Trong giai đoạn hiện nay quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra mạnh mẽ, cùng với sự phát triển của du lịch, những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Chăm được đề cập nhiề
Trang 1ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, học viên đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của quý Thầy Cô, bạn bè và đồng nghiệp Với tấm lòng biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sỹ Phú Văn Hẳn – người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, động viên, nhắc nhở để tôi hoàn thành luận văn Nhân đây, học viên cũng xin được gửi lời cảm ơn đến cán bộ công tác trong ngành văn hóa và du lịch của tỉnh, người dân vùng văn hóa Chăm và khách du lịch tại Bình Thuận đã cung cấp thông tin và chia sẻ đóng góp ý kiến
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường Đại học KHXH&NV Tp.HCM, các thầy cô và cán bộ Khoa Văn hóa học đã giảng dạy
và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn
Cảm ơn gia đình và người thân đã luôn là hậu phương vững mạnh giúp tôi vượt qua mọi khó khăn khi thực hiện nghiên cứu đề tài này
Chân thành
Học viên
Nguyễn Thị Hồng Nhâm
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH, BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ iv
DANH MỤC KÝ HIỆU-CHỮ VIẾT TẮT v
DẪN NHẬP 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9
1.1 Cơ sở lý luận 9
1.1.1 Văn hóa, cấu trúc văn hóa và văn hóa tộc người 9
1.1.2 Du lịch, tài nguyên du lịch, du lịch văn hóa và văn hóa du lịch 15
1.1.3 Quan hệ giữa văn hóa và du lịch 28
1.2 Định vị văn hóa của người Chăm ở Bình Thuận 35
1.2.1 Vùng đất Bình Thuận 36
1.2.2 Cộng đồng Chăm ở Bình Thuận 38
1.2.3 Tiến trình văn hóa Chăm ở Bình Thuận 42
CHƯƠNG 2: SẢN PHẨM VĂN HÓA CHĂM CHO PHÁT TRIỂN
DU LỊCH 49
2.1 Các đền tháp Chăm ở Bình Thuận 49
2.1.1 Nhóm tháp Pô Sah Inư 49
2.1.2 Tháp Pô Dam 54
2.2 Các làng nghề truyền thống của người Chăm ở Bình Thuận 56
2.2.1 Làng dệt thổ cẩm Chăm 56
2.2.2 Làng gốm Bình Đức 60
2.3 Văn hóa ăn, mặc, ở của người Chăm ở Bình Thuận 62
2.3.1 Văn hóa ăn uống của người Chăm ở Bình Thuận 62
2.3.2 Văn hóa mặc của người Chăm ở Bình Thuận 65
2.3.3 Văn hóa ở của người Chăm ở Bình Thuận 69
2.4 Phong tục và tín ngưỡng của người Chăm ở Bình Thuận 72
2.4.1 Phong tục của người Chăm ở Bình Thuận 73
2.4.1.1 Phong tục mẫu hệ của người Chăm ở Bình Thuận 73
Trang 52.4.1.2 Phong tục vòng đời của người Chăm ở Bình Thuận 74
2.4.2 Tín ngưỡng của người Chăm ở Bình Thuận 86
2.5 Các lễ hội của người Chăm ở Bình Thuận 88
2.5.1 Lễ hội Katê ở Bình Thuận 89
2.5.2 Lễ Rija Nưgar của người Chăm ở Bình Thuận 90
2.6 Âm nhạc và múa của người Chăm ở Bình Thuận 92
2.6.1 Âm nhạc 92
2.6.2 Múa Chăm 96
CHƯƠNG 3: HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA CHĂM Ở BÌNH THUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 101
3.1 Du lịch khai thác văn hóa vật chất của người Chăm ở Bình Thuận .……… ……….104
3.1.1 Du lịch khai thác các đền tháp của người Chăm 104
3.1.2 Du lịch khai thác các làng nghề của người Chăm 110
3.1.3 Du lịch khai thác văn hóa ăn, mặc, ở của người Chăm 118
3.2 Du lịch khai thác văn hóa tinh thần của người Chăm ở Bình Thuận ………120
3.2.1 Du lịch khai thác các phong tục và tín ngưỡng 120
3.2.2 Du lịch khai thác các lễ hội của người Chăm 121
3.2.3 Du lịch khai thác âm nhạc và múa của người Chăm 126
3.3 Hướng phát triển bền vững du lịch văn hóa Chăm ở Bình Thuận ………129
3.3.1 Đánh giá chung tình hình phát triển du lịch văn hóa Chăm 129
3.3.2 Bảo tồn và phát triển du lịch văn hóa Chăm 132
3.3.3 Đề xuất giải pháp phát triển du lịch văn hóa Chăm 134
KẾT LUẬN 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO 144 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined.
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH, BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
1 HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Thiếu nữ Chăm Bình Thuận đang múa quạt trong lễ hội Katê 41
Hình 1.2: Làng Chăm Bình Đức huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận 41
Hình 1.3 Làng Chăm Ma Lâm ở Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận 47
Hình 1.4: Trang phục Bà Bóng trưng bày ở Trung tâm văn hóa Chăm Bắc Bình 47
Hình 1.5: Người Chăm đang chuẩn bị lễ vật để cúng thần tại 48
Hình 1.6: Khách du lịch tham dự lễ hội tại Tháp Pô Sah Inư 48
Hình 3.1: Tháp Pô Dam 109
Hình 3.2: Tháp Pô Dam 110
2 BẢNG Bảng 2.1 Bảng so sánh một số nét khác biệt giữa người Chăm ở Bình Thuận và người Chăm ở An Giang 82
Bảng 3 1 Bảng số lượng khách đến Bình Thuận trong 5 năm……….103
3 BIỂU ĐỒ Bản đồ 1.1 Bản đồ phân bố khu vực sinh sống của người Chăm ở Bình Thuận 37 Biểu đồ 3.1 Biểu đồ khả năng thu hút các loại hình du lịch ở Bình Thuận… 132
Biểu đồ 3.2 Biểu đồ khả năng thu hút các thể loại của loại hình du lịch văn hóa Chăm 132
Trang 7DANH MỤC KÝ HIỆU-CHỮ VIẾT TẮT
NCVHNT Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật TTTBVHC Trung tâm trưng bày văn hóa Chăm VHTT và DL Văn hóa thông tin và du lịch
Trang 8DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Người Chăm là một tộc người nói tiếng Mã lai-Đa đảo, sinh sống rải rác ở khu vực miền Trung, Nam Trung Bộ và Nam Bộ, tập trung tại các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, An Giang Trong quá trình lịch sử, người Chăm đã sáng tạo và phát triển một nền văn hóa Chăm độc đáo, rực rỡ trong khu vực, tạo nên sắc thái văn hóa đặc trưng cho cộng đồng người Chăm nói riêng và cho văn hóa Việt Nam nói chung Mỗi vùng Chăm lại có những nét văn hóa riêng từ các nghi
lễ tôn giáo, lễ hội, phong tục tập quán, hôn nhân, tang ma, kiêng kị đến lối sống Văn hóa Chăm ở Bình Thuận là một trường hợp điển hình
Bình Thuận được coi là một trong những địa bàn cư trú lâu đời tập trung đông người Chăm sinh sống sau Ninh Thuận Ở đây, nhiều làng Chăm còn bảo tồn được nhiều nét văn hóa độc đáo, đa dạng cả nội dung lẫn diện mạo Trong phát triển du lịch, Bình Thuận chỉ đẩy mạnh được loại hình du lịch biển - đảo, còn du lịch văn hóa Chăm vẫn chưa khai thác tương xứng với tiềm năng của nó Trong giai đoạn hiện nay quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra mạnh
mẽ, cùng với sự phát triển của du lịch, những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Chăm được đề cập nhiều và trở thành vấn đề quan tâm
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về người Chăm và văn hóa Chăm dưới góc nhìn khác nhau Tuy nhiên nghiên cứu theo hướng văn hóa học ứng dụng vẫn còn khá mới trong văn hóa Chăm Đề tài “Khai thác văn hóa Chăm ở Bình Thuận trong phát triển du lịch” được chọn làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành văn hóa học, với mong muốn tìm ra những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Chăm trong phát triển du lịch ở Bình Thuận, đặt trong sự tương quan với văn hóa của người Chăm ở Ninh Thuận, người Chăm ở Tây Nam Bộ và văn hóa một
số dân tộc khác như người Việt ở Nam Trung Bộ, làm sáng tỏ những đặc trưng
Trang 9văn hóa Chăm được khai thác phục vụ phát triển du lịch cũng như vấn đề bảo tồn trong bối cảnh hiện nay theo góc nhìn văn hóa học
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ những giá trị văn hóa Chăm phục vụ phát triển du lịch hiện nay dưới góc nhìn văn hóa Trên cơ sở nghiên cứu và làm rõ các giá trị văn hóa Chăm ở Bình Thuận, nghiên cứu thực hiện đề tài nhằm để tìm hiểu việc khai thác văn hóa Chăm cho phát triển du lịch ở đây Từ đó, có những đánh giá, đề xuất giúp cho việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa Chăm nhằm phát triển du lịch
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đối với nghiên cứu về văn hóa Chăm, từ xưa đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở trong nước cũng như ở ngoài nước Trải qua quá trình lịch sử, với sự nỗ lực sáng tạo văn hóa không ngừng nghỉ Dân tộc Chăm đã tạo ra những nét văn hóa đặc sắc riêng, trở thành những di sản văn hóa đồ sộ và phong phú trong kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam Chính sự đa dạng, sinh động trong bức tranh toàn cảnh văn hóa Việt Nam ấy, văn hóa Chăm cho đến nay vẫn luôn
