều sáng tạo, kết cấu chặt chẽ, kịch tính của truyện tăng dần và các đoạn kết bỏ lửng, bất ngờ tạo cảm giác thú vị cho người đọc”[15, tr 265]
Cuối thập niên 1930 sang thập niên 1940, văn xuôi Nam Bộ đã hội đủ các tiêu chí về nội dung và nghệ thuật của thể loại văn xuôi hiện đại
1.2.2 Vị trí của Hồ Biểu Chánh trong văn xuôi quốc ngữ giai đoạn đầu thế kỷ XX
Hồ Biểu Chánh sinh ra giữa lúc xã hội Việt Nam có nhiều biến động và nền văn học đang đi những bước đầu tiên trong quá trình hiện đại hóa Ông lại
là nhà văn có số lượng tác phẩm lớn (chỉ đứng sau Lê Văn Trương); nhiều tác phẩm của ông được công chúng yêu thích, được tái bản nhiều lần Vì vậy sự nghiệp văn chương của ông là những đóng góp rất quan trọng cho văn học dân tộc
Bước vào con đường văn chương khi còn rất trẻ, lại là một tri thức vừa
am tường cổ học truyền thống vừa tiếp thu những tư tưởng tân tiến Tây học,
Hồ Biểu Chánh luôn luôn chủ động tìm tòi cho mình một hướng đi riêng, một dấu ấn riêng để khẳng định tên tuổi trên văn đàn