Các tài liệu thu thập trong đề tại chủ yếu là về lịch sử nghiên cứu, cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc phát triển du lịch văn hóa, các tiềm năng, thực trạng hoạt động du lịch; Các chủ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Nghiêm Thu Hằng
Trang 26 GS.TS Giáo sư Tiến sĩ
7 PGS.TS Phó giáo sư Tiến sĩ
8 SPDL
9 UBND
Sản phẩm du lịch
Ủy ban nhân dân
10 UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Số lượng cơ sở lưu trú tại huyện Lạc Thủy năm 2007 -2014
2 Bảng 2.2 Số lượng cơ sở lưu trú tại Hương Sơn 2007 – 2014
3 Bảng 2.3 Giá vé tham quan và cáp treo chùa Hương năm 2015
4 Bảng 2.4 Lượng khách du lịch đến Hương Sơn giai đoạn 2008 – 2014
5 Bảng 2.5 Lượng khách du lịch nội địa đến huyện Lạc Thủy giai đoạn 2008 – 1014
6 Bảng 3.1 Chiến lược sản phẩm – thị trường
Trang 4DANH MỤC HÌNH ẢNH
Ảnh 1 Bến Đò - Chùa Hương
Ảnh 2 Suối Yến - Chùa Hương
Ảnh 3 Biển báo cho du khách - Chùa Hương
Ảnh 4 Khai hội chùa Hương 2015
Ảnh 5 Đường lên động Hương Tích ngày hội
Ảnh 6 Lầu chuông - Chùa Hương
Ảnh 7 Đại Hùng Bảo Điện - Chùa Thiên Trù
Ảnh 8 Động Hương Tích – Chùa Hương
Ảnh 19 Cổng - Đền Mẫu Âu Cơ
Ảnh 20 Đường lên Đền Mẫu Âu Cơ
Ảnh 21 Toàn cảnh đền Mẫu Âu Cơ
Ảnh 22 Bàn thờ Mẫu – đền Mẫu Âu Cơ
Ảnh 23 Bia đền thờ Mẫu Âu Cơ
Ảnh 24 Nhà vệ sinh – đền Mẫu Âu Cơ
Ảnh 25 Khu vực bán hàng lưu niệm trong chùa Tiên
Ảnh 26 Vé thắng cảnh chùa Hương
Ảnh 27 Phiếu ghi nhận công đức Đền Mẫu Âu Cơ
Ảnh 28 Bảng phối cảnh tổng thể quần thể di tích đền Đức Thánh Cả
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 2
DANH MỤC CÁC BẢNG 3
DANH MỤC HÌNH ẢNH 4
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích nghiên cứu 8
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11
7 Kết cấu của đề tài 12
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DU LỊCH VĂN HOÁ 13
1.1 Những vấn đề về du lịch văn hóa 13
1.2 Điều kiện phát triển du lịch văn hóa 26
1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa ở Ninh Bình 32
Tiểu kết chương 1 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA PHÍA NAM HÀ NỘI 36
2.1 Giới thiệu khái quát phía Nam Hà Nội 36
2.2 Các điểm đến tiêu biểu của du lịch văn hóa phía Nam Hà Nội 40
2.3 Thực trạng các loại hình dịch vụ 51
Tiểu kết chương 2 61
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA PHÍA NAM HÀ NỘI 62
3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 62
3.2 Những giải pháp cụ thể 67
3.3 Đề xuất một số kiến nghị 81
Tiểu kết chương 3 83
KẾT LUẬN 84
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
SƠ ĐỒ DU LỊCH 89
DANH MỤC BẢNG BIỂU 93
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 96
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hoá là nguồn tài nguyên độc đáo của du lịch Khi nói văn hoá là nguồn nguyên liệu để hình thành lên hoạt động du lịch, tức là chúng ta nói đến vật hút / đối tượng hưởng thụ của du khách Nguồn nguyên liệu văn hoá có hai loại cơ bản là Văn hoá vật thể và Văn hoá phi vật thể Trong đó, ngành du lịch xếp các thành tố văn hoá vào tài nguyên nhân văn cụ thể là các di tích lịch sử - văn hoá; hàng lưu niệm mang tính đặc thù dân tộc; ẩm thực; lễ hội; các trò chơi giải trí; phong tục, tập quán, cách ứng xử, giao tiếp; tín ngưỡng, tôn giáo; văn học - nghệ thuật Vì vậy mà văn hoá là điều kiện và môi trường để cho du lịch phát sinh và phát triển
Hiện nay nước ta đang trong thời kỳ mở cửa hội nhập cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội là những khó khăn, thách thức phải đối mặt như: sự gia tăng dân số, suy đồi về lối sống, tệ nạn xã hội, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường…
Vì thế người dân ngày càng phải chịu nhiều áp lực Do đó để cân bằng cuộc sống
và thỏa mãn nhu cầu tinh thần họ đã dành thời gian cho các chuyến du lịch để nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng, giải trí… Bên cạnh các chuyến du lịch thuần túy đó, họ còn thực hiện các chuyến du lịch kết hợp giữa du lịch và văn hóa, để không chỉ thỏa mãn các nhu cầu vật chất mà còn thỏa mãn các nhu cầu tinh thần Những chuyến hành trình đó còn được gọi là du lịch văn hóa
Phía Nam Hà Nội với điều kiện khí hậu thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng tạo cho nơi đây có địa thế đẹp, với dạng địa hình Kast tạo nên
hệ thống hang động kỳ bí trong lòng núi, nhiều nhũ đá kỳ ảo; đây cũng là khu vực đầm lầy nhiều vũng, sông, suối, kênh rạch tạo nên hệ thống đường thủy thuận lợi cho người dân đi lại cũng như cho du khách thưởng ngoạn thắng cảnh Như chùa Hương một danh thắng đẹp, nổi tiếng trong và ngoài nước; hay Đầm Đa muốn đến thì phải đi đường bộ leo lên các bậc đá, luồn qua các hang động, các khe đá để thưởng ngoạn cái đẹp, cái mới lạ Có thể nói thiên nhiên đã làm nên cái đẹp, cái độc đáo của văn hóa bản địa nơi đây
Bên cạnh địa hình độc mà lạ đó khu vực này còn có tài nguyên văn hóa phong phú: văn hóa ở đây chính là văn hóa chung của dân tộc nó ôm chứa giá trị văn hóa bản địa, tín ngưỡng và Phật giáo, đặc biệt là quá trình Việt hóa Văn hóa,
Trang 8Việt hóa Phật giáo Nơi đây có hệ thống đền chùa tạo nên vị trí quan trọng trong việc phát triển du lịch văn hóa tâm linh Ta có thể thấy rõ trong tín ngưỡng thờ Mẫu
ở đền Mẫu Âu Cơ, Chùa Hương; tục thờ Đức Thánh Cả; hay các huyền tích về Quan Âm Thị Kính đã được nhân dân ta Việt hóa …
Tuy nhiên, hiện nay ngành du lịch phía Nam Hà Nội vẫn chưa thực sự phát huy được lợi thế này, thể hiện trên một số mặt chủ yếu như: thiếu quy hoạch tổng thể lâu dài đặc biệt nổi cộm ở vùng trung tâm và ngoại vi của Hà Nội, thiếu những
dự án cho từng hạng mục công trình theo đúng nguyên tắc của khoa học về bảo tồn
di tích, thiếu sự chỉ đạo chặt chẽ của cơ quan chuyên môn, mà căn bản là do địa phương tự lo kinh phí, tự quản lý, chỉ đạo thi công, giám sát và nghiệm thu công trình…Tất cả những điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển du lịch Chính vì thế nên có rất nhiều vấn nạn đã và đang diễn ra thường xuyên tại các khu vực này như: việc phát triển du lịch còn mang tính chất tự phát, thiếu sự quản lý của các cơ quan chức năng; Đền, Chùa xây dựng chưa có quy hoạch cụ thể dẫn đến tình trạng được tu bổ nhưng lại mất đi những giá trị kiến trúc đặc biệt trước đó; tình trạng buôn bán trước cửa đền chùa; buôn thần bán thánh; buôn bán thú cưng; chặt chém du khách; trộm cắp … vẫn đang diễn ra
Mặt khác lượng du khách đến đây khá đông nhưng đa phần là du lịch ngắn ngày vì thế mà số ngày lưu trú bình quân, công suất buồng phòng còn thấp, mức tiêu dùng của khách khi đến Chùa Hương hay Chùa Tiên - Hòa Bình còn ở mức rất khiêm tốn, đóng góp của ngành du lịch cho địa phương chưa nhiều, chưa giải quyết được việc làm cho nhân dân, cơ cấu của ngành du lịch trong cơ cấu kinh tế của tỉnh còn thấp, mặc dù đã được chú trọng đầu tư nhiều Nêú tình trạng này kéo dài, ngành
du lịch khó có thể trở thành động lực cho kinh tế nơi đây phát triển
Vì những yêu cầu cấp thiết trong việc phát triển du lịch văn hóa với phương
châm phát triển theo hướng bền vững tác giả đã chọn đề tài: “Phát triển du lịch văn hóa phía Nam Hà Nội (nghiên cứu điển hình: đền Đức Thánh Cả; chùa Hương, đền
Mẫu Âu Cơ (Đầm Đa), chùa Tiên) làm đề tài cho luận văn nghiên cứu của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên c ứu tiềm năng, thực trạng và triển vọng phát triển du lịch tại khu vực phía Nam Hà Nội nhằm phát huy các giá trị về sinh thái - văn hóa - tâm
Trang 9linh; đồng thời thu hút cộng đồng tham gia góp phần giải quyết các vấn nạn trong mùa lễ hội và thu hút khách du lịch nhiều hơn trong thời gian tới Nhất là việc phát triển du lịch văn hóa theo hướng bền vững
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu thập, tổng quan các tài liệu lý luận và thực tiễn về du lịch
- Khảo sát thực trạng về du lịch tại các điểm du lịch văn hóa đã chọn nghiên cứu điển hình
- Phân tích đánh giá thực trạng phát triển du lịch văn hóa của một số điểm du lịch khu vực phía Nam Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển du lịch văn hóa tại điểm đến trong những năm tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tác giả tiến hành nghiên cứu các giá trị văn hóa lịch
sử bằng hiện vật và tinh thần thể hiện ở các điểm liên quan đến phía Nam Hà Nội trong đó có các điểm chính là:
Đền Đức Thánh Cả (thôn Hữu Vĩnh, xã Hồng Quang, Ứng Hoà, Hà Nội); Chùa Hương Tích (xã Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội);
Đền Mẫu Âu Cơ và chùa Tiên (Đầm Đa, Lạc Thủy, Bình Hòa)
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại tại phía Nam thành phố Hà Nội bao gồm: huyện Ứng Hoà; huyện Mỹ Đức (Hà Nội) và Đầm Đa - huyện Lạc Thủy (Hòa Bình)
- Về thời gian: Nghiên cứu được tiến hành trong năm 2014 và đầu năm 2015, các số liệu được sử dụng trong khóa luận được lấy từ năm 2008 đến nay Vì điều kiện thời gian và cách trở về khoảng cách nên luận văn chỉ phát được 50 phiếu cho mỗi điểm nghiên cứu với tổng là 200 bảng hỏi
5 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu: là một công việc quan trọng cần
thiết cho bất kỳ hoạt động nghiên cứu khoa học nào Việc vận dụng phương pháp này nhằm bảo đảm tính kế thừa của các công trình trước đó, giúp tiết kiệm thời gian
và công sức, giúp ta có cái nhìn tổng thể về đề tài nghiên cứu
Trang 10Các tài liệu thu thập trong đề tại chủ yếu là về lịch sử nghiên cứu, cơ sở lí luận
và thực tiễn cho việc phát triển du lịch văn hóa, các tiềm năng, thực trạng hoạt động
du lịch; Các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước nói chung và của Hà Nội nói riêng nhằm phát triển du lịch bền vững Nguồn tài liệu này chủ yếu lấy từ các sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án, các báo cáo của Sở ban ngành có liên quan như:
Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Sở Du lịch Hà Nội, …
Sau khi thu thập đủ tài liệu tác giả tiến hành phân tích tổng hợp các tài liệu phục vụ cho các nhận định về sự phát triển du lịch văn hóa phía Nam Hà Nội trên
cơ sở khoa học và thực tiễn
- Phương pháp thực địa: nghiên cứu thực địa là phương pháp điển hình và phổ
biến nhất của Địa lí học và Du lịch học Sử dụng phương pháp này cho phép tác giả
có một cái nhìn khách quan về vấn đề nghiên cứu, kiểm nghiệm độ xác thực của tài liệu hiện có, hạn chế những nhược điểm của phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu trong phòng
Quá trình thực địa được tiến hành từ khi bắt đầu đến khi nghiệm thu và kết thúc đề tài nghiên cứu Quá trình thực địa của tác giả được tiến hành như sau: Tiến hành khảo sát một số điểm du lịch phía Nam Hà Nội bao gồm các điểm du lịch có
sự thu hút khách lớn đặc biệt trong mùa lễ hội Tại mỗi điểm thực địa tác giả tiến hành quan sát, mô tả, ghi chép tư liệu, chụp ảnh điểm đến, trao đổi trực tiếp với các nhà quản lý du lịch tại điểm đến du lịch phía Nam Hà Nội, đội ngũ nhân lực du lịch hoạt động du lịch, người dân địa phương, khách du lịch …
- Phương pháp chuyên gia khoa học du lịch: ngoài những phương pháp kể trên,
tác giả cũng đã thu thập ý kiến của một số chuyên gia là các nhà khoa học du lịch và các nhà quản lý trực tiếp tại điểm đến du lịch, một số cán bộ tại địa phương Đây chính là căn cứ cho việc đưa ra các kết luận một cách khách quan, khoa học và thực tiễn, có khả năng thực thi cao; Là cơ sở để đề ra các giải pháp phát triển du lịch văn hóa phía Nam Hà Nội
Kỹ thuật nghiên cứu
- Kỹ thuật khảo tả: tác giả tiến hành khảo sát và mô tả các kiến trúc đền, chùa,
đường đi… trong suốt quá trình nghiên cứu bằng nhiều cách thức khác nhau nhằm phản ánh một cách chân thực nhất về đối tượng được nói đến
Trang 11- Kỹ thuật miêu thuật: tiến hành miêu tả và tường thuật lại các điểm đến đã thu
thập được nhằm tái hiện lại những sự vật hiện tượng một cách rõ ràng, chân thực trong suốt quá trình nghiên cứu của tác giả
- Kỹ thuật giải mã: trong quá trình nghiên cứu có một số vấn đề cần được giải
thích rõ ý nghĩa được ẩn sâu của các đối tượng như các bức hoành phi, câu đối, các hiện vật còn lưu lại… hoặc xây dựng được thông điệp mà đối tượng đang hướng đến
Cách tiếp cận
Trong đề tài này tác giả sử dụng cách tiếp cận khu vực học, coi phía nam Hà
Nội là một vùng văn hóa lấy điển hình ba huyện Ứng Hòa, Mỹ Đức (Hà Nội) và Lạc Thủy (Hòa Bình) làm đề tài nghiên cứu của mình Bởi nơi đây là vùng chuyển tiếp giữa các dãy núi đồ sộ của vùng Tây Bắc và vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng Lại là nơi các có các điểm du lịch nổi tiếng, giữa chúng có sự thống nhất tuor tuyến với nhau hình thành tuor du lịch văn hóa phía Nam Hà Nội
6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Du lịch là ngành kinh tế có tính chất liên ngành, liên vùng, liên quốc gia và
có tính xã hội hóa cao, nên việc phát triển du lịch đặc biệt là du lịch văn hóa tâm linh cũng là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi việc nghiên cứu về du lịch trên phương diện tổng thể, toàn diện và có chiều sâu Nhất là vấn đề văn hóa và văn hóa du lịch
đã được nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu như: Trần Quốc Vượng với Cơ sở văn hóa Việt Nam; Toan Ánh với Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam; Đào Duy Anh với Việt Nam văn hóa sử cương; Hồ Văn Khánh với Tâm Hồn – khởi nguồn cuộc sống tâm linh… Những công trình nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến vấn đề lý luận văn hóa, các đặc trưng của văn hóa, các thành tố văn hóa của Việt Nam; tôn giáo tín ngưỡng trong văn hóa Việt; quan niệm về văn hóa tâm linh…
Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên còn có một số công trình nghiên
cứu tiêu biểu như: công trình của tiến sĩ Trần Thúy Anh chủ biên (2014) “Du lịch
văn hóa – những vấn đề lí luận và nghiệp vụ” [1] đã nêu lên những vấn đề về du
lịch văn hóa, các kỹ năng nhận diện xác định và khai thác giá trị văn hóa, văn hóa vật thể và phi vật thể, vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng ở mức độ khái quát cao nhưng vẫn chưa đi sâu vào các di tích bên trong
Trang 12Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hải (2004) “Đánh giá tài nguyên du lịch tự
nhiên phục vụ phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội” [10] đã trình bày cơ sở lý
luận của việc đánh giá tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch cuối tuần Nghiên cứu nhu cầu và tiềm năng phát triển du lịch cuối tuần ở Hà Nội và phụ cận Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ phát triển du lịch cuối tuần tại một số điểm nghiên cứu Nêu lên hiện trạng và định hướng khai thác tài nguyên phục vụ phát triển du lịch cuối tuần ở Hà Nội;
Hay như luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Đức (2013) “Tổ chức các hoạt động
du lịch tại một số di tích lịch sử văn hóa quốc gia của Hà Nội theo hướng phát triển bền vững”[9] Nghiên cứu cơ sở khoa học, thực trạng, giải pháp về tổ chức các hoạt
động du lịch tại các di tích lịch sử văn hóa quốc gia của Hà Nội;
Luận án tiến sĩ của Phạm Lê Thảo (2004) “Tổ chức lãnh thổ du lịch Hoà Bình
trên quan điểm phát triển bền vững”[14] đã phân tích, đánh giá, tổng hợp các nhân
tố ảnh hưởng đến xây dựng tổ chức lãnh thổ du lịch và phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Hòa Bình; nghiên cứu đề xuất tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Hòa Bình trên quan điểm phát triển bền vững có tính đến các yếu tố xây dựng cơ sở vật chất các điểm
du lịch, môi trường sinh thái và các giải pháp thực hiện
Những tài liệu nghiên cứu nói trên đã giúp tác giả nắm được các giá trị văn hóa nói chung, văn hóa tâm linh, du lịch văn hóa, các loại hình thờ tự, bài trí chung nhất tại các điểm du lịch văn hóa như đền thờ thánh, các chùa phật giáo … sẽ là tài liệu vô cùng hữu ích cho tác gỉả nghiên cứu và hiểu rõ hơn những vấn đề đã và đang tiếp cận Nhằm có những kết luận thỏa đáng nhất cho việc nghiên cứu đề tài phát triển du lịch văn hóa tâm linh khu vực phía Nam Hà Nội
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mục lục, danh mục viết tắt, danh mục hình, danh mục bảng biểu,
mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung bao gồm 3 chương: Chương 1 Những vấn đề chung về du lịch văn hóa
Chương 2 Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tại phía Nam Hà Nội
Chương 3 Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa phía Nam Hà Nội
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DU LỊCH VĂN HOÁ
1.1 Những vấn đề về du lịch văn hóa
Với sự phát triển của kinh tế, khoa học kỹ thuật cùng với sự đa dạng về nhu cầu, mục đích đi du lịch của con người, các hình thức du lịch đặc thù xuất hiện ngày càng nhiều và trở nên phổ biến Trong đó DLVH là một trong những loại hình đã - đang phát triển trên toàn thế giới Đây là loại hình du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu nâng cao hiểu biết của du khách về các di tích lịch sử, lễ hội truyền
Trang 14thống, phong tục tập quán, các sự kiện văn hóa… do cộng đồng tạo ra có sức hút đặc biệt với khách du lịch Có thể thấy DLVH là khái niệm mà có nhiều định nghĩa và cách hiểu về nó
“Du lịch văn hóa là loại hình du lịch chủ yếu hướng vào việc quy hoạch, lập trình, thiết kế các tour lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổ kim” [1, tr.22]
“Du lịch văn hóa là các loại hình du lịch dựa trên cơ sở khai thác các giá trị di sản văn hóa dân tộc và được tổ chức một cách có văn hóa” [3 , tr 98]
DLVH chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ Phần lớn hoạt động DLVH gắn liền với địa phương - nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa
Điều kiện cần thiết để phát triển DLVH là tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đại diện cho cộng đồng, dân tộc, quốc gia Loại hình này thỏa mãn nhu cầu đặc trưng của du khách là tham quan, tìm hiểu
về các giá trị văn hóa Quan trọng hơn là nó có tác dụng giáo dục và nâng cao nhận thức của khách du lịch
“Du lịch văn hóa là một hoạt động du lịch lấy tính văn hóa làm mục đích xuyên suốt Bởi thế, du lịch văn hóa mang các đặc điểm.” [3, tr 98-99]
- DLVH mang tính giáo dục nhận thức: Sản phẩm DLVH ngoài phần dịch vụ, còn một phần là những di sản vật thể cũng như phi vật thể Những di sản này hàm chứa nhiều thông tin về văn hóa, lịch sử của dân tộc cũng như kiến thức thẩm mỹ, nghệ thuật Rõ ràng, DLVH giúp du khách hiểu biết hơn về lịch sử văn hóa của quốc gia điểm đến
- DLVH có thị trường khách lựa chọn: Khách lựa chọn DLVH thường đã xác định được mục đích chuyến đi của mình là nhằm tìm hiểu về văn hóa nơi mình đến Thông thường đối tượng khách này cũng có những kiến thức xã hội nhất định
- DLVH giúp bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống Để phát triển được DLVH, điều quan trọng là phải bảo tồn được những giá trị văn hóa mang đậm bản sắc riêng của dân tộc Chỉ có như thế mới thu hút được du khách
Trang 15- DLVH là nhịp cầu trao đổi văn hóa giữa các dân tộc: Những tri thức văn hóa thu thập được từ các sản phẩm DLVH sẽ góp phần làm lan tỏa những giá trị của quốc gia, thẩm thấu vào nền văn hóa khác
Dựa trên cơ sở tài nguyên DLVH, các loại hình DLVH được hình thành
- Du lịch lễ hội
Lễ hội hiện đang là một trong những tài nguyên du lịch nhân văn có sức hấp dẫn lớn đối với du khách Tham gia vào lễ hội du khách có thể hòa mình vào các cuộc biểu dương lực lượng, biểu dương tinh thần đoàn kết của cộng đồng Du khách sẽ tìm thấy ở lễ hội bản thân mình, quên đi những khó chịu của cuộc sống đời thường Có lẽ
vì thế mà du khách đi vì mục đích này ít quan tâm đến sự thiếu thốn, sự thiếu hụt trong dịch vụ hơn những du khách đi vì mục đích khác Với tầm quan trọng đó, việc khôi phục các lễ hội truyền thống không chỉ là mối quan tâm của các cơ quan đoàn thể quần chúng xã hội mà còn là một hướng quan trọng của ngành Du lịch
Tuy nhiên, khi đánh giá các lễ hội phục vụ mục đích du lịch cần phải lưu ý các đặc điểm về thời gian, quy mô của lễ hội, địa điểm tổ chức lễ hội Về thời gian, các lễ hội không phải diễn ra quanh năm mà chỉ tập trung trong thời gian ngắn Các lễ hội thường diễn ra vào mùa xuân Có lễ hội diễn ra từ 1 đến 3 tháng, có lễ hội diễn ra chỉ vài ngày Về quy mô, lễ hội có thể diễn ra trên địa bàn rộng hoặc chỉ gói gọn trong một địa phương nhỏ Điều này rõ ràng ảnh hưởng đến hoạt động du lịch nhất là khả năng thu hút du khách
- Du lịch tôn giáo
Từ xa xưa, du lịch tôn giáo là một loại hình khá phổ biến Đó là các chuyến đi với mục đích tôn giáo như truyền giáo của các tu sĩ, thực hiện nghi lễ tôn giáo của tín đồ tại các giáo đường, dự các lễ hội tôn giáo Ngày nay du lịch tôn giáo được hiểu là các chuyến đi để thỏa mãn nhu cầu thực hiện các lễ nghi tôn giáo của các tín
đồ hoặc tìm hiểu, nghiên cứu tôn giáo Điểm đến của các du khách này thường là chùa chiền, nhà thờ, thánh địa
- Du lịch tham quan di tích, danh thắng
Là một trong những tài nguyên quan trọng hàng đầu, các DT văn hóa – lịch sử của Việt Nam rất phong phú, đa dạng được phân bố rộng rãi từ Bắc vào Nam, từ
Trang 16thành thị đến nông thôn, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, với các truyền thống văn hóa lâu đời và phong tục tập quán riêng
Di tích, danh thắng là đối tượng tham quan phổ biến của du khách trong các chuyến du lịch Qua đó, du khách có thể mở rộng tầm mắt, nâng cao vốn hiểu biết
về văn hóa, lịch sử của dân tộc hay địa phương
- Du lịch khai thác các loại hình nghệ thuật truyền thống
Đối tượng du lịch của loại hình này rất phong phú về thể loại và có giá trị giải trí cao Các loại hình nghệ thuật truyền thống như sân khấu, hội họa, điêu khắc, âm nhạc, múa, nhảy…Việc khai thác đầy đủ và hợp lý các giá trị văn hóa phi vật thể với các loại hình nghệ thuật truyền thống sẽ góp phần thúc đẩy du lịch phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có, đồng thời giúp bảo tồn, duy trì và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
- Du lịch tham quan các bảo tàng, di tích lịch sử văn hóa
Cùng với các di tích lịch sử văn hóa, bảo tàng cũng là đối tượng mà khách du lịch trong và ngoài nước rất quan tâm Thông qua hệ thống bảo tàng sẽ giúp du khách tìm hiểu được lịch sử cũng như những giá trị nhất định của đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, của dân tộc
- Du lịch khai thác các loại hình nghệ thuật truyền thống
Đối tượng du lịch của loại hình này rất phong phú về thể loại và có giá trị giải trí cao Các loại hình nghệ thuật truyền thống bao gồm: hội họa, điều khắc, sân khấu,
âm nhạc, múa, nhảy, … các loại hình này khi được khai thác thành các sản phẩm du lịch sẽ có giá trị văn hóa lịch sử lớn hấp dẫn du khách Qua đó du khách sẽ khám phá ra được những nét văn hóa cổ truyền đặc trưng của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền
- Du lịch làng nghề
Làng nghề là nơi chuyên sản xuất một mặt hàng thủ công truyền thống đặc trưng cho các địa phương Làng nghề chứa đựng nhiều giá trị văn hóa bản địa như phương thức sản xuất, nghệ nhân, các di tích gắn với ông tổ nghề, … Các làng nghề
có sức hút lớn đối với du khách đặc biệt là lứa tuổi trung niên Đến làng nghề ngoài việc tham quan du khách có thể trực tiếp tham gia vào các quy trình sản xuất sản phẩm
1.1.1 Tài nguyên du lịch văn hóa
Trang 17(Tác giả dùng từ “tài nguyên du lịch văn hóa” trong trường hợp này thay thế cho“tài nguyên du lịch nhân văn”)
Tại chương I, điều 4, khoản 4 Luật Du lịch Việt Nam 2010:
“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các
khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.” [20]
Tài nguyên DLVH bao gồm cả giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể:
Theo Luật Di sản Việt Nam 2010:
Tại điều 4, khoản 1:
“DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình
thức khác.” [21]
Tại điều 4, khoản 2:
“DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,
bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.” [15]
DLVH mang những nét đặc trưng riêng biệt, đó là đặc trưng về tài nguyên, yếu tố quyết định đến việc xây dựng một chương trình du lịch của một vùng, một quốc gia nhưng mỗi nơi mỗi khác Nó có thể giống nhau về tài nguyên song lại khác nhau về cách thực hiện Như vậy văn hóa cũng mang những nét đặc trưng cụ thể và
du lịch chính là phương tiện, cơ hội để văn hóa khẳng định tính độc lập của nó Tài nguyên DLVH ở nước ta phong phú, đa dạng, đặc sắc, mang các giá trị lịch
sử văn hoá, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của đất nước như DT khảo cổ,
DT kiến trúc nghệ thuật, DTLS, các công trình đương đại Trong đó các DT kiến trúc nghệ thuật như chùa, đình, đền, nhà thờ, miếu, nhà cổ, lăng tẩm, cung điện chiếm số lượng lớn, lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật văn hoá có giá trị, là những điểm tham quan, nghiên cứu hấp dẫn du khách
Trang 18Ngoài lợi ích về kinh tế có thể thấy được DLVH còn khiến cho quốc gia, cho vùng, cho những nhà kinh doanh du lịch, cho người dân địa phương những lợi nhuận lớn mà không phải ở bất cứ loại hình kinh doanh nào, làng nghề nào cũng mang lại Từ đó có thể thấy DLVH nâng cao chất lượng du lịch, nâng cao nét đẹp của dân tộc, giữ gìn tính văn hóa của cư dân bản địa cũng như khách du lịch Từ DLVH nhà nước có thể điều chỉnh, gìn giữ và phát huy một cách tốt nhất nền văn hóa đặc sắc của quốc gia mình
1.1.2 Tổ chức quản lý du lịch văn hóa
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước về DLVH:
Xây dựng, tổ chức quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển DLVH
Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm về tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động du lịch văn hóa
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về DLVH
Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực DLVH; nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ
Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên DLVH để xây dựng quy hoạch phát triển DLVH, xác định tuyến, điểm DLVH
Tổ chức hợp tác quốc tế, xúc tiến, quảng bá DLVH ở trong và ngoài nước
- Đối với chính quyền địa phương quản lý về DLVH: UBND tỉnh, thành phố trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân cấp của chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về DLVH tại địa phương; cụ thể hóa quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển DLVH phù hợp với thực tế tại địa phương và có biện pháp đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại khu, điểm, tuyến DLVH
- Đối với cơ sở, đơn vị kinh doanh DLVH: Thực hiện các hoạt động của đơn
vị, tuân thủ các quy định của nhà nước và hoạt động dưới sự quản lý nhà nước về
du lịch tại địa phương đó
1.1.3 Sản phẩm du lịch văn hóa
Tại chương I điều 4 khoản 10 của Luật du lịch:“Sản phẩm du lịch là tập hợp
các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch.”.[20]
Trang 19SPDL là những hàng hóa và dịch vụ có thể làm thỏa mãn nhu cầu của du khách, là sản phẩm mà các doanh nghiệp du lịch đưa ra chào bán trên thị trường, với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm của khách du lịch, giúp khách tiếp cận các dịch vụ, hình ảnh, giá cả hàng hóa và dịch vụ của điểm đến
Đặc điểm chính của SPDL văn hóa đó là: có tính bền vững, bất biến cao; mang nặng dấu ấn cộng đồng dân cư bản địa, nhằm phục vụ đời sống sinh hoạt văn hóa, tinh thần của cư dân bản địa; Sản phẩm mang nặng tính định tính, khó xác định định lượng, giá trị của sản phẩm mang tính hữu hình như: phòng ở, giường, các món ăn trong nhà hàng, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ…; hoặc vô hình như: cung cách phục vụ, chất lượng phục vụ, cảm xúc và những trải nghiệm…Nói cách khác SPDL văn hóa là tập hợp nhiều yếu tố khác nhau nhằm cung cấp cho du khách những kinh nghiệm du lịch tương đối trọn vẹn và sự hài lòng
1.1.4 Bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch
Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định nghĩa:
“Di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai.” [30, tr 20]
Tại điều 1 Luật Di sản Văn hóa Việt Nam: “DSVH bao gồm di sản văn hóa
phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” [21]
Như vậy, DSVH được hiểu là tài sản, là báu vật như các tác phẩm nghệ thuật dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học…
mà thế hệ trước để lại cho các thế hệ sau DSVH được chia làm hai loại: DSVH vật thể và DSVH phi vật thể
Theo Công ước về bảo vệ DSVH phi vật thể của UNESSCO (2004)
“Di sản “văn hóa vật thể” (tangible culture) được hiểu là những sản phẩm văn hóa có thể “sờ thấy được” Là một dạng thức tồn tại của văn hóa chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu sắc, kiểu dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định; Được tạo tác từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử rõ rệt DSVH vật thể luôn chịu sự thách thức của
Trang 20quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tác động của con người, vì thế nó luôn đứng trước nguy cơ bị biến dạng hoặc thay đổi nhiều so với nguyên gốc.”
“Di sản “văn hóa phi vật thể” (intangible culture) được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt tri thức, kỹ năng, kèm theo đó là các công cụ, đồ vật,
đồ tạo tác, các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm và một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần DSVH của họ DSVH phi vật thể được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, được cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người.” [29, tr 142]
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó Bảo tồn là không để mai một, “không để bị thay đổi, bị biến hóa hay biến thái” Như vậy, khi nói đối tượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”, chúng
ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn Công tác bảo tồn được chia là hai loại; bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa
Đối tượng được bảo tồn cần thỏa mãn hai điều kiện:
- Một là, nó phải được nhìn là tinh hoa, là một “giá trị” đích thực được thừa nhận minh bạch, không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi
- Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu dài trước những biến đổi tất yếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa toàn cầu hiện nay, với chính sách mở cửa và bối cảnh nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đang diễn
ra cực kỳ sôi động
Như vậy cần đánh giá nghiêm túc thực trạng bảo tồn DSVH và vai trò của ngành du lịch Quá trình bảo tồn, tu bổ, tôn tạo và khai thác du lịch đối với các di sản, di tích đang cho thấy nhiều bất cập, cả với các DSVH phi vật thể và hàng nghìn
di tích được xếp hạng khác đang hàng ngày ít nhiều bị biến dạng đi
Đối với nhiệm vụ bảo tồn DSVH trong hoạt động du lịch, cũng như bảo tồn văn hóa các vùng du lịch khác nhau ở Việt Nam, một yêu cầu quan trọng phải được
Trang 21thực hiện, đó là phải chú trọng đến văn hóa của từng vùng, phải chú ý đến các DSVH, văn hóa của vùng đó Do những đặc điểm tạo sinh văn hóa Việt dựa trên những điều kiện địa – văn hóa, địa – kinh tế đặc thù, văn hóa Việt gồm nhiều vùng khác nhau với những đặc điểm khu biệt rõ rệt Vì thế, không chỉ trong khai thác di sản vào hoạt động du lịch, mà bảo tồn di sản cũng phải tôn trọng tối đa yêu cầu tính địa phương, tính vùng như linh hồn của di sản
Mỗi một địa phương đều có nét riêng cần được bảo tồn tối đa những giá trị nguyên bản, nguyên vẹn và nguyên nghĩa của nó Vấn đề bảo tồn và phát huy DSVH trong hoạt động du lịch luôn gắn liền với những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế của thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa Kinh tế càng phát triển thì càng tiềm tàng những nguy cơ hủy hoại văn hóa Nếu không có quan điểm
và phương pháp bảo tồn văn hóa đúng đắn, thì chúng ta khó có thể bảo vệ các di sản văn hóa vô giá ấy
1.1.5 Tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch văn hóa
“Tuyên truyền là phổ biến, giải thích để thuyết phục mọi người tán thành,
toàn ngành
Các hoạt động sự kiện về DLVH liên quan đều được tuyên tuyền quảng bá một cách kịp thời trên trang web và bản tin của ngành Cụ thể như giới thiệu hoạt động, các sự kiện hưởng ứng năm du lịch quốc gia, khu vực, phối hợp xây dựng
Trang 22phóng sự DLVH nhằm thu hút khách du lịch, tuyên truyền kỷ niệm những sự kiện lớn trong năm của toàn quốc hay của điểm đến Điển hình như ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam - thống nhất đất nước 30-4 và quốc tế lao động 1-5; Xây dựng trang web về lễ hội, ẩm thực, văn hóa đặc trưng cho vùng nhằm giới thiệu tới khách
du lịch trực tiếp hơn, hoặc quảng bá qua các dịp kỷ niệm ngày du lịch thế giới, ngày
du lịch Việt Nam.…
Xúc tiến du lịch là tích cực tham gia đầy đủ các hoạt động liên quan đến công tác xúc tiến trong và ngoài nước, tham gia và đưa tin kịp thời về các hoạt động liên quan của ngành Cụ thể tham gia tổ chức gian hàng trưng bày tuyên truyền quảng bá DLVH ở một số quốc gia trong những tuần lễ văn hóa như Nhật, Hàn, Pháp Hội nghị nhân dịp đầu xuân, tham gia Hội chợ Du lịch Quốc tế Việt Nam (VITM), gặp mặt các nhà đầu tư, tổ chức đón đoàn Famtrip về khảo sát tại các điểm du lịch, điển hình là về DLVH của điểm đến; Phối hợp tham mưu xây dựng chương trình xúc tiến DLVH thực hiện theo chương trình hành động quốc gia về du lịch, chương trình xúc tiến DLVH gắn với văn hóa của vùng, miền của điểm đến, tham gia Liên hoan Du lịch Làng nghề truyền thống…
1.1.6 Khách du lịch
Ngành Du lịch muốn hoạt động và phát triển thì khách du lịch là nhân tố quyết định Nếu không có khách du lịch thì các nhà kinh doanh du lịch không thể kinh doanh được Nếu nhìn trên góc độ thị trường thì khách du lịch chính là “cầu” còn nhà kinh doanh chính là “cung” của thị trường Vậy khách du lịch được hiểu như thế nào?
Tại chương I điều 4 của Luật Du lịch “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc
kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.”[20]
Theo PGS.TS Trần Đức Thanh:
“Du khách là những người từ nơi khác đến và/hoặc kèm theo mục đích thẩm nhận tại chỗ những giá trị vật chất, tinh thần, hữu hình hay vô hình của thiên nhiên và/hoặc của cộng đồng xã hội Về phương diện kinh tế, du khách là người sử dụng
dịch vụ của các doanh nghiệp du lịch lữ hành, lưu trú, ăn uống…” [15, tr 20]
Trang 23Như vậy có thể hiểu rằng khách DLVH tham gia du lịch có thể với động cơ nghỉ ngơi, phục hồi tâm sinh lý, tham quan, nghiên cứu, học tập về văn hóa kết hợp với mục đích công vụ khác Khách DLVH thường đến các di tích lịch sử, những nơi
có phong cảnh đặc sắc, gắn kết với văn hóa truyền thống, lối sống địa phương để tiến hành các hoạt động tham quan tìm hiểu văn hóa lịch sử, tham gia lễ hội
1.1.7 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm: cơ sở vật chất của ngành du lịch (hệ thống cơ sở ăn uống, vui chơi, giải trí…) là yếu tố trực tiếp đối với việc đảm bảo điều kiện cho các dịch vụ du lịch được tạo ra và cung ứng cho du khách; Cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngành kinh tế quốc dân khác tham gia phục vụ du lịch (giao thông, bưu chính, điện nước…) Những yếu tố này có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác tài nguyên, phục vụ khách du lịch Đồng thời góp phần quyết định độ dài thời gian lưu trú
Đối với khách DLVH thì cơ sở vật chất kỹ thuật phải có những điều kiện phục
vụ đặc trưng như các nhà hàng có những đồ ăn, cách bài trí trang thiết bị hoặc cung cách phục vụ thể hiển văn hóa đặc trưng của điểm đến…; với cơ sở lưu trú ngoài việc thể hiện văn hóa đặc trưng của điểm đến còn phải đáp ứng yêu cầu của từng đối tượng khách theo tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo 4 yêu cầu chính là mức độ tiện nghi, thẩm mỹ, vệ sinh và an toàn
1.1.8 Kiến trúc Chùa, Đền
Ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước phương Đông, bên cạnh đền, đình thờ thần, chùa Việt là nơi thờ Phật và trong nhiều trường hợp, thờ cả Thần Việc xây dựng đền, chùa bao giờ cũng là công việc trọng đại đối với nhân dân làng quê Việt Nam Trước tiên là phải chọn đất xây chùa Việc chọn đất thường bị chi phối bởi quan niệm phong thủy, cho rằng vị trí của chỗ ở, thế đất, có ảnh hưởng to lớn đối với con người sống trên đó Nhìn chung đền, chùa Việt Nam thường được dựng ở những nơi có cảnh trí thiên nhiên đẹp, có mối liên hệ với cộng đồng Việc ý thức về môi trường cảnh quan tự nhiên và xã hội phải luôn được cân nhắc kỹ càng trong
suốt quá trình xây dựng, tu bổ và phát triển
Đặc điểm chung của các di tích kiến trúc nghệ thuật ở Việt Nam đó là:
Trang 24- Chịu ảnh hưởng nhiều của phong cách mỹ thuật phương Đông Được quy hoạch xây dựng tuân theo địa lý của phương Đông và quan niệm âm dương trong kinh Dịch
- Về mặt vị trí địa lý, đạt được các đặc điểm có Long chầu, Hổ phục, có tiền
án, hậu trẩm và minh đường, thường xuyên lấy thiên nhiên tô điểm cho kiến trúc, nơi nào thiếu các yếu tố tự nhiên thì tạo ra phong cảnh như đảo hồ, trồng cây để trang trí cho công trình và kiến trúc hài hoà với thiên nhiên, thường được xây dựng
ở những nơi có cảnh đẹp
- Tên gọi của các công trình hay các bộ phận cấu trúc của công trình, hệ thống hoành phi câu đối, đại tự đều có ý nghĩa triết học, là những câu văn hay, xúc tích, những từ mang ý nghĩa triết học
- Các công trình được bố trí xây dựng theo lối đăng đối, có trật tự, các công trình chính thường nằm trên trục dũng đạo, các công trình khác được bố trí đăng đối, có trật tự tiền, hậu ,tả, hữu
- Phần lớn các di tích được xây dựng bằng vật liệu truyền thống, kết hợp hài hoà các giá trị văn hoá, kiến trúc nghệ thuật giữa văn hoá Việt Nam với văn hoá Trung Hoa, Ấn Độ
Có thể nói, mỗi DTLS văn hoá thường thể hiện những đặc điểm chung về kiến trúc mỹ thuật của từng thời đại, mang tính phân vùng và phù hợp với điều kiện địa
lý tại chỗ Chùa, đền tuy có những chức năng khác nhau nhưng đều gắn bó và quen thuộc với người dân Việt Nam từ rất lâu Chùa là nơi để thờ Phật và tu tập của các tăng, ni, Phật tử Đền là nơi thờ những người có công lớn với làng, xã hoặc gắn bó với một địa danh nhất định nào đó sẽ được phong Thánh và thờ ở đây
a Chùa
Chùa Việt Nam bao giờ cũng là một quần thể kiến trúc, gồm các hạng mục công trình được bố trí theo các giải pháp bố cục khác nhau Tổ hợp không gian chùa luôn tuân theo nguyên tắc khép kín mang tính hệ thống, tạo ra một không gian biệt lập với khu dân cư nhưng không quá cách xa để thuận tiện cho việc tu dưỡng của tăng, ni và giáo hoá chúng sinh Tên gọi các giải pháp quy hoạch này được đặt theo các chữ Hán có dạng gần với bình diện kiến trúc chùa, cụ thể như sau:
Trang 25Kiểu chùa chữ Đinh (丁): có chính điện hay thượng điện (gọi là Đại Hùng Bảo Điện), tức là ngôi nhà đặt các bàn thờ Phật, nối thẳng góc với nhà bái đường hay nhà tiền đường ở phía trước Nhà bái đường đôi khi được gọi là chùa hộ, có lẽ vì ở đây thường được bố trí các tượng Hộ Pháp Một số chùa tiêu biểu kiểu kiến trúc này
là chùa Hà, chùa Bộc (Hà Nội); chùa Nhất Trụ, chùa Bích Động (Ninh Bình); chùa Trăm Gian (Hải Dương); chùa Dư Hàng (Hải Phòng)
Kiểu chữ Công (工): Phổ biến hơn là kiến trúc có nhà chính điện và nhà bái đường song song với nhau và được nối với nhau bằng một ngôi nhà gọi là nhà Thiêu hương, nơi các vị tu hành làm lễ
Kiểu chùa chữ Tam (三 ): thông thường là quy hoạch ba nếp nhà song song với nhau, thường được gọi là chùa hạ, chùa trung, chùa thượng, như kiểu chùa Kim Liên ở Hà Nội, chùa Tây Phương ở Hà Tây…
Kiểu chùa nội Công ngoại Quốc: Một kiểu chùa khá phổ biến ở miền Bắc Việt Nam là kiến trúc có hai hành lang dài nối liền nhà tiền đường (hay nhà bái đường) ở trước với nhà hậu đường có thể là nhà Tổ hay nhà Tăng xá ở phía sau làm thành một hình chữ nhật bao quanh lấy các kiến trúc khác ở giữa Kiểu chùa này gọi là nội Công ngoại Quốc Có nghĩa là phía trong có hình chữ Công (工), còn phía ngoài có cái khung bao quanh như ở chữ Quốc Tiêu biểu kiểu kiến trúc này là chùa Cầu (Hội An); chùa Keo (Thái Bình)
Chùa Tháp: Ở một số chùa có bố trí tháp Phật lớn ở trước mặt như chùa Dâu, chùa Phổ… nhưng một số chùa khác, các tháp lại ở hai bên chùa hay có vườn tháp riêng Về cấu trúc của tháp Phật nói chung đều cấu tạo gồm 4 phần: phần ngầm, đế tháp, thân tháp và ngọn tháp Phần ngầm có thể được xây theo hình vuông, lục giác, bát giác hoặc tròn; không gian ngầm thường nằm chìm hoàn toàn dưới mặt đất nhưng đôi khi có phần nằm trên mặt đất, phần phía dưới mặt đất (bán âm bán dương)
b Đền
Là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị thần hoặc một danh nhân quá cố Ở Việt Nam, phổ biến nhất là các đền thờ được xây dựng để ghi nhớ
Trang 26công ơn của các anh hùng có công với đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương được dựng lên theo truyền thuyết dân gian Các đền nổi tiếng có thể kể đến ở nước ta như Đền Hùng, đền Kiếp Bạc, đền Sóc, đền Trần… thờ các anh hùng dân tộc đền Voi Phục, đền Bạch Mã, đền Kim Liên, đền Quán Thánh…thờ các vị Thánh theo truyền thuyết dân gian
Địa điểm xây dựng thường được lựa chọn ở những vị trí có liên quan đến những truyền thuyết hoặc sự tích, cuộc sống của vị thần siêu nhiên hoặc các nhân vật được tôn thờ Đại thể kiến trúc bên ngoài của đền đài miếu mạo có những đặc điểm cơ bản giống của kiến trúc đình chùa, nhưng nội dung thờ cúng và trang trí nội thất có khác nhau
1.2 Điều kiện phát triển du lịch văn hóa
Sự phát triển du lịch văn hóa nói riêng và du lịch nói chung đòi hỏi phải có những điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan cần thiết nhất định nhìn vào sơ
đồ 4 ta có thể thấy rõ điều này
1.2.1 Điều kiện chung
- Điều kiện thời gian nhàn rỗi
Lịch sử ngành Du lịch cho thấy những người có khả năng chi trả cho hoạt động
du lịch trước tiên là tầng lớp giàu có, tiếp theo là tầng lớp trung lưu và cuối cùng đến tầng lớp lao động Điều này cũng xảy ra tương tự khi nói về quỹ thời gian nhàn rỗi Công chúng bắt đầu đi du lịch khi mà người lao động được hưởng lễ và những ngày nghỉ ăn lương Thời gian nhàn rỗi là phần thời gian ngoài giờ làm việc, trong đó diễn
ra các hoạt động nhằm phục vụ và phát triển thể lực, trí tuệ, tinh thần của con người
Độ dài bình thường của thời gian nhàn rỗi phụ thuộc vào đặc điểm của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Nguồn quan trọng nhất làm tăng thời gian nhàn rỗi và giảm
độ dài của tuần làm việc và giảm thời gian của công việc nội trợ
- Điều kiện nguồn khách
Bất kì doanh nghiệp kinh doanh du lịch nào cũng phải xác định cho được nguồn khách của doanh nghiệp từ đâu đến? Họ cần gì nhằm tìm ra khách hàng mục tiêu Đây là mối quan tâm cơ bản nhất, vì khả năng của doanh nghiệp thì có hạn mà mỗi loại khách lại có những nhu cầu khác nhau Do đó tìm ra được đối tượng tiêu dùng loại hình DLVH là doanh nghiệp đã tìm ra được mục đích của mình khi kinh
Trang 27doanh DLVH Nhờ việc đánh giá, nắm bắt nhu cầu của du khách sẽ giúp nhà kinh doanh có thể tổ chức và đáp ứng được các nhu cầu, thỏa mãn sự mong đợi của khách hàng mục tiêu
Tóm lại, nguồn khách chính là một trong những điều kiện quan trọng quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp
- Điều kiện nền kinh tế đất nước
Khả năng phát triển du lịch của một nước phụ thuộc rất lớn vào tình trạng nền kinh tế, và sự phát triển của lực lượng sản xuất ở nước đó Điều kiện kinh tế đất nước trước hết thể hiện rõ ở:
- Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng nói chung có vai trò đặc biệt đối với đẩy mạnh phát triển du lịch Mạng lưới và phương tiện giao thông là những nhân tố quan trọng hàng đầu Du lịch cũng gắn với sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định Nó phụ thuộc vào mạng lưới đường xá và phương tiện giao thông Việc phát triển giao thông, nhất là tăng phương tiện ô tô cho phép mau chóng khai thác các nguồn tài nguyên du lịch mới Chỉ thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng thì du lịch mới trở thành hiện tượng phổ biến xã hội, hoạt động kinh doanh du lịch ngày càng được nâng cao chất lượng, đa dạng, ngày càng mở rộng
Thông tin liên lạc là một bộ phận quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt động du lịch Nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế Mạng lưới thông tin liên lạc càng phát triển càng tạo điều kiện cho
sự phát triển du lịch
Trong cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch còn phải đề cập đến hệ thống các công trình cấp điện nước Các sản phẩm của nó phụ thuộc trực tiếp cho việc nghỉ ngơi và giải trí của khách Như vậy cơ sở hạ tầng là tiền đề, là đòn bẩy cho mọi hoạt động kinh tế, hoạt động du lịch trong đó có cả DLVH
- Mức thu nhập
Du lịch chỉ có thể phát triển khi mức sống của con người đạt trình độ nhất định Một trong những nhân tố then chốt là mức thu nhập thực tế, không có mức thu nhập cao khó có thể nghĩ đến việc nghỉ ngơi đi du lịch Thu nhập của nhân dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể tham gia du lịch Người ta
Trang 28đã xác định rằng mỗi khi thu nhập của con người tăng thì sự chi tiêu cũng tăng theo, đồng thời có sự thay đổi về cơ cấu trong tiêu dùng du lịch Bởi vậy mức thu nhập là điều kiện có ý nghĩa quan trọng trong phát triển du lịch
1.2.2 Điều kiện riêng
Điều kiện riêng là hệ thống các điều kiện cần thiết đối với phát triển du lịch một vùng, một quốc gia
1.2.2.1 Điều kiện về tài nguyên du lịch
- Tài nguyên du lịch tự nhiên
Các thành phần của tự nhiên có tác động mạnh tới du lịch là địa hình, khí hậu, nguồn nước và tài nguyên động thực vật
Địa hình là sản phẩm của quá trình địa chất lâu dài (nội sinh – ngoại sinh) Mọi hoạt động của con người trên lãnh thổ đều phụ thuộc vào địa hình Trong hoạt động du lịch quan trọng nhất là hình thái địa hình, tức các dấu hiệu bên ngoài và dạng đặc biệt của địa hình bởi nó có sức hấp dẫn lớn trong việc tiến hành các hoạt động du lịch Trong các dạng địa hình đồi, miền núi và đồng bằng thì địa hình miền núi, đặc biệt là các khu vực thuận lợi cho việc tổ chức thể thao mùa đông, các nhà
an dưỡng, các cơ sở du lịch, các khu vực thuận tiện cho việc chuyển tiếp lộ trình, các trạm nghỉ, các điểm núi cao có thể nhìn toàn cảnh và thích hợp với môn thể thao leo núi…là có ý nghĩa lớn đối với du lịch
Ngoài các địa hình chính với ý nghĩa phục vụ du lịch khác nhau, chúng ta cần chú ý đến các địa hình đặc biệt có giá trị lớn cho việc tổ chức du lịch – kiểu địa hình Karst (đá vôi) là kiểu địa hình được tạo thành do sự lưu thông của nước trong cát đá
dễ hòa tan Một trong các kiểu Karst được quan tâm nhất đối với du lịch là hang động Karst Những cảnh quan thiên nhiên và văn hóa của hang động Karst rất hấp dẫn khách du lịch Và kiểu địa hình ven bờ với các kho chứa nước lớn (đại dương, biển, sông, hồ…) có thể tận dụng khai thác du lịch với các mục đích khác nhau như: nghỉ ngơi, an dưỡng, tắm biển, thể thao nước…
Khí hậu là thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên, đối với hoạt động du lịch, nó thu hút người tham gia và người tổ chức du lịch qua khí hậu sinh học Trong các chỉ tiêu khí hậu, đáng chú ý là hai chỉ tiêu chính: nhiệt độ không khí và đổ ẩm không khí Ngoài ra còn có một số yếu tố khác như gió, lượng mưa, thành phần lý
Trang 29hóa của không khí, áp suất của khí quyển, ánh nắng mặt trời và các hiện tượng thời tiết đặc biệt
Tài nguyên nước bao gồm nước chảy trên mặt đất và nước ngầm Đối với du lịch thì nguồn nước mặt có ý nghĩa rất lớn nó bao gồm đại dương, biển, sông, hồ, hồ nhân tạo, kasrt, thác nước, suối phun… Tùy theo thành phần lý hóa của nước người
ta phân nước ngọt (lục địa) và nước mặn (biển, một số bờ nội địa) Nhằm mục đích
du lịch, nước được sử dụng tùy theo nhu cầu cá nhân, theo độ tuổi và nhu cầu quốc gia Trong tài nguyên nước cần phải nói đến nước khoáng, là nước thiên nhiên (chủ yếu là dưới đất) chứa một số thành phần vật chất đặc biệt (các nguyên tố hóa học, các khí, các nguyên tố phóng xạ) hoặc một số tính chất vật lý có tác dụng sinh lý đối với con người đây là nguồn tài nguyên du lịch có giá trị an dưỡng và chữa bệnh Tài nguyên động – thực vật có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành
du lịch như mục đích tham quan du lịch, du lịch săn bắn, du lịch thể thao và nghiên cứu khoa học Thực vật, đặc biệt là các khối rừng tự nhiên và cả khu rừng nhân tạo kiểu công viên ở các khu vực ngoại ô thành phố, với sự phổ biến của các loại thực vật địa phương kết hợp với các loại khác đã thích nghi với khí hậu, thực hiện chức năng nhiều mặt – làm sạch không khí, cản gió, tăng độ ẩm Ngoài ra còn có tác dụng thu hút tiếng ồn một cách tự nhiên, tạo nên cảm giác ấm cúng Do đó chúng rất có giá trị đối với loại hình du lịch cuối tuần Thực vật gắn liền đối với môi trường sống tự nhiên của đại đa số động vật trên cạn Khi phân tích và đánh giá lớp phổi thực vật chúng ta luôn xem xét cả thế giới động vật Bộ phận này có ý nghĩa đặc biệt to lớn đối với du lịch nhận thức và nhất là đối với du lịch săn bắn
- Tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn có những tính chất chung là: đa dạng (làm phong phú sản phẩm du lịch), hấp dẫn (thu hút du khách), độc đáo (là nét riêng, nét đặc trưng), không dịch chuyển (ngay cả khi có các sản phẩm mô phỏng cũng không thay thế được), và dễ tổn thất Trong khi tài nguyên du lịch tự nhiên tạm cho là vô hạn (tất nhiên là vô hạn tương đối) thì tài nguyên du lịch nhân văn và xã hội lại là hữu hạn (cần bảo vệ để khai thác lâu dài) Tài nguyên du lịch nhân văn còn mang những đặc điểm chung như có mối quan hệ chặt chẽ với điều kiện tự nhiên, tài nguyên tự nhiên, với các điều kiện kinh tế - xã hội, chịu sự chi phối của các quy luật
Trang 30tự nhiên, quy luật văn hóa Vì vậy, mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương thường hiện hữu tài nguyên du lịch nhân văn mang tính đặc sắc, độc đáo riêng để hấp dẫn
du khách Tính chất của tài nguyên du lịch nhân văn là tạo nên sự hứng thú đối với
du khách về nhu cầu tìm hiểu lịch sử, tìm về cội nguồn góp phần làm nảy sinh, thúc đẩy động cơ đi du lịch nói chung, DLVH nói riêng
DLVH sử dụng văn hóa là nguồn lực, là nguồn tài nguyên độc đáo của du lịch,
là “nguyên liệu” để hình thành nên hoạt động du lịch Không có tài nguyên DLVH thì không có loại hình DLVH Các tài nguyên này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các tuyến du lịch, các điểm du lịch, khơi gợi trí tò mò của du khách Tài nguyên DLVH gồm 2 loại cơ bản: tài nguyên vật thể và tài nguyên phi vật thể Tài nguyên văn hóa vật thể là những sáng tạo của con người tồn tại, hiện hữu trong không gian mà có thể cảm nhận bằng các giác quan như thị giác, xúc giác Chẳng hạn, đó là những di tích lịch sử văn hóa, những mặt hàng thủ công, các công
cụ trong sinh hoạt, sản xuất, các món ăn dân tộc Tài nguyên văn hóa phi vật thể như lễ hội, các loại hình nghệ thuật, cách ứng xử, giao tiếp… lại được cảm nhận một cách gián tiếp và “vô hình” hơn
1.2.2.2 Điều kiện sẵn sàng đón khách
Điều kiện tổ chức
Là sự phối hợp các dịch vụ riêng lẻ thành các sản phẩm hoàn chỉnh Chính vì thế sự lớn mạnh của các đơn vị kinh doanh lữ hành, mối quan hệ giữa các đơn vị kinh doanh lữ hành và mối quan hệ giữa các đơn vị kinh doanh lữ hành với các đơn
vị cung ứng dịch vụ du lịch là sự phối hợp hoàn chỉnh tạo điều kiện dễ dàng cho khách hàng mua sản phẩm
Là trình độ tổ chức quản lý nhà nước trong nghành du lịch thể hiện ở việc xây dựng, kiểm kê, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, tổ chức tuyên truyền quảng cáo, thanh tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch
Là sự hình thành và tổ chức giữa các tổ chức, các điểm du lịch và các mạng lưới tổ chức du lịch được thể hiện trong quy hoạch
Nhìn chung để kinh doanh đáp ứng được những nhu cầu của khách đòi hỏi phải có một bộ máy quản lý hiệu quả Trong đó gồm các phòng ban (giám đốc hành
Trang 31chính, kế toán cung ứng) và đội ngũ lao động có chuyên môn nghiệp vụ có khả năng giao tiếp
Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch Chính vì vai trò quan trọng bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật
Khi xem xét cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cần chú ý các thành phần sau:
- Cơ sở phục vụ ăn uống và lưu trú như khách sạn, nhà khách, nhà hàng, camping, bungalow
- Mạng lưới cửa hàng chuyên nghiệp: bao gồm mạng lưới cửa hàng thuộc các trung tâm du lịch và mạng lưới thương nghiệp địa phương
- Cơ sở thể thao: gồm công trình thể thao, phòng thể thao, trung tâm thể thao
- Cơ sở y tế: gồm phòng y tế, trung tâm chữa bệnh nhằm phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch
- Các công trình phục vụ hoạt động văn hóa thông tin như trung tâm Văn hóa, rạp chiếu phim, nhà hát, câu lạc bộ, phòng triển lãm
sở kinh doanh du lịch có thể điều hành hoạt động của mình ngày càng tốt hơn
Thông thường cơ sở tạo nguồn vốn trong kinh doanh là đi vay, do ngân hàng chính sách cấp, do công ty mẹ cấp hoặc do liên kết với các công ty nước ngoài, công ty trong nước hoặc gốc cổ phần Bên cạch đó, tạo được quan hệ với các nhà cung ứng, cung ứng vật tư hàng hóa, lương thực, thực phẩm nhờ đó tạo được tính đồng bộ và phong phú để cho nhà kinh doanh lựa chọn tối ưu và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch
Như vậy nhà kinh doanh du lịch muốn kinh doanh có hiệu quả - thu được lợi nhuận cao thì điều trước mắt là phải tạo được cơ sở nguồn vốn và do đâu mà tạo
Trang 32được mối quan hệ liên tục với các nhà cung ứng Có như vậy kinh doanh mới có hiệu quả và ngày càng thu hút khách du lịch đến nhiều hơn bởi tính hấp dẫn và mới
mẻ của sản phẩm Một nhà kinh doanh giỏi là nhà kinh doanh lanh lợi, khéo léo và
xử lý đúng đắn nguồn vốn mình đang có
1.2.2.3 Điều kiện về môi trường văn hóa
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội Trong quá trình phát triển của loài người, văn hóa luôn đóng một vai trò quan trọng vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Do đó, khi kinh doanh ngành dịch vụ du lịch cần phải xem xét điều kiện môi trường văn hóa có lành mạnh hay không? Nếu không thận trọng sẽ dẫn đến tổn hại nền văn hóa, lối sống của địa phương tạo cơ hội cho
sự truyền nhiễm các bệnh tật, tạo cơ hội gia tăng số tệ nạn tội ác mại dâm và cờ bạc Đồng thời làm xuống cấp môi trường thiên nhiên, thương mại hóa nghệ thuật, tôn giáo, văn hóa Bên cạnh đó làm suy yếu cấu trúc gia đình
Nhằm tạo sự hấp dẫn khách thập phương cần phải tạo ra môi trường văn hóa vừa tiên tiến vừa đậm đà bản sắc dân tộc, làm sống lại các giá trị văn hóa truyền thống, vừa giữ vững sự ổn định chính trị và an toàn xã hội, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên làm dịch vụ tốt
1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa ở Ninh Bình
Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cực Nam của vùng Đồng bằng sông Hồng, cách trung tâm thủ đô Hà Nội hơn 90 km về phía Nam Ninh Bình có tiềm năng du lịch, nhiều danh lam thắng cảnh và DTLS văn hoá nổi tiếng, Ninh Bình được xác định là một trong 16 khu du lịch trọng điểm toàn quốc, là trung tâm du lịch của vùng duyên hải Bắc Bộ
Ninh Bình có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú (các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, nguồn khoáng nước nóng… Sản phẩm du lịch không trùng lặp với sản phẩm du lịch nhiều địa phương khác trong khu vực, đặc biệt là những địa phương phụ cận như Hà Nam, Nam Định, Thanh Hóa Điều này tạo cho du lịch Ninh Bình có được sức hấp dẫn du lịch riêng, khi mà tình trạng “trùng lặp” về sản phẩm du lịch đang là yếu tố cản trở
sự phát triển du lịch đang phổ biến
Trang 33Ninh Bình là tỉnh nằm trên trục giao thông Bắc Nam được Chính phủ quan tâm đầu tư nâng cấp nên hạ tầng du lịch nói riêng của Ninh Bình đã có những bước phát triển vượt bậc Tam Cốc - Bích Động là một trong 20 khu du lịch chuyên đề của quốc gia đã được sự quan tâm rất lớn của Chính Phủ hỗ trợ đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng du lịch, vì vậy hệ thống hạ tầng giao thông du lịch của Ninh Bình khá đồng bộ và phát triển, từ quốc lộ 1A du khách có thể tiếp cận dễ dàng tới các khu du lịch như cố đô Hoa Lư, Tràng An, Tam Cốc - Bích Động, Cúc Phương, Vân Long, Tam Điệp
Quần thể danh thắng Tràng An có diện tích 6.172 ha, vốn được gọi là thành Nam của kinh đô Hoa Lư xưa, nay là cố đô Hoa Lư Với hệ thống dãy núi đá vôi có tuổi địa chất khoảng 250 triệu năm, là khu vực có sự hòa lẫn giữa thiên nhiên và văn hóa, quần thể danh thắng Tràng An bao gồm ba vùng được bảo vệ liền kề nhau
là khu di tích lịch sử văn hóa cố đô Hoa Lư, khu danh thắng Tràng An - Tam Cốc - Bích Động và rừng nguyên sinh đặc dụng Hoa Lư Nơi đây hàm chứa những giá trị nổi bật toàn cầu về kiến tạo địa chất, địa mạo, khảo cổ và thẩm mỹ nên khu du lịch
đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa và thiên nhiên Thế giới
Nơi đây là vùng bán sơn địa có phương phát triển chung theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Có mạng lưới sông suối khá phát triển Bên cạnh đó, các di tích văn hóa lịch sử như đền, chùa, cung điện cũng góp phần bổ sung và củng cố nhiều tư liệu khảo cổ học Chúng ta có thể tự hào với những nét vàng son của lịch sử in đậm trong thế núi, dáng sông ở buổi đầu sơ khai của quá trình dựng nước của ba triều đại Vua sáng: Vua Đinh Tiên Hoàng, Vua Lê Đại Hành và Vua Lý Thái Tổ Cảnh quan Karst (đá vôi) Tràng An gồm một loạt các tháp Karst dạng nón với vách dốc đứng cao 200m so với nền đất và mực nước xung quanh Đan xen các đỉnh núi hình tháp
là hệ thống các thung lũng và hố sụt Karst có độ nông sâu khác nhau Hòa vào vẻ đẹp của cảnh quan Karst là thảm rừng nguyên sinh dày, bao phủ các vách đá, mang
lại không khí mát mẻ, hoang sơ Điểm xuyết là những đền, chùa, miếu linh thiêng
Với sự quan tâm đầu tư đúng hướng của tỉnh và những nỗ lực trong xúc tiến quảng bá, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch của các ngành, địa phương, đơn vị, những năm qua lượng khách về tham quan, thưởng ngoạn tại các khu, điểm du lịch
Trang 34tại Ninh Bình không ngừng tăng, nhất là từ khi Quần thể danh thắng Tràng An được ghi danh là Di sản Văn hóa, Thiên nhiên thế giới
Công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch được tổ chức với nhiều hình thức phong phú Ninh Bình đã xây dựng được biểu tượng và tiêu đề du lịch “Ninh Bình – Non nước hữu tình” làm cơ sở cho việc quảng bá thương hiệu, hình ảnh du lịch Ninh Bình một cách nhất quán và chuyên nghiệp Trong năm 2012, Ninh Bình đã tham gia Hội chợ Du lịch quốc tế thành phố Hồ Chí Minh (ITE2012); Tổ chức đón các công ty lữ hành, các đoàn Famtrip về khảo sát các khu điểm du lịch ở Ninh Bình để xây dựng sản phẩm du lịch; Ký thỏa thuận hợp tác phát triển du lịch với 10 tỉnh thành phố nhằm trao đổi thông tin, phối hợp tham gia các hoạt động xúc tiến trong và ngoài nước giữa các tỉnh thành; Tham gia đoàn khảo sát tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây và dự Hội thảo Quốc tế “Hợp tác phát triển kinh tế - du lịch tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây” tại Quảng Trị; Tham gia Hội thảo “Nhu cầu và
xu hướng phát triển khách du lịch quốc tế đến Việt Nam” …
Đồng thời xây dựng kế hoạch xúc tiến du lịch hướng tới thị trường khách trọng điểm là Pháp, Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc, Newzeland và Đông Bắc Á thông qua các
ấn phẩm quảng bá du lịch được thể hiện bằng nhiều ngôn ngữ: Anh, Pháp, Nhật, Trung với nội dung, hình ảnh phong phú, phù hợp với đặc điểm của từng thị trường Tham gia hội chợ Du lịch quốc tế Thailand Travel Mart Plus (TTM+) (năm 2012); Tham gia chương trình phát đô ̣ng thị trường và hội chợ du lịch quốc tế JATA tại Nhật Bản…
Thu hút đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch Phát triển các sản phẩm DLVH gắn với di sản, lễ hội, tham quan tìm hiểu văn hóa, tập quán của địa phương, phát triển du lịch làng nghề và du lịch cộng đồng Đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái, du lịch ẩm thực, du lịch nghỉ dưỡng chữa bệnh
Xây dựng kế hoạch và triển khai phát triển các sản phẩm làng nghề truyền thống; khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp đầu tư sản xuất một số mặt hàng lưu niệm của tỉnh nhất là sản phẩm cói, đá mỹ nghệ, mây tre đan, gốm sứ,…để phục vụ khách du lịch Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác quản lý Nhà nước về du lịch
Trang 35Trong đó, tập trung tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và nâng cao nhận thức của xã hội về phát triển du lịch, phổ biến các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về vai trò, vị trí động lực của ngành du lịch trong nền kinh tế Nâng cao năng lực của cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch ở các cấp để đáp ứng yêu cầu phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Việc phấn đấu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn sẽ góp phần quan trọng đưa kinh tế tỉnh nhà phát triển nhanh và bền vững, đồng thời góp phần đưa hình ảnh và vị thế của Ninh Bình vươn xa, để lại ấn tượng đẹp trong lòng bạn bè trong nước và quốc tế khi về với Ninh Bình
Bài học kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa cần học tập
Dựa trên những phân tích từ kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa của Ninh Bình ta có thể coi đó như bài học đáng giá cho sự phát triển du lịch văn hóa phía Nam Hà Nội Bởi Ninh Bình đã:
- Biết phát huy nội lực, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của Chính phủ, các Bộ, Ngành…
- Nhận thức rõ nhiệm vụ khai thác, phát huy thế mạnh của ngành du lịch là nhiệm
vụ của Đảng, Nhà nước và toàn dân
- Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn, phát triển bền vững
- Xây dựng cơ chế, chính sách phát triển du lịch – dịch vụ phù hợp
- Những ngành công nghiệp khai thác phát triển có thể gây ô nhiễm môi trường, cần
sự tiếp xúc với du khách từ khắp năm châu đến Việt Nam
Trang 36Phát triển DLVH là một định hướng đúng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Văn hoá chính là nền tảng, là động lực thúc đẩy sự phát triển
du lịch và DLVH Hoạt động du lịch càng hiện đại hoá thì càng phải làm giàu thêm bản sắc và truyền thống dân tộc Vai trò và ý nghĩa của DLVH đối với kinh doanh
du lịch là hết sức quan trọng, nó góp phần thúc đẩy cho du lịch vươn lên tạo đà cho
du lịch ngày một phát triển, đem lại hiệu quả to lớn và ổn định cho nền kinh tế, làm tăng giá trị văn hoá - văn minh, bản sắc dân tộc Nhận biết được vấn đề đó các nhà kinh doanh du lịch, các nhà quản lý kinh tế phải không ngừng kiểm tra, ngăn chặn những mặt phi văn hoá bằng hệ thống pháp luật mà vấn đề lâu dài và quan trọng hơn là xây dựng, tạo ra để hấp dẫn từ bản sắc, “thuần - phong - mỹ - tục” dân tộc, bảo tồn, nâng cấp các di tích lịch sử văn hoá, kiến trúc
Từ cơ sở lý luận, các định nghĩa, các điều kiện phát triển chung về DLVH, đây chính là tiền đề cho việc phát triển DLVH phía Nam Hà Nội Bên cạnh những hạn chế thì những gì khu vực này đã và đang phát triển sẽ được tác giả thể hiện rõ ở chương 2
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA
PHÍA NAM HÀ NỘI 2.1 Giới thiệu khái quát phía Nam Hà Nội
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Trang 37phía Nam có tỉnh Hòa Bình, tỉnh Hà Nam… Trong đề tài này tác giả coi phía Nam
Hà Nội là một vùng văn hóa và lấy điển hình ba huyện Ứng Hòa, Mỹ Đức (Hà Nội)
và Lạc Thủy (Hòa Bình)làm đề tài nghiên cứu của mình Bởi nơi đây là vùng chuyển tiếp giữa các dãy núi đồ sộ của vùng Tây Bắc và vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng
- Khí hậu
Chịu ảnh hưởng của nền khí hậu chung của miền Bắc Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, có mùa đông khô lạnh Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động trong khoảng 23oC – 24oC Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 năm nay đến tháng 3 năm sau Mùa nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 Nhìn chung, khí hậu nơi đây tương đối thuận lợi cho phát triển du lịch
- Địa hình
Với địa hình đồng bằng, địa hình đồi gò lượn sóng vùng bán sơn địa, nhiều núi đá vôi độ dốc lớn theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đã tạo cho phía Nam Hà Nội cảnh sắc đa dạng có giá trị khai thác phục vụ du lịch là địa hình Karst ở huyện
Mỹ Đức, huyện Lạc Thủy, nơi đây có nhiều hang động đẹp như động Hương Tích, chùa Hương, chùa Tiên, đền Mẫu Âu Cơ mà tiêu biểu là phần phía Tây huyện
Mỹ Đức với hai dãy núi Hương Sơn và Lương Ngãnh chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam
- Thuỷ văn
Nước mặt: được sông Hồng bao bọc ở phía Đông, sông Đà ở phía Bắc, với các dòng sông lớn chảy ra như: sông Đáy, sông Nhuệ
Nước ngầm: nơi đây có lượng nước ngầm dồi dào
Nước dưới đất trong các khe nứt – Karst của Trầm Tích ở Mỹ Đức, Lạc Thủy Nhìn chung tài nguyên nước của phía Nam Hà Nội rất dồi dào, có khả năng khai thác tốt phục vụ nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt Việc khai thác nước phục vụ du lịch chủ yếu tập trung ở các hồ như hồ Quan Sơn, thắng cảnh Hương Sơn và một số nơi khác
- Sinh vật: Hệ thống động - thực vật hết sức phong phú Vùng núi Hương Sơn
có diện tích 1.242 ha đã thống kê được 38 loài thú trong đó có 14 loài thuộc thú quý hiếm
Trang 382.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Ba huyện này vốn là những huyện thuần nông, điểm xuất phát thấp, thời gian gần đây các huyện đã tập trung chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp kết hợp với khôi phục ngành nghề truyền thống và phát triển nghề mới, đồng thời đã huy động mọi nguồn vốn đầu tư để xây dựng và nâng cấp một số chợ xã, khai thác hoạt động kinh doanh đồng thời đa dạng hóa các loại hình dịch vụ như:
Ứng Hòa có 13 làng nghề truyền thống như làng may Trạch Xá thuộc xã Hòa Lâm chuyên may áo dài theo cách cha truyền con nối Trước năm 1980 nghề may
áo dài Trạch Xá phát triển mạnh mẽ Đến làng Trạch Xá, đâu đâu cũng thấy những
tà áo dài mềm mại treo trong nhà, ngoài phố Mỗi nhà một bí quyết, người cao tuổi truyền lại cho giới trẻ bởi vậy mà tinh hoa ngàn đời được tích tụ lại, được nhân rộng với sự sáng tạo để mang đến những tà áo dài đẹp, sang trọng, khoe nét duyên dáng tuyệt vời của người phụ nữ Hà Nội
Làng đàn Đào Xá thuộc xã Đông Lỗ, là làng nghề nổi tiếng với các sản phẩm nhạc cụ dân tộc Việt Nam Các loại đàn được sản xuất ở đây gồm: đàn bầu, đàn tam thập lục, đàn đáy, đàn nguyệt, đàn tỳ bà cho đến những cây nhị, cây hồ, cây líu Sản phẩm nhạc cụ dân tộc được bán ra khắp Việt Nam Nghề làm đàn đã được duy trì hàng trăm năm nay tại đây
Mỹ Đức có 6 làng nghề truyền thống, chủ yếu là du lịch nhưng bên cạnh du lịch, huyện cũng tập trung phát triển các ngành kinh tế nông nghiệp và công nghiệp như tạo ra những vùng sản xuất chuyên canh, vùng sản xuất hàng hóa, chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, chuyển đổi diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang những mô hình trồng trọt hoặc chăn nuôi phù hợp Bên cạnh đó, huyện cũng tập trung phát triển các làng nghề cũ và phát triển các nghề mới; Ưu tiên và tập trung vào các ngành nghề sản xuất vật liệu xây dựng, dệt, mây tre đan, chế biến nông - lâm sản - thực phẩm và sản xuất sản phẩm tiểu thủ công nghiệp xuất khẩu Vùng trồng dâu nuôi tằm của huyện được duy trì, mở rộng diện tích, các nghề truyền thống trồng dâu nuôi tằm, nghề dệt, nghề thêu đồng bộ với mở rộng thêm nghề mới như mây tre đan Hằng năm, cứ đến mùa lễ hội chùa Hương là huyện lại thu hút đông đảo khách thập
Trang 39phương, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế chung của huyện cũng như của nhân dân trong huyện
Lạc Thuỷ sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế Hệ thống đường giao thông nông thôn tương đối hạn chế, có
15 km đường thuỷ chạy dọc theo sông Bôi, qua địa bàn của 5 xã Tuyến đường thuỷ này tương đối thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá với khối lượng lớn và giao lưu giữa các xã Hệ thống thương mại, dịch vụ trên địa bàn được bố trí, sắp xếp lại theo hướng phù hợp hơn với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với trung tâm thương mại ở thị trấn Chi Nê
Tiềm năng du lịch của huyện tương đối lớn do có nhiều cảnh quan đẹp, sơn thuỷ hữu tình Tuy vậy, cho đến nay lưu lượng khách tham quan du lịch, tìm hiểu thị trường, kinh doanh buôn bán, đầu tư cho mục tiêu phát triển du lịch của huyện chưa nhiều, cơ sở vật chất phục vụ cho ngành du lịch của Lạc Thuỷ còn yếu
2.1.3 Điều kiện tài nguyên du lịch
Thiên nhiên đã tạo cho phía Nam Hà Nội nhiều hang động đẹp nằm rải rác ở nhiều huyện, thị, với nhiều trầm tích, nhũ đá đa dạng Có nhiều sông ngòi như sông Đáy, sông Nhuệ, hồ Quan Sơn… là nơi cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, chăn nuôi thuỷ sản, phục vụ đời sống và còn là yếu tố thuận lợi để phát triển du lịch
Tại những nơi có DTLS, di tích thắng cảnh, cùng những công trình kiến trúc đặc biệt thì lễ hội thường diễn ra chủ yếu vào mùa Xuân và mùa Thu Với các lễ hội rất phong phú, ngoài lễ hội của các làng xã thì nổi bật lên là những lễ hội lớn tiêu biểu cho lễ hội dân gian Việt Nam với các nghi lễ cổ truyền vẫn được duy trì như: lễ hội chùa Hương, Chùa Tiên Nơi đây còn là quê hương của làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng, cũng là nơi có vốn văn hoá truyền miệng và văn học viết tay phong phú gắn với vùng đất văn hoá lịch sử
Sự phân bố các danh lam thắng cảnh, các di tích của khu vực phía Nam Hà Nội mà nổi bật là vùng quần thể DTLS - DLTC Hương Sơn (Mỹ Đức) và Chùa Tiên (Lạc Thủy)
Trang 40Cụm thắng cảnh Hương Sơn cách trung tâm Hà Nội 62km, với hệ thống kiến trúc từ thế kỷ XVII, XVIII như: Chùa Tháp, Thiên Trù, Thiên Thuỷ, Long Vân, Tuyết Sơn, Động Hương Tích, Thiên Bồng
Quần thể danh lam thắng cảnh chùa Tiên cách Hà Nội chừng 80 km, cách trung tâm huyện Lạc Thủy 9km là một địa chỉ du lịch còn ít người biết tới, với thung lũng giữa đại ngàn những đồi núi xanh mướt, những động thạch nhũ kỳ ảo Tới đây có thể tham quan các di tích lịch sử như đền Trình, đền Mẫu, chùa Tiên và các hang động được mang tên các vị thánh trong tín ngưỡng thờ Tứ phủ, đồng thời khám phá những hang động còn lưu giữ những dấu vết của người Việt cổ như động Tiên, động Tam Tòa đẹp lung linh huyền ảo nằm đối diện với đền Trình Tại đây,
du khách sẽ thấy được vẻ đẹp toàn diện của quần thể danh lam thắng cảnh Chùa Tiên
Cùng với hai quần thể đó, ở trên 3 huyện thị còn có hàng trăm di tích, đền, chùa, tháp, thành quách nổi tiếng như:
Huyện Ứng Hoà có các DTLS văn hoá có giá trị được xếp hạng, tiêu biểu như: Đình Vân Đình; đền, chùa Bầu Bỏi; đình, miếu Đông Dương; đình và quán Đinh Xuyên; đền Hữu Vĩnh; đình, chùa Miêng Hạ; đình Phú Lương; đình Quảng Nguyên; đền Thái Bình; đình Tử Dương; đình Trung Thịnh; đình Vĩnh Lộc Thượng; đình Yên Trường; đình Hoàng Xá…
Huyện Mỹ Đức: có các DTLS văn hoá có giá trị như chùa Hương, chùa Sổ, chùa Bối Khê, Linh Tiên Quán, đình Cháy…
Huyện Lạc Thuỷ có DTLS cách mạng địa điểm Nhà Máy In tiền đồn điền Chi
Nê, DT khảo cổ học hang Đồng Thớt; DT khảo cổ động Tiên, DT thắng cảnh Hang Luồn; DT danh lam thắng cảnh hang động núi Niệm (xã Phú Thành); 3 khu DLST (Khu DLST hồ Đồng Tâm; Khu DLST Minh Ngọc; Khu DLST làng Đá Bạc) đang trong quá trình hoàn thiện và đưa vào phục vụ khách du lịch Lạc Thủy cũng có nhiều sông hồ, ao đập như: Liên Hồ Phú Lão, hồ Đá Bạc, hồ Đồng Tâm, hồ Đầm Khánh là những tiềm năng, thế mạnh để phát triển du lịch
Với những điều kiện thuận lợi để phát triển DLVH phía Nam Hà Nội đã và đang đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và