là đối tượng hấp dẫn của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Có thể nói, tư liệu nghiên cứu về văn hóa Chăm là nhiều nhất trong hệ thống tư liệu văn hóa các dân tộc suốt từ đầu công nguyên cho đến ngày nay Theo thống kê của Nguyễn Hữu Thông và các tác giả của Phân viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật miền Trung thì đã có 2.278 công trình, bài viết khoa học của Văn hóa Chăm của các tác giả trong và ngoài nước đã được xuất bản [Phân
viện NCVHNT tại miền Trung - Huế 2002]
Thật vậy, người nước ngoài đã nghiên cứu về văn hóa tộc người Chăm từ rất sớm với các công trình có thể kể tên như học giả A Cabaton với bài viết Notes sur l’Islam dans l’Indochine fran†aisz in trong cuốn Revue du Monde Musulman I (ghi chú về Hồi giáo ở Đông Dương thuộc Pháp in trong cuốn Hồi giáo 1) vào năm 1906 từ trang 27-47; học giả M.Ner với bài viết Musulmans de
Trang 10l’Indochine fran†aise in trong cuốn Bulletin d’Extrêmê Orient, XLI, xuất bản năm 1941 từ trang 151-200; học giả P Manguin với bài viết L’Introduction de l’Islam au Champa trong cuốn Bulletin d’Extrêmê Orient, LXVI xuất bản năm
1979 từ 255-287 Những bài viết này, giới thiệu chung vương quốc Chămpa cũng như người Chăm trong tiến trình lịch sử Các công trình nghiên cứu về
Chămpa và văn hóa Chăm như Champaka (IOC- Hội bảo tồn văn hóa Chămpa thế giới chủ trì, Vijaya (ở Hoa Kỳ), Bangsa Campa (do Dohamide chủ biên) hiện
đã được xuất bản tại Pháp, Hoa Kỳ, Malaysia và một số quốc gia khác [Nguyễn Thị Nga, năm 2012, tr.3]
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu khoa học được nhiều độc giả
quan tâm chú ý có thể kể như Người Chăm ở Thuận Hải xuất bản năm 1989 do
Phan Xuân Biên (cb) đã mô tả chi tiết, khoa học về cuộc sống của cộng đồng người Chăm ở Thuận Hải trong đó có Bình Thuận bao gồm những sinh hoạt, tôn giáo tín ngưỡng mẫu hệ đến nghi lễ, làng nghề truyền thống của người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận Nhóm tác giả Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn
Dốp xuất bản tiếp công trình Văn hóa Chăm vào năm 1991 giới thiệu về phong
tục tập quán, lối sống, tôn giáo tín ngưỡng đến kiến trúc nghệ thuật của người
Chăm Công trình Âm nhạc trong nghi lễ của người Chăm Bà la môn (Nxb Văn
hóa Dân tộc, 2004) của Văn Thu Bích đã giới thiệu chi tiết về âm nhạc trong nghi lễ của người Chăm Bà la môn từ tín ngưỡng lễ hội đến các nhạc khí và các bài khấn ca cũng như việc bảo tồn âm nhạc trong nghi lễ đối với người Chăm Bà
la môn Công trình Lễ hội Rija Nưgar của người Chăm (Nxb Văn hóa Dân tộc
Hà Nội, 1998) của Ngô Văn Doanh giới thiệu về lễ hội chuyển mùa đầu năm với nhiều nghi lễ của lễ hội Rija Nưgar, những đồ cúng tế hay những bài tụng ca khá
chi tiết Với bài viết Miền Trung Việt Nam và Văn hóa Chămpa in trong Việt
Nam – cái nhìn địa – văn hóa từ trang 308-339 cuả Trần Quốc Vượng, năm
1998, cũng đã làm rõ thêm nhiều khía cạnh văn hóa Chăm Bài Ấn Độ và văn
Trang 11hóa Chămpa từ trang 86-98 trên tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, của Ngô Văn
Doanh, 1994 cũng khái quát đầy đủ về văn hóa Chămpa với Ấn Độ
Về kiến trúc nghệ thuật có các công trình Tháp cổ Chămpa- huyền thoại
và sự thật (Nxb, 1994) cùng với Văn hóa cổ Chămpa (do nhà xuất bản Văn hóa
Thông tin Hà Nội và Văn hóa Dân tộc ấn hành 2002) của Ngô Văn Doanh, giới thiệu lịch sử hình thành, phát triển mỹ thuật, kiến trúc của tháp Chămpa ở miền Trung
Về ngôn ngữ và tôn giáo, với đề tài Cơ cấu ngữ âm và chữ viết tiếng
Chăm và tiếng Malayu trong luận án tiến sĩ 2003 của Phú Văn Hẳn, đã trình bày
khái quát trong phần mở đầu về cộng đồng người Chăm ở nước ta trong đó có người Chăm ở Bình Thuận Học giả Tôn Nữ Quỳnh Trân (cb) năm 2003 với
công trình Nghề dệt Chăm truyền thống viết về nghề dệt Chăm với những
phương thức kỹ thuật, kỹ năng truyền thống
Về văn hóa Chăm ở Nam Bộ, có một nhóm tác giả vào năm 2005, đã tập
hợp các bài nghiên cứu về người Chăm thành phố Hồ Chí Minh và cho xuất bản công trình Đời sống văn hóa xã hội cộng đồng Chăm thành phố Hồ Chí Minh do
Phú Văn Hẳn làm chủ biên, đã đề cập đến nhiều lĩnh vực từ văn hóa, xã hội, thực trạng kinh tế, tôn giáo, hôn nhân, gia đình, văn học nghệ thuật, giáo dục, tổ chức cộng đồng của người Chăm thành phố Hồ Chí Minh đến tôn giáo thánh đường
Về văn hóa Chăm ở Ninh Thuận, có công trình Vai trò âm nhạc trong lễ
hội dân gian Chăm Ninh Thuận (Viện âm nhạc xuất bản,1999) của nhà nghiên
cứu văn hóa dân gian Hải Liên, đã giới thiệu chi tiết về âm nhạc, vai trò của âm nhạc trong lễ hội dân gian Ngoài ra, còn có luận văn thạc sỹ về văn hóa Chăm
và vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị của người Chăm Ninh Thuận của Lê Thọ,
đã khái quát các giá trị văn hóa Chăm từ văn hóa vật chất đến văn hóa tinh thần
và đưa ra các định hướng nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của người Chăm ở Ninh Thuận
Trang 12Về văn hóa Chăm ở Bình Thuận, có công trình văn hóa ẩm thực dân gian (dự án công bố và phổ biến tài sản văn hóa – văn nghệ dân gian các dân tộc Việt Nam) của Tô Ngọc Thanh giới thiệu chi tiết về văn hóa ẩm thực Chăm trong đời sống cũng như trong lễ nghi và ý nghĩa của việc thờ cúng một số món ăn ở Bình Thuận Bên cạnh những công trình đã nêu trên, có thể đến một số luận văn thạc
sỹ của các tác giả Nguyễn Xuân Lý 2005 với đề tài Lễ nghi nông nghiệp trong
văn hóa truyền thống của người Chăm Từ Thị Phi Điệp năm 2007 với đề tài Nghệ thuật múa trong văn hóa Chămpa, đã giới thiệu những văn hóa cổ truyền
của cộng đồng Chăm như Văn hóa mẫu hệ Chăm của tác giả Nguyễn Thị Diễm
Phương năm 2009 Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu nghiên cứu những trường hợp riêng lẻ
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Văn Hòa năm 2004 với đề tài Văn hóa du
lịch và du lịch văn hóa tỉnh Bình Thuận, giới thiệu chung về du lịch của Bình
Thuận Trong đó, luận văn trình bày cả du lịch sinh thái tự nhiên lẫn du lịch văn hóa
Hầu hết các công trình nghiên cứu về văn hóa Chăm đều là nghiên cứu riêng lẻ về lịch sử, những di tích về kiến trúc nghệ thuật, đền tháp, điêu khắc, tôn giáo, lễ hội của vương quốc Chămpa xưa Các nghiên cứu về khía cạnh phong tục tập quán, lễ hội, làng nghề, kiến trúc, nghệ thuật, hôn nhân và gia đình cũng như những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần v.v đã cung cấp những kiến thức bổ ích, góp phần nâng cao sự hiểu biết về dân tộc Chăm và làm tài liệu nghiên cứu văn hóa Chăm ở Bình Thuận
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người thực hiện luôn có chọn lọc, kế thừa và phát triển những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước với thái
độ trân trọng biết ơn Đồng thời, cùng với sự nỗ lực sưu tầm tài liệu và đi thực địa ở Bình Thuận, để tìm ra những tư liệu mới, những phát hiện mới nhằm đánh giá và đưa ra những giải pháp cho đề tài khai thác văn hóa Chăm ở Bình Thuận trong phát triển du lịch Hơn nữa, đề tài sẽ góp phần đóng góp những ý kiến tích
Trang 13cực khách quan bổ ích đối với cơ quan chính quyền, nhà quản lý văn hóa địa phương hoạch định được những kế hoạch phát triển du lịch tương lai gắn với việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa Chăm truyền thống
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Về đối tượng:
Đề tài nghiên cứu đối tượng là văn hóa Chăm ở BìnhThuận và việc khai
thác, phát huy, phát triển giá trị văn hóa Chăm cho phát triển du lịch
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu người Chăm với tư cách là chủ thể trong sáng tạo văn hóa Chăm và hoạt động khai thác văn hóa của người Chăm ở Bình Thuận trong phát triển du lịch Luận văn có những so sánh văn hóa của dân tộc Chăm ở Bình Thuận với văn hóa người Chăm ở nơi khác để làm rõ cách thức mà người Chăm
ở Bình Thuận tương tác với môi trường để sáng tạo văn hóa, làm rõ những nét tương đồng và khác biệt cũng như những giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc
Chăm trong sáng tạo văn hóa và khai thác giá trị đó cho phát triển du lịch
Đề tài nghiên cứu việc khai thác văn hóa Chăm trong phát triển du lịch ở giai đoạn hiện nay (đồng đại) là chính Trong chừng mực nhất định, người thực hiện chú ý đến những giá trị văn hóa Chăm trong lịch sử, trong tiến trình phát
triển văn hóa Chăm (lịch đại) để làm rõ những giá trị văn hóa Chăm hiện nay
