1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dấu ấn văn hóa miền núi trong văn xuôi của đỗ bích thủy

107 21 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kể từ sau năm 1975 văn học viết về miền núi bước sang một trang mới, lúc này đã có sự xuất hiện những cây bút mang sức trẻ như: Vũ Xuân Tửu, Đỗ Bích Thúy, Sa Phong Ba, Cao Duy Sơn, Niê T

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẲNG

ĐINH THỊ THU HOÀI

DẤU ẤN VĂN HÓA MIỀN NÚI TRONG VĂN XUÔI CỦA ĐỖ BÍCH THÚY

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ HƯỜNG

Đà Nẵng, Năm 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẲNG

ĐINH THỊ THU HOÀI

DẤU ẤN VĂN HÓA MIỀN NÚI

TRONG VĂN XUÔI CỦA ĐỖ BÍCH THÚY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng, Năm 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Người cam đoan

ĐINH THỊ THU HOÀI

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 VĂN XUÔI ĐỖ BÍCH THUÝ - NHỮNG TRANG VIẾT VỀ NÚI RỪNG 13

1.1 Đỗ Bích Thúy – người con của núi 13

1.2 Mảnh đất Hà Giang- ngọn nguồn sáng tạo trong văn xuôi Đỗ Bích Thuý 16

1.3 Hành trình sáng tác của Đỗ Bích Thúy 22

CHƯƠNG 2 CẢM QUAN VỀ CON NGƯỜI VÀ VĂN HOÁ MIỀN NÚI TRONG VĂN XUÔI CỦA ĐỖ BÍCH THUÝ 29

2.1 Con người miền núi- một biểu hiện của văn hoá vùng cao 29

2.1.1 Vẻ đẹp văn hoá của con người miền núi 29

2.1.2 Con người số phận từ góc nhìn văn hoá 44

2.1.3 Con người chông chênh trước sự xâm thực của đời sống đô thị hoá 52 2.2 Văn hóa miền núi với những giá trị truyền thống 57

2.2.1 Lễ hội 58

2.2.2 Âm nhạc 65

2.2.3 Phong tục, tập quán 68

3.1 Nghệ thuật kể chuyện 75

3.1.1 Kể từ ngôi thứ nhất với điểm nhìn bên trong 75

3.1.2 Kể từ ngôi thứ ba với điểm nhìn toàn tri 78

3.1.3 Sự kết hợp các ngôi kể và sự di chuyển điểm nhìn 81

3.2 Kết cấu 83

3.2.1 Kết cấu tuyến tính 83

3.2.2 Kết cấu đảo tuyến 85

Trang 5

3.2.3 Kết cấu tâm lí 87

3.3 Ngôn ngữ 88

3.3.1 Ngôn ngữ người kể chuyện 88

3.3.2 Ngôn ngữ nhân vật 91

3.4 Giọng điệu 95

3.4.1 Giọng trữ tình 95

3.4.2 Giọng thương cảm 97

3.4.3 Giọng hài hước 99

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Miền núi với những đặc trưng về điều kiện tự nhiên, về đời sống

kinh tế- chính trị- văn hóa- xã hội và con người vẫn luôn là vùng đất lí tưởng cho văn chương nghệ thuật đào sâu, khai thác Bởi vốn dĩ nơi đây là một vùng đất với địa hình mang đặc trưng núi cao, vực sâu, tiềm ẩn trong mình những vẻ đẹp của phong tục tập quán ngàn đời, sẽ luôn là vùng đất mới với một sức hút rất lớn, mê hoặc tâm hồn những con người muốn tìm tòi, khám phá để thể hiện mình Lịch sử văn học Việt Nam từ rất sớm, đã ghi

nhận thành tựu của những cây bút như: Lan Khai, Nguyên Ngọc, Tô Hoài ,

Ma Văn Kháng… Đó là những cây bút đã dành rất nhiều tâm sức của mình để viết về đề tài miền núi Tiểu thuyết của Lan Khai đã góp công “khai phá, vạch lau rẽ cỏ cho cánh rừng già” Tiếp đó các nhà văn như Tô Hoài, Nguyên Ngọc… đã ngược lên miền cao và cho ra đời hàng loạt tác phẩm Ở họ đã làm nên những bước tiến đáng ghi nhận của văn xuôi viết về miền núi Mỗi tác phẩm là một phần lịch sử góp một phần không nhỏ trong việc tái hiện một cuộc sống vô cùng phong phú và đa dạng, vẽ nên một bức tranh muôn màu muôn sắc của đời sống vùng cao để lại dấu ấn qua các chặng đường văn học

Kể từ sau năm 1975 văn học viết về miền núi bước sang một trang mới, lúc này đã có sự xuất hiện những cây bút mang sức trẻ như: Vũ Xuân Tửu, Đỗ Bích Thúy, Sa Phong Ba, Cao Duy Sơn, Niê Thanh Mai, Linh Nga Niê Kdăm, Hlinh Niê, Phạm Duy Nghĩa Và thật vô cùng đáng mừng là trong số những nhà văn trẻ đó có cả những cây bút là người dân tộc thiểu số Thế hệ các nhà văn trẻ viết về đề tài miền núi hôm nay mang trong mình tấm lòng nhiệt huyết, họ tiếp tục kế thừa thế hệ trước trong việc khai thác những tư liệu ngay trên chính mảnh đất đó nhưng tiến hành mở rộng phạm vi phản ánh hiện

Trang 7

thực miền núi trong bước tiến của đời sống hiện đại Các sáng tác này đã dần được định hình và đã đạt được một số những thành tựu đáng kể Đã có nhiều tác phẩm đã đạt giá trị cao về cả nội dung tư tưởng lẫn nghệ thuật, được công chúng nhiệt liệt đón nhận Như vậy có thể khẳng định, văn xuôi về đề tài miền núi đã góp một phần không nhỏ trong việc đa dạng hoá đề tài, làm phong phú diện mạo văn học Việt Nam đương đại

1.2 Đỗ Bích Thúy là một trong những nhà văn đại diện cho sức trẻ của

miền núi Chị sinh ra và lớn lên trong thời đại mà nhịp sống đang hối hả quay cuồng Nơi mà cái mới với sức cuốn hút mãnh liệt của nó đã khiến cho một

bộ phận không nhỏ giới trẻ Việt Nam nói chung và miền núi nói riêng đã nhanh chóng quên đi cội nguồn lao vào sống gấp gáp để hưởng thụ Nhưng với Đỗ Bích Thúy, miền rẻo cao đá núi với đời sống khốn khó nhưng tiềm tàng trong lòng những giá trị văn hóa độc đáo vẫn luôn là tiếng gọi không ngừng thôi thúc trái tim chị sống và cống hiến Bằng tài năng và tâm huyết của mình, Đỗ Bích Thúy đã chắt chiu góp nhặt chuyện đời chuyện người đem đến với bạn đọc khá nhiều tác phẩm có giá trị cao cả về nội dung lẫn nghệ thuật sáng tác Đó là những trang viết chuyên chở ngôn ngữ dung dị, mạch văn thơ êm chảy chất chứa sâu thẳm bên trong những rung cảm chân thực về chính quê hương máu thịt của chị Ngôn ngữ của Đỗ Bích Thuý dẫu không gai góc, dữ dội nhưng ta nhanh chóng nhận ra tính cách dung dị, chân chất trong con người và nét văn hoá độc đáo của miền núi trên cái nền là cảnh sắc thiên nhiên hoang dã mà lộng lẫy tới nao lòng

Nếu như văn hóa là bản sắc, là sự kết tinh của lịch sử, tôn giáo, ngôn ngữ, phong tục tập quán thì con người chính là chủ thể sáng tạo ra văn hóa trong quá trình ứng xử với tự nhiên và xã hội Con người miền núi mang đậm trong mình những giá trị văn hóa với nét tính cách có tính truyền thống nổi bật của dân tộc quê hương mình, vẫn luôn là đề tài hấp dẫn thú vị Chính vì

Trang 8

vậy, tìm hiểu Dấu ấn văn hoá miền núi trong văn xuôi Đỗ Bích Thúy là

công việc có ý nghĩa trong việc khẳng định một tên tuổi đã cống hiến hết mình cho vùng núi cao phía Bắc tổ quốc Qua đó, chúng ta có cái nhìn rõ nét hơn, hiểu sâu sắc hơn về con người và văn hóa miền núi, tạo thuận lợi để tiếp cận và hiểu rõ hơn về một vùng văn học dân tộc

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những công trình, bài báo đề cập đến yếu tố văn hóa trong văn học về đề tài miền núi

Phạm Duy Nghĩa trong bài Cốt truyện trong văn xuôi dân tộc và miền

núi in trên tạp chí Văn nghệ quân đội số 11 năm 2008, đã khái quát rất rõ về

vấn đề cốt truyện trong văn xuôi viết về đề tài miền núi Qua đặc điểm về cốt truyện, ông đã không ngần ngại mà thẳng thắn chỉ ra những mặt còn hạn chế:

“Cốt truyện đơn nghĩa, không có những tầng nghĩa chìm và biểu tượng hai mặt, do đó hạn chế về chiều sâu và khả năng tạo sự tiếp nhận đa chiều” [23,

tr 55]; “Các nhân vật rõ ràng không có quy luật vận động tự thân, chỉ biết vận động theo số mệnh do tác giả định đoạt” Đề cập đến vấn đề cốt truyện và số phận con người miền núi tác giả đã chú trọng nhấn mạnh rằng tất cả đã được phản ánh khá đơn giản, sự phát triển tính cách của nhân vật không quá phức tạp mà chỉ đứng ở những phía hết sức rạch ròi thiện- ác, tốt- xấu Sau đó, ở

bài viết Diện mạo văn xuôi đương đại về dân tộc và miền núi của tác giả

Phạm Duy Nghĩa trên Tạp chí Văn nghệ quân đội cuối tháng 4 đầu tháng 5

năm 2010, các tác giả Đỗ Bích Thúy, Cao Duy Sơn, Bùi Thị Như Lan đã được đề cập đến như các thành viên trong hàng ngũ nhà văn đương đại Việt Nam Theo ông, các nhà văn viết về đề tài miền núi qua tác phẩm của họ đã xuất hiện những dấu hiệu băn khoăn lo ngại trước sự chuyển biến của miền núi đương đại Phạm Duy Nghĩa còn khẳng định: “Ngoài những vấn đề mang tính xã hội, một số tác phẩm đã đi vào khía cạnh đời tư con người” văn học

Trang 9

lúc này không chỉ đứng nhìn ngắm một vùng văn hóa lạ mà đã gắn bó mật thiết với cuộc sống đời thường, đí sâu vào những hạnh phúc, khổ đau, trăn trở dằn vặt của mỗi số phận cuộc đời riêng để đồng cảm, chia sẻ

Tác giả Đặng Văn Lung trong bài viết: Giữ gìn và phát triển văn nghệ

truyền thống của các dân tộc thiểu số Việt Nam (Tạp chí Văn học (9), tr

21-26) đã chỉ rõ thấy tầm quan trọng cuả nền văn hóa các dân tộc thiểu số và vấn

đề được đặt ra ở đây là cần phải giữ gìn và phát huy nó Đinh Văn Định trong

bài viết Văn học các dân tộc thiểu số mười năm qua với vấn đề truyền thống

và hiện đại (Tạp chí văn học (5), tr 5-9) khẳng định tầm vóc và sức sống của

nền văn học dân tộc thiểu số trong sự gắn bó mật thiết với văn hóa dân tộc Ở

bài viết Về bản sắc dân tộc trong sáng tác của các nhà thơ dân tộc thiểu số

(in trên Tạp chí Văn hóa dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam, 1993), tác giả Nguyễn Duy Bắc đã chỉ ra hai đặc trưng cơ bản của văn hóa- văn học hiện

đại của các dân tộc thiểu số đó là: “Sự bó hết sức sinh động, sâu sắc và rõ nét

bản sắc dân tộc trong sáng tác nghệ thuật” Trong bài Văn xuôi miền núi vấn

đề truyền thống và hiện đại (Tạp chí Văn nghệ quân đội cuối tháng(5), tr

65-70), tác giả Phạm Duy Nghĩa đã đi đến khẳng định “ Sự kết hợp truyền thống

và hiện đại là nền tảng cho sự phát triển văn hóa, văn học miền núi”

Như vậy, có thể nhận thấy dẫu từ nhiều vị trí khác nhau nhưng các tác giả trên đã đưa ra những nhận định khẳng định rất xác đáng về mối quan hệ mật thiết giữa văn hóa- văn học, qua đó cũng nghiêm túc nhìn nhận và chỉ ra được những hạn chế và ghi nhận được những thành tựu trong bước chuyển

mình của mảng văn học viết về đề tài miền núi, đặc biệt là từ sau 1975

2.2 Những công trình, bài báo đề cập dấu ấn văn hóa miền núi trong văn xuôi của Đỗ Bích Thúy

Tạp chí Văn nghệ quân đội số ra ngày 27 tháng6 năm 2009, nơi Đỗ Bích Thúy công tác, cũng đã từng có nhận định “ Đỗ Bích Thúy sinh ra và lớn

Trang 10

lên ở miền núi nên chủ yếu đề tài trong tác phẩm của nữ nhà văn xoay quanh cuộc sống ở miền núi” Từ cuộc sống yên ả thanh bình của những con người chân chất vùng cao, bằng đôi văn quan sát tinh tế và những rung cảm chân

thật của lòng mình, Đỗ Bích Thúy góp nhặt để làm nên Vẻ đẹp một cây bút

vùng cao (Bình NguyênTrang, Blog Yahoo!360, 07/07/2006)

Nhà phê bình văn học Lê Thành Nghị, trong cảm nhận “Từ truyện ngắn

một người viết trẻ” qua Lời giới thiệu tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ

rào đá của Đỗ Bích Thúy đã sớm phát hiện cái mạch nguồn chảy tràn qua mỗi

sáng tác của nhà văn nữ này Mặc dù Lê Thành Nghị không cố tình đi sâu vào nghiên cứu tác phẩm của Đỗ Bích Thúy dưới góc nhìn văn hóa nhưng đã chỉ

ra những đối tượng mà sáng tác của Đỗ Bích Thúy thường hướng tới Đó là một bức tranh văn hóa miền núi phong phú: “Một không gian đầy hoa lá rừng;

có tiếng gà gáy tách te trong bụi rậm, có những dòng suối trong suốt với những viên cuội đỏ, có những chàng trai thổi sáo theo sau các cô gái khoác quẩy tấu xuống chợ; những nồi thắng cố nghi ngút khói trong phiên chợ vùng cao đầy màu sắc; những đêm trăng sóng sánh, huyền ảo; những cụm mần tang mọc trong thung lũng; tiếng đàn môi réo rắt sau bờ đá; lễ hội gầu tào với điệu hát Plềnh mê đắm của các cô gái, chàng trai người Mông trên đỉnh núi”

Theo Nguyễn Xuân Thuỷ trong bài Nhà văn Đỗ Bích Thuý và một miền

kí ức: “Quê hương luôn là vùng miền lưu dấu, mang sắc màu chủ đạo của ký

ức, gắn với mỗi người như một sợi dây vô hình Với Đỗ Bích Thúy, thì còn một sợi dây hữu hình là căn nhà mái ngói rêu phong trong thung lũng ba mặt

là núi, một mặt là sông ở huyện Vị Xuyên, Hà Giang Nơi ấy có bản người Dao, người Tày, có những người phụ nữ Mông nhẫn nại và cam chịu đã đi vào những trang văn của chị” (www.anninhthudo.vn, ngày 26/09/2011)

Trong bài viết Đọc tiểu thuyết Bóng của cây sồi của Đỗ Bích Thuý,

Nguyễn Thị Thu Hiền đã từng nhận định: “Phải sống, cảm nhận sâu sắc đời

Trang 11

sống, tâm hồn người dân miền núi, hiểu đồng bào như hiểu mình mới có được những dòng như vậy- những dòng như viết cho chính mình, cho dân tộc mình chứ không phải đứng trong vai dân tộc khác nhìn vào” (http//: www.vanchuongviet.org, ngày 06/03/2005)

Dẫu có nhiều bài viết đề cập đến văn hoá miền núi trong tiểu thuyết và truyện ngắn Đỗ Bích Thuý, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một

cách hệ thống về Dấu ấn văn hoá miền núi trong văn xuôi Đỗ Bích Thuý

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là văn xuôi (gồm tiểu thuyết và truyện ngắn) viết về miền núi của Đỗ Bích Thuý, cụ thể là các tác phẩm sau đây:

- Tiểu thuyết Bóng của cây sồi

-Truyện vừa Người đàn bà miền núi

-Tập truyện ngắn Sau những mùa trăng

-Tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá

-Tập truyện ngắn Mèo đen

Ngoài ra, luận văn còn dẫn chứng, liên hệ với Tạp văn Trên căn gác áp

mái của nhà văn trẻ Đỗ Bích Thúy

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trọng tâm nghiên cứu của luận văn là biểu hiện của văn hoá miền núi trong tác phẩm của Đỗ Bích Thuý trên bình diện cảm quan hiện thực và con

4 Phương pháp nghiên cứu

nhằm chỉ rõ những phương diện cơ bản của yếu tố văn hoá miền núi trong văn xuôi

Đỗ Bích Thuý, tập trung vào hiện thực cuộc sống và con người

Trang 12

4.2 Phương pháp so sánh (đồng đại, lịch đại): Phương pháp này được sử

dụng để chỉ ra những đóng góp của Đỗ Bích Thuý so với những nhà văn cùng viết về đề tài miền núi ở hai giai đoạn trước và sau 1975

Ngoài ra, luận văn sử dụng một số thao tác cần thiết trong nghiên cứu văn học như phân tích, tổng hợp…

Luận văn sử dụng lí thuyết thi pháp học và lí thuyết tự sự học trong quá trình triển khai đề tài

5 Đóng góp của đề tài

5.1 Luận văn góp phần cung cấp một cái nhìn rõ nét, hệ thống hơn về

con người và văn hóa miền núi trong tác phẩm của Đỗ Bích Thuý

5.2 Khẳng định phong cách của một nhà văn nữ tâm huyết với đề tài

miền núi; sự đóng góp của Đỗ Bích Thuý vào thành tựu của văn học miền núi sau 1975

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của

luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Văn xuôi Đỗ Bích Thúy- những trang viết về núi rừng

Chương 2: Cảm quan về con người và văn hóa miền núi trong văn xuôi

Đỗ Bích Thúy

Chương 3: Nghệ thuật thể hiện con người và văn hóa miền núi trong

văn xuôi Đỗ Bích Thúy

Trang 13

CHƯƠNG 1 VĂN XUÔI ĐỖ BÍCH THUÝ

- NHỮNG TRANG VIẾT VỀ NÚI RỪNG

1.1 Đỗ Bích Thúy – người con của núi

Nhà văn Đỗ Bích Thúy quê gốc ở tỉnh Nam Định Chị sinh vào ngày 13 tháng 4 năm 1975, tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang Lớn lên trong một vùng văn hóa với điệp trùng núi cao, cây cỏ, hoa lá, thiên nhiên hoang sơ và hùng vĩ, Đỗ Bích Thúy đã từng mê mải ngắm nhìn, để rồi cùng thiên nhiên của núi rừng hoang dã trở thành một phần câu chuyện về số phận những con người của mảnh đất vốn rất đa dạng sắc màu văn hóa ấy Trong cái bản nhỏ

có con đường và dòng sông chạy xuyên qua cái thung lũng, sát triền sông trên ruộng bậc thang người Tày trồng lúa trồng ngô; người Dao trồng sắn trồng lúa nương trên mấy sườn đồi đất đỏ; người Kinh từ Nam Định, Thái Bình lên thì trồng cam quýt ở những mảnh vườn sát chân núi Mảnh đất ấy còn là nơi sinh sống bao đời của những con người thật thà, chất phác cả đời sống cùng đá núi bất khuất vươn lên để tỏa sáng những tấm lòng Ta cũng nhận thấy thấp thoáng cả bóng dáng những phận người suốt một đời cúi mặt nhẫn nại cam chịu sống bằng niềm vui hạnh phúc của chồng con Và đây cũng còn có những khu rừng mả riêng cho từng dòng họ, nơi dành riêng cho những người

đã khuất, ở đó chỉ toàn những cây cổ thụ, rậm rịt

Hình ảnh thân thuộc trên mảnh đất quê hương theo năm tháng cứ dần in đậm trong tâm trí của Đỗ Bích Thúy Từ ngôi nhà mái ngói rêu phong bên dòng Nho Quế, với những bậc cầu thang gỗ và bậc cửa nham nhở vết sẹo thời gian, đến những chú sóc với cái đuôi rất dài, đôi mắt tròn xoe, gặm một cách vội vã những thức quả vừa kiếm được, chí chách chuyền cành bên khu rừng

mả kể về ngôi nhà ẩn mình trong thung lũng Suốt những buổi trưa của năm tháng tuổi thơ trên căn gác áp mái, Đỗ Bích Thúy đã lặng lẽ thò cả hai chân

Trang 14

qua lan can cảm nhận cái mát lạnh của cơn gió lùa từ trong khe núi, thả hồn theo những cuốn truyện thiếu nhi sờn cũ để nuôi dưỡng ước mơ trở thành nhà văn, với khát khao về một ngày mai có thể tự mình viết những cuốn sách đầu tiên mang tặng những người thân yêu của mình

Thời gian thấm thoát trôi đi, như đa phần thanh niên mới lớn khác Đỗ Bích Thúy cũng đã quyết định lựa chọn cho mình một cái nghề để ngày mai góp sức mình phục vụ cho quê hương Kế toán là ngành chị chọn lựa và quyết định theo học Trong thời gian đợi chờ việc theo ngành nghề đã được đào tạo một cách bài bản, tựa mối duyên tiền định chị rẽ đời mình sang một hướng khác và trở thành phóng viên của báo Hà Giang Do đặc trưng của nghề làm báo, chị đã có dịp lang thang qua các bản làng, ăn ngủ cùng đồng bào Mông, Thái, Hà Nhì Những chuyến công tác đôi lúc khi kéo dài đến nửa tháng có vài lần còn bị lạc đường, chị đã phải mò mẫm trong rừng sâu giữa một bên là núi cao vun vút và một bên là vực sâu thăm thẳm Chính thời gian này chị đã tích lũy được rất nhiều tư liệu quý báu cho riêng mình, văn hóa vùng miền đã

tự nhiên ngấm vào con người Đỗ Bích Thúy như một phần máu thịt Trong tâm trí của chị khi ấy đã xuất hiện ý thức rất rõ ràng, ý thức của một người con có tình yêu và trách nhiệm với quê hương bản quán Để rồi những những ngày tháng sau đó, Đỗ Bích Thuý không còn chỉ sống cho riêng mình mà còn sống cho những đồng bào thân yêu- những con người chân chất nhưng cuộc sống còn lắm gian nan nơi vùng cao đá núi Và khi cái ước mơ bé bỏng ngày xưa trở thành hiện thực, chị bắt đầu dành tâm sức mải miết chắt lọc, suy ngẫm Và từ nếp ăn, nếp nghĩ, nếp sinh hoạt hết sức mộc mạc hàng ngày của đồng bào miền núi, qua tâm hồn tinh tế và chan chứa yêu thương của chị đã đi vào văn chương làm nên một bức tranh vô cùng đặc sắc

Đến khi phải rời xa vùng đất thân yêu Hà Giang để đến với thủ đô Hà Nội do yêu cầu của công việc, trong lòng Đỗ Bích Thúy vẫn đau đáu trong

Trang 15

lòng một nỗi day dứt khôn nguôi Miền núi vẫn là một nỗi niềm trăn trở luôn thường trực, ẩn hiện trong tâm trí của chị Ẩn ức mang những nét đẹp văn hóa truyền thống ngàn đời của những con người mà đời sống còn nhiều gian nan vẫn luôn là nỗi ám ảnh trong tâm trí chị Đỗ Bích Thúy nhận thấy dường như mình vẫn còn nợ mảnh đất này một điều gì đó Để mỗi lúc có cơ hội về quê, chị ì ạch tha lôi rất nhiều thứ quà quê, cả mấy ống cơm lam từ chính vùng đất của nó về Hà Nội Đã có lúc chị nổi nóng với bạn bè về món quà quê- rất quý với mình và bình thường trong mắt bạn Nhớ vô cùng: “hơi gió lành lạnh phả

ra từ khe núi, mang theo hương sa nhân say nồng mới nảy mầm” mỗi buổi chiều, nhớ “tiếng của dòng sông trôi dịu dàng” và “thứ ánh sáng lam tím của mặt trời phản xạ từ những đụn mây bao phủ trên chóp núi” Mỗi khi vô tình nghe lời của bài hát “Người Mèo ơn Đảng suốt đời”, “Hà Giang yêu thương”, lòng chị se lại, nao nao một cảm giác khó tả của người con xa xứ Thoáng, nhác nhìn thấy ở đâu đó giữa phố phường Hà Nội chiếc xe máy mang biển số

23, chị như muốn ào theo, cố nhìn tận mặt, để gặp gỡ quê hương cho thỏa lòng nhung nhớ Tự hứa với lòng sẽ trở về núi cao đem đi tất cả: vốc đất, cục

đá, cây cỏ, cái ống thổi trong bếp nhưng chợt bàng hoàng nhận ra một điều là:

có một thứ chị không thể mang theo “đó là nỗi nhớ”

Trong xa cách, tâm hồn Đỗ Bích Thúy âm ỉ những cơn sóng nhớ thương cuồn cuộn như chỉ chực tuôn trào xối xả cho hả hê nguồn cơn bấy lâu

bí bách Nặng món nợ ân tình với mảnh đất Hà Giang thân yêu, với cái nơi đã chôn nhau cắt rốn của mình, Đỗ Bích Thúy thật sự đã viết như một nhu cầu cần thiết của nội tâm Chị đã miệt mài cống hiến không mệt mỏi, “trả nợ” bằng cách chọn cho mình mảnh đất để cày xới, dâng hiến Và mảnh đất ấy chính là mảng đề tài viết về quê hương, viết về vùng miền núi phía Bắc của

Tổ quốc Hơn ai hết chị hiểu quê mình, thấu hiểu người dân quê mình, hiểu để rồi thể hiện bằng cách trải lòng mình trên từng trang viết Đỗ Bích Thúy cũng

Trang 16

đã từng tâm sự: “Sở dĩ tôi không ngừng viết về miền núi vì đó là mảnh đất của

tôi Mỗi khi viết về nó, đắm chìm trong thế giới ấy, tôi lại như người đi xa được trở về nhà Cái tâm trạng ấy, nói thực lòng, tôi chưa cảm thấy khi viết

về một đề tài khác, mảnh đất khác Điều này một phần được chứng thực từ người đọc, họ cũng nói rằng, khi tôi viết về miền núi, tôi là chính mình.”

(Nguồn: Báo Văn nghệ số 2-2009) Nếu như Tô Hoài là nhà văn Hà thành viết

về Tây Bắc, Nguyên Ngọc là nhà văn đất Quảng viết về Tây Nguyên thì Đỗ Bích Thúy là đứa con của núi viết về quê hương mình; giữa lòng thủ đô Hà

Nội chị vẫn viết “dưới bóng cây sồi”, viết bằng tâm huyết, bằng tấm lòng

người con hướng về quê mẹ, nơi mà những người thân yêu vẫn nhắc tên chị hàng đêm với nỗi nhớ thương

Với nhà văn Đỗ Bích Thúy quê hương luôn là vùng đất in đậm trong tâm trí không ngừng tấu lên những khúc nhạc rộn rã yêu thương thôi thúc chị trăn trở cống hiến hết mình Nhìn lại những chặng đường qua, ta sẽ dễ dàng

mà nhận ra “người con của núi” đang từng ngày, từng giờ “cần mẫn”, “miệt mài” như chú ong chăm chỉ, gắng hết sức để làm “giàu”, làm “vẻ vang” cho chính cái vùng đất đã sinh thành và nuôi dưỡng mình lớn khôn

1.2 Mảnh đất Hà Giang- ngọn nguồn sáng tạo trong văn xuôi Đỗ Bích Thuý

Những năm gần đây, việc phân vùng văn hóa trong lãnh thổ Việt Nam được khá nhiều học giả bàn đến, có thể kể đến những nhà nghiên cứu như Ngô Đức Thịnh, Huỳnh Khái Vinh, Đinh Gia Khánh- Cù Huy Cận, Trần Quốc Vượng Trong đó, cách phân chia sáu vùng của Trần Quốc Vượng được xem là hợp lí nhất Theo sự phân chia này thì Hà Giang nằm trong vùng

văn hóa Việt Bắc (Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm,

NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2007) Hà Giang là một tỉnh phía Bắc nằm trong vùng núi non hiểm trở bên tả ngạn sông Hồng Cư dân của vùng chủ

Trang 17

yếu là người Tày, người Nùng trong trang phục vô cùng giản dị, với lễ hội Lồng Tồng nổi tiếng

Đây là một vùng đất với đặc trưng là đồi núi thấp, các dãy núi hình cánh cung, diện tích đất rộng lớn Và với vị trí địa lý tự nhiên khá đặc biệt, khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa, có mùa đông lạnh rất phù hợp với việc phát triển cây ăn quả, giàu tài nguyên khoáng sản và mang trong mình tiềm năng thủy điện lớn nhất nước ta Tuy là vùng còn rất nhiều khó khăn thiếu thốn, nhưng đây cũng chính là mảnh đất được thiên nhiên vô cùng ưu đãi với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, nhiều núi cao, nhiều hang động độc đáo

Đến với xứ sở này ngay lập tức đập vào mắt ta cái màu xanh thăm thẳm mang đặc trưng của núi rừng trùng điệp trùng điệp, kế tiếp là màu xanh non của những thửa ruộng bậc thang như làm dịu bớt đi cái gập ghềnh, gồ ghề của các dãy núi đá đồ sộ Bên cạnh cảnh quan thiên nhiên phong phú, mảnh đất này còn là nơi cư trú của rất nhiều loài động vật quý hiếm Nằm trong vị trí chiến lược quan trọng của đất nước trong lĩnh vực giao lưu kinh tế và văn hóa, vùng núi phía Bắc có một ý nghĩa vô cùng đặc biệt về chiến lược chính trị quân sự

Cùng là dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam nhưng mỗi vùng dân tộc có những đặc điểm sống khác nhau Đối với đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên, người dân ở đây bao đời sống tập trung, mối quan hệ cộng đồng làng bản vô cùng chặt chẽ, đứng đầu là già làng- người tập trung quyền lực cao nhất Còn ở đồng bào dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc có sự khác biệt ở điểm này Do điều kiện tự nhiên cư dân của vùng cư trú phân tán quan

hệ xóm làng không được chặt chẽ, bên cạnh đó quan hệ dòng họ nổi lên đóng vai trò rất quan trọng, quyền lực cao nhất là thuộc về người nắm giữ vai trò trưởng họ Chế độ phụ hệ chi phối gần như tất cả các hoạt động trong đời sống của đồng bào Cũng chính vì điều này mà vị trí của người phụ nữ trong

Trang 18

gia đình rất ít được coi trọng Đây cũng là đối tượng mà hiện nay trong cuộc sống còn chịu nhiều thiệt thòi và đang thật sự cần nhận được nhiều sự quan tâm

Văn hóa nghệ thuật- lĩnh vực thể hiện đời sống tâm linh của người dân miền núi phía Bắc còn mang nhiều nét vô cùng độc đáo Mỗi dân tộc đều lưu giữ trong lòng vốn văn hóa dân gian phong phú như : tục ngữ, thành ngữ, đồng dao, giao duyên, đến những lời khấn, những áng văn dùng trong các lễ hội, tang ma, các câu chuyện thần thoại, cổ tích, những thiên truyện thơ dài

hàng nghìn câu đậm chất trữ tình thiết tha như Tiễn dặn người yêu, Tiếng hát

làm dâu Ngoài sự phong phú về vốn văn hóa dân gian ra về âm nhạc cũng

không thể không nhắc đến các loại nhạc cụ như: khèn, sáo, đàn môi, sáo bên các điệu múa sạp, múa xòe vô cùng duyên dáng

Am hiểu đời sống cư dân ở Hà Giang, những trang viết của Đỗ Bích

Thuý thấm đẫm tình người và đa dạng các vùng văn hoá: “Lao Chải có một

con suối to chảy qua Người Dao ở Lao Chải nói, các cụ tổ ngày xưa sống trên núi cao, phát rừng làm nương, trỉa ngô trỉa lúa Nơi nào đất tốt thì làm hai ba vụ, nơi nào đất xấu, làm một vụ đã bạc trắng ra thì thu hoạch xong là

bỏ đi nơi khác Cả bản đi Đi mãi, đến chỗ nào có đất mới, rừng chưa có người chặt thì dừng lại Một đời người có khi thay chỗ ở đến mười mấy lần Các bà mẹ địu con trên lưng, tay cầm giỏ ngô đi thả hạt sau chồng, miệng hát: Người Dao là con chim xanh, gặp quả thì ăn, gặp nước thì uống Bay hết cánh rừng này đến cánh rừng khác Người Dao đi mãi, đến cánh rừng bên trên Lao Chải này, định dừng lại, chặt cây làm nương rẫy mới thì có người lên ngăn lại, không cho chặt ấy là người Tày sống dưới thung lũng Người Tày trồng lúa nước trong ruộng bậc thang, chỉ trồng lúa thôi cũng tạm đủ ăn Nhưng người Tày không cho phá rừng, phá rừng là phá luôn nguồn nước chảy đầu nguồn về Lao Chải Không có nước ngập chân ruộng thì cây lúa

Trang 19

không mọc được Thấy người Dao từ nơi xa đến, người Tày ở Lao Chải mới

rủ ở lại cùng làm, cùng ăn cho đông làng đông bản Mấy chục gia đình người Dao đã cạn cái ăn rồi, mà đi nữa thì không biết bao giờ mới đến được chỗ có đất mới để làm nương rẫy, vậy là ở lại Trong bản đã hết chỗ ở nên người Dao đến sau phải làm nhà ở bìa rừng, thành một vòng quây lấy Lao Chải ở mãi, bao nhiêu năm rồi không ai nhớ, nhưng người Dao bây giờ vẫn sống vòng xung quanh, người Tày ở bên trong Con suối chảy từ đầu nguồn về Lao Chải mỗi năm được khơi rộng ra một tí, lắp thêm guồng đưa nước vào ruộng Làm thêm chục cối nước nữa để các nhà người Dao có chỗ giã gạo” (Bóng của cây sồi)

