Luận án nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng việc ĐCSVN chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình qua các giai đoạn cách mạng, trọng tâm là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước (từ năm 1996) đến nay. Đề xuất những yêu cầu và giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt việc Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình trong giai đoạn hiện nay.
Trang 2ĐẶNG VĂN TIN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC NHÂN DÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận
án này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
TÁC GIẢ
Đặng Văn Tin
Trang 4Trang
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN VẤN ĐỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CHỊU TRÁCH NHIỆM
1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 6 1.2 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 19 1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu các công trình có liên quan đến đề tài và
những vấn đề luận án sẽ tập trung giải quyết 23
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHỦ YẾU VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC NHÂN DÂN VỀ NHỮNG
2.1 Cơ sở lý luận Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định
2.2 Đảng Cộng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước nhân dân về những
quyết định của mình - khái niệm, nội dung và cơ chế 38
Chương 3: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC
NHÂN DÂN VỀ NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA MÌNH TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 60 3.1 Thực trạng Đảng Cộng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước nhân dân về
những quyết định của mình 60 3.2 Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra 90
Chương 4: YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN TỐT
VIỆC ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC
NHÂN DÂN VỀ NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA MÌNH ĐẾN NĂM 2030 103 4.1 Bối cảnh mới và yêu cầu thực hiện tốt việc Đảng Cộng sản Việt Nam chịu
trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình 103 4.2 Những giải pháp chủ yếu thực hiện tốt việc Đảng Cộng sản Việt Nam chịu
trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình đến năm 2030 113
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN
Trang 5BBT : Ban Bí thư BCT : Bộ Chính trị BCHTW: : Ban Chấp hành Trung ương
CB, CC : Cán bộ, công chức CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNXH : Chủ nghĩa xã hội
CTQG : Chính trị quốc gia CT-XH : Chính trị - xã hội ĐCSVN : Đảng Cộng sản Việt Nam HTCT : Hệ thống chính trị
KT-XH : Kinh tế - xã hội MTTQ : Mặt trận Tổ quốc NNPQ : Nhà nước pháp quyền Nxb : Nhà xuất bản
PTLĐ : Phương thức lãnh đạo XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) luôn gắn liền với dân tộc và nhân dân Những thắng lợi, những thành tựu mà cách mạng Việt Nam đạt được trong gần 90 năm qua đều gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng
Vì vậy, ĐCSVN được nhân dân suy tôn là người lãnh đạo của mình, bởi nhân dân thấy rõ chỉ có Đảng mới có khả năng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân Mục đích, lý tưởng phấn đấu của Đảng cũng là mục đích, nguyện vọng của nhân dân
Từ năm 1945, vai trò lãnh đạo của ĐCSVN đối với hệ thống chính trị (HTCT) và toàn xã hội đã được khẳng định và ghi nhận Tuy nhiên, trong cả lý luận và thực tiễn vẫn còn còn nhiều lúng túng và bất cập, như: sự phân định chức năng giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ chức chính trị -
xã hội (CT-XH) vẫn chưa thật rõ ràng, còn có sự trùng lắp, chồng chéo về một số chức năng; vị trí, vai trò của Đảng, Nhà nước, MTTQ và các tổ chức CT-XH chưa được xác định đúng mức, trên thực tế có lúc Đảng bao biện, làm thay, can thiệp không đúng chức năng, thẩm quyền vào công việc của Nhà nước, các tổ chức CT-XH, nhưng không phải chịu trách nhiệm Ngược lại, bản thân Nhà nước, MTTQ và các tổ chức CT-XH cũng có lúc, có việc còn thụ động, phụ thuộc và dựa dẫm vào sự lãnh đạo của Đảng, nên chưa thực hiện tốt chức năng, vai trò của mình Trong quá trình lãnh đạo, có thời kỳ Đảng cũng phạm sai lầm, khuyết điểm do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, tự chỉnh đốn để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tiếp tục lãnh đạo để đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; chưa xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan chính quyền, khi sai sót khuyết điểm không