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1 Về phương diện khoa học
Luận văn góp phần hiểu biết thêm văn hóa học, từ đó giúp cho việc nghiên cứu vận dụng và khai thác phát triển giá trị văn hóa Chăm cho phát triển
du lịch ở Bình Thuận nói riêng và cho ngành du lịch Việt Nam nói chung
5.2 Về phương diện thực tiễn
Luận văn được xây dựng trên cơ sở vận dụng từ lý thuyết đến thực tế và
sử dụng thực tế để kiểm chứng lý thuyết, do đó kết quả của đề tài giúp hiểu thêm
về văn hóa Chăm, có thể ứng dụng trong công tác quản lý bảo tồn, phát huy, phát
Trang 14triển văn hóa Chăm, trong đó gắn với các loại hình du lịch văn hóa ở Bình Thuận
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
6.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiếp cận nghiên cứu, người thực hiện luận văn sử dụng kiến thức liên ngành như văn hóa học, dân tộc học, du lịch học, lịch sử học, xã hội học, địa lý học v.v… để nghiên cứu về khai thác văn hóa Chăm ở Bình Thuận trong phát triển du lịch dưới góc nhìn văn hóa học
Để làm rõ vấn đề của luận văn, người thực hiện sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp hệ thống
Phương pháp này được vận dụng để tiếp cận và phân tích các yếu tố cấu thành văn hóa Chăm cũng như quan hệ giữa chúng trong một chỉnh thể thống nhất Phương pháp hệ thống còn giúp xem xét tổng thể văn hóa Chăm từ giá trị vật chất đến giá trị tinh thần cũng như khai thác những giá trị văn hóa ấy nhằm ứng dụng văn hóa cho phát triển du lịch
Phương pháp này giúp nghiên cứu tìm ra những đặc điểm tương đồng cũng như khác biệt văn hóa dân tộc Chăm ở Bình Thuận trong sự tương quan với văn hóa các dân tộc khác như người Việt ở Nam Trung Bộ hay văn hóa Chăm với nhau ở Ninh Thuận hoặc ở Tây Nam Bộ
Phương pháp này giúp làm rõ quá trình hình thành và phát triển văn hóa của người Chăm ở Bình Thuận
6.2 Nguồn tư liệu
Người thực hiện vận dụng các thao tác thực tế thực địa, điều tra xã hội học, phỏng vấn, sưu tầm, tổng hợp tài liệu, tư liệu và không chỉ dừng lại việc khai thác các sách, báo, công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến văn
Trang 15hóa Chăm, du lịch văn hóa Chăm mà còn sử dụng tư liệu thực tế, khảo sát điều tra và phỏng vấn trong quá trình thực hiện luận văn
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: “Cơ sở lý luận và thực tiễn”, trong chương này, người thực
hiện trình bày một số khái niệm liên quan đề tài như văn hóa, cấu trúc văn hóa, văn hóa tộc người, du lịch, văn hóa du lịch, du lịch văn hóa, quan hệ giữa văn hóa và du lịch giúp cho việc vận dụng nghiên cứu hiểu thêm việc khai thác giá trị văn hóa Chăm cho phát triển du lịch Bình Thuận Về cơ sở thực tiễn người nghiên cứu trình bày về định vị người Chăm ở Bình Thuận
Chương 2: Về “Sản phẩm văn hóa Chăm cho phát triển du lịch”, trong chương này, người thực hiện nghiên cứu trình bày những giá trị vật chất mà người Chăm ở Bình Thuận đã sáng tạo ra như các đền tháp, các làng nghề truyền thống, các món ăn, đồ mặc, nhà ở, lao động sản xuất, phương tiện đi lại cũng như sáng tạo những giá trị tinh thần từ phong tục tập quán tín ngưỡng, các lễ hội đến nghệ thuật âm nhạc – múa của văn hóa Chăm ở Bình Thuận nhằm khai thác phát triển du lịch
Chương 3: Về “Hiện trạng hoạt động du lịch văn hóa Chăm ở Bình Thuận
và hướng phát triển”, trong chương này, người thực hiện nghiên cứu trình bày hiện trạng các hoạt động du lịch được khai thác từ những giá trị vật chất như các đền tháp, các làng nghề truyền thống, ăn mặc ở, hoạt động sản xuất, phương tiện
đi lại đến giá trị tinh thần như phong tục tập quán, tín ngưỡng, các lễ hội đến nghệ thuật âm nhạc - múa của người Chăm ở Bình Thuận Đánh giá những thế mạnh, những hạn chế của hoạt động du lịch trong việc khai thác giá trị văn hóa Chăm ở Bình Thuận trong phát triển du lịch Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy và phát triển du lịch văn hóa Chăm ở Bình Thuận
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm từ những sản phẩm tinh vi cho đến những phong tục, tập quán, lối sống Hiểu theo một cách khái quát nhất, văn hóa
là hoạt động sáng tạo của con người trong lĩnh vực vật chất và tinh thần Nó bao gồm cả quá trình sản xuất, bảo quản, phân phối, trao đổi và tiêu thụ những giá trị vật chất và tinh thần, là tổng hợp những giá trị đã được vật thể hóa từ hoạt động sáng tạo của con người
Theo nghĩa cụ thể, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc, nó quyết định tính cách của dân tộc hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, tập tục, tín ngưỡng
Hiện nay, có hàng trăm định nghĩa về văn hóa và ở mỗi thời điểm, định nghĩa này lại có sự khác nhau Ở phương Đông “văn hóa” đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm, có lẽ sớm nhất có thể là Lưu Hướng (năm 77-6 trước Công nguyên), thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người Ở phương Tây, đối với người Pháp, người Anh có từ “culture”, người Đức có từ
“kultur”, người Nga có từ “kulture” Chúng lại có chung gốc Latinh là chữ
“cultus animi” là trồng trọt tinh thần Vì vậy, chữ cultus là văn hóa với hai khía
Trang 17cạnh trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng [Trần Quốc Vượng, năm 1998, tr.18]
Vào thế kỷ XIX, thuật ngữ “văn hóa” đã được các nhà khoa học phương Tây sử dụng như một danh từ chính đặc biệt là các nhà nghiên cứu về nhân học Những học giả này họ cho rằng văn hóa của thế giới có thể phân loại ra từ trình
độ thấp nhất cho đến trình độ cao nhất Trong đó, văn hóa của họ chiếm trình độ cao nhất
E.B Taylor cho rằng: “Văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm: sự hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, phong tục, tập quán mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” [Trần Ngọc Thêm, năm 2007, tr.17]
Thế kỷ thứ XX, các học giả Mỹ lại hiểu theo một cách khác “Văn hóa là tấm gương nhiều mặt, nó phản chiếu đời sống, nếp sống của một cộng đồng dân tộc”
Ở Việt Nam, học giả Phan Ngọc cho rằng: “Không có cái gì gọi là văn hóa cả ngược lại bất cứ cái gì cũng có mặt văn hóa của nó” [Trần Quốc Vượng, năm 1998, tr.21]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [Hồ Chí Minh toàn tập, năm 1995, tr.431]
Theo Trần Ngọc Thêm: “ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [Trần Ngọc Thêm, năm 1999, tr.10]
Như vậy, “Văn hóa” là một khái niệm để chỉ toàn bộ những sáng tạo của con người về phương diện vật chất, phương diện tinh thần và phương diện ứng
xử được tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn Đó chính là những sáng tạo
Trang 18và là hoạt động phục vụ cho chính cuộc sống của con người, cho xã hội loài người và cho thế giới xung quanh
1.1.1.2 Cấu trúc văn hóa
Cấu trúc văn hóa hiện nay có rất nhiều lý giải khác nhau, tùy theo quan điểm, cách tiếp cận vấn đề của từng nhà nghiên cứu Bởi vậy, có rất nhiều cách phân loại về cấu trúc của văn hóa Song, để có sự phân loại một cách logic và khoa học nhất, phải đi từ định nghĩa về cấu trúc văn hóa
Trần Ngọc Thêm trong tập bài giảng lý luận văn hóa học định nghĩa: Cấu trúc văn hóa là mạng lưới các mối quan hệ giữa các thành phần cấu tạo của văn hóa
Có thể nói, mỗi đối tượng có thể có nhiều cách cấu tạo và một cách cấu tạo có thể nhìn theo nhiều góc độ khác nhau Bởi vậy, có nhiều cấu trúc văn hóa khác nhau là điều dễ hiểu Tuy nhiên, cũng phải xét nó theo mô hình tối ưu nhất, nhằm đảm bảo tính hợp lý, tính nhất quán và tính khoa học của nó
Cấu trúc văn hóa được chia thành rất nhiều cấu trúc từ hai thành phần, ba thành phần, bốn thành phần tùy theo quan điểm của mỗi nhà nghiên cứu văn hóa
Theo quan niệm phổ biến nhất và dễ hiểu nhất, văn hóa được tạo thành bởi hai thành tố văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Văn hóa vật chất thường được xem là bao gồm toàn bộ những sản phẩm
do hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng, sinh hoạt hàng ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại [Trần Ngọc Thêm, năm 2007, tr.46]
Văn hóa tinh thần được xem là bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra tư tưởng, tín ngưỡng – tôn giáo, nghệ thuật, phong tục, lễ hội, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương [Trần Ngọc Thêm, năm 2007, tr.46]
Trang 19Vậy văn hóa vật chất (vật thể) là những sản phẩm, những hiện vật, những công trình, nói chung là những sáng tạo của con người mà chúng ta có thể cảm nhận được thông qua các giác quan, với những kích thước, trọng lượng, hình dáng, màu sắc, mùi vị, âm thanh nhất định Ngược lại, văn hóa tinh thần (phi vật thể) là những sáng tạo thuộc lĩnh vực tri thức, tâm linh, hiểu biết, tình cảm, suy
tư của con người Nói cách khác, văn hóa tinh thần thuộc lĩnh vực tư duy trừu tượng mà chúng ta không thể dùng các giác quan để cầm nắm, quan sát nó, chỉ
có thể nhận biết thông qua suy nghĩ, cảm nhận và liên tưởng
Song giữa văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần vẫn không thể có ranh giới rõ ràng Trên thực tế văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần luôn gắn bó mật thiết với nhau và có thể chuyển hóa cho nhau Tùy theo những mục đích khác nhau mà việc phân biệt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần sẽ phải dựa vào những tiêu chí khác nhau
Cấu trúc văn hóa vật thể và phi vật thể
Văn hóa vật thể và phi vật thể do UNESCO đã có sáng kiến thay cặp “vật chất – tinh thần”, nhằm khắc phục những rắc rối khi dựa vào chất liệu để phân loại các đối tượng thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, đặc biệt trong công tác kiểm kê và lưu giữ giá trị văn hóa
Văn hóa vật thể, hay hữu hình (tangible), là tiểu hệ các giá trị do con người sáng tạo và tích lũy bằng hoạt động biến đối tự nhiên, tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể, có thể nhận biết bằng các giác quan Văn hóa vật thể bao gồm những loại giá trị như: đồ vật, nhà cửa, đình chùa, đền miếu, lăng mộ [Trần
Ngọc Thêm, năm 2007, tr.48]
Văn hóa phi vật thể, hay vô hình (intangible), là tiểu hệ các giá trị do con người sáng tạo và tích lũy không có biểu hiện vật chất, không thể nhận biết bằng các giác quan Văn hóa phi vật thể bao gồm những loại giá trị như ngôn ngữ, huyền thoại văn chương truyền khẩu, nghệ thuật trình diễn, âm nhạc, nghi thức,
Trang 20phong tục, kinh nghiệm y dược cổ truyền, bí quyết nấu ăn, bí quyết nghề thủ công truyền thống v.v Để lưu giữ chúng phải được vật chất hóa bằng những kỹ
thuật đặc biệt như thu âm, thu hình [Trần Ngọc Thêm, năm 2007, tr.48]
Mặc dù giữa “vật chất - tinh thần” và “vật thể - phi vật thể” có nhiều điểm tương đồng Nhưng chúng không hoàn toàn giống nhau Đối với mô hình “vật thể và phi vật thể” nó cụ thể hơn, rõ hơn giúp chúng ta dễ dàng khu biệt đâu là vật thể và đâu là phi vật thể Còn đối với mô hình “vật chất – tinh thần”, việc xác định đâu là vật chất đâu là tinh thần nhiều lúc khó hơn, bởi ranh giới giữa vật chất và tinh thần nó không rành mạch Nhiều lúc, nó bị quy định bởi tính nước đôi Có những cái tưởng là vật chất thì lại là tinh thần Ngược lại, có những cái tưởng là tinh thần nhưng lại là vật chất
Cách phân chia cấu trúc văn hóa thành hai thành tố văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, được sử dụng rộng rãi, phổ biến hơn Đặc biệt dễ ứng dụng trong đề tài nghiên cứu của người thực hiện Vì vậy, trong đề tài nghiên cứu này, người thực hiện lựa chọn cấu trúc hai thành phần theo mô hình “văn hóa vật chất – văn hóa tinh thần” Tuy nhiên, để khu biệt giữa vật chất và tinh thần, tránh hiểu lầm giữa vật chất và vật thể, người thực hiện xin được đưa ra khái niệm sau:
Văn hóa vật chất bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại nhằm phục vụ cho đời sống vật chất của con người
Văn hóa tinh thần bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật,
lễ hội, phong tục, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương nhằm phục vụ cho đời sống tinh thần của con người
Trang 211.1.1.3 Văn hóa tộc người
Tộc người là một khái niệm cơ bản của dân tộc học Được hiểu theo nhiều nghĩa, nếu theo nghĩa rộng, tộc người được hiểu là một loại hình cộng đồng người Theo nghĩa hẹp, tộc người là tổng hợp những con người được hình thành
về mặt lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, dưới một cái tên tự gọi, có những đặc điểm chung tương đối bền vững về văn hóa và tâm lí; có ý thức về sự thống nhất của họ cũng như sự khác nhau giữa họ với các tộc người khác
Theo Đặng Nghiêm Vạn trong (Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam, 2003), tộc người (ethnic group) là “một cộng đồng mang tính tộc người có chung một tên gọi một ngôn ngữ (trừ trường hợp cá biệt) được liên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hóa, tạo thành một tính cách tộc người, có chung một
ý thức tự giác tộc người, tức có chung một khát vọng được cùng chung sống, có chung một số phận lịch sử thể hiện ở những ký ức lịch sử (truyền thuyết, lịch sử, huyền thoại, kiêng cữ) Một tộc người không nhất thiết phải có cùng một lãnh thổ, cùng một cộng đồng sinh hoạt kinh tế” [Lý Tùng Hiếu, năm 2012, tr.20]
Theo Ngô Đức Thịnh (“các sắc thái văn hóa tộc người”, văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam, 1996): “Nó là tổng thể các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, các sắc thái tâm lý
và tình cảm, phong tục và nghi lễ… khiến người ta phân biệt tộc người này với tộc người khác, văn hóa tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển ý thức tộc người” [Ngô Đức Thịnh, năm 2004, tr.24]
Các định nghĩa trên, mặc dù cách diễn đạt khác nhau nhưng xét về bản chất cũng có khá nhiều điểm tương đồng đó là cộng đồng phải có chung một tên gọi, một tiếng nói, chữ viết, ý thức dân tộc, văn hóa, phong tục phân biệt giữa tộc người này với tộc người khác
Vì vậy, văn hóa tộc người tương ứng với cộng đồng người, hình thành sớm nhất từ hậu thời kỳ đá mới và tồn tại cho đến ngày nay Ngay từ thời kỳ lập quốc – thời Văn Lang – Âu Lạc, Việt Nam đã là quốc gia đa tộc người Điều đó,
Trang 22được các nhà nghiên cứu chứng minh thông qua những di vật khảo cổ, thấy rằng: các cư dân nói các ngôn ngữ khác nhau thuộc Môn – Khmer cổ, Việt – Mường
cổ, Tày – Thái cổ
Trải qua quá trình lịch sử, văn hóa đa tộc người ấy ngày càng trở nên rõ nét hơn bao giờ hết Theo công bố chính thức của Nhà Nước vào năm 1979, Việt Nam có 54 tộc người, thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ - tộc người khác nhau: Việt – Mường, Môn – Khmer, Tày – Thái, Nam Đảo, Hmông – Dao, Tạng – Miến, Hán Mỗi nhóm mang trong mình những sắc thái văn hóa đặc trưng, tạo nên sự
đa dạng trong văn hóa Việt Nam nói riêng và văn hóa nhân loại nói chung
Xét dưới góc độ tộc người, văn hóa Việt Nam giống như một Đông Nam
Á thu nhỏ, bởi trên lãnh thổ Việt Nam có mặt đầy đủ các nhóm tộc người, mang những nét văn hóa đặc trưng của vùng Đông Nam Á Trong đó, Chăm là một trong những tộc người khá đặc sắc thuộc nhóm Nam Đảo (Austrone’sien gồm 5 tộc người: Chăm, Êđê, Gia rai và Chu Ru) Tổ tiên của các tộc người này là chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh Trong quá trình sinh tồn, tộc người này đã giao lưu, tiếp biến trên nền tảng văn hóa bản địa, hình thành nên một nền văn hóa Chăm phong phú cả về nội dung và diện mạo, để tạo nên sắc thái văn hóa Chăm như hiện nay
1.1.2 Du lịch, tài nguyên du lịch, du lịch văn hóa và văn hóa du lịch
1.1.2.1 Du lịch và tài nguyên du lịch
Du lịch
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về du lịch, cũng tùy vào quan điểm tiếp cận, mục đích nghiên cứu của các học giả, nên mỗi nhà nghiên cứu lại có định nghĩa riêng Người phương Tây quan niệm rằng, du lịch là một chuyến du ngoạn, tuân theo một chương trình nhất định và không vì mục đích sinh lợi Vì vậy, nhu cầu đích thực của khách ở đây chỉ đơn giản là
Trang 23muốn thưởng ngoạn, thẩm định các giá trị vật chất và tinh thần tại các điểm du lịch mà thôi
Trước thế kỷ XIX đến tận thế kỷ XX, du lịch hầu như vẫn được coi là đặc quyền của tầng lớp giàu có, quý tộc và người ta chỉ coi đây là một hiện tượng cá biệt trong đời sống kinh tế - xã hội Thời kỳ này, du lịch là một hiện tượng xã hội góp phần làm phong phú thêm cuộc sống và nhận thức của con người Đó là hiện tượng con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến một nơi xa vì nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích tìm kiếm việc làm và họ phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được ở nơi khác
Hunziker và Krapf (Thụy Sỹ) đã khái quát “Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại và lưu trú của những người ngoài địa phương – những người không có mục đích định cư và không liên quan tới bất cứ hoạt động kiếm tiền nào” [Trần Thị Thúy Lan, năm 2005, tr.9]
Mill và Morrison cho rằng: “Du lịch là hoạt động xảy ra khi con người vượt qua biên giới một nước, hay ranh giới một vùng, một khu vực để nhằm mục đích giải trí hoặc công vụ và lưu trú tại đó ít nhất 24 giờ nhưng không quá một năm” Như vậy, du lịch chỉ là hoạt động khi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định
Trần Văn Thông cho rằng: “Du lịch là một quá trình bao gồm tất cả sinh
hoạt của một chuyến đi, từ lúc dự trù chuyến đi, di chuyển đến một nơi lưu trú tạm thời (không phải với mục đích kiếm sống), với mục đích thỏa mãn nhu cầu
đa dạng (ăn, ở, tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi, giải trí, mua sắm, thể thao, tín ngưỡng, học tập, hội nghị…) đến lúc trở về và hồi tưởng” [Trần Văn Thông, năm 2005]
Pháp lệnh du lịch (công bố ngày 20/02/1999 trong Chương I Điều 10):
“Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình
Trang 24nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [Pháp lệnh du lịch,1998]
Luật du lịch (công bố ngày 27/06/2005, trong Chương I Điều 4: “Du lịch
là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”[Luật du lịch, năm 2005]
Theo Trần Nhoãn “Du lịch là một quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ so với quê hương không nhằm mục đích sinh lợi được tính bằng đồng tiền” [Trần Thị Thúy Lan, năm 2005, tr.22]
Như vậy, du lịch cần phải đảm bảo các yếu tố sau:
Thứ nhất, nó là một hoạt động rời khỏi nơi cư trú thường xuyên một cách tạm thời, không nhằm cư trú sinh sống lâu dài
Thứ hai, hoạt động đó nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng
Thứ ba, hoạt động đó không nhằm mục đích kiếm tiền hoặc sinh lợi trong quá trình thực hiện chuyến đi
Thứ tư, hoạt động đó phải có sự tiêu tiền cho các dịch vụ ở nơi mình đến
Có như vậy, khái niệm du lịch mới được hiểu một cách đầy đủ nhất Tuy nhiên, nếu xem xét du lịch một cách toàn diện hơn thì cần phải xét tất cả các chủ thể tham gia vào hoạt động du lịch, mới có thể đưa ra được một khái niệm có thể khái quát đầy đủ nội hàm và bản chất của du lịch được
Sản phẩm du lịch
Muốn phát triển loại hình du lịch văn hóa, cần phải khai thác có hiệu quả các sản phẩm văn hóa, nhằm biến chúng thành các sản phẩm du lịch Sản phẩm
Trang 25văn hóa chỉ trở thành sản phẩm du lịch khi nó tham gia trực tiếp vào quá trình kinh doanh du lịch, phục vụ các nhu cầu khác nhau của khách du lịch Nó không trở thành sản phẩm du lịch khi nó không tham gia vào quá trình hoạt động du lịch, không phục vụ các nhu cầu của khách du lịch
Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch [Luật du lịch, năm 2005]
Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ
sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng, một địa phương nào đó [Trần Thị Thúy Lan, năm 2005, tr.12]
Sản phẩm du lịch bao gồm các yếu tố hữu hình (hàng hóa) và yếu tố vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho du khách Hay nói cách khác sản phẩm du lịch bao gồm tài nguyên du lịch, cùng với các dịch vụ và hàng hóa du lịch
Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch có vai trò quyết định trong sự phát triển du lịch, nếu không có tài nguyên du lịch, sẽ không thể có hoạt động du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần khác nhau của cảnh quan tự nhiên hay cảnh quan nhân văn (văn hóa), có thể được sử dụng cho mục đích du lịch và thỏa mãn du nhu cầu về chữa bệnh, nghỉ ngơi, tham quan hay du lịch Tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên, các đối tượng văn hóa – lịch sử, đã được biến đổi ở mức
độ nhất định dưới sự ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch Trong ngành du lịch, đối tượng lao động là tài nguyên
du lịch, còn dịch vụ du lịch được thể hiện như một sản phẩm của quá trình lao động ấy
Theo I.I Pirojnik (1985), “tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng giúp cho việc phục hồi, phát triển thể lực, tinh lực, khả năng lao động và sức khỏe của con người mà chúng
Trang 26được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để tạo ra dịch vụ du lịch gắn liền với nhu cầu ở thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế - kỹ thuật cho phép” [Nguyễn Minh Tuệ, năm 1996, tr.31]
Ngô Tất Hổ (2000) thì cho rằng “tất cả giới tự nhiên và xã hội loài người
2005]
Nguyễn Minh Tuệ đưa ra định nghĩa “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử cùng các thành phần của chúng có sức hấp dẫn với du khách; đã, đang và sẽ được khai thác, cũng như bảo vệ nhằm đáp ứng nhu cầu của du lịch một cách hiệu quả và bền vững” [Nguyễn Minh Tuệ, năm 1996, tr.31]
Tuy tài nguyên du lịch theo cách tiếp cận của mỗi nhà nghiên cứu có sự khác nhau Song đều có những đặc điểm chung cơ bản là tự nhiên, văn hóa – lịch
sử, có sức hấp dẫn đối với du khách và là yếu tố quyết định để hình thành và phát triển các sản phẩm du lịch
Tài nguyên du lịch là cơ sở để xây dựng, phát triển các loại hình du lịch Đối với loại hình du lịch sinh thái, phải có hệ sinh thái như vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên v.v Đối với loại hình du lịch văn hóa, điều tất yếu phải có
di tích lịch sử - văn hóa, các dân tộc có nhiều lễ hội đặc sắc, phong tục tập quán độc đáo, làng nghề thủ công truyền thống mang giá trị đặc trưng Tài nguyên du
Trang 27lịch có thể trở thành nguồn lực quyết định, vừa có khả năng tạo nên các tour du lịch hấp dẫn, vừa có khả năng duy trì, đẩy mạnh trong phát triển sản phẩm du lịch
Việc phân loại tài nguyên du lịch cũng có vai trò quan trọng, có thể thấy được những giá trị đích thực của chúng Từ đó, giúp cho định hướng, quy hoạch, bảo vệ và bảo tồn tài nguyên du lịch trong quá trình phát triển Hiện có khá nhiều cách phân chia về tài nguyên du lịch, bởi tài nguyên du lịch rất phong phú và đa dạng, tùy thuộc vào việc sử dụng các tiêu chí khác nhau Năm 1997, Tổ chức du lịch Thế giới đã phân tài nguyên du lịch thành 3 loại, với 9 nhóm gồm: loại cung cấp tiềm tàng (3 nhóm: văn hóa kinh điển, tự nhiên kinh điển, vận động); loại cung cấp hiện tại (3 nhóm: giao thông, thiết bị, hình tượng tổng thể) và loại tài nguyên kỹ thuật (3 nhóm: khả năng hoạt động, cách thức và tiềm lực khu vực) [Nguyễn Minh Tuệ, năm 1996, tr.31]
Trong Luật du lịch Việt Nam (năm 2005) tài nguyên du lịch được chia làm 2 nhóm cơ bản đó là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn [Luật du lịch, năm 2005]
Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta như phong cảnh, động – thực vật, nguồn nước Tài nguyên du lịch tự nhiên, không đơn giản chỉ dừng lại ở chỗ là tạo nên các sản phẩm du lịch mà mục đích chính là khám phá vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ hay nghỉ dưỡng, chữa bệnh Mà tài nguyên du lịch tự nhiên đóng vai trò quan trọng đối với nhiều loại hình du lịch Một trong những yếu tố quan trọng đó là khí hậu, có liên quan đến trạng thái tâm lý – thể lực của con người Đó là khí hậu sinh học, con người không nhìn thấy được mà dễ dàng cảm nhận được nó
Luật du lịch Việt Nam (2005), quy định tại chương II, điều 13 “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy
Trang 28văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích
du lịch” [Luật du lịch, năm 2005]
Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm địa hình, khí hậu, tài nguyên nước, sinh vật, Tất cả những loại trên đều là “nguồn nguyên liệu” quý giá, để các nhà kinh doanh du lịch “nhào nặn” thành các chương trình du lịch có sức hấp dẫn cao Đặc biệt với địa hình ở Việt Nam, vừa có núi, biển và đồng bằng, cùng với khí hậu nhiệt đới, các thảm thực vật phong phú đang là một lợi thế mà thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta trong phát triển du lịch Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường đang là một bài toán khá nan giải, buộc chúng ta phải biết quy hoạch phát triển, để bảo vệ môi trường trong du lịch cũng như môi trường sống của chúng ta
Nếu tài nguyên du lịch tự nhiên do thiên tạo, thì tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra, hay nói cách khác, nó là đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo Trái ngược lại với tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn có giá trị nhận thức nhiều hơn Bởi bản thân nó mang giá trị lịch sử - văn hóa của một quốc gia, dân tộc
Cũng theo Luật du lịch Việt Nam (2005) “Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch” [Luật du lịch, năm 2005]
Các loại hình của tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội, các đối tượng gắn với dân tộc học, làng nghề thủ công truyền thống, các đối tượng văn hóa, thể thao và hoạt động nhận thức khác Mỗi dân tộc, đều trải qua quá trình lịch sử, hoạt động thực tiễn cũng như việc sáng tạo văn hóa khác nhau Vì vậy, mỗi quốc gia lại có nền văn hóa khác nhau và những di tích lịch sử - văn hóa hay các phong tục tập quán, tôn
Trang 29giáo, tín ngưỡng, các làng nghề truyền thống đã trở thành những minh chứng hùng hồn cho nền văn hóa ấy Việc bảo vệ, khôi phục và tôn tạo những thành tựu của loài người trong lịch sử, không chỉ là trách nhiệm bảo tồn của nhân loại, quốc gia, mà còn tạo điều kiện để những giá trị vô giá ấy được khai thác, phát huy, phát triển, trong đó có mục đích du lịch
Như vậy, tài nguyên du lịch tự nhiên hay tài nguyên du lịch nhân văn đều
có vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch Mặc dù mục đích của mỗi chuyến tham quan đối với mỗi loại tài nguyên là khác nhau Nhưng nhìn chung, chúng không thể thiếu để tạo nên những tour, tuyến, sản phẩm du lịch, giúp cho quảng bá về hình ảnh đất nước con người, cũng như ý thức gìn giữ, bảo tồn, bảo
vệ, tôn tạo nhằm phát triển bền vững kinh tế nói chung và du lịch nói riêng trong quá trình hội nhập thế giới
1.1.2.2 Du lịch văn hóa và văn hóa du lịch
Du lịch văn hóa
Việt Nam là một đất nước có bản sắc văn hóa độc đáo Với 54 dân tộc anh
em, mỗi dân tộc lại có những nét văn hóa đặc sắc, đang trở thành điểm đến lý tưởng đối với du khách quốc tế Bởi bề dày của lịch sử, của phong tục tập quán đặc sắc, của các lễ hội mang sắc thái riêng của từng tộc người và đặc biệt truyền thống hiếu khách của cư dân nông nghiệp lúa nước Chính vì thế, trong tất cả các loại hình du lịch thì du lịch văn hóa là một loại hình khá phát triển ở nước ta Có thể thấy rằng, việc chú trọng văn hóa trong phát triển du lịch là một định hướng đúng đắn trong chiến lược phát triển lâu dài của đất nước Văn hóa có mối quan
hệ mật thiết với du lịch, nhờ có văn hóa mà du lịch mới có được các sản phẩm
du lịch hấp dẫn, các chương trình du lịch tìm về với nguồn cội, các chương trình khám phá các di sản Ngược lại, du lịch cũng có những tác động tích cực cũng như tiêu cực đến văn hóa Để hiểu một cách đầy đủ hơn, phải đi từ định nghĩa du lịch văn hóa
Trang 30Du lịch văn hóa, theo Luật du lịch Việt Nam (năm 2005), quy định tại
điều 4, chương I “là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự
tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” Du lịch văn hóa là loại hình du lịch nhằm nâng cao hiểu biết cho du khách về lịch sử, kiến trúc, kinh tế - xã hội, lối sống và phong tục tập quán ở nơi
họ đến thăm Địa điểm đến thăm của du khách có thể là các di tích lịch sử - văn hóa, bảo tàng, lễ hội địa phương, liên hoan nghệ thuật, thể thao, làng nghề [Nguyễn Minh Tuệ, năm 1996, tr.14]
Du lịch văn hóa thực chất nó chính là một loại hình du lịch, nhằm khai thác các giá trị văn hóa làm nền tảng cho mục đích của du lịch, dựa vào văn hóa
để phát triển du lịch Nếu coi du lịch và văn hóa là một thực thể, thì bao giờ phần xác cũng là du lịch và phần hồn là văn hóa Chỉ có văn hóa mới là điểm tựa an toàn cho sự phát triển bền vững của du lịch Ngược lại, sự phát triển của du lịch cũng sẽ giúp các giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ bị mai một được khôi phục, bảo tồn và phát triển Nhưng nếu phát triển không song hành với bảo tồn, thì coi như đã phá hủy nền văn hóa
Trên thế giới hiện nay trong loại hình du lịch văn hóa đang được các nước tiên tiến khai thác gồm có bốn loại như sau: [Trần Anh Dũng, năm 2008]
Nhóm một: Du lịch văn hóa vùng di sản (Heritage sites cultural tourism) bao gồm tất cả các chuyến du lịch tham quan di sản thiên nhiên, di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể)
Nhóm hai: Du lịch văn hóa thắng cảnh nhân văn (Literary landscapes cultural tourism) gồm tất cả những chuyến du lịch thăm lại những khu di tích lịch sử của vùng, thăm những ngôi nhà của các anh hùng lịch sử dân tộc, thăm quan nơi làm việc của các vĩ nhân
Nhóm ba: Du lịch văn hóa những điểm đen (Blackspot cultural tourism) - loại hình du lịch văn hóa đem lại cảm giác xúc động mạnh như tham quan khu
Trang 31thảm sát trong chiến tranh, tham quan khu xảy ra tai nạn của các nhân vật nổi tiếng, hay nơi xảy ra vụ đắm tàu lịch sử, nơi chôn xác trong chiến tranh
Nhóm bốn: Du lịch văn hóa công viên chuyên đề (Theme parks cultural tourism), gồm những chuyến tham quan các công viên văn hóa chuyên đề như công viên nước, công viên hóa, công viên tranh nghệ thuật, công viên điêu khắc
Thông qua bốn nhóm của loại hình du lịch văn hóa trên thế giới Xét từ nhiều yếu tố, ở Việt Nam, chúng ta cũng có các loại hình văn hóa tiêu biểu như: [Trần Anh Dũng, năm 2008]
Thứ nhất, loại hình du lịch văn hóa di sản (cultural heritage), lấy những giá trị văn hóa, lịch sử có trong di sản tạo thành những sản phẩm du lịch cho khách thưởng thức Ở nước ta đã có 7 di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới gồm hai di sản thiên nhiên thế giới đó là Vịnh Hạ Long và Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, cùng các di sản văn hóa như Quần thể di tích Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Thành nhà Hồ, Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca quan họ Bắc Giang và Bắc Ninh, Ca Trù, Hát Xoan, Mộc Bản triều Nguyễn, 82 Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long, Kho mộc bản kinh phật chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang), Hội Gióng ở Phù Đổng và đền Sóc, Cao nguyên Đá Đồng Văn Trong tương lai, còn nhiều di sản nữa sẽ được công nhận Với số lượng di sản khá lớn, đây là nguồn lực, là tiềm năng để phát triển loại hình du lịch di sản nói riêng và du lịch nói chung
Thứ hai, loại hình du lịch văn hóa – lịch sử, gồm tất cả những chuyến du lịch thăm lại những khu di tích lịch sử, ngôi nhà của các anh hùng lịch sử dân tộc, nơi làm việc của các vĩ nhân Với một đất nước có lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, số lượng các di tích lịch sử - văn hóa lớn là điều dễ hiểu Đây cũng chính là điều kiện để phát triển loại hình du lịch này
Trang 32Thứ ba, loại hình du lịch văn hóa cảm xúc, là loại hình mà sản phẩm được khai thác từ các đặc tính thẩm mỹ phi vật thể thông qua các giác quan như màu sắc, âm thanh, ánh sáng, hương vị, tiếng động những thành tố tạo thành cái cội nguồn văn hóa của vùng, dân tộc hay quốc gia Đặc điểm của loại hình này tạo nên một vùng cảm xúc mạnh mẽ đối với du khách, để lại những kí ức đẹp về chuyến đi Có thể kể đến như Nhã nhạc cung đình Huế, Quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Hát Xoan
Thứ tư, loại hình du lịch văn hóa sự kiện và lễ hội (Festival & Event), là những sản phẩm du lịch khai thác từ những sự kiện và lễ hội được xây dựng thành các chương trình du lịch, giúp cho khách hòa mình và được trải nghiệm lý thú Một đất nước đa tộc người như Việt, đa dạng các lễ hội trải dài từ Bắc tới Nam như Lễ hội Lồng Tồng (xuống đồng), Lễ hội Chùa Hương, Lễ hội Katê, Lễ hội Miếu Bà Chúa Xứ, Lễ hội Đâm Trâu đang trở thành nguồn tài nguyên du lịch vô cùng quý giá
Thứ năm, loại hình du lịch văn hóa làng nghề truyền thống (handy craft village cultural tour), là sản phẩm du lịch khai thác các giá trị làng nghề truyền thống, giúp khách vừa học hỏi vừa giao lưu và mua những sản phẩm ấy
Thứ sáu, loại hình du lịch văn hóa nghệ thuật ăn ngon (Gastronomy cultural tour), là sản phẩm được xây dựng dựa trên nền tảng những nét tinh hoa
ẩm thực truyền thống của địa phương, vùng hoặc quốc gia
Thứ bảy, loại hình du lịch văn hóa nông thôn (Farm experiences homestay cultural tour), được xây dựng dựa trên các yếu tố sinh hoạt văn hóa nông thôn của các địa phương, vùng hay quốc gia, giúp khách có thể trải nghiệm cuộc sống
và lao động của các vùng nông thôn
Du lịch văn hóa là hoạt động có tính giáo dục cao, nhằm nâng cao hiểu biết về giá trị văn hóa Từ đó, du khách cũng như cư dân địa phương có ý thức hơn trong việc bảo vệ những giá trị văn hóa này
Trang 33Như vậy, du lịch văn hóa được đánh giá là một loại hình phát triển nhất trong tất cả các loại hình du lịch Nó có vai trò vô cùng to lớn trong việc tạo ra các chương trình du lịch hấp dẫn trong kinh doanh du lịch, vừa đem lại nguồn lợi cho kinh tế, vừa quảng bá hình ảnh Việt Nam đất nước con người đến bạn bè năm châu, vừa giúp khôi phục, bảo tồn và phát huy vốn văn hóa của dân tộc
Văn hóa du lịch
Văn hóa du lịch là một phạm trù rộng, tùy theo quan điểm, cách tiếp cận
mà mỗi học giả lại có những quan niệm khác nhau về văn hóa du lịch Song, bản chất của nó nhằm nghiên cứu những phương thức khai thác giá trị văn hóa phục
vụ du lịch Hay nghiên cứu các di tích lịch sử văn hóa, các danh lanh thắng cảnh,
lễ hội, phong tục, tập quán, ẩm thực từ góc độ du lịch và phương thức khai thác những giá trị đó để kinh doanh du lịch
Theo Trần Nhoãn “Văn hóa du lịch là một khoa học nhằm nghiên cứu mọi giá trị từ các loại hình văn hóa khác nhau, đồng thời tìm công nghệ khai thác tối
ưu để phát triển du lịch” [Lê Thị Vân, năm 2006, tr.28]
Như vậy, văn hóa du lịch không những chỉ dừng lại ở việc khai thác mọi giá trị từ các loại hình văn hóa để phát triển du lịch, mà nó còn bao gồm cả khía cạnh làm du lịch phải có văn hóa, bởi đối với du lịch là một ngành đòi hỏi có tầm nhìn và ứng xử văn hóa cao Đặc biệt, đối với kinh doanh du lịch, dùng các công nghệ khai thác tối ưu để phát triển du lịch là việc làm cần thiết Song, không vì lẽ đó mà các nhà kinh doanh du lịch chạy theo đồng tiền, chạy theo lợi nhuận, bất chấp tất cả các hậu quả xấu về văn hóa – xã hội Vì thế, hoạt động du lịch phải lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển du lịch nói riêng và kinh tế nói chung
Để có một sản phẩm du lịch mang tính văn hóa, nó phải được thể hiện trong toàn bộ chi tiết như các giá trị đặc sắc về văn hóa của tuyến, điểm, còn có
Trang 34các phương tiện du lịch và các dịch vụ phải xây dựng được sản phẩm đáp ứng
về tính đặc sắc và tính biểu trưng của nền văn hóa dân tộc
Nhìn chung, văn hóa du lịch là một phạm trù rộng, nó thể hiện những giá trị văn hóa của toàn bộ hoạt động du lịch Văn hóa du lịch không phải là phép cộng đơn giản giữa văn hóa và du lịch mà là sự kết hợp giữa du lịch và văn hóa,
là kết quả tương hỗ lẫn nhau giữa các yếu tố cấu thành nên sản phẩm du lịch đó
là tài nguyên văn hóa, du khách, hướng dẫn viên, thuyết minh viên, người thiết
kế sản phẩm, nhân viên phục vụ, cơ sở dịch vụ Vì vậy, nó là một hình thái văn hóa đặc thù, khai thác những nhân tố giá trị nội tại của văn hóa làm điểm tựa, trong quá trình phát triển luôn thể hiện tính văn hóa trong kinh doanh, trong sản phẩm, trong thái độ ứng xử của những người làm việc trong lĩnh vực du lịch hay trong cộng đồng cư dân và kể cả chính quyền địa phương Tất cả đều có vai trò quan trọng giúp tạo ấn tượng tốt đẹp từ việc đón tiếp, phục vụ, tổ chức tham quan, vui chơi giải trí, mua sắm cũng như truyền tải những nét văn hóa đặc sắc riêng của những vùng, miền, dân tộc mà du khách đến
Như vậy, văn hóa du lịch tức là nội dung văn hóa mà do du lịch thể hiện
ra đó là văn hóa của dân tộc, của du khách và những người làm công tác du lịch tích lũy và sáng tạo ra trong hoạt động du lịch
Có thể nói, văn hóa du lịch là một loại hình văn hóa đặc thù Trong đó, bản sắc văn hóa của một quốc gia, một vùng, một địa phương là nền tảng để tạo
ra những sản phẩm biểu trưng hấp dẫn đối với du khách Đặc biệt với Việt Nam, một quốc gia có rất nhiều dân tộc hay nhiều vùng văn hóa như vùng văn hóa Tây Bắc, vùng văn hóa Việt Bắc, vùng văn hóa Bắc Bộ, vùng văn hóa Trung Bộ, vùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng văn hóa Nam Bộ Mỗi vùng lại
có những nét văn hóa đặc trưng riêng Cùng với sự phát triển của cơ sở hạ tầng,
cơ sở dịch vụ, nhân lực du lịch , đang trở thành nguồn lực quan trọng, là tiềm
Trang 35năng vô hạn, để tạo ra những sản phẩm du lịch có chất lượng cao Tất cả sẽ góp phần cho việc xây dựng, quảng bá hình ảnh quốc gia trên toàn thế giới
Du lịch văn hóa và văn hóa du lịch có mối quan hệ khăng khít và tương hỗ lẫn nhau Du lịch văn hóa phát triển sẽ tạo điều kiện để văn hóa du lịch phát triển Ngược lại văn hóa du lịch là cơ sở, nền tảng để tạo nên du lịch văn hóa Tuy là hai khái niệm riêng biệt, song xét cho cùng bản chất của nó hướng tới đó chính là văn hóa
Vì vậy, nhận thức được vai trò quan trọng của văn hóa, nghị quyết hội nghị lần thứ năm của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định
“ văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [Tài liệu học tập Nghị quyết lần thứ năm BCHTW Đảng khóa VIII, năm 1998, tr.24]
1.1.3 Quan hệ giữa văn hóa và du lịch
Giữa văn hóa và du lịch có mối quan hệ biện chứng không thể tách rời Mối quan hệ ấy, được thể hiện trong việc khai thác, phát huy các di sản, các giá trị văn hóa - một bộ phận thiết yếu của sản phẩm du lịch Sự phát triển của du lịch góp phần tăng trưởng kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đất nước, thúc đẩy việc nâng cao tố chất của văn hóa trong kinh doanh
du lịch, đồng thời thúc đẩy văn hóa phát triển Du lịch phát triển, văn hóa được chú trọng, giúp cho bản sắc văn hóa được giữ gìn, các công trình văn hóa được trùng tu tôn tạo, các giá trị văn hóa có nguy cơ mai một được phục hồi, vốn văn hóa truyền thống được bảo vệ Ngược lại, văn hóa được quan tâm phát triển, sẽ tạo cho du lịch nhiều sản phẩm đa dạng, độc đáo, góp phần thu hút đông đảo du khách, đẩy mạnh du lịch phát triển Có thể nói, thiếu yếu tố văn hóa, du lịch sẽ khó có thể hoạt động cũng như phát triển được Ngược lại, nếu du lịch không phát triển, văn hóa sẽ không có cơ hội hoặc ít được quảng bá, tuyên truyền hay nói cách khác khó có thể phát triển toàn diện được
Trang 361.1.3.1 Văn hóa là nguồn tài nguyên độc đáo của du lịch
Văn hóa chính là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn vô cùng độc đáo đối với sự phát triển du lịch Nếu tài nguyên du lịch tự nhiên hấp dẫn du khách bởi tính hoang sơ hay giá trị về mặt thẩm mỹ, thì tài nguyên nhân văn lại hấp dẫn bởi giá trị nhân văn, có giá trị nhận thức nhiều hơn Tài nguyên nhân văn là cơ sở chủ yếu để hình thành loại hình du lịch văn hóa Bên cạnh đó, con người luôn có nhu cầu tìm hiểu, khám phá cuộc sống cũng như những nét văn hóa độc đáo khác biệt với nơi mình sinh sống Vì vậy, văn hóa là yếu tố thúc đẩy động cơ đi
du lịch, cũng như là nguồn tài nguyên độc đáo thu hút khách du lịch
Hoạt động du lịch xuất phát từ nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, tương ứng với nó là hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần Trong văn hóa, những nhà nghiên cứu chia thành nhiều cấu trúc văn hóa khác nhau, nhưng cấu trúc văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần được cho là phổ biến nhất, dễ hiểu nhất Văn hóa vật chất bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra như đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại, các di tích lịch sử - văn hóa Tất cả những giá trị văn hóa trên là tài nguyên du lịch nhân văn quan trọng trong phát triển du lịch Trong các nhóm của loại hình du lịch văn hóa, hệ thống di tích lịch sử - văn hóa được khai thác là chủ yếu, đã tạo nên các chương trình du lịch hấp dẫn Đặc biệt, Việt Nam là một đất nước có số lượng các di tích lịch sử văn hóa lớn, tập trung ở khắp các vùng miền trên cả nước từ Bắc tới Nam Mỗi vùng, miền di tích lịch sử văn hóa ấy lại có những nét riêng, phản ánh lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo ở nơi đó
Di tích lịch sử - văn hóa bao gồm nhiều loại từ di tích văn hóa khảo cổ, di tích lịch sử, di tích văn hóa nghệ thuật, danh lam thắng cảnh Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa này không những là tài nguyên du lịch độc đáo, mà còn là tài sản văn hóa vô giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước và của cả nhân loại Bởi nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể nhất chứa đựng
Trang 37nhiều giá trị về truyền thống tốt đẹp, tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa, nghệ thuật Ngoài việc góp phần giúp cho du lịch phát triển, nó còn góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người, vào việc phát triển khoa học nhân văn và khoa học lịch sử
Việc khai thác các giá trị văn hóa ẩm thực thông qua hoạt động kinh doanh đồ ăn, đồ uống dựa trên nền tảng ẩm thực vùng miền Thông qua cách ăn, nghệ thuật chế biến, du khách hiểu hơn về văn hóa ẩm thực, phong tục, tập quán cũng như thói quen ăn uống của con người và vùng đất họ đến Điều đó, đã tạo nên sức hấp dẫn lớn đối với loại hình du lịch văn hóa ở nơi đây
Văn hóa tinh thần thường bao gồm toàn bộ những sản phẩm hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra tư tưởng, tín ngưỡng – tôn giáo, nghệ thuật, phong tục, lễ hội, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương Trong đó, các giá trị văn hóa tinh thần được khai thác chủ yếu để phát triển đó là lễ hội, tín ngưỡng tôn giáo, nghệ thuật, phong tục Những giá trị ấy, là nguồn tài nguyên nhân văn đặc sắc để các nhà kinh doanh du lịch thiết kế, xây dựng thành tuyến, điểm du lịch tạo nên sản phẩm du lịch đặc trưng như du lịch lễ hội, du lịch tôn giáo
Người Chăm được xem là một dân tộc có nhiều nguồn tài nguyên văn hóa
để khai thác và phát triển du lịch Với một bề dày lịch sử - văn hóa, nhiều di tích được xếp hạng trong đó có di sản văn hóa được UNESCO công nhận, nhiều thiết chế, tôn giáo, tín ngưỡng đặc biệt phải kể đến là tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái các vị thần tự nhiên, thờ nữ thần , hàng chục lễ hội dân gian trong năm như lễ hội Katê, Rija Proong, Rija Nưgar v.v Bên cạnh đó, vốn nghệ thuật dân tộc phong phú như dân ca, sân khấu truyền thống, mỹ thuật, kiến trúc, điêu khắc, làng nghề thủ công truyền thống đa dạng mang sắc thái riêng Tất cả các giá trị ấy đang trở thành một tài nguyên du lịch nhân văn hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước
Các giá trị văn hóa còn được ứng dụng, khai thác trong hệ thống cơ sở vật chất cũng như trong trang trí đối với các khách sạn, nhà hàng, văn phòng du lịch,
Trang 38những trung tâm dịch vụ giải trí du lịch mang âm hưởng văn hóa vùng, miền từ vật liệu, kiểu dáng, phong cách kiến trúc tạo nên sự đồng bộ hay sự khác biệt gây ấn tượng đối với du khách
Như vậy, văn hóa là yếu tố quan trọng để tạo ra chất lượng của sản phẩm
du lịch và tính hiệu quả trong việc kinh doanh và phát triển du lịch Ngược lại, sản phẩm du lịch lúc nào cũng thể hiện nội dung văn hóa, hay nói cách khác các giá trị văn hóa quyết định nét đặc sắc, độc đáo của sản phẩm du lịch Du khách tiêu thụ các sản phẩm du lịch cũng nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa tinh thần của mình Nhằm để nâng cao chất lượng của sản phẩm du lịch, các nhà kinh doanh
lữ hành cần khai thác các giá trị văn hóa song song với việc nâng cao nhu cầu thỏa mãn vật chất của khách du lịch, cũng như nâng cao tính văn hóa trong ứng
xử, giao tiếp của đội ngũ nhân sự trong ngành du lịch Các tuyến, điểm du lịch cần tạo nên sự phong phú đa dạng Có như vậy, mới đem lại lại sự phát triển bền vững trong phát triển du lịch và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho đất nước
1.1.3.2 Văn hóa là mục tiêu của phát triển du lịch
Văn hóa có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Nó vừa
là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Mỗi ngành kinh tế đều có một phương thức kinh doanh riêng nhằm tạo ra lợi nhuận Đối với kinh doanh du lịch, văn hóa luôn là yếu tố quyết định nhằm thỏa mãn nhu cầu thưởng thức của du khách, tạo nên hệ thống tuyến, điểm du lịch Vì vậy, văn hóa là mục tiêu, là định hướng phát triển du lịch Khai thác nhân tố văn hóa truyền thống cùng các phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, nếp sống như là một phương thức kinh doanh trong ngành du lịch
Yếu tố văn hóa truyền thống có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của du lịch, cụ thể là việc tác động đến tình cảm của du khách Điều đó quyết định đến việc tiêu thụ các sản phẩm của các nhà kinh doanh du lịch Thực
tế để đem lại hiệu quả kinh doanh cao, ngoài việc đáp ứng được nhu cầu về cơ sở
Trang 39vật chất, ăn uống, ngủ nghỉ, vui chơi cho khách còn phải biết phát huy bản sắc văn hóa dân tộc để họ hiểu hơn về văn hóa nơi họ đến
Văn hóa mang tính đặc thù của từng quốc gia, dân tộc Việt Nam xuất phát từ nền văn hóa gốc nông nghiệp lúa nước, mang dấu ấn rõ nét của văn hóa phương Đông Nhưng bản chất là đất nước nằm giữa ngã ba đường của nhiều luồng tư tưởng văn hóa, nên văn hóa của Việt Nam có phần khác biệt, luôn có sự tiếp biến, giao thoa, dung hòa giữa yếu tố ngoại lai với yếu tố bản địa Trong quá trình phát triển, vừa kế thừa vừa gìn giữ những nét văn hóa dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại Vì thế, văn hóa vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa có tính thời đại phù hợp với sự phát triển kinh tế trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay Điều đó, thể hiện vai trò quan trọng của văn hóa, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nó khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo và là động lực giúp cho
sự phát bền vững của đất nước
Văn hóa được coi như một tài nguyên du lịch quan trọng, một “toa thuốc bổ” tạo nên chất lượng của sản phẩm du lịch Văn hóa là một kho báu vô cùng quý giá cho ngành du lịch Bởi hoạt động du lịch thực chất cũng chính là quá trình tìm hiểu, khám phá những nét đặc sắc về văn hóa mà khác với nơi họ sinh sống Văn hóa giúp cho các hãng kinh doanh lữ hành giải quyết vấn đề về sự gia tăng lượng khách du lịch, và là động cơ, là mục đích tìm kiếm của khách du lịch
Ấn tượng về văn hóa sẽ làm cho du khách khó quên và họ hiển nhiên sẽ trở thành những nhân viên “marketing” không chuyên giới thiệu, quảng bá thậm chí nói quá thêm những giá trị ấy, giúp cho việc tăng nguồn khách cho du lịch là điều hết sức dễ hiểu
Trong tất cả các loại hình du lịch, thì du lịch văn hóa là một hình thức du lịch mang lại nhiều lợi ích nhất cho du lịch Thông qua du lịch, một số những giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương được tái tạo, duy trì và phát huy, cũng như được bảo tồn một cách hiệu quả nhất
Trang 40Như vậy, văn hóa được xác định là mục tiêu, là nền tảng trong phát triển kinh tế nói chung, và là mục tiêu quan trọng hàng đầu đối với chiến lược phát triển du lịch bền vững nói riêng thể hiện sự khôn ngoan của các nhà kinh doanh
du lịch Văn hóa mới có thể tự tạo cho mình một “nguồn nguyên liệu” để sản xuất ra những sản phẩm du lịch
1.1.3.3 Du lịch là phương tiện quảng bá văn hóa
Du lịch và văn hóa có mối quan hệ biện chứng với nhau Văn hóa được xem như là một phương tiện hữu hiệu để quảng bá và thu hút khách du lịch Ngược lại đối với việc phát triển du lịch cũng là một phương tiện quảng bá về văn hóa, cụ thể như về hình ảnh đất nước, con người, phong tục tập quán, lối sống, giao tiếp của một quốc gia, dân tộc
Văn hóa gắn với các hoạt động của con người nên có tính giao lưu Cũng nhờ có giao lưu mà văn hóa được lan truyền giữa các vùng, các miền và các quốc gia với nhau Bởi vậy, du lịch cũng được xem là con đường để nhận biết tính đa dạng và đặc sắc của các nền văn hóa Thông qua du lịch, giúp con người xích lại gần nhau hơn và thúc đẩy sự giao lưu văn hóa
Du lịch, du khách được tìm hiểu, khám phá những nét văn hóa đặc sắc của từng vùng miền, từng dân tộc, tộc người, với nhiều sự khác biệt hoặc tương đồng Chỉ có ở Việt Nam du khách mới hiểu thế nào là “chợ tình Sapa”, những phiên chợ rất riêng của những dân tộc miền núi phía bắc Hay những lễ hội độc đáo của những cư dân nông nghiệp, ngư nghiệp như “lễ hội nghinh Ông” từ vùng biển Thanh Hóa đến Cà Mau, những lễ hội mang âm hưởng cao nguyên rộn ràng như “lễ hội Đâm trâu” của các dân tộc rừng núi Tây Nguyên Hay những làn điệu dân ca quan họ Bắc Ninh đầy trữ tình thơ mộng của những chàng trai cô gái kinh bắc Hoặc hòa mình vào với làn điệu “ca Huế” trên dòng sông Hương hết sức độc đáo của xứ Huế Cũng như thưởng thức “vũ điệu” của người Chăm, tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt Những sản phẩm lưu niệm, những
nụ cười thân thiện của các nhân viên phục vụ, của người hướng dẫn viên du