Hàng năm cứ đến dịp đầu xuân, các đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây

lại tổ chức rất nhiều lễ hội truyền thống: Lễ cúng thần rừng của người Pu

Péo Người Pu Péo định cư ở huyện Ðồng Văn, tỉnh Hà Giang Người Pu péo

quan niệm rất rõ rằng họ chỉ cúng tổ tiên 5 đời trở lại nhà mình, còn tổ tiên trước 5 đời, các vị thường ở trong rừng và ngụ tại các gốc cây đa to Chính vì thế, tín ngưỡng thờ rừng, giữ rừng đối với người Pu péo chính là thờ cúng tổ

tiên của họ; Lễ hội cầu mùa của dân tộc Dao Hàng năm, ngày Tý tháng

Giêng âm lịch đối với người Dao là ngày mang một ý nghĩa hết sức sâu sắc và thiêng liêng Đó là ngày mở đầu cho một năm mùa màng bội thu, cầu cho

mưa thuận gió hòa, mong mọi sự bình yên; Lễ cấp sắc của dân tộc Dao

Thường là vào dịp cuối năm người Dao tổ chức Lễ hội cấp sắc Đây là lễ hội không thể thiếu dành cho người đàn ông, vì chỉ khi đã được cấp sắc người đàn ông mới được coi là trưởng thành, được làm nghề cúng bái và được giao tiếp

với cõi âm Một phần cũng rất quan trọng đó là lễ cấp pháp danh cho người thụ lễ Lễ hội Gầu tào của dân tộc Mông Phần lễ với mục đích chúc phúc

hoặc cầu mệnh; phần hội với mục đích vui chơi cộng đồng và thể hiện lòng

Trang 20

thành của gia chủ Các lễ hội thể hiện tín ngưỡng dân gian còn gắn với triết

lý đa thần

Đặc biệt, khi đến với vùng Tây Bắc vào dịp mùa xuân, ta có dịp hòa mình vào không gian rực rỡ sắc màu của những phiên chợ vùng cao vô cùng

độc đáo như: Lễ hội chợ tình Khâu Vai, chợ tình Sa Pa Văn hóa trang phục

đặc biệt cũng thường xuất hiện tại các phiên chợ làm nên một nét đẹp rực rỡ không lẫn vào đâu được Qua cách bài trí các hoa văn cũng như màu sắc trên trang phục ta có thể dễ dàng nhận biết người đến chơi chợ thuộc dân tộc nào trong các bản làng rải rác trên rẻo cao của núi rừng Nếu trên những chiếc khăn piêu của đồng bào dân tộc Thái ta bắt gặp sự tinh tế thì sự rực rỡ lại xuất hiện trên chiếc váy cạp Mường và bộ trang phục H,mông Bên cạnh đó bộ trang phục Tày, Nùng lại mang một vẻ đẹp giản dị, thuần khiết Mỗi dân tộc đều có một cách bài trí cho trang phục của mình nhưng nhìn chung hoa văn trang trí trên những bộ trang phục thường rất sinh động, vui mắt và gam màu được sử dụng đều là “gam màu nóng” Giữa bạt ngàn xanh thẳm của vùng núi cao và khí hậu vô cùng lạnh giá của vùng cực Bắc Tổ quốc, phải chăng con người cũng cần một sự thích nghi để tồn tại? Đến với các phiên chợ người miền núi mới có cơ hội mở rộng quan hệ giao lưu, trao đổi những vật dụng cần thiết trong cuộc sống thường ngày Người vùng cao xuống chợ không chỉ với mục đích chính là buôn bán, tìm kiếm lợi nhuận mà là để tìm đến với nhau chia sẻ, trao đổi những điều cần thiết trong cuộc sống Tại các phiên chợ

ta cũng nhận thấy rất rõ nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của người miền núi

Từ nguồn lương thực tự cung tự cấp người vùng cao đem đến với phiên chợ những món đặc sản mang đặc trưng của núi rừng rất độc đáo để lại ấn tượng khó quên như: mèn mén, rượu ngô, thắng cố, thịt rừng Gọi là chợ nhưng thực tế ở đây gần như không có người mua và cũng không hề có người bán,

mà ở đây người ta chỉ nhìn thấy toàn chuyện tình yêu, đây còn là nơi tìm về

Trang 21

của những cặp đôi dang dở trong chuyện tình duyên, là nơi gặp gỡ của những đôi trai gái yêu nhau và còn là nơi gặp gỡ của tất cả những người đã có gia đình và những người chưa có gia đình Những đôi trai gái đến đây chỉ để trao gửi những lời yêu thương Người già thì tìm bạn tình xưa, trẻ trung thì tìm kiếm bạn tình mới

Nhà văn Đỗ Bích Thúy sinh ra và lớn lên tại vùng đất có một tầm chiến lược quan trọng không chỉ về quốc phòng an ninh mà còn vô cùng ấn tượng với những nét đẹp văn hóa Bên cạnh đó, chị may mắn có cả một thời gian dài quý báu làm báo địa phương, ăn ngủ, tâm sự cùng nhiều vùng đồng bào Đỗ Bích Thúy đã từng bộc bạch rất chân thành: "Tôi đã tắm trong không gian văn hóa, đã buồn vui rất nhiều với mỗi số phận con người quê hương tôi, và đã có một khoảng thời gian lùi xa những hiện thực ấy, để suy ngẫm, hồi tưởng và viết Văn học, theo như tôi nghĩ, còn là chuyện của ký ức, trải nghiệm, của kỷ niệm với cách nhìn sâu rộng hơn Khi ta nói câu chuyện của một bản làng người Mông, mọi điều đâu chỉ dừng lại ở đó Đấy còn là câu chuyện của một quốc gia, một dân tộc" Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất có cảnh sắc thiên nhiên và bản sắc văn hóa vô cùng độc đáo và dường như theo tháng ngày cùng với tình yêu sẵn có, mọi thứ đã ngấm vào chị như một phần máu thịt Khi phải rời xa, chị cũng đã dành cho mình một khoảng lặng để ngẫm nghĩ, trăn trở Chị nhận ra rằng cái nguồn riêng của con người và mảnh đất Hà Giang có vai trò rất quan trọng trong cái dòng chung mang con người và bản sắc văn hóa Việt Nam Với ý thức đúng đắn nhất quán như vậy kết hợp với sự cần mẫn trong một tâm hồn chăm chỉ tinh tế lắng nghe những âm thanh vang vọng nhỏ nhất của tiếng đời và của cả tiếng lòng, Đỗ Bích Thúy đã khai thác triệt để và sử dụng rất hiệu quả vốn sống dồi dào mà mình đã có về miền núi Đem cái điều mà chị đã khẳng định rất rõ: là thứ mà mình đã có được như

Trang 22

“một cái gốc bền vững” để làm nên những trang viết vô cùng đặc sắc mang đậm hơi thở của vùng cao đá núi

Và dẫu đã cách xa mảnh đất Hà Giang nhưng chị thật sự vẫn là “người con của núi” viết về “núi” trong lòng Hà Nội bằng những suy nghĩ mộc mạc, dung dị nhất Đỗ Bích Thúy đã vén một bức màn bí mật đưa bạn đọc đến chiêm ngưỡng về cuộc sống con người trên cái nền của một vùng văn hóa rất đặc sắc Hơn ai hết, chị đã có nhiều cơ hội được tiếp cận, hiểu cặn kẽ về nét đẹp văn hóa bản địa và đồng cảm với những tâm hồn người hồn hậu, chân chất, mộc mạc của xứ cao nguyên đá trên cái nền vốn đã rất vững bền Từ những rung cảm chân thật, tận sâu trong đáy lòng đã hình thành trong chị một mối tình chung thủy, son sắt với quê hương Để rồi khi cầm bút Đỗ Bích Thúy không ngừng trăn trở, day dứt và miệt mài lao động Chị đã tìm tòi, khám phá rồi ra mắt độc giả vùng đất mà chị đã say, đã chọn lựa cho đời mình như một định mệnh Chị thiết nghĩ, cần phải làm một điều gì đó để bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, thức dậy những khát vọng sống đích thực của con người, đóng góp một phần tâm sức để phục vụ cho sự phát triển của quê hương Đỗ Bích Thúy bắt tay vào việc sáng tạo không ngừng để bắc một cây cầu nối hai vùng xuôi- ngược, đưa độc giả đến khám phá một vùng văn hóa điệp trùng núi cao cây cỏ, hoa lá, hoang sơ và hùng vĩ

1.3 Hành trình sáng tác của Đỗ Bích Thúy

Đỗ Bích Thúy là thế hệ nhà văn trẻ khám phá và đưa bức tranh miền núi rực rỡ sắc màu bước vào văn học sau những năm 1975 Đặc biệt hơn, chị lại chính là người con của núi viết về núi ở trong lòng phố phường Hà Nội, với một tấm lòng nhớ thương da diết và cái nhìn đa chiều sâu thẳm Con người miền núi trong những trang viết của Đỗ Bích Thúy được đặt trong

Trang 23

nhiều tình huống, nhiều hoàn cảnh khác nhau để thể hiện mình và đã đem đến một dấu ấn khá rõ nét, rất đẹp trong lòng độc giả cả nước

Năm 19 tuổi, Đỗ Bích Thúy đã bén duyên văn chương bằng truyện

ngắn đầu tay Chuỗi hạt cườm màu xám in trên Báo Tiền Phong Truyện

ngắn đầu tiên có vai trò như một cú hích lớn cho sự nghiệp viết văn của chị Dường như ở cái đoạn mà tuổi đời còn rất trẻ khi ấy, chị vô cùng ngạc nhiên khi khám phá ra rằng, tận sâu thẳm trong trái tim của mình từ lâu đã sẵn có một tình yêu văn học, một tình yêu thấm đẫm, dài và cồn cào tựa như dòng chảy của một con suối, phải chăng nhờ vào điều này mà chúng ta đã có một nhà văn Đỗ Bích Thúy bây giờ Và có thể nhìn nhận như chính đó là bước ngoặt vô cùng quan trọng, đã mở ra cho đời chị một hướng mới để trở thành nhà báo, nhà văn

Đến nay, Đỗ Bích Thúy đã có trong tay số lượng tác phẩm tương đối

nhiều Tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá xuất bản 2005, bao

gồm rất nhiều truyện ngắn Những câu chuyện nội dung xoay quanh vấn đề về tình yêu, hôn nhân, quan hệ gia đình của những con người ngàn năm sống trên những bản làng, gắn đời mình với rừng núi quanh năm mù sương, trong

đó thấp thoáng nỗi niềm day dứt của những người con đã rời bản làng ra đi nhưng vẫn mang trong lòng nỗi nhớ về quê hương mình và còn có cả những suy tư, trăn trở của các thầy, các cô giáo từ miền xuôi lên bám trụ và từng ngày cống hiến cho sự phát triển của núi rừng Dẫu tái hiện cuộc sống của những con người vùng cao là vấn đề không có gì mới song tất cả đã đến với người đọc qua cảm nhận hết sức tinh tế Mỗi câu chuyện là một thân phận người với những vui buồn trăn trở, hạnh phúc đớn đau riêng, Nhưng ở hầu hết các tác phẩm đều nổi lên trên hết là tình yêu và thân phận những người phụ

nữ vùng cao Người đàn bà miền núi trong văn viết về miền núi của Đỗ Bích

Trang 24

Thúy, từ rất nhiều năm về trước và có lẽ còn chưa biết đến tận bao giờ vẫn luôn là những người vất vả nhất Họ luôn là những người đi ngủ sau cùng trong gia đình mà thức dậy sớm nhất, cặm cụi làm lụng cả ngày không ngơi nghỉ mà ăn uống lại đơn giản tiết kiệm, miếng ngon bao giờ cũng nhường nhịn cho chồng cho con, khuôn mặt sạm đi để tấm lưng mỗi ngày một còng xuống Họ gắn đời mình với tấm lưng còng và một cuộc đời đầy cực nhọc, chỉ biết lấy no đủ của gia đình làm niềm vui và nỗi khát khao của mỗi đứa con làm mục đích sống cho đến những ngày cuối cùng của đời mình Ẩn sâu trong từng chữ là trái tim chan chứa yêu thương của Đỗ Bích Thúy Ở đó ta nhận thấy rất rõ khát vọng nhân đạo hướng về những thân phận người, đặc biệt là người phụ nữ trên vùng đất còn nhiều lo âu ấy Chị muốn gieo vào lòng bạn đọc một câu hỏi: Những người đàn ông sức dài vai rộng đang ở nơi đâu sao

nỡ để những người đàn bà chân yếu tay mềm khốn khổ đến vậy? Và trong một mối đồng cảm vô cùng sâu sắc, đạo diễn Ngô Quang Hải đã gặp gỡ và

cho chuyển thể truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá thành phim

Chuyện của Pao- tác phẩm đã đoạt giải Cánh diều vàng 2005 của Hội điện

ảnh Việt Nam

Mỗi tác phẩm của Đỗ Bích Thuý là một tiếng lòng thổn thức, một sợi dây gắn chặt tâm hồn nhà văn với quê hương Nhiều tác phẩm của Đỗ Bích

Thuý ra đời từ nỗi niềm đau đáu quê hương đó: “Không hẹn trước mà lần nào

trở về tôi cũng gặp trúng mùa trăng Mùa trăng có ý nghĩa với người miền

núi nhiều lắm” (Sau những mùa trăng) “Tác phẩm của Đỗ Bích Thúy luôn

luôn đề cập những đề tài hết sức gần gũi đời thường, nhưng bao giờ cũng để lại một dư vị lãng mạn, buồn mà không chút cay đắng ở người đọc Những tác phẩm thể hiện sự quan tâm tha thiết với số phận bi kịch của con người, nỗi trăn trở về cuộc sống nghèo nàn và những định kiến còn tồn đọng Dưới ngòi bút mượt mà của một nhà văn nữ, những truyện ngắn về đề tài miền núi mang

Trang 25

đậm vẻ chân thật, hồn nhiên, mộc mạc của tâm hồn con người dân tộc và dịu dàng, man mác chất thơ”- Nhã Nam

Những tác phẩm viết về đề tài miền núi của Đỗ Bích Thuý đều được

viết ra từ nỗi hoài nhớ quê hương Nhà văn từng tâm sự viết Ngải đắng ở

trên núi, “tôi đã dồn vào nó rất nhiều sức lực đã đành, còn gửi gắm tình yêu

với thiên nhiên, con người nơi mình sinh ra; nỗi day dứt hoài niệm về những năm tháng nghèo khó mà cha mẹ tôi phải chèo chống nuôi mấy anh em tôi ăn học; Nó gánh được linh hồn, dáng vóc, hơi thở, màu sắc, mùi vị của miền núi cao; Nó là một bức thông điệp chuyển tải được nhiều nhất những điều tôi muốn nói, cũng như những dấu ấn cá nhân, khát vọng và tấm tình của một đứa con đã đi ra khỏi nhà”

Bóng của cây sồi là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Đỗ Bích Thuý

Tác phẩm đã đoạt giải ba cuộc thi Văn học cho tuổi trẻ do NXB Thanh niên

và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2005 Bóng của cây sồi phản ánh đời

sống của người Dao trong sự xâm lấn của kinh tế thị trường Cây sồi là biểu

tượng những con người miền núi mạnh mẽ, ngay thẳng, trung thực: “Ở đây có

rất nhiều sồi Sồi mọc khoẻ khoắn và kiêu hãnh từ rừng đại ngàn trở ra cho đến sát với những nương đồi trồng lúa và sắn Ông và bố đều nói rằng, mỗi cây sồi tượng trưng cho một người đàn ông trong làng Khi một đứa bé trai

ra đời, nếu nó cất tiếng khóc to cả làng nghe thấy, ông nội sẽ đến bên cạnh và nói: Mày là một cây sồi khoẻ Cũng như khi một người đàn ông trong làng chết đi, thì đâu đó trong rừng, một cây sồi sẽ trút lá, và những cái rễ bắt đầu thối rữa trong lòng đất ”

Đỗ Bích Thúy tiếp tục cho ra mắt bạn đọc tập truyện ngắn Mèo đen

(2011) Tác phẩm vẫn đề cập đến hiện thực cuộc sống nơi vùng cao đá núi với một tấm lòng chan chứa tình yêu thương Nhưng ở đây ta cũng bắt gặp một tình yêu thương xen lẫn sự lo âu trước bước chuyển mình của miền núi trong

Trang 26

qua trình hội nhập Bức tranh hiện thực về miền núi được hiện ra trong không khí đời sống mới, mặt trái của nó xuất hiện không ít những vấn đề cần phải bàn Cái mừng thì ít mà cái lo thì vô vàn, cái mới đã xuất hiện nhưng cái cũ vẫn tồn tại một cách dai dẳng không chuẩn mực Hiện tượng lai căng xuất hiện nó đang gặm nhấm và bào mòn đi những giá trị văn hóa tốt đẹp bao đời Thông điệp mà chị muốn nhắn nhủ là: sự phát triển của xã hội vùng cao đang

có nguy cơ, nhuốm màu sắc thị trường Cần phải có một giải pháp cho sự phát triển bền vững, để hiện đại tiên tiến nhưng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc, bản sắc vùng miền

Đỗ Bích Thúy cũng viết sách cho thiếu nhi Chị cho ra mắt bạn đọc

cuốn sách có nhan đề Em Béo và hội Cầu Vồng Tác phẩm chỉ gần trăm

trang gồm những mẩu chuyện nho nhỏ về hội Cầu Vồng Trong hội gồm có sáu bạn nhỏ lớp 2, trong đó có Em Béo, anh chàng duy nhất của hội Câu chuyện mang trong mình có cả niềm vui lẫn nỗi buồn và không thiếu những tình tiết dở khóc dở cười, nhưng điểm quan trọng và đặc biệt ở đây là tác phẩm "nói" bằng chính tâm hồn và suy nghĩ của con trẻ, điều này mở ra nhiều điều về sự khơi dậy của dòng văn học viết cho thiếu nhi hôm nay…

Đọc Tạp văn Trên căn gác áp mái của Đỗ Bích Thúy gần đây, ta cảm

nhận được phần nào sự đau đớn của suy tư: Một con người có trước một nhà

văn trong Đỗ Bích Thúy “Quê hương bản quán và trách nhiệm, tấm lòng của mỗi cá nhân” là vấn đề được lặp lại nhiều lần trong sách Nó chất chứa thêm

trong đó ẩn ức không chỉ người xa quê mà lối viết, đường viết của một nhà văn phải tách bỏ môi trường văn hóa có tính cội rễ Những câu chuyện mang trong mình một nỗi niềm đau đáu về vùng núi rừng cũ, và đầy ứ nỗi niềm trăn trở với một vùng văn hóa hóa mới Nỗi niềm trăn trở ấy đang từng ngày quẫy đạp, quằn quại, vùng vẫy trong một con người già dặn, bản lĩnh hơn về bút

Trang 27

pháp, sâu sắc hơn về tư tưởng mà vẫn giữ vẹn tròn thủy chung với tình yêu cố hương và con người Đến với tạp văn này, người đọc không thể không nhìn nhận được tình cảm của tác giả ở những đoạn mà một người thực trải sống có

thể chia sẻ và nhận ra: “…Rốt cuộc, tôi thường nghĩ, con người khi đã tan vào

đất đai, không còn hình hài đâu nữa, hơi thở mong manh cũng bị gió cuốn đi, thì cái duy nhất còn lại là nỗi nhớ nhung và niềm yêu thương da diết ngự trong những người còn sống dành cho họ…” hay là “…cuộc đời này có những ngã rẽ kì lạ, có những cuộc trao đổi kì lạ, có những sự di chuyển kì lạ

Và có những câu hỏi kì lạ không bao giờ trả lời” Có khi nhà văn tâm sự:

“Nỗi nhớ từng dằn vặt tôi…Nỗi nhớ từng in hằn xương quai xanh của

tôi…Tôi không mang nó đi được Tôi phải để nó lại đó, giữa ba bề rừng núi, một bề sông Lô trong vắt, mong manh trôi Tôi phải để nó lại đó, nó sẽ như khói sương trong mỗi chiều bảng lảng bay, nó sẽ như một cánh cò lửa, nhập nhoạng lại bay ra khỏi tổ” Những trang viết như thế bộc lộ một nỗi niềm day

dứt của nhà văn và nó thầm hứa hẹn rằng, nhà văn đang manh nha những điều khác nữa ngoài những trang viết thành công mà ở tất cả văn xuôi của Đỗ Bích Thúy đều đã, đang và sẽ luôn ý thức rất rõ: những trang viết không chỉ mang theo không khí hơi thở đời sống mà còn mang theo cả một vùng văn hóa

Không chỉ dừng lại ở những tác phẩm văn học viết theo thể loại văn xuôi, Đỗ Bích Thúy cũng thử sức mình trong lĩnh vực làm kịch bản sân

khấu.Vở diễn Diễm 500 USD của chị do Nhà hát Tuổi trẻ dàn dựng, khi ra

mắt công chúng cũng đã nhận được sự đón chào vô cùng nồng nhiệt

Trong hành trình sáng tác, Đỗ Bích Thúy vẫn luôn thủy chung với đề

tài mà mình tâm huyết Đã từng thừa nhận mình là nhà văn “viết không mới,

viết những điều gần như đã cũ” nhưng phải thừa nhận rằng tác phẩm viết về

miền núi của chị không hoang sơ, huyền bí, hoang đường như truyện đường

Trang 28

rừng trước 1945; không đậm chất sử thi như văn học viết về miền núi từ 1945- 1975, mà ngồn ngộn bao nhiêu chất liệu đời đời thường, ngòi bút nhà văn đã khơi sâu vào thế giới đời tư phong phú Cách viết của chị dường như

ta cảm nhận rất rõ vừa quen vừa lạ, chi chút nâng niu những thân phận cuộc đời và nhữngkhát vọng của con người trên rẻo cao của các vùng núi, ở cái nơi

mà văn minh đô thị dường như được xem là một thứ vô cùng xa xỉ, vời vợi lại

là một điểm nhấn vô cùng quan trọng, có tính lặp đi lặp lại, rất dễ nhận thấy trong các tác phẩm văn xuôi của một cây bút trẻ Văn xuôi của Đỗ Bích Thúy

cũng gợn một chút gì đó man mác buồn như điệu khèn Vợ chồng A Phủ của

Tô Hoài, nhưng lại đầy những chi tiết ấn tượng: tỉ mẩn như cái thìa gỗ, như từ tiếng đàn môi và những quan sát rất tinh tế (bờ rào đá kiên cố và cánh cổng

gỗ lim bao đời vững chắc nay đã xộc xệch), điều mà chỉ có một trái tim nhạy cảm mới có thể nhận ra Cái đặc biệt ở đây là chị đã mang cái đẹp kì thú trong tâm hồn của người dân tộc thiểu số và cái đẹp của mảnh đất hoang sơ, thậm chí lạc hậu gieo vào văn chương một cách rất nhẹ nhàng Và khi trang sách của chị được gấp lại trong lòng bạn đọc vẫn ngổn ngang ưu tư, để rồi họ phải ngoảnh nhìn lại mình, nhìn mọi người xung quanh mình, để sống và khát khao cho một hành động có nghĩa nào đó

Khát vọng về hạnh phúc, những tâm sự cháy bỏng về lẽ sống, ý thức về những ngày hiện tại ở một vùng đất độc đáo đầy kỉ niệm đã tạo ra trong ngòi bút của Đỗ Bích Thúy niềm xúc động chân thành, chảy dào dạt trên trang viết

và đã kiến tạo nên những tác phẩm để lại trong lòng công chúng độc giả nhiều điều cần phải suy ngẫm Kiên trì không mệt mỏi trên con đường mình đã chọn

để đi, dẫu còn nhiều khó khăn, song với chị điều quan trọng nhất của một nhà văn chính là ở chỗ luôn sống hết mình và viết hết mình, viết những gì mình

có, mình đau đớn vì nó, không vay mượn, cố gắng

Trang 29

CHƯƠNG 2 CẢM QUAN VỀ CON NGƯỜI VÀ VĂN HOÁ MIỀN NÚI

TRONG VĂN XUÔI CỦA ĐỖ BÍCH THUÝ

2.1 Con người miền núi- một biểu hiện của văn hoá vùng cao

“Văn hóa là hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” (Trần Ngọc

Thêm) [30, tr 25]

Trong cuộc sống của mình, con người không ngừng tác động vào tự nhiên tạo ra của cải vật chất để duy trì sự sống (ăn, mặc…) và trong quá trính sinh tồn đó họ cũng liên tục tác động vào các yếu tố xã hội để tạo ra các giá trị tinh thần (phong tục, tập quán, đạo đức…) Như vậy có thể nói rằng, văn hóa

là tất cả những gì do con người sáng tạo ra trong quá trình ứng xử với tự nhiên và xã hội Mọi cái liên quan đến con người đều có mặt văn hóa của nó Với tư cách là chủ thể sáng tạo ra những giá trị văn hóa, con người mang trong mình nét tính cách truyền thống vùng miền, đi vào văn học tạo thành những điển hình nghệ thuật có tính chất khái quát cao Bằng sự lặng lẽ mà vô cùng sâu sắc tinh tế của của mình, Đỗ Bích Thúy ra mắt bạn đọc một không gian văn hóa rất lạ, rất đẹp qua biểu hiện tính cách cũng như sinh hoạt của con người miền núi

2.1.1 Vẻ đẹp văn hoá của con người miền núi

2.1.1.1 Trong các mối quan hệ nghĩa tình

Trong tình yêu, hôn nhân, gia đình

Tình yêu vốn là đề tài muôn thuở của thi ca Từ hàng ngàn năm nay, tình yêu như một chất xúc tác làm nên những bản tình ca lãng mạn giàu giai điệu và đầy tính nhân văn Ở Việt Nam, mười thế kỷ văn học trung đại nằm

Trang 30

trong sự ràng buộc bởi những quan điểm Nho giáo, chưa xem tình yêu với ý nghĩa đích thực của nó Các thi nhân xưa khi nói về tình yêu cũng chỉ dùng một cách nói ẩn dụ, bóng bẩy với nguyệt hoa, loan phượng, yến oanh…

Những năm đầu của thập niên 30, khi bài thơ Tình già của Phan Khôi

được in trên mặt báo, mở đường cho hàng loạt các nhà thơ mạnh dạn cởi mở lòng mình Chính vì vậy, ta đã được biết đến một Xuân Diệu đầy khát khao say đắm, một Nguyễn Bính day dứt, hờn ghen, một Hàn Mặc Tử đau đớn vì một tình yêu bế tắc, một Vũ Hoàng Chương muốn trốn trong cơn say để quên

đi những cơn đau tình v.v… Tất cả đã tạo nên những cung bậc cảm xúc mang nhiều màu sắc và thật sự chạm đến tâm hồn của mỗi con người Tình yêu là cái mà con người ta luôn háo hức chờ đợi Ở đâu có tình yêu ở đó có sự sống,

ở đâu có tình yêu, ở đó có những vần thơ hay và toả sáng Chính vì điều này

mà dẫu văn học viết về đề tài miền núi có nét rất riêng nhưng cũng không nằm ngoài dòng chảy chung đó

Cuộc đời này quả sẽ là rất vô vị nếu không có những người trẻ biết yêu nhau, người già biết cần nhau Tác phẩm của Đỗ Bích Thúy đề cập nhiều đến vẻ đẹp của văn hóa trong tình yêu Ngòi bút của chị rất quan tâm đến những con người thiếu thốn, khốn khổ về thân xác nhưng hơi ấm hạnh phúc của tình yêu vẫn soi sáng và nâng niu họ vượt qua mọi gian nan để vươn lên, sinh tồn Dẫu trong kiếp sống của những con người khốn cùng đi ở gạt nợ cho nhà lý trưởng dưới thế lực phong kiến vô cùng tàn bạo, nhưng không vì thế mà Chía và

Váng trong truyện ngắn Cột đá treo người lại không có những giây phút tràn

ngập trong hạnh phúc tình yêu: “Dưới ánh trăng mờ, Chía đang được Váng

cầm tay ngay dưới gốc lê già gần chuồng ngựa” [37, tr.97] Truyện ngắn Sau

những mùa trăng bắt gặp chàng trai rất đỗi ngờ nghệch, thật thà trong khi

bên kia cô gái đang hồi hộp lắng nghe tiếng đập khác lạ đầu tiên của con tim

để rồi lặng lẽ, kín đáo gửi đi những tín hiệu yêu thương: “Chị không nghĩ đến

Trang 31

thằng Sìn bao giờ đâu, chú đừng lo" "Thế thì chị dâu nghĩ đến ai? Ai hở chị dâu? Người ấy có ở Vần Chải không?" "Chú đừng hỏi nữa, chị xin " Chị dâu khóc Tiếng khóc bật ra như thác lũ thượng nguồn không gì ngăn được Khóc như để trôi đi những bức bối trong lòng Nước mắt chảy ròng ròng trên

gương mặt bợt bạt, rớt xuống ướt ngực áo ” Cô gái trong truyện ngắn Mần

tang mọc trong thung lũng lại quá đỗi vô tư, vô tư đến nỗi không hề mảy

may nhận ra những biểu hiện vụng về đến si mê không tỏ thành lời của chàng trai Tình yêu đã có lúc, nó như là thứ bùa mê bí ẩn được chàng trai kín đáo

gửi vào trong những viên sỏi nhặt lên từ lòng suối trong truyện ngắn Đá cuội

đỏ, tiếng đàn môi réo rắt da diết chảy tràn qua bờ rào đá đêm đêm, đã khiến

cho bước chân của cô gái mới lớn như May trong truyện ngắn Tiếng đàn môi

sau bờ rào đá phải run rẩy, ngập ngừng: “Tiếng đàn ấy, May đã gặp ở mấy

phiên chợ rồi, lần nào cũng đuổi sau lưng, May đi nhanh thì theo nhanh, May

đi chậm thì theo chậm, bây giờ lại dám theo về tận nhà người ta nữa” Truyện

ngắn Cái ngưỡng cửa cao là tình yêu đẽ và vô cùng trong sáng của Sính chàng trai bản với cô giáo Sương: “Từ khi có Sương lên dạy học ở bản, Sính

chỉ dừng ánh mắt ở ô cửa lớp học vừa thấp vừa bé Cô giáo Sương hơn Sính hai tuổi Mặc kệ, hơn hai chứ hơn mười tuổi cũng thế thôi” Ở truyện ngắn

này ta chứng kiến tình yêu với tất cả sức mạnh của nó đã nâng con người vượt qua mọi nghịch cảnh, rào cản, ranh giới để sống thật và hy vọng về một tình yêu đích thực của đời mình Còn có cả tâm trạng yêu thương thầm kín của

chàng trai với người chị dâu xinh đẹp, góa bụa trong tác phẩm Sau những

mùa trăng Tất cả những rung cảm rất mong manh, nhẹ nhàng này đã được

tác giả thể hiện chân thực, lãng mạn, trong sáng làm rung động lòng người Điểm rất dễ nhận thấy những con người vùng cao là tình yêu đối với họ là một cái gì đó rất kín đáo và thiêng liêng Ta cũng đã như bật cười trước suy nghĩ rất đỗi ngây thơ và chân thật của cô gái có tên là Súa trong tác phẩm

Trang 32

Lặng yên dưới vực sâu: “Lúc đầu, Súa đã nghĩ Vừ đã nhìn thấy cả rồi,

chẳng cho Vừ thì cho ai” [38, tr.32] Đó chỉ là những suy nghĩ bất chợt ban

đầu nhưng đó chính là cái duyên để sau này có dịp tìm hiểu nhau Súa mới biết

mình “say Vừ còn hơn cả say rượu” Người miền núi rất hiếm khi có những

cử chỉ yêu thương, âu yếm lãng mạn được thể hiện nơi công cộng Thường thì

họ rất dè dặt kín đáo trong chuyện tình cảm nhưng một khi đã trót lòng yêu ai thì họ dành cho người mình yêu những tình cảm chân thành sâu đậm nhất Người miền núi mang trong mình tấm lòng thủy chung, đặc biệt là trong tình yêu và dường như nó trở thành một điều gì đó có tính chất truyền thống nhiều

đời: “Nhưng nói gì thì nói, cũng chỉ tại nó giống ông thôi, yêu ai thì yêu đến

chết Xuống mồ rồi vẫn yêu” [38, tr 81]

Con người miền núi đáng quý ở chỗ họ yêu nhau rồi gắn kết với nhau trong sự đùm bọc yêu thương nghĩa tình, dẫu cuộc đời này còn rất nhiều những gian truân và lắm nỗi đau thương, đắng cay cơ cực Ta từng chứng kiến người phụ nữ cùng sát cánh bên chồng chịu đựng biết bao nỗi vất vả, lăn lộn, bươn chải chỉ với mong muốn rất giản dị là kiếm sống cho một gia đình

đằm thắm, chan chứa yêu thương trong truyện Những buổi chiều ngang qua

cuộc đời Ta cũng từng thấu hiểu nỗi lòng tha thiết của người con trai bản

ngóng trông vợ từ miền xuôi trở về Dẫu anh đang rất cô đơn, tủi phận nhưng vẫn một mực thủy chung không hề gục ngã trước mọi cám dỗ qua tác phẩm

Cái ngưỡng cửa cao Truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá chất chứa,

âm ỉ cả một nỗi buồn và sự hi sinh vô cùng to lớn của mẹ già Dẫu không sinh con được và theo thời gian tuổi tác mỗi ngày một nhiều thêm và trên gương mặt đã xuất những nếp nhăn dấu hiệu của sự tàn phai nhan sắc Mao đã trở thành “mẹ già” mang trong lòng một nỗi đau câm lặng không thể tỏ thành lời