ai chịu trách nhiệm Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn
Trang 7đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" đã thẳng thắn chỉ ra tình trạng này
và đề ra một hệ thống các giải pháp cấp bách để tiếp tục đổi mới, xây dựng Đảng, đề cao trách nhiệm của Đảng trước nhân dân Việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình đã tạo sự chuyển biến bước đầu có tác dụng cảnh báo, răn đe
và phòng ngừa các biểu hiện thiếu trách nhiệm, hành vi tham nhũng, tiêu cực, góp phần ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng Điều đó, thể hiện rõ Đảng ý thức trách nhiệm cao của mình trước nhân dân, dân tộc
Vị trí, vai trò lãnh đạo của ĐCSVN không chỉ được xác lập trong thực tiễn đấu tranh cách mạng của đất nước, mà còn được ghi nhận nhất quán trong các Hiến pháp Việt Nam (trong Lời nói đầu Hiến pháp năm 1959, trong Điều 4 của các Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013) Như vậy, từ khi thành lập cho đến khi trở thành đảng cầm quyền, ĐCSVN luôn được Nhà nước và cả xã hội thừa nhận, tôn vinh Việc Hiến pháp năm 2013 (khoản 2 Điều 4) lần đầu tiên quy định "Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình” thể hiện sự cam kết của Đảng trước nhân dân, tinh thần trách nhiệm cao của Đảng, sự dũng cảm chính trị, dám chịu trách nhiệm của Đảng, đồng thời cũng thể hiện đòi hỏi của nhân dân đối với Đảng trong việc đề
ra và tổ chức thực hiện những quyết định quan trọng liên quan tới sự phát triển của đất nước Có thể khẳng định rằng, một trong những nội dung khoản 2 Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 là hoàn toàn mới trong lịch sử lập hiến của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam Đồng thời, trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng yêu cầu: "Quy định rõ hơn Đảng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình" [31, tr.215] Tuy nhiên, đây là một trong những vấn đề lớn, phức tạp cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc, sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn
Xuất phát từ tầm quan trọng và tính cấp thiết nêu trên, tác giả chọn vấn đề
"Đảng Cộng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Xây
dựng Đảng và Chính quyền nhà nước
Trang 82 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về ĐCSVN chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình, luận án đề xuất các yêu cầu và những giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt việc Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình trong giai đoạn hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
- Làm rõ cơ sở lý luận vấn đề ĐCSVN chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình trong giai đoạn hiện nay; đưa ra quan niệm, nội dung Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng việc ĐCSVN chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình qua các giai đoạn cách mạng, trọng tâm là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước (từ năm 1996) đến nay
- Đề xuất những yêu cầu và giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt việc Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu vấn đề ĐCSVN chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình giai đoạn hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
Về nội dung: vấn đề ĐCSVN với tư cách là đảng duy nhất cầm quyền ở
nước ta có rất nhiều nội dung nghiên cứu khác nhau, chứa đựng nhiều vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực tiễn Luận án chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình trong giai đoạn hiện nay và đưa ra những yêu cầu, giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt việc Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình trong giai đoạn hiện nay
Trang 9Khái niệm Đảng ở đây bao gồm: Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, đại hội đại biểu các đảng bộ, đại hội đảng viên; các cơ quan lãnh đạo đảng (Ban Chấp hành Trung ương (BCHTW), Bộ Chính trị (BCT), Ban Bí thư (BBT), các cấp ủy đảng, ban thường vụ cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng)
Về thời gian: nghiên cứu về ĐCSVN chịu trách nhiệm trước nhân dân
về những quyết định của mình trọng tâm là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước (từ năm 1996 đến nay) Các giải pháp luận án đề xuất có giá trị đến năm 2030
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời sử dụng các phương pháp chuyên ngành và liên ngành cụ thể: kết hợp lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, tổng kết thực tiễn
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn việc ĐCSVN chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình trong giai đoạn hiện nay
- Đưa ra những yêu cầu và đề xuất một số giải pháp chủ yếu đề cao trách nhiệm của ĐCSVN trước nhân dân về những quyết định của mình trong thực tiễn:
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, cán bộ, đảng
viên về Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình
Hai là, thể chế hóa, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng; xây
dựng, hoàn thiện quy định của Đảng, Nhà nước về thẩm quyền, trách nhiệm trước nhân dân của người đứng đầu
Trang 10Ba là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng; giải
quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chấp hành Điều lệ Đảng với chấp hành pháp luật của tổ chức đảng, đảng viên
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận về trách nhiệm, chịu trách nhiệm trước nhân dân của ĐCSVN
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các cấp ủy, tổ chức đảng trong hoạt động lãnh đạo, nhằm thực hiện tốt trách nhiệm trước nhân dân trong thực tiễn
- Luận án cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu, học tập và giảng dạy môn Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước thuộc Học viện Chinh trị quốc gia (CTQG) Hồ Chí Minh và các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các công trình tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án và phụ lục, luận án gồm 4 chương, 9 tiết
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC NHÂN DÂN VỀ NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA MÌNH
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
hệ giữa Đảng và nhân dân ở nước ta phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện mới Những kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo quý giá mà tác giả luận án có thể kế thừa, phát triển, làm luận cứ có sức thuyết phục để đưa ra cơ sở
lý luận và thực tiễn của vấn đề Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình
- Nguyễn Văn Huyên, Đảng Cộng sản cầm quyền - nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng [63] Cuốn sách được kết cấu thành ba phần, với 12 chương: phần thứ nhất: tổng quát những vấn đề lý luận chung về Đảng cầm quyền
và Đảng Cộng sản cầm quyền; phần thứ hai: nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng - thực trạng và những vấn đề đặt ra; phần thứ ba: những điều kiện và yêu
cầu đảm bảo sự cầm quyền của Đảng, nhằm góp phần giải quyết những vấn đề đặt
ra là nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng cần được xác định như thế nào
để không trái với Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, với nguyên tắc toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Cuốn sách đã làm rõ những luận cứ khoa học về Đảng Cộng sản cầm quyền, về nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền (NNPQ) XHCN, trong đó chú trọng đến quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; thực trạng cầm quyền của Đảng…, đồng thời đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng
Trang 12- Trần Đình Huỳnh, Phan Hữu Tích, Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền [50] Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu, phân tích tư tưởng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền qua 6 chương, trong đó chương VI đề cập “Trong điều kiện lãnh đạo chính quyền, Đảng càng phải tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt với dân” [50, tr.149-171] Cuốn sách đã khai thác sâu giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân và mối quan hệ giữa Đảng và dân trong điều kiện đảng cầm quyền Tuy nhiên, nội dung cuốn sách mới chỉ đi sâu nghiên cứu lý luận, chưa đánh giá, tổng kết thực tiễn mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
- Lê Hữu Nghĩa, Hoàng Chí Bảo và Bùi Đình Bôn, Đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội [111] Các tác giả đã luận giải
cơ sở lý luận và thực tiễn để nghiên cứu đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước
và các tổ chức CT-XH ở nước ta; đánh giá thực trạng quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức CT-XH ở nước ta; nêu lên những quan điểm, nguyên tắc cơ bản và nội dung đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức CT-XH ở nước ta hiện nay; từ đó, các tác giả đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đổi mới, hoàn thiện quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức CT-XH ở nước ta hiện nay Các tác giả đi đến kết luận: thực chất của quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức CT-XH là quan hệ với nhân dân, với xã hội Đổi mới quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các tổ chức CT-XH là nội dung chủ yếu và căn bản của đổi mới HTCT ở nước ta hiện nay Đây cũng là thực chất của đổi mới chính trị nhằm xây dựng một nền chính trị thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đây là vấn đề có tầm quan trọng chiến lược, lâu dài nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, xây dựng CNXH
Trang 13yếu xác định rõ chức năng và nâng cao vai trò của ĐCSVN và các tổ chức
CT-XH trong giai đoạn hiện nay Đây là nguồn tài liệu rất có giá trị cho việc tham khảo của luận án
- Nguyễn Văn Giang, Đinh Ngọc Giang, Thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật [41] Cuốn sách kết cấu thành ba chương: Chương 1: Thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật - những vấn đề lý luận và thực tiễn; Chương 2: Thực trạng,
nguyên nhân và những kinh nghiệm thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong
khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; Chương 3: Phương hướng và giải pháp thực
hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật ở Việt Nam giai đoạn hiện nay Trong chương 3, tác giả đã đề xuất 5 nhóm giải pháp để thực hiện tốt nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; trong đó, nhóm giải pháp thứ hai “thực hiện mạnh mẽ cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị và đường lối đúng đắn, là cơ sở để Nhà nước luật hóa một cách chính xác, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có chất lượng trực tiếp thực hiện có kết quả nguyên tắc” và nhóm giải pháp thứ ba “đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa đủ sức thể chế hóa Cương lĩnh, đường lối của Đảng thành hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, đồng bộ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả” rất hữu ích để tham khảo cho đề tài luận án
- Ban Dân vận Trung ương - Nguyễn Thế Trung, Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong thời kỳ mới [7] Cuốn sách được kết cấu thành ba chương: Chương 1: Cơ sở khoa học của mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế;
Chương 2: Thực trạng về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân; Chương 3:
Những giải pháp tăng cường xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế Các tác giả
đã phản ánh được thực trạng, hạn chế, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm về mối quan hệ Đảng - Dân hiện nay, đồng thời đã đưa ra các tiêu chí đánh giá mối quan
hệ Đảng - Dân và những giải pháp xây dựng mối quan hệ gắn bó “máu thịt” giữa Đảng và nhân dân trong điều kiện thực hiện kinh tế thị trường định hướng
Trang 14XHCN và hội nhập quốc tế nhằm tập hợp nhân dân; xây dựng một xã hội đồng thuận, ổn định; củng cố mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Những nội dung của cuốn sách là nguồn tư liệu bổ ích được tham khảo cho luận án
- Nguyễn Đăng Dung, Trịnh Quốc Toản và Đặng Minh Tuấn, Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 [12]
Các tác giả đã làm sáng rõ từng nội hàm của các quy định trong Hiến pháp năm
2013, từ lời nói đầu đến chương IX - Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp, qua đó làm sáng tỏ các nội dung liên quan đến từng chương, chế định, điều khoản cụ thể Đặc biệt, các tác giả đã phân tích những điểm mới và ý nghĩa việc đổi mới trong Hiến pháp năm 2013 so với các bản Hiến pháp trước đây; trong đó, về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, các tác giả cho rằng: khoàn 2 Điều 4 Hiến pháp năm 2013 đã hiến định mối quan hệ này với nội dung phản ánh đúng phương châm lãnh đạo và triết lý cầm quyền của Đảng: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình” và khẳng định nội dung này là hoàn toàn mới trong lịch sử Hiến pháp nước ta
- Vũ Trọng Lâm, Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam [83] Cuốn sách kết cấu thành 03 chương Chương 1: Cơ sở lý luận về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam; Chương 2:
Thực trạng sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN ở Việt Nam; Chương 3: Quan điểm và giải pháp chủ yếu về đổi
mới sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam Trong chương 3, tác giả đã đề xuất 8 nhóm giải pháp chủ yếu về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam; trong đó, nhóm giải pháp thứ nhất “đổi mới nhận thức, xác định và thực hiện đúng đắn chức năng, thẩm quyền, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, Đảng và các tổ chức xã hội” và nhóm giải pháp thứ bảy “về đổi mới xây
Trang 15dựng, ban hành, học tập, nghiên cứu, tổ chức thực hiện nghị quyết của các cấp
ủy đảng” rất hữu ích để tham khảo cho đề tài luận án
- Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự - Bộ Quốc phòng, Vấn đề xây dựng chỉnh đốn Đảng [136] Cuốn sách được kết cấu thành 02 phần Phần thứ nhất: Nội dung cơ bản về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XII Phần thứ hai: Định hướng quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị
quyết Đại hội XII về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Nhằm góp phần đưa những nội dung cơ bản
về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng đi vào cuộc sống Đây
là một tư liệu quý có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, góp phần xây dựng Đảng ta ngày càng vững mạnh, xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
- Lê Hữu Nghĩa, Bùi Đình Bôn, Thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng cầm quyền và Nhà nước trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân [113] Cuốn sách kết cấu thành 04 chương Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định
thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng cầm quyền và Nhà nước trong việc thực hiện
quyền lực của nhân dân; Chương 2: Thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng cầm
quyền và Nhà nước ta trong 25 năm đổi mới - thực trạng, nguyên nhân và vấn đề
đặt ra Chương 3: Xác định tính chất, phạm vi thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước trong một số lĩnh vực trọng yếu Chương 4: Hệ quan điểm và giải
pháp để nâng cao hiệu quả thẩm quyền, tăng cường trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân Trong chương 4, tác giả đã nêu
ra 06 quan điểm cơ bản; đề xuất các cơ chế và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thẩm quyền, tăng cường trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân; trong đó, nhóm giải pháp thứ nhất “đổi mới hệ thống chính trị, xác định đúng mối quan hệ, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trong quá trình thực hiện quyền lực của nhân dân” rất hữu ích để tham khảo cho đề tài luận án
Trang 16- Hội đồng Lý luận Trung ương, Đảng Cộng sản Việt Nam trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử [59] Các bài viết trong cuốn sách đã khẳng định rõ quan
điểm: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam - là Đảng duy nhất cầm quyền trong điều kiện CT-XH ở Việt Nam; về vai trò lãnh đạo không thể phủ nhận của Đảng cả trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, cũng như trong thời kỳ đổi mới hiện nay Các bài viết cũng phản bác lại các luận điểm sai trái của các thế lực thù địch về vai trò cầm quyền của ĐCSVN, đồng thời cũng nêu ra những
đề xuất về các vấn đề xây dựng Đảng với mong muốn Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, đủ sức thực hiện sứ mệnh lịch sử cao cả của mình trước dân tộc và lịch sử Đây là tài liệu tham khảo quý giá để tham khảo cho đề tài luận án
- Nguyễn Văn Giang, Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam - lý luận và thực tiễn [43] Cuốn sách kết cấu thành 06 chương Chương 1: Những vấn đề cơ bản về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam Chương 2: Nguyên tắc tập trung dân chủ Chương 3: Nguyên tắc tự phê bình và phê bình Chương 4: Nguyên tắc đoàn kết trong Đảng Chương 5: Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân Chương 6: Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Trong
chương 5, trên cơ sở làm rõ về lý luận, thực tiễn, nội dung và tình hình thực hiện nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tác giả đã đề xuất bốn nhóm giải pháp nhằm để thực hiện tốt nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân hiện nay rất hữu ích để tham khảo cho đề tài luận án
- Nguyễn Đăng Thành, Vũ Hoàng Công và Nguyễn An Ninh, Đổi mới bộ máy của Đảng, bộ máy của Nhà nước trong điều kiện mới [124] Cuốn sách kết cấu gồm 03 phần, 09 chương Phần thứ nhất: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đổi mới bộ máy Đảng, bộ máy Nhà nước trong điều kiện mới Phần thứ hai: Thực
trạng bộ máy của Đảng, bộ máy của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay - Những vấn
đề cần tiếp tục đổi mới Phần thứ ba: Phương hướng, giải pháp tiếp tục đổi mới
bộ máy Đảng và bộ máy Nhà nước trong điều kiện mới Nội dung bao trùm cuốn sách là nghiên cứu về đổi mới bộ máy đảng trong quan hệ với đổi mới bộ máy nhà nước để giữ vững quyền lãnh đạo của ĐCSVN, xây dựng Nhà nước thật sự
Trang 17là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Vấn đề mấu chốt là thiết
kế bộ máy của Đảng và Nhà nước hiện nay như thế nào để đảm bảo trên thực tế địa vị cầm quyền của Đảng được giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của mình với NNPQ XHCN, để quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, không ngừng phát huy quyền con người, quyền công dân, giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền lực của Đảng và quyền lực của Nhà nước Đây là tài liệu rất hữu ích
để tham khảo cho đề tài luận án
1.1.2 Các bài báo khoa học trên tạp chí
Thứ nhất, nhóm các bài viết đề cập đến vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền
và đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Trần Đình Huỳnh, Để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng phải biết lắng nghe và học hỏi quần chúng nhân dân [51] Hồ Chí Minh đã từng nói: giành
chính quyền là Đảng trao chính quyền cho số đông nhân dân nắm giữ Nhà nước
ấy là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Vậy, khi đã có Nhà nước dân chủ rồi thì trước nhân dân Đảng có tư cách gì; nhân dân cần gì ở Đảng? Trên cơ
sở khai thác giá trị kinh điển trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả rút ra kết luận: suốt cuộc đời Hồ Chí Minh đã nói và đã gương mẫu thực hiện điều tâm niệm rằng, muốn làm cách mạng thì phải cách mạng bản thân trước đã, muốn lãnh đạo, giáo dục quần chúng thì mình phải khiêm tốn, siêng năng học, học suốt đời, học trong công việc, học lẫn nhau và học ở quần chúng Quần chúng nhân dân là người thầy
vĩ đại, là nguồn tri thức không bao giờ vơi cạn, không khi nào khô cứng
- Phạm Thế Lực, Những điều kiện cơ bản bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay [85]
Khi đề cập đến các điều kiện cơ bản để đảm bảo cho vai trò lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh xây dựng NNPQ hiện nay, tác giả cho rằng, việc đảm bảo tính chính đáng là điều kiện đầu tiên để Đảng giữ vững được vai trò cầm quyền Trong phương thức cầm quyền của Đảng, tác giả cho rằng, nội dung của tính chính đáng của đảng cầm quyền thể hiện ở tính hợp pháp và tính hợp lý Tính hợp pháp - theo tác giả - là đảng đó phải đảm bảo được tính hợp lý cho sự cầm quyền và sự thừa nhận rộng rãi của xã hội; tính hợp lý của sự cầm quyền chính là nói đến hiệu quả trong phương thức cầm quyền của Đảng Cũng theo tác giả,
Trang 18tính hợp pháp và tính hợp lý của đảng cầm quyền có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; tính hợp pháp là cơ sở, nền tảng để quy định vai trò cầm quyền của đảng, còn tính hợp lý lại củng cố vững chắc hơn cho sự cầm quyền của Đảng
- Phạm Ngọc Quang, Một đảng duy nhất cầm quyền - sản phẩm tất yếu của thực tiễn chính trị - xã hội ở Việt Nam [119] Bằng lập luận khá thuyết phục
của mình, tác giả chứng minh rằng, ĐCSVN trở thành đảng duy nhất cầm quyền
từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay là nhờ vào những thành công mà ĐCSVN đã dẫn dắt nhân dân trong suốt hơn 80 năm tồn tại và phát triển của mình, kể cả trong thời chiến và thời bình Đặc biệt, tác giả đã chứng minh yếu tố
“độc lập dân tộc gắn liền với CNXH” mà Đảng ta theo đuổi chính là hệ giá trị mang tính xuyên suốt cho cách mạng Việt Nam cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai Chính nhờ có hệ giá trị đúng đắn, cao cả này mà nhân dân tin ở Đảng, quyết tâm thực hiện và cụ thể hóa những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Bằng lao động sáng tạo của mình, nhân dân biến đường lối, chủ trương của Đảng thành hiện thực sinh động trong cuộc sống Tác giả cho rằng, việc ĐCSVN được trao quyền lănh đạo duy nhất, cầm quyền duy nhất như một sự lựa chọn tất yếu, khách quan của lịch sử chứ không phải do áp đặt của Hiến pháp Bởi vì, Hiến pháp không tạo ra vị trí đó của Đảng, mà chỉ là sự ghi nhận một thực tiễn CT-XH đã được xác lập trong thực tế Tác giả cho rằng, ĐCSVN có được và giữ vững được vai trò cầm quyền một cách chính đáng là nhờ có hệ giá
trị đúng đắn mà nhân dân tin và làm theo
- Phan Thanh Hà, Lòng tin của nhân dân đối với Đảng - nền tảng vững chắc cho vai trò lãnh đạo của Đảng và thành công của cách mạng Việt Nam
[44] Tác giả đã bước đầu nhìn nhận, đánh giá về lòng tin của nhân dân đối với Đảng hiện nay, chỉ ra nguyên nhân của sự suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng Củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng trong bối cảnh hiện nay không chỉ là một nhiệm vụ cấp bách, mà còn là sự sống còn đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Nếu không ngăn chặn được sự suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, thì đến một lúc nào đó nhân dân sẽ hoàn toàn mất niềm tin vào Đảng
- Phạm Ngọc Quang, Cơ sở đánh giá năng lực của Đảng Cộng sản cầm quyền [120] Trong bài viết này, tác giả cho rằng, là đảng cầm quyền, sứ mệnh
Trang 19lịch sử quan trọng nhất trong lãnh đạo là đảng phải tạo ra được ba yếu tố căn bản: hoạch định được đường lối đúng đắn, thể hiện đúng nhu cầu và lợi ích của nhân dân, của dân tộc; lãnh đạo xây dựng được một Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, phát huy được vai trò của Nhà nước và các thành viên trong HTCT, làm cho Nhà nước thực sự là thiết chế bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng được đội ngũ cán bộ cầm quyền có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn - nghiệp vụ cao, có kỹ năng lãnh đạo và quán lý để làm cho đường lối đó thành hiện thực bằng sức mạnh của cả dân tộc Tác giả cũng cho rằng, sứ mệnh lịch sử trong lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền là phải đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, làm cho nhân dân thực sự là chủ nhân đích thực của mọi quyền lực Để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, nhiệm vụ quan trọng là phải đẩy mạnh dân chủ hóa sinh hoạt nội bộ đảng, kết hợp với dân chủ hóa mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân; mọi hoạt động của Đảng phải đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của nhân dân
- Lê Minh Quân, Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhân dân đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân [121] Tác giả bài viết cho rằng: trong
cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” ở nước ta hiện nay cần nhấn mạnh hơn nữa vai trò làm chủ của nhân dân với những nội dung và hình thức ngày càng phong phú, thiết thực, hiệu quả Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân là vấn đề khó khăn và phức tạp, vừa là yêu cầu bức xúc, trước mắt, vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài; là vấn đề có ý nghĩa và tầm quan trọng sống còn đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta Từ góc độ Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền, tác giả đề xuất: cần xây dựng và vận hành các cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng từ trong Đảng cũng như từ HTCT và toàn xã hội Kiểm soát quyền lực của Đảng là nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển Đảng trong sạch, vững mạnh, bảo đảm năng lực
và chất lượng cầm quyền của Đảng Đảng ta lãnh đạo Nhà nước, các tổ chức
CT-XH và toàn thể xã hội, nhưng Đảng được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, mọi tổ chức đảng và đảng viên phải tôn trọng và thực hiện đúng Hiến pháp, pháp luật hay phải chịu sự kiểm soát của Hiến pháp, pháp luật và sự giám sát của nhân dân Những vấn đề liên quan đến vai trò lãnh đạo,
Trang 20cầm quyền của Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo (PTLĐ), cầm quyền của ĐCSVN trong giai đoạn hiện nay là tài liệu rất bổ ích cần được tham khảo cho
đề tài luận án
Thứ hai, nhóm các bài viết đề cập đến mối quan hệ Đảng và nhân dân
- Thanh Tuyền, Thực hiện nguyên tắc Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân trong sự nghiệp đổi mới [132] Tác giả bài viết đã chỉ ra được một số ưu điểm và
hạn chế trong thực hiện nguyên tắc Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, qua đó
đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường xây dựng mối quan hệ Đảng - dân
trong tình hình mới: một là, Đảng không ngừng hoàn thiện chủ trương, đường lối
và chính sách để xây dựng mối quan hệ Đảng - dân cho phù hợp hơn nữa với thực tiễn cơ chế kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội
nhập kinh tế quốc tế; hai là, khi đường lối đúng đắn được ban hành, phải đẩy
mạnh tuyên truyền quán triệt sâu rộng đến tận người dân Hình thức tuyên truyền
cần phải đa dạng; ba là, đẩy mạnh phát triển KT-XH, bảo đảm an ninh - quốc
phòng, giữ vững ổn định CT-XH, đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
miền núi để tạo sự phát triển bền vững giữa các vùng, miền, khu vực; bốn là, rà
soát, bổ sung, thay thế nhằm hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng, cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết
toàn dân tộc; năm là, tập trung xây dựng HTCT trong sạch, vững mạnh, đổi mới
nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ và các đoàn thể CT-XH, các hội
quần chúng; sáu là, tập trung đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà
nước theo hướng xây dựng NNPQ XHCN, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng; chú trọng thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cho được một đội ngũ cán
bộ có năng lực, phