1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nâng cao khả năng thu hút khách du lịch tại trung tâm giao lưu văn hóa phố cổ hà nội

123 96 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 3,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những giải pháp của khóa luận: Một số giải pháp mà khóa luận đưa ra: - Nhóm giải pháp phát huy và nâng cao chất lượng dịch vụ hiện có - Giải pháp về sản phẩm - Nhóm giải pháp về công tá

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài Khóa luận 5

2 Mục đích, giới hạn và nhiệm vụ đề tài 7

2.1 Mục đích: 7

2.2 Giới hạn của đề tài: 7

2.3 Nhiệm vụ của đề tài: 7

3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 7

3.1 Đối tượng nghiên cứu: 7

3.2 Phương pháp nghiên cứu: 7

4 Những giải pháp của khóa luận: 8

5 Kết cấu của khóa luận: 8

PHẦN NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH 9

1.1 Khái quát về du lịch 9

1.1.1 Khái niệm về du lịch 9

1.1.2 Vai trò của du lịch Việt Nam đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước 11

1.2 Điểm đến du lịch 11

1.2.1 Khái niệm về điểm đến du lịch 12

1.2.2 Quy mô của một điểm đến du lịch 14

1.3 Khách du lịch 14

1.3.1 Khái niệm về khách du lịch 14

1.3.2 Phân loại khách du lịch của một điểm đến du lịch 16

1.4 Kinh doanh du lịch 17

1.4.1 Khái niệm về kinh doanh du lịch 18

1.4.2 Kinh doanh dịch vụ lữ hành 18

Trang 2

1.5 Khả năng thu hút khách du lịch của điểm đến du lịch 19

1.5.1 Quan niệm về khả năng thu hút khách du lịch 19

1.5.2 Một số yếu tố tạo nên khả năng thu hút khách du lịch tại điểm đến du lịch 20

1.5.2.1 Hình ảnh của điểm đến du lịch 21

1.5.2.2 Sản phẩm du lịch 24

1.5.2.3 Giá 29

1.5.2.4 Khả năng tiếp cận 30

1.5.2.5 Con người 31

1.5.4 Hoạt động quảng bá và xúc tiến nhằm nâng cao khả năng thu hút khách du lịch của điểm đến 33

1.5.4.1 Các công cụ xúc tiến 33

1.6 Tiểu kết chương 1 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH TẠI TRUNG TÂM GIAO LƯU VĂN HÓA PHỐ CỔ HÀ NỘI 36

2.1 Giới thiệu về Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội 36

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 36

2.1.2 Những yếu tố tạo nên khả năng thu hút khách du lịch tại Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội 37

2.1.2.1 Hình ảnh 37

2.1.2.2 Sản phẩm 38

2.1.2.3 Giá 39

2.1.2.4 Khả năng tiếp cận 39

2.2 Thực trạng về khả năng thu hút khách du lịch tại Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội 40

2.2.1 Hoạt động đã triển khai nhằm nâng cao khả năng thu hút khách du lịch của Trung tâm 40

2.2.1.1 Về xây dựng hình ảnh 40

2.2.1.2 Về sản phẩm 40

Trang 3

2.2.1.3 Quản trị về giá 48

2.2.1.4 Nguồn nhân lực 48

2.2.1.5 Về quảng bá và xúc tiến hỗn hợp 49

2.2.2 Đánh giá thực trạng về khả năng thu hút khách tại Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội 51

2.2.2.1 Theo phương pháp định lượng: 51

2.2.2.2 Theo phương pháp định tính 67

2.3 Phân tích SWOT cho khả năng thu hút khách du lịch tại Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội 67

2.3.1 Điểm mạnh (Strengths) 67

2.31.1 Về sản phẩm: 68

2.3.1.2 Về nguồn nhân lực: 69

2.3.1.3 Về đối tác truyền thông: 69

2.3.2 Điểm yếu (Weaknesses) 70

2.3.2.1 Công tác quảng bá, xúc tiến của Trung tâm 70

2.3.2.2 Nhân lực làm việc trong Trung tâm 70

2.3.3 Cơ hội (Opportunities) 71

2.3.3.1 Hình ảnh của thủ đô Hà Nội ngày một được khẳng định mạnh mẽ qua triển khai hiệu quả Chương trình hợp tác tuyên truyền quảng bá TP Hà Nội trên kênh CNN quốc tế 71

2.3.3.2 Diễn đàn Du lịch ASEAN (ATF 2019) 73

2.3.3.3 Năm Du lịch quốc gia 2019 74

2.3.3.4 Cơ hội cho khả năng thu hút khách du lịch từ vị trí của Trung tâm 76

2.3.4 Thách thức (Threats) 78

2.4 Tiểu kết chương 2 78

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH TẠI TRUNG TÂM GIAO LƯU VĂN HÓA PHỐ CỔ HÀ NỘI 80

3.1 Một số giải pháp nâng cao khả năng thu hút khách du lịch tại Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội 80

Trang 4

3.1.1 Nhóm giải pháp phát huy và nâng cao chất lượng dịch vụ hiện có 80

3.1.1.1 Nguồn nhân lực 80

3.1.1.2 Quản trị giá 81

3.1.1.3 Thời gian hoạt động trong ngày của Trung tâm 81

3.1.2 Giải pháp về sản phẩm 83

3.1.3 Nhóm giải pháp về công tác quảng bá, xúc tiến về sản phẩm của Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội 87

3.1.3.1 Về hoạt động quảng bá 88

3.1.3.2 Về hoạt động xúc tiến 93

3.1.4 Giải pháp về tăng cường hợp tác, liên kết với các công ty, tổ chức du lịch 97

3.2 Tiểu kết chương 3 99

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CỦA KHÓA LUẬN 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC 104

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài Khóa luận

Hà Nội được coi là trung tâm văn hoá phong phú và đa dạng nhất của cả nước Những người muốn đi tìm hiểu một nước Việt Nam “nghìn năm văn hiến” chắc chắn phải đến Hà Nội trước tiên Mặc dù các thành quách, đền đài, cung điện được xây dựng từ triều đại này sang triều đại khác đã bị tàn phá nhiều, có khi không còn nữa, nhưng không có nơi nào trong cả nước còn giữ được nhiều di tích cổ xưa như Hà Nội Đặc biệt là các công trình văn hoá - lịch sử nổi tiếng như Văn Miếu - Quốc Tử Giám, chùa Một Cột, chùa Trấn Quốc, chùa Kim Liên, chùa Quán Sứ, đền Voi Phục, đền Quán Thánh, đền Hai Bà… là những công trình được xây dựng cách đây 9 - 10 thế kỷ rất có giá trị về mặt văn hoá, lịch

sử, tôn giáo, kiến trúc nghệ thuật Thành phố cũng là nơi tập trung nhiều bảo tàng, nhà hát, nhà triển lãm, thư viện

Về văn hoá phi vật thể, Hà Nội cũng là nơi hội tụ nhiều phong tục tập quán, thuần phong

mỹ tục, nhiều lễ hội đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ Nhiều vốn cổ được phục hồi, lưu giữ và phát triển Đây là một trong những thế mạnh của du lịch Hà Nội

Trên Thế giới, du lịch phố cổ được xem là một trong những sản phẩm du lịch có sức cuốn hút rất lớn với du khách trên khắp thế giới, và phố cổ Hà Nội cũng không ngoại

lệ Là một trong những điểm nhấn văn hóa đặc trưng của Hà Nội, Phố cổ Hà Nội trở thành một lợi thế để đem đến cho khách du lịch một cái nhìn toàn diện về Thủ đô nghìn năm văn hiến

Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, lượng khách du lịch của Việt Nam liên tục tăng đáng kể qua các năm Theo đó, trong sáu tháng đầu năm 2018, khách du lịch quốc tế đến

Hà Nội ước đạt hơn 3 triệu lượt, tăng xấp xỉ 26% so với cùng kỳ năm trước, số khách du lịch nội địa ước đạt hơn 10,1 triệu lượt, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước

Theo số liệu của UBND quận Hoàn Kiếm, Hàng năm, thủ đô Hà Nội đón khoảng 5 - 6 triệu lượt khách du lịch quốc tế, trong đó có trên 70% tập trung tại khu phố cổ và trong số khoảng 15 – 16 triệu lượt khách trong nước, phần lớn du khách cũng đến Phố cổ để tham

Trang 6

quan, khám phá những di tích lịch sử, công trình còn tồn tại với thời gian và trải nghiệm những giá trị văn hóa của Phố cổ Hà Nội – nét văn hóa đặc trưng của người Hà thành, bên cạnh đó là những trải nghiệm mua sắm và thưởng thức ẩm thực nơi đây

Về tác động của du lịch đối với việc bảo tồn Phố cổ Hà Nội, điều đầu tiên không thể phủ nhận được đó là sự phát triển của du lịch có tác động trực tiếp vào việc chấn hưng và bảo tồn các di sản văn hóa Vì để làm du lịch, để thỏa mãn nhu cầu du lịch của con người mà người ta phục hồi, tôn tạo lại các di tích Du lịch góp phần làm cho các di tích sống lại vì

du lịch tạo điều kiện đưa di sản văn hóa đến với công chúng, được khẳng định giá trị bởi công chúng Khi di sản được khẳng định giá trị, có sức hấp dẫn đối với khách du lịch thì người ta sẽ ngày một mong muốn thực hiện nhu cầu du lịch của bản thân

Bên cạnh đó, công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trong khu phố cổ tuy có nhiều cố gắng song chưa đáp ứng yêu cầu thực tế, và chưa tương xứng với tiềm năng của khu phố cổ Tiêu biểu là đối với các khu phố nghề, tên phố là tên loại hàng được bán tại phố đó nhưng do chạy theo thị hiếu của khách du lịch mà người ta không còn buôn bán các mặt hàng theo từng tên phố nữa, các hàng hóa được bày bán phần nhiều là hàng xuất xứ Trung Quốc, rất hiếm gặp các loại hàng hóa nội địa, bản địa

Vì vậy, việc giới thiệu với khách du lịch cũng như đưa đến du khách cái nhìn chân thực nhất về giá trị văn hóa, những nét đẹp văn hóa phố cổ Hà Nội nói riêng và Hà Nội nói chung đã gặp không ít khó khăn

Chính vì vậy, em xin phép chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao khả năng thu hút khách du lịch tại Trung tâm giao lưu văn hóa phố cổ Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình Trung tâm giao lưu văn hóa phố cổ Hà Nội là một công trình mới được xây dựng với mục đích là nơi giao lưu, quảng bá những nét đẹp văn hóa phố cổ Hà Nội Với tư cách là một sinh Khoa Du lịch – Trường Đại học Mở Hà Nội và cũng từng là một thực tập sinh tại Trung tâm, em mong rằng em có thể đóng góp một phần nhỏ vào sự phát triển của du lịch nước nhà

Trang 7

2 Mục đích, giới hạn và nhiệm vụ đề tài

2.1 Mục đích:

Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng khả năng thu hút khách tại Trung tâm giao lưu văn hóa phố cổ Hà Nội và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút khách tại Trung tâm trong thời gian tới

2.2 Giới hạn của đề tài:

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào hoạt động thu hút khách tại Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội trong thời gian từ năm 2015 đến năm 2018

2.3 Nhiệm vụ của đề tài:

Đề tài tập trung giải quyết các vấn đề sau:

- Phân tích cơ sở lý luận về hoạt động thu hút khách du lịch

- Đánh giá đúng thực trạng hoạt động thu hút khách du lịch tại Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng thu hút khách du lịch tại Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội

3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Trong đề tài của em, đối tượng nghiên cứu chính là hoạt động thu hút khách du lịch tại Trung tâm Từ những cơ sở của kết quả phân tích đó để đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút khách du lịch tại Trung tâm

3.2 Phương pháp nghiên cứu:

Trong khóa luận, em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu truyền thống sau đây:

- Phương pháp thu thập thông tin

Trang 8

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp nghiên cứu thực địa

- Phương pháp điều tra xã hội học

4 Những giải pháp của khóa luận:

Một số giải pháp mà khóa luận đưa ra:

- Nhóm giải pháp phát huy và nâng cao chất lượng dịch vụ hiện có

- Giải pháp về sản phẩm

- Nhóm giải pháp về công tác quảng bá, xúc tiến về sản phẩm của Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội

- Giải pháp về tăng cường hợp tác, liên kết với các công ty, tổ chức du lịch

5 Kết cấu của khóa luận:

Khóa luận tốt nghiệp ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận chung về hoạt động thu hút khách du lịch

- Chương 2: Thực trạng khả năng thu hút khách du lịch tại Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội

- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao khả năng thu hút khách du lịch tại Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH

DU LỊCH 1.1 Khái quát về du lịch

1.1.1 Khái niệm về du lịch

Khái niệm về du lịch có nhiều cách hiểu do được tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau Con người vốn tò mò về thế giới xung quanh, muốn có thêm hiểu biết về cảnh quan, địa hình, hệ động thực vật và nền văn hóa của những nơi khác Vì vậy, du lịch đã xuất hiện và trở thành một hiện tượng khá quan trọng trong đời sống của con người

Trên thế giới, hiện tượng du lịch đã xuất hiện từ thời kì Ai Cập và Hy Lạp cổ đại, từ đó đã phát triển đến thời kỳ hiện đại Tuy nhiên, du lịch với tư cách là một ngành kinh tế chỉ mới thực sự xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX Đó là năm 1841 Thomas Cook (người Anh) đã

tổ chức chuyến đi du lịch đông người đầu tiên trong nước, sau đó ra nước ngoài, đánh dấu

sự ra đời của tổ chức kinh doanh lữ hành.Vào những năm 1880 các nước như Pháp, Thụy

Sỹ, Áo có hoạt động kinh doanh khách sạn hiện đại rất phát triển Đặc biệt từ những năm

1950 trở về đây ngành du lịch phát triển mạnh mẽ và trở thành ngành kinh tế quan trọng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Đến nay du lịch đã trở thành nhu cầu có tính phổ biến trong quảng đại quần chúng trên thế giới

Lịch sử phát triển của du lịch Việt Nam cũng được xem xét qua các thời kỳ nhưng không giống như lịch sử phát triển du lịch thế giới, lịch sử phát triển du lịch Việt Nam bắt đầu từ thời kỳ phong kiến Và cho đến sau năm 1990, khi chính sách đổi mới và thực hiện đổi mới nền kinh tế đã gặt hái được những thành công thì du lịch đã phát triên mạnh mẽ cả về

số lượng lẫn các loại hình, chi tiêu và thời gian Du lịch không chỉ diễn ra trong nước mà

cả các chuyến đi du lịch ra nước ngoài cũng dần tăng lên

Du lịch với lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu, tuy nhiên việc thống nhất một khái niệm duy nhất cho du lịch trên toàn thế giới đến nay vẫn chưa được đưa ra Vì du lịch là

Trang 10

một sản phẩm được tạo ra bởi sự tương tác của nhiều ngành và các bên liên quan nên để

có một khái niệm thống nhất đối với các học giả không phải là dễ dàng

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization) – một tổ chức Liên Hiệp Quốc đã định nghĩa du lịch như sau:

“Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.”

Bên cạnh đó, Tổ chức cũng đưa ra rõ ràng các dạng du lịch:

 Du lịch làm ăn

 Du lịch giải trí, năng động và đặc biệt

 Du lịch nội quốc, quá biên

 Du lịch tham quan trong thành phố

 Du lịch mạo hiểm, khám phá, trải nghiệm

 Du lịch hội thảo, triển lãm MICE

 Du lịch giảm stress, Du lịch ba-lô, tự túc khám phá

Trang 11

 Du lịch y tế

 Du lịch người cao tuổi

Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 tại điều 3 khoản 1 có quy định:

“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.”

1.1.2 Vai trò của du lịch Việt Nam đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Phát triển du lịch không chỉ tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho đất nước, đóng góp tích cực vào hoạt động xuất khẩu tại chỗ mà còn góp phần quan trọng tạo cơ hội việc làm

và thu nhập cho cộng đồng ở những vùng còn khó khăn nhưng có tiềm năng du lịch, tạo sức lan tỏa, động lực và kéo theo nhiều ngành kinh tế có liên quan như giao thông vận tải, đặc biệt là hàng không, thương mại, xây dựng, nông nghiệp,…cùng phát triển

Ngoài ý nghĩa về kinh tế - xã hội, phát triển du lịch còn góp phần quan trọng vào nỗ lực bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, phát triển giao lưu văn hóa và qua đó tăng cường hiểu biết, hữu nghị giữa các dân tộc

Phát triển du lịch còn có những đóng góp tích cực trong việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người dân Việt Nam Đối với những vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn, du lịch góp phần quan trọng vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân

1.2 Điểm đến du lịch

Với việc phân tích, xác định vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội nói trên, việc triển khai các hoạt động thu hút khách du lịch trở thành một nhiệm vụ cần thiết đói với các cơ quan quản lý và để thực hiện được nhiệm vụ trên thì các nhà quản lý cần quy hoạch, tổ chức không gian du lịch, đầu tư các dự án ưu tiên để một điểm đến trở thành một điểm đến du lịch

Trang 12

1.2.1 Khái niệm về điểm đến du lịch

Một trong những mô hình của hệ thống vận hành du lịch được tạo ra bởi Leiper năm 1990:

Hình 1 Mô hình của hệ thống vận hành du lịch của Leiper năm 1990

Khu vực nhận khách hay cũng có thể nói là các điểm đến du lịch, nơi mà các hoạt động tham quan của khách diễn ra, điểm mà khách tới du lịch

Điểm đến du lịch là một trong năm yếu tố không thể thiếu của hệ thống du lịch, mà tại đó, thiếu bất kì một yếu tố nào cũng không thể tạo nên hệ thống du lịch

Tuy nhiên, nói về khái niệm của điểm đến du lịch thì không có một khái niệm niệm nhất quán trên toàn cầu và thuật ngữ này được sử dụng theo rất nhiều cách khác nhau, cũng giống như khái niệm về du lịch được các chuyên gia chỉ ra theo những cách tiếp cận khác nhau

Trước tiên, theo Philip Kotler về một điểm đến:

“Một điểm đến là một khu vực có địa giới hành chính được luật pháp công nhận hay có đường biên nằm trong nhận thức của mọi người.”

Với những đặc điểm riêng biệt, các chuyên gia về marketing du lịch đã đưa ra những khái niệm tổng quát về điểm đến du lịch:

Khu vực nhận khách Dòng khách đi

Trang 13

Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Đảng: “Điểm đến du lịch là nơi có các yếu tố hấp dẫn, các yếu

tố bổ sung và các sản phẩm kết hợp những yếu tố này để đáp ứng các nhu cầu và mong muốn của du khách.”

Theo marketing điểm đến du lịch của giảng viên Nguyễn Thị Thu Mai – Khoa Du lịch – Trường Đại học Mở Hà Nội: “Điểm đến du lịch là bất cứ địa điểm nào có tài nguyên du lịch được du khách tìm đến để thỏa mãn các nhu cầu của họ.”

Tổ chức Du lịch Thế giới đã đưa ra quan niệm về điểm đến du lịch: “Điểm đến du lịch là vùng không gian địa lý mà khách du lịch ở lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính

để quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường.”

Một khái niệm khác trong du lịch, đó là điểm tham quan du lịch, quan niệm về khái niệm này được đưa ra như sau: “Điểm tham quan du lịch là một điểm thu hút khách du lịch, nơi khách du lịch tham quan, thường có các giá trị vốn có của nó hoặc trưng bày các giá trị văn hóa, ý nghĩa lịch sử hoặc được xây dựng, cung cấp các dịch vụ về phiêu lưu, mạo hiểm, vui chơi giải trí hoặc khám phá, trải nghiệm những điều mới lạ.”

Điểm tham quan du lịch về cơ bản có những điểm giống như định nghĩa về điểm đến du lịch, nhưng khác cơ bản ở chỗ là khách đến tham quan sử dụng các dịch vụ tại đây, nhưng không ngủ lại một đêm Điểm tham quan du lịch rất đa dạng, thường nằm trong sự sáng tạo của những người làm du lịch Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm nhất quán trên toàn cầu về điểm đến du lịch và thuật ngữ được sử dụng theo nhiều cách khác nhau Bên cạnh đó, quy mô của một điểm đến du lịch rất đa dạng, và trong một số trường hợp, điểm tham quan du lịch được coi như là một điểm đến du lịch với quy mô nhỏ

Như vậy, có thể thấy, điểm đến du lịch là nơi có nguồn tài nguyên du lịch – tài nguyên tự nhiên hoặc/và tài nguyên nhân văn mà du khách tìm đến để thỏa mãn các nhu cầu của họ trong khi đi du lịch

Trang 14

1.2.2 Quy mô của một điểm đến du lịch

Quy mô của một điểm đến du lịch phụ thuộc vào “địa giới hành chính được luật pháp công nhận hay có đường biên nằm trong nhận thức của mọi người” nên rất đa dạng, có thể

là một khu vực có địa giới hành chính rõ ràng hay một vùng văn hóa Nếu phân cấp theo địa giới hành chính, điểm đến du lịch có thể là:

 Một khu vực gồm nhiều quốc gia

Để đem lại nguồn lợi cho một đất nước từ điểm đến du lịch thì cần thu hút được khách đến nơi đó, chi tiêu tại nơi họ đến nhằm đem lại nguồn thu cho điểm đến nói riêng và đất nước đó nói chung

Trang 15

Tổ chức Du lịch Thế giới định nghĩa khách du lịch:

“Khách du lịch là những người đi du lịch đến và ở lại ở những nơi bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong hơn 24 giờ và không quá một năm liên tiếp cho giải trí, kinh doanh và các mục đích khác không liên đến những nhân viên hướng dẫn du lịch của tổ chức thực hiện việc du lịch đó."

Theo Luật Du lịch Việt Nam 2017 tại điều 3 khoản 2 có quy định:

“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, từ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.”

Bên cạnh đó, Luật Du lịch Việt Nam 2017 tại điều 3 khoản 1 có quy định:

“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.”

Như vậy, nhìn nhận hai khái niệm có thể thấy rõ rằng, để trở thành khách du lịch cần thỏa mãn ba yếu tố về:

Trang 16

trường quen thuộc” của mình, hay theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 thì một

du khách phai đi ra khỏi “nơi cư trú thường xuyên” Điều này có nghĩa là phải đi đến một nơi không phải nơi ở, nơi làm việc, nơi thường đi lại để thực hiện các hoạt động thường nhật

 Thời gian du lịch: khoảng thời gian du lịch cũng là một yếu tố để xác định một người có phải khách du lịch không và thuộc loại khách nào Không có giới hạn chuẩn về thời gian đi du lịch để xác định ai là khách du lịch, nhưng có rất nhiều tổ chức sử dụng ngưỡng tối thiểu là chuyến đi trong vài giờ để phân loại khách du lịch nội địa đi du lịch trong ngày

Vì có một vấn đề được đặt ra, đó là sự khác biệt giữa khách du lịch và khách tham quan,

và sự khác biệt giữa hai loại khách không phải lúc nào cũng rõ ràng Khách tham quan là những vị khách đi tham quan trong trong ngày Một số học giả sử dụng thuật ngữ khách qua đêm để mô tả khách lưu trú lại qua đêm và sử dụng thuật ngữ khách trong ngày để chỉ đối tượng khách không lưu trú lại qua đêm ở điểm đến

 Mục đích du lịch: họ là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, từ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến

Như vậy, là khách du lịch hay khách tham quan thì họ chỉ khác nhau ở điểm đó là thời gian đi du lịch Khách tham quan hoàn toàn có thể được coi là khách du lịch trong ngày Trong bài luận của em, khi thống kê về số lượng khách tại một điểm đến du lịch thì em sẽ

sử dụng thuật ngữ khách du lịch, và đó đã bao gồm khách du lịch qua đêm và khách du lịch trong ngày

1.3.2 Phân loại khách du lịch của một điểm đến du lịch

Đối với một điểm đến du lịch, việc phân loại khách du lịch hiện tại hay tiềm năng dựa trên các tiêu chí phân đoạn là vô cùng cần thiết Qua đó giúp cho các nhà quản lý điểm đến du lịch có thể tiếp cận được với thị trường khách tốt nhất có thể

Các nhóm tiêu chí gồm:

Trang 17

 Vùng địa lý: đây là cơ sở phân đoạn cổ điển nhất dùng để chia khách du lịch thành các nhóm dựa trên quốc tịch hay địa điểm cư ngụ hiện tại của họ Đây là một trong những cơ sở phân đoạn phổ biến nhất vì các khu vực địa lý đã được phân định rõ ràng và việc phân tích thị trường sẽ trở nên dễ dàng hơn

 Nhân khẩu học: đây cũng là những tiêu thức phổ biến nhất để phân đoạn thị trường khách du lịch hiện tại và tiềm năng của điểm đến Thường được phân chia thành các phân đoạn sau: độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, thu nhập,…

 Tâm lý: là một kỹ thuật phân chia thị trường khách dựa trên các yếu tố tâm lý nhất định như: động cơ, cá tính, thái độ, quan điểm và nhu cầu

 Hành vi: các tiêu thức về hành vi cơ bản gồm: thời gian lưu trú bình quân ở điểm đến, phạm vi du lịch, việc thực hiện các hoạt động du lịch (như các yếu tố hấp dẫn được lựa chọn tại điêm đến), và số lần đến thăm điểm đến

 Sản phẩm: đây là cơ sở phân đoạn khó tiếp cận nhưng lại phù hợp với việc sử dụng những sản phẩm cụ thể vì phân đoạn theo sản phẩm sử dụng chính một số đặc điểm cua sản phẩm để phân loại khách Bản chất của phương pháp này là cách mô

tả những nhóm khách có nhu cầu và mong đợi tương ứng với những sản phẩm du lịch nào đó

 Kênh phân phối: hướng tiếp cận này rất hiệu quả, đặc biệt đối với những thị trường

ở xa mà không thể tiếp cận được mức giá phù hợp

 Mục đích chuyến đi: đây là phương pháp chia thị trường khách du lịch tiềm năng theo mục đích chuyến đi của họ [2]

1.4 Kinh doanh du lịch

Một đất nước hay một vùng đã có điểm đến du lịch thì việc tiếp theo đó chính là thu hút khách du lịch tới điểm đến đó Dễ dàng thấy được, lượng khách du lịch đến điểm đến và chi tiêu tại điểm đến càng nhiều thì điểm đến đó càng thành công Các cơ sở kinh doanh

Trang 18

dịch vụ lữ hành là nơi gửi được lượng khách khá ổn định cho các điểm đến du lịch và có tác động mạnh tới quyết định sư dụng sản phẩm tại điểm đến du lịch

1.4.1 Khái niệm về kinh doanh du lịch

Những vai trò quan trọng và nhu cầu về du lịch đã trở thành tiền đề cho sự hình thành và phát triển của kinh doanh du lịch.Kinh doanh du lịch đã thực sự xuất hiện từ giữa thế kỉ XIX với người tổ chức đầu tiên là Thomas Cook (người Anh) Ngày nay, kinh doanh du lịch đã được mở rộng hơn bất kì ngành kinh tế nào khác trên phạm vi toàn cầu, và hoạt động du lịch ở Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế phát triển chung của thế giới và khu vực

Về bản chất, hoạt động kinh doanh du lịch là tổng hòa mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế với kinh tế của hoạt động du lịch, hình thành trên cơ sở phát triển đầy đủ sản phẩm hàng hóa du lịch và quá trình trao đổi mua và bán hàng hóa du lịch trên thị trường Trong điều kiện thị trường, việc thực hiện thông suốt hoạt động kinh doanh du lịch được quyết định bởi sự điều hòa nhịp nhàng giữa hai đại lượng cung và cầu du lịch

Khác với các loại hàng hóa thông thường sản phẩm hàng hóa trao đổi giữa hai bên cung cầu trong du lịch không phải là vật cụ thể, cái mà du khách có được là sự cảm giác, thể nghiệm hoặc hưởng thụ, vì thế trong quá trình trao đổi sản phẩm du lịch, giao lưu hàng hóa và giao lưu vật là tách rời nhau Sự trao đổi sản phẩm du lịch và tiền tệ do hai bên cung cầu du lịch tiến hành không làm thay đổi quyền sở hữu sản phẩm du lịch, trong quá trình chuyển đổi cũng không xảy ra sự chuyển dịch sản phẩm, du khách chỉ có quyền chiếm hữu tạm thời sản phẩm du lịch tại nơi du lịch Cùng một sản phẩm du lịch vẫn bán được nhiều lần cho nhiều du khách khác nhau sử dụng, sản phẩm du lịch chỉ tạm thời chuyển dịch quyền sử dụng, còn quyền sở hữu vẫn nằm trong tay người kinh doanh, đây chính là đặc điểm cơ bản của kinh doanh du lịch

1.4.2 Kinh doanh dịch vụ lữ hành

Theo Luật Du lịch Việt Nam 2017 tại điều 37 khoản 1 có quy định:

Trang 19

“Cơ sở, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành cần xây dựng, quảng cáo, bán và tổ chức thực hiện các dịch vụ du lịch, chương trình du lịch cho khách du lịch theo phạm vi kinh doanh quy định trong giấy phép.”

Mục đích của các đơn vị kinh doanh du lịch là nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch có sức hấp dẫn với thị trường khách, tăng doanh thu tại đơn vị, tạo dấu ấn riêng với thị trường khách về sản phẩm đó

Đối với một điểm đến du lịch, các đơn vị kinh doanh du lịch ở điểm đến có vai trò quan trọng nhất trong việc tạo ra các trải nghiệm cho khách hàng bằng cách cung cấp dịch vụ

và sản phẩm đơn lẻ hoặc sản phẩm trọn gói cho du khách

Các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh dịch vụ là nơi xây dựng các chương tình du lịch, họ đem chương trình du lịch tiếp cận khách du lịch nhằm thu hút mối quan tâm và quyết định tham gia chương tình du lịch đó Chính vì vậy, việc các điểm đến du lịch hợp tác với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành có thể đem đến lượng khách lớn cho điểm đến

du lịch

1.5 Khả năng thu hút khách du lịch của điểm đến du lịch

1.5.1 Quan niệm về khả năng thu hút khách du lịch

Một điểm đến du lịch cần phải tạo ra sự hấp dẫn, sự thu hút của riêng điểm đó, nhằm tạo

ra sự khác biệt với các điểm đến khác, thu hút nhiều khách du lịch và trở thành một yếu tố quan trọng trong các chương trình du lịch của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành có thể đưa điểm đến du lịch và trong chương trình du lịch của họ và giới thiệu đến với khách du lịch và thuyết phục họ mua chương trình, tuy nhiên, những hoạt động, những dịch vụ, giá trị mà điểm đến du lịch mang lại cho khách chính là những yếu tố quan trọng ghi dấu trong lòng du khách và tác động mạnh đến những hành vi sau này của khách khi chọn điểm đến du lịch trong chuyến

đi du lịch của họ

Trang 20

Khả năng thu hút khách du lịch chính là các yếu tố thuộc về bên trong của điểm đến du lịch, khiến cho khách du lịch lựa chọn điểm đến đó

Vengesayi (2003) đã đƣa ra định nghĩa cho khả năng thu hút và cạnh tranh của một điểm đến du lịch: “Đó là khả năng một điểm đến có thể mang lại những lợi ích kinh tế, xã hội

và vật chất cho cộng đồng dân cƣ của điểm đến cũng nhƣ làm hài lòng khách du lịch.” Theo tạp chí điện tử du lịch – Cơ quan thông tin của Tổng cục Du lịch Việt Nam đã nhận định:

“Tính hấp dẫn của điểm đến du lịch là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá tài nguyên du lịch và xây dựng hình ảnh của điểm đến du lịch

Tính hấp dẫn của điểm đến du lịch đƣợc thể hiện ở khả năng đáp ứng đƣợc nhiều loại hình du lịch có sức thu hút khách du lịch cao và có khả năng đáp ứng nhu cầu của khách

du lịch tới điểm với nguyên tắc: “Dễ dàng, thuận tiện, nhanh chóng, an toàn và tiện nghi” Tính hấp dẫn là lực hút giữa điểm đến du lịch và điểm gửi khách, đây là yếu tố quan trọng nhất.”

1.5.2 Một số yếu tố tạo nên khả năng thu hút khách du lịch tại điểm đến du lịch

Nhƣ đã đề cập ở phần trên, khả năng thu hút khách du lịch chính là các yếu tố thuộc về bên trong của điểm đến du lịch, khiến cho khách du lịch lựa chọn điểm đến đó

Theo Vengesayi (2003), các yếu tố nguồn lực của điểm đến du lịch và hỗn hợp các hoạt động là tiêu chí cơ bản tạo nên sự hấp dẫn của điểm đến Đây cũng chính là lý do tại sao

du khách đánh giá, lựa chọn điểm đến này hơn điểm đến khác Cụ thể đó là năm nhóm yếu tố:

 Văn hóa

 Tự nhiên

 Các sự kiện

 Các hoạt động du lịch

Trang 21

 Hoạt động vui chơi giải trí tại điểm đến

Các yếu tố nguồn lực và các hỗn hợp các hoạt động sẽ cung cấp cho du khách có thêm nhiều lựa chọn, giữ họ lưu lại điểm đến lâu hơn và đó chính là yếu tố “kéo” đối với khách

du lịch Ngoài ra, các yếu tố về danh tiếng, thương hiệu, mức giá của các dịch vụ du lịch tại điểm đến và chất lượng môi trường tự nhiên và xã hội điểm đến được đảm bảo thì mới hấp dẫn được khách du lịch Môi trường của điểm đến là nơi các sản phẩm dịch vụ du lịch được tạo ra và là nơi khách du lịch tương tác với các công ty du lịch Môi trường này được tạo thành bởi nhiều yếu tố, trong đó có an ninh an toàn, mức độ đông đúc, chất lượng nguồn nhân lực, sự cạnh tranh, hợp tác,…

Theo tạp chí Du lịch: “Tính hấp dẫn du lịch của một điểm đến du lịch bao gồm: sự phù hợp của tài nguyên cho các hoạt động du lịch; cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch; sức chứa; sự phát triển các loại dịch vụ phục vụ khách tại điểm đến du lịch; sự đa dạng, độc đáo của tài nguyên để tổ chức các loại hình du lịch;… Tất cả những giá trị đó sẽ tạo nên sức thu hút đối với khách du lịch và các nhà kinh doanh du lịch tại các điểm đến du lịch.”

Đối với tất cả yếu tố tạo nên khả năng thu hút khách du lịch tại một điểm đến du lịch được đề cập trên là thuộc những yếu tố bên trong của một điểm đến với quy mô quốc gia, thành phố,… Còn riêng đối với một điểm đến lịch với quy mô là một địa điểm cụ thể, hay cũng có thể xem là một điểm tham quan du lịch thì bao gồm một yếu tố cơ bản tạo nên khả năng thu hút khách du lịch như: sản phẩm du lịch, hình ảnh của điểm đến du lịch, khả năng tiếp cận, giá và con người hay nguồn nhân lực lao động trong điểm đến

1.5.2.1 Hình ảnh của điểm đến du lịch

a) Khái niệm về hình ảnh của điểm đến du lịch

Theo Crompton, 1979 đã định nghĩa về hình ảnh của điểm đến du lịch: “Hình ảnh của điểm đến du lịch là tổng hợp những sự tin tưởng, những nhận định, những ấn tượng của

một người có về một điểm đến du lịch.”

Trang 22

b) Tầm quan trọng của việc xây dựng hình ảnh cho một điểm đến du lịch

Hình ảnh một điểm đến du lịch đóng một vai trò quan trọng Hình ảnh của một điểm đến

du lịch tạo ra những sự khác biệt với những điểm khác Hình ảnh của một điểm đến du lịch ảnh hưởng đến những quyết định của khách du lịch vì họ không thể nhìn thấy điểm đến vào khoảnh khắc mà họ quyết định chọn nó cho chuyến đi của họ

Ví dụ như:

 Nói đến Bắc Kinh (Trung Quốc), người ta hình dung ở đó có Vạn Lý trường thành với câu nói bất hủ của Mao Trạch Đông “Bất đáo Trường Thành phi hảo hán”

 Nói đến Campuchia, người ta hình dung đến Angkor Thom và Angkor Wat

 Nói đến Hàn Quốc, người ta thường nghĩ đến món Kim Chi nổi tiếng và sâm các loại

Như vậy, trách nhiệm của một điểm đến là tạo dựng được một hình ảnh tích cực trong con mắt của du khách ở thị trường mục tiêu cho điểm đến Tổ chức quản lý nhà nước về du lịch sẽ sử dụng chiến lược định vị và xây dựng thương hiệu để cố gắng cải thiện hay thay đổi hình ảnh của một điểm đến theo hướng tích cực để khuyến khích khách tới thăm

c) Các chiến lược xây dựng hình ảnh

Để xây dựng hình ảnh cho một điểm đến du lịch cần sử dụng chiến lược định vị và xây dựng thương hiệu

Thông qua việc định vị cho điểm đến, tổ chức quản lý nhà nước về du lịch của điểm đến

đó có thể tạo ra một hình ảnh độc đáo cho các sản phẩm của điểm đến và phân biệt điểm đến với các đối thủ cạnh tranh tại cùng các thị trường mục tiêu

Như đã được đề cập trong giáo trình Marketing điểm đến du lịch của giảng viên Nguyễ Thị Thu Mai – Trường Đại học Mở Hà Nội: “Định vị chính là quá trình tạo ra và chuyển tải tới thị trường mục tiêu những khác biệt có ý nghĩa về sản phẩm của điểm đến nhằm chiếm được một vị trí thật đặc biệt trong tâm trí của du khách ở thị trường mục tiêu”

Trang 23

Theo đó, quy trình định vị bao gồm những bước khác nhau được thực hiện để theo kịp với những thay đổi của môi trường trong đó nhưng thay đổi về nhu cầu của khách hàng, chiến thuật của đối thủ cạnh tranh là những vấn đề đáng quan tâm nhất Quy trình định vị gồm

ba bước cơ bản:

 Đánh giá vị trí hiện tại: Điểm đến cần đánh giá quan điểm hiện tại của thị trường mục tiêu về điểm đến cũng như về các điểm đến cạnh tranh Vì vậy, cần nghên cứu quan điểm hiện tại của du khách cũng như nhu cầu và mong muốn của họ Những tiêu chuẩn du khách đặt ra khi lựa chọn điểm đến sẽ được thể hiện trên sơ đồ định

vị Từ đó, điểm đến có thể xác định chính xác vị trí của nó cũng như vị trí của các đối thủ cạnh tranh dưới quan điểm của du khách

 Lựa chọn vị trí mong muốn: Trên cơ sở xác định vị thế của điểm đến so với các đối thủ cạnh tranh tại thị trường mục tiêu, điểm đến có thể giữ vị trí hiện tại hay lựa chọn một vị trí mới có ưu thế hơn

 Xây dựng tuyên bố về vị thế: Trong bước này, tổ chức quản lý nhà nước về du lịch phải thực hiện là xây dựng tuyên bố vị thế cho điểm đến Tuyên bố này sẽ vạch ra

ý tưởng minh họa cho điểm đến Theo Richardson và Fluker, có hai yếu tố cần quan tâm khi xây dựng tuyên bố vị thế [213, 10]: Một là, quan niệm của du khách

về lợi ích mà họ có được khi tới điểm đến bởi vì lợi ích chính là động cơ thúc đẩy

du khách quyết định mua Các thông điệp xúc tiến sẽ chỉ rõ lợi ích cho khách du lịch tiềm năng và tạo ra niềm tin vào lợi ích tốt nhất do điểm đến mang lại Hai là, tạo ra sự khác biệt với các điểm đến cạnh tranh, điểm đến phải là duy nhất Đồng thời sự khác biệt phả được du khách đặc biệt quan tâm vì có thể đáp ứng được nhu cầu và mong muốn của họ tốt hơn so với điểm đến cạnh tranh

Theo đó, để khắc họa hình ảnh của mình ở vị trí đã lựa chọn, tổ chức du lịch tại điểm đến phải sử dụng chiến lược thông tin để chuyển tải sự nhận dạng và hình ảnh đó tới khách du lịch Tổ chức du lịch tại điểm đến sử dụng một số phương pháp định vị như:

 Định vị bằng giá trị giá cả

Trang 24

 Định vị dựa trên lý do khách tới điểm đến

 Định vị dựa trên du khách

 Định vị dựa trên loại sản phẩm

 Định vị dựa trên đối thủ cạnh tranh

Bên cạnh đó, trong định vị tâm lý, có hai phương pháp định vị mà điểm đến có thể sử dụng, đó là định vị khách quan và định vị chủ quan

 Định vị khách quan: Định vị khách quan nhằm tạo ra hình ảnh về điểm đến trong

đó phản ánh được đặc điểm vật chất và chức năng của nó

 Định vị chủ quan: Định vị chủ quan nhằm tạo ra hình ảnh trong suy nghĩ của khách hàng dựa trên những thuộc tính chủ quan của điểm đến như: những trải nghiệm văn hóa, sự mạo hiểm, khám phá và giải trí…

Một cách thức phổ biến khi thực hiện chiến lược định vị là xây dựng và chuyển tải một thương hiệu hiệu quả cho điểm đến Thương hiệu là một hỗn hợp mang lại cho khách hàng những lợi ích chức năng hay hiệu suất và cả những lợi ích cảm xúc, trong đó những lợi ích cảm xúc khó bị các đối thủ cạnh tranh bắt chước hơn Ví dụ, New Zealland xây dựng thương hiệu là 100% tinh khiết New Zealland

Trang 25

“Quan điểm thứ nhất: Người ta xem xét mối quan hệ giữa các cơ sở cung ứng sản phẩm cho khách du lịch trong quá trình đi du lịch

Có thể thấy rằng: “Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm đặc biệt do nhiều loại dịch vụ

và hàng hóa hợp thành với mục đích cơ bản là thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ của khách du lịch trong quá trình đi du lịch”

Quan điểm thứ hai: Tài nguyên và sản phẩm du lịch

 Tài nguyên đó phải có tính hấp dẫn và sức thu hút khách du lịch Các nhà nghiên cứu về du lịch cho rằng tất cả các hiện tượng, sự vật, sự kiện của tự nhiên và xã hội

có sức hấp dẫn và sức thu hút đối với khách du lịch được các nhà kinh doanh du lịch giới thiệu cho khách nhằm đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội cao, đó chính là tài nguyên du lịch Để tạo ra tính hấp dẫn và sức thu hút khách, ngoài các yếu tố tự nhiên, điều quan trọng phải đầu tư trí tuệ và sức sáng tạo của con người

 Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch: Nói đến cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch người ta thường nghĩ đến khách sạn, nhà hàng, quán bar, cơ sở tham quan, nơi mua sắm, nơi giải trí tất cả những cơ sở này phải đồng bộ với mục tiêu thỏa mãn đầy đủ nhất các nhu cầu của khách, đồng thời kéo dài thời gian lưu lại của họ Đó là nguyên lý chung nhưng để đảm bảo cho sự phát triển du lịch toàn diện và có hiệu quả cao người ta thường phân định ra 2 loại: điểm đến du lịch

và điểm tham quan du lịch hay chính là một loại điểm đến du lịch với quy mô là một địa điểm cụ thể Đối với điểm đến du lịch, cần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ Tại điểm tham quan du lịch không cần xây dựng các khách sạn, cơ

sở lưu trú cho khách mà chủ yếu tập trung vào việc xây dựng cơ sở vật chất đón tiếp và phục vụ khách tham quan, các cơ sở ăn uống, bán hàng, đặc biệt là hàng lưu niệm, giải trí nhằm tạo ra sự trải nghiệm và cảm xúc mạnh đối với khách Vấn đề này liên quan mật thiết đến xây dựng các chương trình du lịch (tour) của các doanh nghiệp lữ hành

Trang 26

Quan điểm thứ ba: Theo quan điểm thị trường, bất kỳ sản phẩm du lịch nào cũng được tạo thành từ ba yếu tố:

 Thứ nhất, đó là sự trải nghiệm của khách du lịch sau khi thực hiện chuyến đi du lịch Sự trải nghiệm của khách thông qua việc trực tiếp tham gia vào các hoạt động trong du lịch từ: đi lại, ăn, ở, tham quan, vui chơi giải trí, mua sắm hàng hóa và đồ lưu niệm, các hoạt động của cộng đồng, sự an toàn Sự trải nghiệm này phụ thuộc vào từng đối tượng khách khác nhau do trình độ nhận thức khác nhau Từ những trải nghiệm này sẽ đem lại cho khách những cảm xúc nhất định

 Thứ hai, cảm xúc của khách du lịch đối với con người, văn hóa và lịch sử tại điểm đến du lịch và điểm tham quan du lịch Những cảm xúc tốt đẹp sẽ tạo ra ấn tượng không thể quên đối với khách và ngược lại cũng vậy

 Thứ ba, đó là vật chất như: cơ sở hạ tầng, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở lưu trú, ăn uống…phục vụ khách du lịch

Theo cách hiểu trên, sản phẩm du lịch trước hết thỏa mãn nhu cầu về tinh thần cho con người sau đó mới là nhu cầu về vật chất Vì thế, đòi hỏi những người hoạt động trong lĩnh vực du lịch phải có trí tuệ cao và sức sáng tạo lớn để nắm bắt được nhu cầu du lịch đa dạng của mọi người Mặt khác, cộng đồng dân cư địa phương nơi đón khách với điểm đến

du lịch quy mô như đất nước, thành phố và nguồn nhân lực lao động trong điểm đến du lịch với quy mô một địa điểm cụ thể (còn gọi là điểm tham quan du lịch) phải làm sao tạo

ra những ấn tượng sâu sắc trong tâm trí khách về sự hiếu khách, về bản sắc của cộng đồng, về đặc tính văn hóa và phong tục tập quán của địa phương để họ nhớ mãi và lưu truyền cho bạn bè cũng như người thân của họ

Xét trên giác độ kinh tế

Khi sản phẩm đưa ra thị trường để bán thì nó trở thành hàng hóa và có thể nói đây là hàng hóa đặc biệt Nó cũng có thuộc tính chung của hàng hóa, nghĩa là có giá trị và giá trị sử dụng:

Trang 27

 Giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch là nó thỏa mãn nhu cầu có tính chất đa dạng của khách du lịch trong quá trình đi du lịch, trong đó có những nhu cầu về sinh lý như: ăn, uống, ở, đi lại, có những nhu cầu về tinh thần: tham quan, tìm hiểu, mở rộng nhận thức, tăng cường giao lưu, được tôn trọng Chính vì vậy, giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch có tính đa chức năng Sản phẩm du lịch là sự kết hợp của những sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần và dịch vụ nên giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch cũng trìu tượng, vô hình và chỉ có thể thông qua khách du lịch để đánh giá, đo lường giá trịsử dụng của sản phẩm du lịch

 Về giá trị của sản phẩm du lịch - là sự kết tinh lao động phổ biến của con người, là kết quả tiêu hao sức lực, trí tuệ của con người Giá trị của sản phẩm du lịch có thể chia làm 3 nội dung: giá trị của sản phẩm vật chất, giá trị của dịch vụ và giá trị của sức thu hút khách Giá trị của sản phẩm vật chất có thể dùng thời gian lao động tất yếu của xã hội để đánh giá Giá trị của dịch vụ được quyết định bởi trang thiết bị, lực lượng lao động với tay nghề, kỹ năng chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và tố chất văn hóa , những yếu tố này rất khác nhau nên khó xác định giá trị của nó Giá trị của sức thu hút khách là một khái niệm trừu tượng, nhưng lại là một trong những nội dung quan trọng của sản phẩm du lịch, vì thế nó cũng rất khó xác định Thông qua việc phân tích sản phẩm du lịch trêncác mặt khác nhau có thể thấy việc thống nhất nhận thức về sản phẩm du lịch là khó khăn, nhưng đối với những người làm kinh doanh du lịch cần phải suy nghĩ để không ngừng hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm của mình nhằm cạnh tranh được khách trên thị trường trong nước và quốc tế Điều rất cơ bản để đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch cần phải đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch một cách thường xuyên và liên tục”

Sản phẩm du lịch là một yếu tố tạo nên khả năng thu hút khách du lịch rất tốt Sản phẩm

du lịch là thứ mà khách du lịch được trải nghiệm tại một điểm đến du lịch Đó có thể là sản phẩm hữu hình hoặc sản phẩm vô hình và tất cả những trải nghiệm của du khách tại điểm đến du lịch là những yếu tố cấu thành nên những sản phẩm của điểm đến du lịch

Trang 28

b) Chiến lược sản phẩm du lịch

Chiến lược sản phẩm du lịch bao gồm: dòng/nhóm sản phẩm và mục sản phẩm

Theo Marketing điểm đến du lịch của giảng viên Nguyễn Thị Thu Mai – Trường Đại học

Mở Hà Nội thì việc thiết lập hỗn hợp sản phẩm đặc biệt có ý nghĩa đối với điểm đến trong quá trình tạo ra các sản phẩm du lịch mới bởi đây chính là danh mục liệt kê tất cả các đơn

vị cấu thành sản phâm du lịch sẵn có tại một thời điểm đến Trong khi triển khai chiến lược sản phẩm, quản lý sản phẩm hiện tại và phát triển sản phẩm mới là hai nhiệm vụ chính mà điểm đến phải thực hiện

Vì không phải tất cả các sản phẩm đều có tầm quan trọng như nhau nên các điểm đến cần thiết lập các thự tự ưu tiên theo tầm quan trọng của mỗi sản phẩm du lịch Việc quản lý những sản phẩm hiện tại đòi hỏi các tổ chức du lịch phải xem xét toàn bộ khả năng hoạt động của các sản phẩm Theo đó, điểm đến thường trải qua hai bước, đó là:

 Phát triển một chiến lược danh mục sản phẩm để đưa ra quyết định đối với những sản phẩm hiện tại

 Triển khai một chiến lược mở rộng thị trường sản phẩm để quyết định sẽ tập trung vào những sản phẩm và thị trường mới nào trong tương lai [2, 109] Bên cạnh đó, việc phát triển sản phẩm mới đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của điểm đến du lịch trước những biến động của môi trường Việc tạo ra những sản phẩm du lịch rất cần thiết cho sự tồn tại lâu dài của điểm du lịch bởi các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô luôn thay đổi, sự cạnh tranh và các lực lượng thị trường khác cũng thay đổi

Khi quyết định phát triển sản phẩm mới, điểm đến cần chú ý cân nhắc một số tiêu chí sau:

 Có một nhu cầu có ý nghĩa từ ít nhất một phân đoạn thị trường quan trọng với khả năng kinh doanh thêm ở các phân đoạn khác của thị trường

 Những sản phẩm mới phải phù hợp với hình ảnh chung của vùng và bổ sung cho những sản phẩm hiện tại càng nhiều càng tốt

Trang 29

 Khả năng sẵn có của nguồn tài nguyên và nguồn nhân lực của vùng cần được xem xét trước khi quyết định phát triển bất cứ một sản phẩm mới nào

 Vấn đề quan trọng là bất cứ một sản phẩm mới nào cũng phải đóng góp cho sự lớn mạnh của cả điểm đến chứ không chỉ mang lại lợi ích cho các nhà đầu tư trong lĩnh vực này

1.5.2.3 Giá

Theo lý thuyết đã được đề cập trong giáo trình Marketing điểm đến du lịch của giảng viên Nguyễn Thị Thu Mai – khoa Du lịch – Trường Đại học Mở Hà Nội: “Giá cả là phần được thanh toán bằng tiền cho một sản phẩm hoặc dịch vụ và giá có ảnh hưởng lớn đến mức cầu Các tổ chức quản lý nhà nước về du lịch cũng có thể giúp tất cả các đơn vị trong ngành trong việc quyết định cách thức định giá, định vị sản phẩm của các đơn vị này và nhắm đến mức giá thống nhất trong toàn điểm đến Mức giá khả thi cho các sản phẩm du lịch ở điểm đến luôn phải đáp ứng tiêu chuẩn về mặt lợi nhuận của điểm đến và nằm trong khả năng chi trả của du khách

Trong hoạt động du lịch, giá của các cơ sở lưu trú, giải trí, đồ ăn uống,…không chỉ là chi phí mà du khách phải trả mà khi xây dựng một chiến lược định giá, bên cạnh mối quan hệ giữa giá cả và chất lượng, một điểm đến cần phải xem xét những yếu tố như: giá thực tế của phương tiện du lịch trong vùng, chi phí về thời gian và những phiền toái của du khách bởi việc tiếp cận điểm đến từ một khoảng cách xa, tâm trạng lo lắng hay bối rối mà khách

du lịch cảm nhận để xác định được mức giá hợp lý cho sản phẩm” [2, 114]

a) Khả năng thu hút khách du lịch của yếu tố giá

Có thể dễ dàng nhìn nhận rằng, phần lớn trong tâm lý của du khách đều rất dễ dàng bị thu hút bởi những sản phẩm có giá tốt Trước tiên, giá cũng là một trong những yếu tố đầu tiên mà khách du lịch được tiếp nhận từ một sản phẩm du lịch, nên đây là một yếu tố quan trọng khiến một du khách ghi nhận về sản phẩm đó, từ đó họ sẽ có những nhu cầu tiếp theo nhằm tìm hiểu kĩ hơn về sản phẩm du lịch đó

Trang 30

Như vây, giá cả là một vấn đề quan trọng trong cạnh tranh của điểm đến với các điểm đến khác Giá cả bao gồm các yếu tố liên quan đến chi phí vận chuyển đến và đi từ các điểm đến và các chi phí khác như: khách sạn, ăn, uống, vé các điểm tham quan, giá của du lịch dịch vụ khác Điều này quyết định đến sự thu hút khách và khách sẽ có sự so sánh về giá

cả giữa các điểm đến du lịch trước khi họ quyết định đi du lịch

b) Xác định các mục tiêu định giá

Có nhiều mục tiêu định giá có thể được triển khai trog phạm vi một điểm đến du lịch, bào gồm:

 Tối đa hóa lợi nhuận

 Tối đa hóa số lượng khách

 Trang trải đủ chi phí

1.5.2.4 Khả năng tiếp cận

Một điểm đến du lịch có thể có sức hấp dẫn đối với khách du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được vì việc tiếp cận điểm đến đó hết sức khó khăn Vấn đề tiếp cận điểm đến

du lịch thuận lợi phụ thuộc vào những yếu tố sau:

 Khoảng cách giữa điểm đến du lịch và nguồn khách (hay giữa điểm đi và điểm đến) là một trong những yếu tố về khả năng tiếp cận Điều này chỉ thuận lợi khi có mạng lưới các phương tiện giao thông vận chuyển khách đa dạng, thuận tiện, dễ dàng, an toàn và nhanh chóng Đó là mạng lưới của các hãng hàng không, mạng lưới đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường biển

 Đối với khách du lịch quốc tế, đó là việc đơn giản hóa các thủ tục từ thị thực xuất nhập cảnh đến các thủ tục hộ chiếu hải quan tại các cửa khẩu quốc tế Tất cả những thủ tục hành chính này sẽ tạo ra những ấn tượng đầu tiên đối với khách và họ sẽ có những cảm nhận về điểm đến du lịch

Trang 31

Đối với một điểm đến du lịch là một địa điểm cụ thể hay còn gọi là điểm tham quan du lịch thì khả năng tiếp cận ở đây chính là vị trí của điểm đến đó Điểm tham quan đó có vị trí gần, tiếp cận dễ dàng với các điểm tham quan nổi tiếng khác trong khu vực, hoặc trong tuyến tham quan các điểm tham quan nổi tiếng của vùng thì điểm tham quan đó nằm trên tuyến tham quan đó Chính vì vậy, du khách dễ dàng tiếp cận với nơi đó

1.5.2.5 Con người

Con người là một yếu tố đặc biệt có khả năng thu hút khách tai điểm đến du lịch Một điểm đến du lịch có thể sở hữu những sản phẩm du lịch không quá nổi trội nhưng yếu tố con người tại điểm đến đó lại để lại dấu ấn tốt đẹp trong long khách du lịch thì một điều

dễ dàng nhận thấy đó là khách du lịch sẽ quay lại nơi đó, sẽ đánh giá điểm đến đó đặc biệt hơn những điểm đến khác

Nguồn nhân lực phục vụ du lịch tại điểm đến du lịch đóng một vai trò quyết định cho sự phát triển Hoạt động du lịch chủ yếu là dịch vụ, dịch vụ phụ thuộc vào yếu tố con người không những trực tiếp phục vụ khách mà cả những người gián tiếp phục vụ cũng như cộng đồng dân cư tại điểm đến

Những người trực tiếp phục vụ khách, đó là nhân viên trong các doanh nghiệp du lịch (doanh nghiệp lữ hành, khách sạn, nhà hàng, hướng dẫn viên du lịch, thuyết minh viên tại các điểm tham quan, lái các phương tiện phục vụ khách…) Họ là những người trực tiếp chịu trách nhiệm phục vụ khách từ lúc họ đến cho đến khi họ đi Ấn tượng của họ về sự phục vụ của các nhân viên là rất lớn, họ đòi hỏi một sự nhiệt tình với công việc và trách nhiệm của nhân viên đối với khách từ những công việc và hành động nhỏ nhất Nếu như nhân viên làm tốt sẽ tạo ra một ấn tượng sâu sắc cho khách và đây sẽ là một hình thức tuyên truyền và quảng cáo hiệu quả nhất

Những nhân viên trong các cơ sở như: bán hàng lưu niệm, các cơ sở dịch vụ vừa phục vụ cộng đồng dân cư vừa phục vụ khách du lịch… Họ là những người gián tiếp phục vụ khách du lịch, những hành động không tốt của họ như nói thách, bán hàng giả, lấy giá

Trang 32

cao…sẽ đem lại một ấn tượng, cảm xúc không tốt không chỉ với họ mà cả điểm đến du lịch và địa phương, đất nước

Khách du lịch đến điểm đến du lịch sẽ tìm hiểu về phong tục tập quán, nếp sinh hoạt của cộng đồng dân cư Thái độ ứng xử của cộng đồng dân cư đối với khách du lịch là một trong những vấn đề tác động mạnh đến ấn tượng và cảm xúc của khách Một cộng đồng dân cư hiếu khách, tôn trọng khách, nhiệt tình với khách sẽ đem lại danh tiếng không chỉ cho địa phương mà cho cả điểm đến du lịch

1.5.3 Phương pháp đo lường mức độ thu hút của điểm đến du lịch

Để đánh giá mức độ thu hút của các điểm đến du lịch, người ta thường sử dụng hai phương pháp cơ bản, đó là đánh giá theo các chỉ tiêu định lượng và theo các chỉ tiêu định tính

Theo định lượng Có thể đánh giá sự hấp dẫn của điểm đến du lịch đó dựa vào các chỉ tiêu

cơ bán như:

 Số lượng khách đến tham quan du lịch tại điểm đến (trong đó bao gồm khách du lịch quốc tế, khách du lịch nội địa và khách tham quan)

 Số ngày khách du lịch lưu lại tại điểm đến

 Mức chi tiêu của khách du lịch tại điểm đến

 Mức chi tiêu của một ngày/khách tại điểm đến

 Số lượng các loại dịch vụ có tại điểm đến

 Số lượng cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch tại điểm đến - Doanh thu từ hoạt động du lịch (bao gồm doanh thu trực tiếp và doanh thu gián tiếp từ hoạt động du lịch)

Khách du lịch đến ngày càng đông, doanh thu ngày càng lớn, mức chi tiêu của du khách cao và khách lưu lại điểm du lịch dài thì có nghĩa là điểm du lịch đó hấp dẫn

Trang 33

Theo định tính: Đánh giá điểm du lịch có hấp dẫn hay không hấp dẫn còn phụ thuộc vào các yếu tố định tính, đó là:

 Mức độ hài lòng hay không hài lòng của khách

 Sự trung thành của khách (khách quay trở lại điểm đến du lịch)

Sự hài lòng của khách hàng là sự tác động tổng hòa của các nhân tố như: hình ảnh về điểm đến, giá trị cảm nhận về chất lượng cả sản phẩm hữu hình và vô hình được trải nghiệm và tiêu dùng tại điểm đến, lòng hiếu khách và thái độ ứng xử của cộng đồng dân

cư Vì thế, việc nghiên cứu sự hài lòng của khách du lịch sẽ biết được sự trung thành của khách đối với điểm đến du lịch hoặc một quốc gia Họ có thể trở lại điểm đến du lịch hàng năm hoặc 2-3 lần trong một năm

1.5.4 Hoạt động quảng bá và xúc tiến nhằm nâng cao khả năng thu hút khách du

a) Quảng cáo

Quảng cáo là bất cứ hình thức xúc tiến nào đối với các ý tưởng, sản phẩm hay dịch vụ nào

đó được trả tiền trước bởi một người bảo trợ nhất định Trong du lịch, quảng cáo có thể là một công cụ có hiệu quả chi phí cao vì nó có thể tiếp cận một thị trường mục tiêu rộng lớn với chi phí thấp, tính trên đầu người

b) Bán hàng khuyến mại

Trang 34

Bán hàng khuyến mại là sử dụng những khích lệ ngắn hạn để khuyến khích người mua mua một sản phẩm hay dịch vụ

c) Quan hệ công chúng

Quan hệ công chúng là những nỗ lực xây dựng mối quan hệ tốt với các thị trường mục tiêu bằng cách tạo ra uy tín và xây dựng được hình ảnh tốt trước công chúng, với các cơ quan truyền thông Các công cụ chính bao gồm: báo chí, chương trình du lịch làm quen, giao tiếp đoàn thể và vận động hành lang

 Quan hệ báo chí và công chúng: Các tổ chức du lịch cố gắng truyền tải các thông điệp về điểm đến của họ thông qua các tổ chức truyền thông địa phương và quốc

tế Các công cụ bao gồm thông cáo báo chí, được chuyển đến các hãng tin

 Chương trình du lịch làm quen: có sự liên quan chặt chẽ đến các cơ quan báo chí, chương trình du lịch làm quen là hình thức tổ chức và triển khai các chương trình

du lịch giới thiệu về điểm đến cho các phóng viên, nhà báo hay đại diện các cơ quan báo chí Những chương trình du lịch này thường do các tổ chức du lịch vùng

và nhà nước phối hợp chi trả Chúng tạo ra cơ hội trải nghiệm trực tiếp cho giới truyền thông và khuyến khích họ viết bài hoặc làm các chương trình truyền hình về điểm đến

 Giao tế hợp tác: bao gồm các hoạt động bên trong và bên ngoài tổ chức hay điểm đến nhằm xây dựng hình ảnh cho tổ chức hay điểm đến đó

 Vận động hành lang: bao gồm các hoạt động của các tổ chức du lịch hay tổ chức

du lịch đứng đầu với nỗ lực gây ảnh hưởng đến các quyết định chính trị và chính sách

d) Những công cụ khác

Những công cụ xúc tiến và hình ảnh khác không phải lúc nào cũng nằm trong tầm kiểm soát trực tiếp của tổ chức du lịch vùng và có thể ảnh hưởng đến cảm nhận về điểm đến như những bộ phim, hình ảnh trên truyền hình,… Hỗn hợp xúc tiến bán của một điểm đến

Trang 35

thường được hỗ trợ bởi các tư liệu quảng bá dưới rất nhiều dạng như in ấn hay nghe nhìn Các phương tiện in ấn như các tờ gấp, áp phích, bản đồ,… thường được phân phối đến các đại lý lữ hành và du khách

1.6 Tiểu kết chương 1

Chương 1 đã đề cập đến cơ sở lý luận về hoạt động thu hút khách du lịch tại một điểm đến du lịch Theo đó, các khái niệm liên quan đã được nếu ra như du lịch, điểm đến du lịch, khách du lịch, kinh doanh du lịch và khả năng thu hút khách du lịch của điểm đến du lịch

Với tầm quan trọng và vai trò của du lịch, Nhà nước và các nhà quản lý về du lịch để hiểu

rõ được tầm quan trọng của việc quy hoạch, tổ chức không gian du lịch từ đó xây dựng và phát triển những điểm đến du lịch, những điểm đến du lịch có những quy mô khác nhau nhưng dù ở dưới quy mô nào thì những yếu tố cơ bản của điểm đến du lịch về cơ bản là

có bản chất như nhau, đó cũng chính là những yếu tố có khả năng thu hút khách du lịch cho điểm đến Qua việc tìm hiểu, phân tích về những yếu tố tạo nên khả năng thu hút khách du lịch đó kết hợp sử dụng những phương đo lường mức độ thu hút của điểm đến

du lịch giúp nhìn nhận thực trạng điểm đến và đưa ra những giải pháp hiệu quả nhằm mục đích thu hút khách du lịch tại điểm đến

Trong chương 1 đã đề cập đến năm mục nữa về những khái niệm, đặc điểm của những thuật ngữ trong du lịch, trong đó quan trọng chính là khả năng thu hút khách du lịch của điểm đến du lịch Đó là phần lý luận quan trọng được áp dụng để phân tích thực trạng khả năng thu hút khách du lịch tại Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội

Trang 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH TẠI

TRUNG TÂM GIAO LƯU VĂN HÓA PHỐ CỔ HÀ NỘI 2.1 Giới thiệu về Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội hiện nằm ở số 50 phố Đào Duy Từ trước đây vốn là một rạp hát Tuồng có tên là Sán Nhân Đài, sau đó được đổi tên là Lạc Việt rồi Hiệp Thành Rạp này được xây dựng vào khoảng những năm đầu thế kỉ XX Rạp hát nổi tiếng với các vở diễn chèo, tuồng cổ vào thập kỉ 1920-1930 Sán Nhân Đài là nơi ông trùm Nghị (tức Nguyễn Đình Nghị, 1883-1954) từng thực hiện nhiều cải tổ lớn, góp phần đưa chèo từ đình ra mặt phố, từ sân đình lên sân khấu Các tên tuổi như Nguyễn Kim Phụng, Ba Tuyên, Thanh Nhã,… với những vở chèo cải lương ra mắt từ nửa đầu những năm 1930 đã kịp thời cứu vãn một trong các bộ môn nghệ thuật dân tộc đang dần bị giới trẻ lãng quên Sau năm 1954, rạp hát không còn hoạt động và trở thành nơi ăn chốn ở cho nhiều gia đình nghệ sĩ Tuy nhiên, năm 1989 phố Đào Duy Từ xảy ra một vụ hỏa hoạn lớn

và rạp hát cũng bị phá hủy gần hết trong vụ hỏa hoạn Điều này khiến yêu cầu phải bảo tồn di tích và đảm bảo an toàn cho người dân ngày trở nên bức thiết

Với các nỗ lực của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội và chính quyền quận Hoàn Kiếm cũng như được sự đồng thuận của các gia đình, năm 2012, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đã di chuyển các hộ gia đình đến định cư tại nơi ở mới Tháng 2 năm 2013, Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội với mục tiêu quảng bá các giá trị di sản chính thức được khởi động bằng nguồn vốn ngân sách Công trình nhận được sự hỗ trợ về kỹ thuật, đặc biệt là khu trưng bày lịch sử phố cổ tại tầng 2 bởi các chuyên gia đến từ Toulouse (Pháp) Công trình được hoàn thành và đi vào hoạt động từ ngày 3 tháng 2 năm 2015, sau hai năm xây dựng và được vinh dự gắn biển là công trình chảo mừng 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam Mặc dù không phục dựng được nguyên trạng rạp hát Sán Nhân Đài nhưng lối kiến trúc được sử dụng để xây dựng Trung tâm được coi là mô phỏng lại hình dáng nhà ống trong Phố cổ Hà Nội và bức tường duy nhất còn sót lại từ rạp hát cũ vẫn được bảo tồn và gắn liền với kiến trúc chung để trở thành một phần tường ngoài của

Trang 37

tòa nhà Sau khi khánh thành, Uỷ ban nhân dân Quận Hoàn Kiếm giao cho Ban Quản lý Phố cổ Hà Nội quản lý

Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội được giao nhiệm vụ giới thiệu, quảng bá về lịch sử, giá trị di sản khu Phố cổ, đồng thời là nơi tổ chức gặp gỡ, trao đổi giữa các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, người dân Đây cũng là nơi giao lưu văn hóa, giới thiệu các loại hình nghệ thuật truyền thống, nghề truyền thống của Hà Nội tới du khách trong và ngoài nước khi tới thăm Phố cổ Hà Nội

Để thực hiện nhiệm vụ chính trị trên Trung tâm được thiết kế gồm ba tầng và một tầng bán hầm:

 Tầng hầm: được bố trí là nơi trưng bày các dự án trùng tu, bảo tồn các di sản vật thể trong khu phố cổ Hà Nội

 Tầng 1: là nơi tổ chức các triển lãm theo chuyên đề

 Tầng 2: là nơi tổ chức triển lãm cố định, giới thiệu lịch sử hình thành, phát triển của khu phố cổ Hà Nội

 Tầng 3: là nơi tổ chức hội thảo, giao lưu biểu diễn nghệ thuật trong và ngoài nước

2.1.2 Những yếu tố tạo nên khả năng thu hút khách du lịch tại Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội

2.1.2.1 Hình ảnh

Với nhiệm vụ chính được giao đó là:

 Giới thiệu, quảng bá về lịch sử, giá trị di sản khu phố cổ

 Là nơi tổ chức gặp gỡ, trao đổi giữa các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, người dân

 Là nơi giao lưu văn hóa, giới thiệu các loại hình nghệ thuật truyền thống, nghề truyền thống của Hà Nội tới du khách trong và ngoài nước khi tới thăm phố cổ Hà Nội

Trang 38

Trung tâm xây dựng hình ảnh nhằm truyền tải những đặc điểm này cho khách du lịch trong và ngoài nước Đây đều là những đặc điểm đặc biệt nhất của Trung tâm, giúp khách

du lịch có thể phân biệt rõ ràng Trung tâm giao lưu văn hóa phố cổ Hà Nội với bất kì điểm đến nào trong phố cổ Hà Nội nói riêng và thủ đô Hà Nội nói chung Bên cạnh đó, nhiệm vụ mà Trung tâm được đảm nhận chính là những nhu cầu du lịch của phần lớn khách du lịch tới thăm phố cổ Hà Nội nói riêng và Hà Nội nói chung

Chính vì vậy, có thể thấy rõ rằng, một khi công tác xây dựng và quảng bá hình ảnh được thực hiện một cách hiệu quả thì Trung tâm có thể thu hút được lượng khách như mong đợi

2.1.2.2 Sản phẩm

Như đã đề cập ở phần lịch sử hình thành và phát triển của Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội, để thực hiện nhiệm vụ được giao thì Trung tâm được thiết kế theo ba tầng

và một tầng bán hầm, mỗi tầng thực hiện một chức năng riêng

Với tầng bán hầm, những sản phẩm được trưng bày trong đó đều là những dự án trùng tu, bảo tồn các di sản vật thể trong khu phố cổ Khách du lịch đến đây sẽ hiểu thêm được về các dự án, nỗ lực trùng tu và bảo tồn di sản của Ban Quản lý phố cổ Hà Nội qua những

mô hình chân thực nhất

Với tầng 1, chính là nơi sẽ trừng bày những triển lãm theo chuyên đề, những triển lãm được trưng bày chủ yếu liên quan đến những nét đẹp của Hà Nội hay những nghề truyền thống của khu Phố cổ Hà Nội

Với tầng 2, nơi trưng bày, chứa đựng những tài liệu quý giá về lịch sử hình thành của Hà Nội, Phố cổ Hà Nội, được thể hiện qua tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp nhằm phục vụ tốt nhất đến du khách Triển lãm cố định ở đây chính là Hà Nội cùng với thành phố Toulouse (Pháp) xây dựng lại cả một tiển lãm giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển phố cổ Hà Nội Ngoài ra, còn có những bản dẫn đơn giản dành cho trẻ em và học sinh để có thể dễ dàng hiểu được

Trang 39

Với tầng 3, là phòng đa năng, có thể được tổ chức tọa đàm chuyên môn hoặc biểu diễn nghệ thuật truyền thống mà đất nước đang muốn gìn giữ

2.1.2.3 Giá

Có thể nói, Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội là nơi được xây dựng với mục đích lưu giữ, tái hiện và quảng bá nét đẹp văn hóa của Phố cổ Hà Nội tới khách du lịch trong và ngoài nước, kết hợp với giao lưu văn hóa tong và ngoài nước chứ không với một mục đích kinh tế nào

Khách du lịch có thể tự do tham quan Trung tâm mà không cần chi trả cho bất kì một khoản phí nào

2.1.2.4 Khả năng tiếp cận

Trung tâm giao lưu văn hóa phố cổ Hà Nội được xây dựng chính trên vị trí của rạp hát Sán Nhân Đài trước đây, nằm trong khu vực phố cổ Hà Nội là một lợi thế rất mạnh của Trung tâm Trên thực tế, cũng chính vì nằm trong khu phố cổ Hà Nội và trước đây nơi đây lại chính là một rạp hát lớn từng thu hút nhiều người dân đến đây thưởng thức âm nhạc truyền thống nên quyết định xây dựng một Trung tâm giao lưu văn hóa phố cổ Hà Nội tại vị trí đã được phê duyệt

Vị trí của Trung tâm là rất thuận lợi để tiếp cận những điểm di tích nổi tiếng khác trong phố cổ Hà Nội Bên cạnh đó, từ Trung tâm hoàn toàn có thể dễ dàng tiếp cận được với hồ Hoàn Kiếm – nơi được coi là “trái tim” của thủ đô Hà Nội, nơi thu hút đông đảo khách du lịch, và trái lại, khách du lịch tới hồ Hoàn Kiếm cũng dễ dàng để đến với phố cổ Hà Nội

và đặc biệt là Trung tâm giao lưu văn hóa phố cổ Hà Nội

Điểm đặc biệt nữa của Trung tâm khác với những bảo tàng khác đó là thời gian mở của đón khách của Trung tâm Vào những ngày cuối tuần thứ sáu, thứ bảy và chủ nhật, Trung tâm sẽ mở cửa đón khách cả buổi tối từ 19 giờ đến 22 giờ, đây cũng chính là những ngày

mà Hà Nội có tổ chức phố đi bộ - một trong những hoạt động thu hút nhiều khách du lịch

ở Hà Nội vào những ngày cuối tuần

Trang 40

Nhìn chung, những hiện vật, những dự án trùng tu hay những tài liệu được trưng bày đều

là những tài sản đáng trân trọng mà chỉ Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội là nơi duy nhất được lưu giữ Một điểm đáng chú ý nữa đó chính là, khác với những điểm khác trong Phố cổ Hà Nội, tại Trung tâm tháng nào cũng có sự kiện, kết hợp với những yếu tố tạo nên khả năng thu hút khách khác của Trung tâm, có thể nhận thấy được tiềm năng thu hút được nhiều khách du lịch và giúp du khách có cái nhìn chân thực nhất về nét đẹp của Phố cổ Hà Nội là rất lớn

2.2 Thực trạng về khả năng thu hút khách du lịch tại Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội

2.2.1 Hoạt động đã triển khai nhằm nâng cao khả năng thu hút khách du lịch của Trung tâm

2.2.1.1 Về xây dựng hình ảnh

Trong thời gian qua, Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội vẫn luôn nỗ lực xây dựng hình ảnh của Trung tâm nhằm xác lập được một vị trí đặc trưng, vững chắc cho điểm đến trong tâm trí của du khách Và để việc định vị có tính hiệu quả cao, Trung tâm

đã tập trung vào khả năng tăng cường phân biệt tính thực tế trừu tượng thông qua việc sử dụng những sản phẩm hữu hình

Cho đến nay, Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội đã và đang xây dựng hình ảnh của mình trong tâm trí khách du lịch trong và ngoài nước về một nơi quảng bá giá trị văn hóa Phố cổ, nơi giao lưu và quảng bá những nét đẹp văn hóa Phố cổ cùng với lịch sử hình thành và phát triển của Phố cổ Hà Nội, mang đậm nét một Hà Nội xưa, còn là nơi thực hiện việc lưu giữ và phát huy giá trị di sản lịch sử - văn hóa truyền thống của Thăng Long

- Hà Nội, đồng thời đáp ứng nhu cầu giới thiệu, quảng bá, văn hóa, đời sống tinh thần của nhân dân

2.2.1.2 Về sản phẩm

Với những nhiệm vụ chính đã được giao và gắn liền với hình ảnh hướng đến, Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội thường xuyên lập kế hoạch về những sản phẩm

Ngày đăng: 18/11/2020, 23:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w