Có những lúc sau một đêm thức dậy nỗi đau khổ tột cùng của kiếp người làm

vợ không một ngày làm mẹ đã khiến cho: “hai mắt mẹ già trũng xuống, tay

Trang 33

bưng chậu cám run như phải cảm” Nhưng không vì nỗi buồn đau riêng của đời mình mà người phụ nữ vùng cao trở nên ích kỉ, tàn nhẫn Bà Mao vẫn hết

lòng thương yêu, chăm chút cho những đứa con riêng của chồng: “Từ sáng

đến khuya, lúc nào May cũng nằm trên lưng mẹ già Không biết đã bao lần, May ngậm hai bầu ngực của mẹ già mà nhay cho đến bật máu vì thèm sữa” [37, tr.24] Không những thế, bà còn dạy chúng biết làm một con người tốt,

biết học cách tha thứ cho lỗi lầm của người khác Còn ông Chúng, chồng bà

Mao, dù đã “vượt rào” lấy thêm người vợ hai trẻ trung xinh đẹp, nhưng ông

luôn cảm thấy rất day dứt, thấy mình có lỗi thật nhiều với người vợ cả Ông,

bà Mao, bà Hoa là những con người mà mỗi phận người mang trong mình một nỗi khổ riêng, nhưng tất cả những suy nghĩ và hành động của họ để lại

trong lòng người đọc rất nhiều day dứt, trăn trở: “Từ hôm ấy nhà có ba người

Ba người ngủ ở ba cái giường, ba góc nhà Ba người không mấy lúc nói chuyện với nhau Mao dưới bếp, Hoa trên nhà, Chúng ngoài vườn, chỉ bữa cơm mới ngồi lại gần nhau Đêm nào cũng nghe thấy tiếng cọt kẹt từ ba cái giường Dậy sớm hay dậy muộn thì cả ba người đều thâm quầng hai mắt” [37,

tr 23] Biết được vợ vẫn nặng tình với tiếng đàn môi của người xưa, ông Chúng đã chủ động giục vợ mang rượu ngô đi bán ở chợ hai bảy tháng ba Thực ra là ông đang tạo cái cớ cho vợ mình đi gặp người cũ Ta cũng thấu

hiểu nỗi lòng của người đàn ông tên Dân trong truyện ngắn Mặt trời lên quả

còn rơi xuống đã không ngừng tự dằn vặt mình vì đã đối xử lạnh nhạt với

người vợ: “Ăn bao nhiêu mèn mén, bao nhiêu muối mà vẫn ngu Vợ mình tự

mang về, tự mình lấy mất đời con gái người ta như vùi củ sắn vào bếp, giờ bỏ mặc người ta mà nghĩ đến người khác được à”[37, tr 202] Trong truyện

ngắn Gió không ngừng thổi ta bắt gặp nỗi đau khổ của sự chịu đựng và tấm

lòng vô cùng cao thượng của người chồng Không thể sinh con trai, biết vợ đã

có con với người khác, ông vẫn một mình giấu kín mọi chuyện trong suốt một

Trang 34

thời gian dài Ông không dám nói ra vì sợ nói ra vợ sẽ buồn, vợ sẽ khó nghĩ

và khó ở Hơn thế nữa, ông vẫn hết lòng chăm sóc, thương yêu lo lắng cho vợ con Nhưng đến khi vợ sắp ra đi không trở lại nữa, ông đã nói ra cái điều mà

khiến những ai là người sống ở trên cõi đời này cần phải suy nghĩ: “Sèn à,

thằng Chá ấy, thằng Chá em con đấy, nó không phải là con đẻ của bố Con biết không? Nó không phải là con đẻ của bố đâu, thật đấy Giờ mẹ sắp đi rồi,

bố định hỏi xem mẹ có muốn cho nó đi nhận bố đẻ không Cả con nữa, con có muốn thế không? Con là con gái lớn, bố để con quyết định đấy Có nên hỏi

mẹ con không hở Sèn?” [37, tr 7] Ở cái vùng miền mà chế độ phụ hệ chi

phối mọi hoạt động của đời sống, sự chịu đựng của người phụ nữ gần như là điều bình thường, hiển nhiên Ta cứ ngỡ dường như người đàn ông miền núi không bao giờ phải chịu đựng điều gì liên quan đến sự đau khổ Nhưng qua văn xuôi của Đỗ Bích Thúy, ta dường như thấm thía hơn cái điều tưởng

chừng như rất đỗi đơn giản về quan niệm hạnh phúc: Ở đời hạnh phúc vốn là

cái chăn quá hẹp Và tư cách của mỗi con người được quyết định bởi sự lựa

chọn của anh ta giữa một bên ấm và một bên lạnh Đứng trước sự lựa chọn, cái nào được anh lựa chọn cho mình và cái nào anh để dành cho người sẽ nói lên rất nhiều điều Và người đàn ông miền núi trong trong văn của Đỗ Bích Thúy tận sâu thẳm trong tâm hồn họ vẫn lấp lánh, sáng ngời đức hi sinh nhường phúc, đeo buồn để nỗi khổ của người phụ nữ chân yếu tay mềm, khốn khổ bao đời phần nào được vơi giảm, được bớt đi sự bất hạnh

Nói như vậy không có nghĩa con người miền núi trong tác phẩm của

Đỗ Bích Thúy không có cung bậc tình cảm tự nhiên của những con người Họ cũng là những con người bình thường nhất, luôn mang trong mình những cảm xúc yêu, ghét, giận, hờn Nhưng biểu hiện của những cung bậc tình cảm ấy bao giờ cũng mang một sắc màu chân chất, chan chứa nghĩa tình, và luôn bao dung trước lỗi lầm của người khác Người miền núi luôn dặn mình, dặn

Trang 35

người: “Cái gì cần nhớ thì hãy nhớ, cái gì nên quên thì phải biết quên Hôm

qua trời mưa nước suối đục, nhưng không đục mãi được, con người cũng thế…” [37, tr 20], để cuộc sống trở nên dễ chịu bởi cách cư xử giữa con

người với nhau được đặt trong bầu không khí nhân ái hơn Từ quan niệm về tình yêu, hôn nhân của mình, con người miền núi đã tạc riêng cho mình một tính cách cao đẹp, có nhiều điều đáng phải trân trọng và phát huy trong đời sống xã hội hiện nay.Bằng những lời rủ rỉ, nhẹ nhàng tâm tình của mình, Đỗ Bích Thúy đã dẫn dắt bạn đọc đến với cuộc sống giữa bạt ngàn hoang vu, cây rừng, gió núi để có cơ hội hiểu hơn về những con người với một phong cách sống với những quan niệm và cách ứng xử vô cùng phóng khoáng

Không chỉ đẹp trong tình yêu hôn nhân, người vùng cao luôn sẵn lòng dành cho người thân của mình những tình cảm dạt dào, sâu thẳm Tác phẩm

Giống như cái cối nước là tấm lòng của cha mẹ dành cho người con mênh

mông không biển trời nào sánh kịp Là một cô gái xinh đẹp, giỏi giang, hát hay nhưng chỉ tội là con nhà nghèo mà Vi mãi vẫn không được ai cưới về làm

vợ Bị cái nghèo đeo bám, đã qua mấy phiên chợ rồi, cũng có cả người theo

về tận nhà nhưng chỉ một hai phiên chợ lại mất hút Cả Sinh cũng đã yêu, đã hẹn hò mà giờ lạnh nhạt và không chịu cưới Vi Hình ảnh Vi ngày càng lầm lụi như cái bóng khiến lòng cha mẹ quặn thắt Họ chẳng biết làm sao, đành bán mảnh đất đang ở, một con trâu và cả đàn dê lấy hai trăm đồng bạc trắng

để gả chồng cho Vi Bán cả những gì quý giá truyền từ đời ông bà để rồi sau

đó, cả nhà gắn chặt với cuộc sống túng quẫn, cơ cực

Không chỉ có tình cảm yêu thương giữa cha mẹ với con đẻ, ngòi bút của Đỗ Bích Thúy còn đưa bạn đọc đến với tình cảm của người cha, người mẹ đối với những đứa con riêng của vợ, chồng mình Ta đã bắt gặp tình thương

vô bờ bến của người mẹ già trong truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá

với hai đứa con riêng của chồng: “May bé như con mèo con Từ sáng đến

Trang 36

khuya lúc nào cũng nằm trong địu trên lưng mẹ già Không biết bao lần May ngậm hai bầu ngực mẹ già, nhay đến bật máu vì thèm sữa May lên hai tuổi, còn chưa trèo qua được bậu cửa thì Thằng Trài lại ngồi trong địu, thay chỗ của May, lại nhay đầu vú chưa bao giờ có sữa của mẹ già” Không chỉ chăm

sóc và nuôi dưỡng bà còn dạy dỗ cho những đứa con riêng của chồng cách

sống, cách ở cho ngay thẳng, rộng lượng Còn ông bố trong truyện ngắn Gió

không ngừng thổi, dẫu đã biết đứa con trai duy nhất không phải là máu mủ

của mình, nhưng ông vẫn tự tay chôn nắm nhau của nó vào cột nhà chính và

nói: “Chỉ tại mày mà tí nữa tao mất vợ, phải ăn cho khỏe, lớn cho nhanh để

thay tao làm trụ cột cái nhà này Đừng để bố mẹ mày phải khổ vì mày nghe chưa” Đến ngày nó tròn một tuổi, trong lễ mừng tuổi, nó cũng được giao

trọng trách như một người đàn ông trụ cột trong gia đình Và đứa bé trai ấy đã lớn lên trong sự nuông chiều, lo lắng cuống cuồng của cả gia đình dòng họ

Cả đến khi nó mải chơi, gán con ngựa quý thì ông bố đã lặn lội đi đem con ngựa về trong những ngày mọi người đang mải vui chơi, đi thăm thú, chúc tụng nhau vào dịp ngày tết

Mối quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu là mối quan hệ rất phức tạp

Để khẳng định tính phức tạp mà xưa nay dân ta có câu: “Thật thà như thể lái

trâu/ Yêu nhau như thể nàng dâu mẹ chồng” Thế nhưng quan hệ nàng dâu-

mẹ chồng của những con người miền núi trong văn của Đỗ Bích Thúy thật

khiến ta vô cùng xúc động Truyện ngắn Gió không ngừng thổi là cả tấm

lòng của người mẹ chồng hết lòng lo lắng cho con dâu như con đẻ của mình Mới bước vào nhà chồng, bà Kía đã được mẹ chồng ân cần bảo ban dặn dò:

“dặn kĩ như dặn một đứa con gái sắp đi lấy chồng chứ không phải một đứa

con dâu mới về” [37, tr.45] Bà mẹ chồng trong truyện ngắn Mặt trời lên quả

còn rơi xuống sau bao đêm trăn trở đã quyết định “mắng” đứa con trai duy

nhất đang lạc lối của mình, chỉ cho con nhận ra sự sai trái của mình để quay

Trang 37

về chăm sóc, yêu thương vợ: “Chua cũng là rượu, xấu cũng là vợ mình Vợ có

què cũng phải thương lấy…Chăn nhà mình có rận thì cũng phải đắp, đắp chăn nhà người khác là thành người nhà họ, chết đi thành con ma đói, ma rét nhà họ, thế là sướng hay khổ?”[37, tr 202] Lời mắng như một lời tâm sự

mộc mạc nhưng chân tình và không thể không khiến con người ta phải suy nghĩ Bà mẹ chồng của đồng bào vùng cao không bao giờ xét nét, khó tính, khó nết Họ thấu hiểu hoàn cảnh sống trước đó mà người con dâu của mình đã phải trải qua cũng như cả hoàn cảnh sống hiện tại Để rồi từ đó, chọn cách yêu thương con dâu như chính đứa con mình dứt ruột đẻ ra Không chỉ mẹ chồng

thương con dâu, ông bố chồng của Nhẻo trong truyện ngắn Như một con

chim nhỏ cũng nhận ra và thương xót cho đứa con dâu đã góa chồng đang

héo hắt từng ngày ở độ tuổi hai mươi Cái độ tuổi mà đáng ra là đẹp nhất của một đời người Cái độ tuổi đáng ra đang phải được tận hưởng niềm hạnh phúc

Đến cả mối quan hệ cũng không kém phần phức tạp như quan hệ chị dâu em chồng cũng được Đỗ Bích Thúy thể hiện qua cái nhìn mới mẻ và vô

cùng nhân hậu Xưa, dân ta cũng đã từng có câu “Giặc bên Ngô không bằng

bà cô bên chồng” để chỉ mối quan hệ vô cùng căng thẳng giữa hai người phụ

nữ cùng “yêu” một người đàn ông Và đây là vấn đề tiềm ẩn nhiều nguy cơ tan vỡ hạnh phúc của đôi vợ chồng nếu không nhìn nhận một cách chính xác

và cư xử khéo léo Lặng yên dưới vực sâu có tình huống trớ trêu mà qua đó

người đọc nhận thấy rõ tình mến thương của “bà cô bên chồng” với người chị

dâu Trong một đêm, Súa bị chồng tức giận mang ra đang định ném vào chuồng bò: “…” chính lúc ấy đứa em gái chồng xuất hiện Điều khiến mọi người vô cùng ngạc nhiên là nó xuất hiện với cái roi chăn bò trên tay và một

nỗi giận dữ vô cùng: “quất mạnh vào mông anh trai Không nhìn thấy nó

nhưng Súa cảm nhận được sự tức giận của nó Phống như được đánh thức,

Trang 38

ném phịch cả Súa, cả đống chăn xuống cửa chuồng bò, phăm phăm đi về” [38, tr.40] Cái đứa em chồng bị tật nguyền nhưng đã thấu hiểu được phần

nào nỗi khổ mà những người phụ nữ trên rẻo cao đang phải oằn người chịu đựng, tình thương của sự đồng cảm đã cho Súa niềm tin nghị lực để tồn tại cho trọn kiếp người Súa cũng dành cho em chồng tình thương như thương yêu dành cho chính bản thân mình Chị dâu tìm được đứa em chồng khi nó gần như hóa đá trước nỗi đau quá lớn tưởng chừng như không thể vượt qua

được: “Súa dìu em đứng dậy, vắt nó lên vai và cõng ngược lên nhà theo lối

mòn Áp vào lưng Súa là hai bầu ngực căng cứng của đứa gái tuổi dậy thì Căng cứng và nguội ngắt Một cảm giác đau xót rất khó tả trỗi dậy trong lòng Súa” [38, tr 77], Súa cảm cảm nhận được tất cả nỗi đau qua sự biến chuyển

nhỏ nhất trên cơ thể đứa em chồng Cảm nhận như chính cơ thể mình đang héo hắt đi trước nỗi đau quá lớn Và thật sự, ta không thể nén nổi xúc động khi chứng kiến cảnh chính đứa em gái chồng, bị câm, biết chị dâu sống nhiều ngày tháng với anh trai mình không có được hạnh phúc, đã tình nguyện làm

“chim xanh” cho cuộc hẹn hò của chị dâu và người yêu cũ (Lặng yên dưới

vực sâu)

Trước đây, trong gia đình người Việt Nam thường có nhiều thế hệ sống hòa thuận đoàn kết với nhau Nay đời sống hiện đại đã có nhiều đổi thay các gia đình lớn nhiều thế hệ đã tách riêng thành những đình nhỏ để tiện bề sinh hoạt Cuộc sống muôn màu muôn vẻ, các mối quan hệ giữa con người với con người cũng không kém phần phức tạp, khiến nhiều nhà tâm lý phải ngồi lại luận bàn, nhiều cuộc nói chuyện được diễn ra với mong muốn tìm được hạnh phúc, bình yên cho các gia đình.Với một giọng văn nhẹ nhàng Đỗ Bích Thúy đưa bạn đọc đến với các vùng cao để ngắm nhìn cách cư xử của tất cả các thành viên trong gia đình Điều khiến bạn đọc ấn tượng nhất qua những trang

Trang 39

viết của chị là một lối cư xử rất mộc mạc nhưng thắm đượm nghĩa tình bên một cuộc sống vẫn còn vô vàn gian khó

Trong cộng đồng

Người miền núi còn rất đẹp ở tấm lòng hiếu khách Một người khách đến nhà, dù xa hay gần, thân hay sơ cũng đều được chào đón một cách nồng nhiệt Ta có thể nhìn thấy rõ điều này ngay từ khâu đón khách Dù giàu hay nghèo khi có một người khách đến chơi là tất cả mọi người trong nhà đều mặc những bộ quần áo mới nhất, đẹp nhất để ra đón khách Sau đó phải kể đến

khâu chuẩn bị làm cơm mời khách Trong truyện ngắn Mần tang mọc trong

thung lũng mâm cơm mời khách được chuẩn bị rất chu đáo: “Một mâm cơm

để bên bếp lửa đang cháy rừng rực như chờ sẵn Trên mâm cơm có thịt lợn ướp muối ớt, có canh rau dớn phơi héo nấu mẻ Cả một con gà luộc để nguyên, vết mổ trên lưng hoác ra” [37, tr 174] Chỉ có người đàn ông quan

trọng trong gia đình mới được trực tiếp ngồi tiếp khách, còn đàn bà và trẻ con thì phải ăn ở dưới bếp Khi khách ra về, chủ nhà còn tiễn khách tận đầu dốc

và dặn dò nhiều điều thân tình rồi mới quay trở vào nhà Sự mến quý khách không chỉ xuất hiện ở vùng đồng bào dân tộc phía Bắc mà dường như là đặc trưng của tất cả những người dân tộc thiểu số trên khắp đất nước Việt Nam Với người Tây Nguyên, có một người khách đến cả làng rộn ràng lắm, khách được coi như là khách của cả làng Các nhà trong bản nếu có thức ăn gì ngon thì đến bữa mang ra để cùng tiếp khách Cơm và thức ăn được bê đến tận nhà khách đang ở, khi khách dùng xong tự động các gia đình đến bưng mâm về Người vùng cao nương náu thân mình giữa đại ngàn hoang vu, cây rừng, gió núi Họ làm bạn với muông thú và cây rừng Có khách đến, thì vui lắm, mừng lắm, cả nhà phải vui lên thôi, để khách được ấm lòng khi ra về và sớm có ngày quay lại Từ cách cư xử thường ngày của mình, con người miền núi đã tạo ra được một nét đặc trưng rất riêng, rất đẹp, không lẫn vào đâu được Và

Trang 40

ngày nay, trong thời đại phát triển, con người bị cuốn đi theo cơn lốc thị trường, cái gì cũng được cân đo, đong đếm bằng đồng tiền thì những nét đẹp riêng ấy trở nên vô cùng quý giá có thể là nơi về, chốn nương náu yên bình cho mỗi tâm hồn người

Sống trong đá, chết cũng vùi trong đá, từ đá núi gian nan vươn lên để sinh tồn, người miền núi dành rất nhiều tình cảm cho hàng xóm láng giềng để cùng nương tựa lẫn nhau trong hoàn cảnh khắc nghiệt để tồn tại và phát triển

Nếu như người Kinh có câu: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”, thì người miền núi quan niệm rất mộc mạc: “Giúp không mới là anh em chứ lấy công

đổi người, đổi bạc trắng thì chưa phải là anh em đâu” Chính vì thế, mà khi

Thào Mí Chá ở Lũng Pục trong truyện Gió không ngừng thổi bị mất tích, đã

khiến cả làng xôn xao lên và mọi người chạy bổ đi tìm Những con người ở

đây từ xưa đến nay vẫn thế: “Mấy chục nóc nhà sống với nhau như anh em

ruột thịt, một con bò cày nhà ai bị ngã núi thì cả bản xúm lại góp mỗi người một ít tiền mua cho nhà ấy ngay một con bò mới, huống hồ lần này là chuyện mất tích của thằng con trai duy nhất nhà ông Sùng” Có một đêm, Liên nhân

vật trong truyện Mần tang mọc trong thung lũng đi vào bãi chuối không

thấy về, cả bản nháo nhào lên: “Đốt đuốc đi tìm, chỗ nào nghi ngờ cũng sục

vào nhưng không thấy” Người miền núi, sống giữa rừng núi hoang vu, nhà

nọ cách nhà kia rất xa nên nhìn thấy nhau họ rất quý Hơn nữa, họ luôn phải đối mặt với rất nhiều mối nguy hiểm mà riêng cá nhân họ không thể gánh vác được, mà họ lại không có các dịch vụ để thuê mướn Chính vì thế, vấn đề tình làng nghĩa xóm có ý nghĩa gần như là cố kết để cùng sinh tồn Nhưng cái căn bản tốt đẹp ở đây là họ cố kết trong nghĩa tình chân thật và nó ấm áp lòng mỗi người khi bên nhau, tha thiết nhớ đến nhau mỗi khi trong hoàn cảnh xa cách

miền núi còn rất tình nghĩa với cả những người đã khuất Khi một gia đình

Ngày đăng: 21/05/2021, 23:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Aristote (2007), Nghệ thuật thi ca, NXB Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Aristote
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2007
[2] Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 1999
[3] Nguyễn Duy Bắc (1993), “Về bản sắc dân tộc trong sáng tác của các nhà thơ dân tộc thiểu số”, Tạp chí Văn hóa dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam, 4(2), tr. 19-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản sắc dân tộc trong sáng tác của các nhà thơ dân tộc thiểu số”, "Tạp chí Văn hóa dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Năm: 1993
[4] Nông Quốc Chấn (1964), “Mấy vấn đề về nền văn học các dân tộc thiểu số”, Tạp chí Văn học, 12(10), tr.3-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về nền văn học các dân tộc thiểu số”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Năm: 1964
[5] Phạm Thùy Dương (2007), “Cảm hứng cảm thương trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Bích Thúy”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, 5(661), tr.19-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng cảm thương trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Bích Thúy”," Tạp chí Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Phạm Thùy Dương
Năm: 2007
[6] Chu Xuân Diên (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: NXB Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn TP HCM
Năm: 1999
[7] Đinh Văn Định (1986), “Văn học các dân tộc thiểu số mười năm qua với vấn đề truyền thống và hiện đại”, Tạp chí văn học (5), tr. 5-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học các dân tộc thiểu số mười năm qua với vấn đề truyền thống và hiện đại”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Đinh Văn Định
Năm: 1986
[8] Nhiều tác giả (2009), Truyện ngắn năm tác giả nữ, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn năm tác giả nữ
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2009
[9] Nguyễn Văn Hạnh (1996), “Về khái niệm văn hóa- Vài khía cạnh lý luận và thực tiễn”, Tạp chí văn học (9), tr.22-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm văn hóa- Vài khía cạnh lý luận và thực tiễn”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Năm: 1996
[10] Nguyễn Văn Hạnh (2007), “Văn hóa như nguồn mạch sáng tạo và khám phá văn chương”, Tạp chí Sông Hương (217), tr 61-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa như nguồn mạch sáng tạo và khám phá văn chương”, "Tạp chí Sông Hương
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Năm: 2007
[11] Đinh Hài (2003), Quan hệ văn hóa văn học qua sáng tác của Nguyên Ngọc về Tây Nguyên, Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Văn học Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ văn hóa văn học qua sáng tác của Nguyên Ngọc về Tây Nguyên
Tác giả: Đinh Hài
Năm: 2003
[12] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2001), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2001
[13] Tô Hoài (2000), Tuyển tập Tô Hoài, NXB Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Tô Hoài
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 2000
[14] Nguyễn Thị Thu Hiền (2005), “Đọc tiểu thuyết Bóng của cây sồi của Đỗ Bích Thuý”, nguồn http//: www.vanchuongviet.org,( ngày đăng 06/03) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc tiểu thuyết Bóng của cây sồi của Đỗ Bích Thuý”, "nguồn http//: www.vanchuongviet.org
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền
Năm: 2005
[15] Thu Huyền (2006), “Nhà văn Đỗ Bích Thúy viết vì nhu cầu nội tâm”, Nguồn http:/maivang .nld.com.vn (ngày đăng 21/01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Đỗ Bích Thúy viết vì nhu cầu nội tâm”, "Nguồn http:/maivang .nld.com.vn
Tác giả: Thu Huyền
Năm: 2006
[16] Đoàn Hương (2004), Văn luận, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn luận
Tác giả: Đoàn Hương
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2004
[17] Ma Văn Kháng (1998), Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
[18] Hoàng Lương (1986), “Biểu tượng trong đám cưới của người Thái ở Việt Nam”, Tạp chí xưa và nay (251&252), tr33-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng trong đám cưới của người Thái ở Việt Nam”, "Tạp chí xưa và nay
Tác giả: Hoàng Lương
Năm: 1986
[19] Phong Lê, Đinh Minh Định (1985), Bốn mươi năm văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số 1945- 1985, NXB Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn mươi năm văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số 1945- 1985
Tác giả: Phong Lê, Đinh Minh Định
Nhà XB: NXB Văn học Hà Nội
Năm: 1985
[20] Nguyễn Đăng Mạnh (2003), Nhà văn Việt Nam hiện đại- chân dung và phong cách, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam hiện đại- chân dung và phong cách
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w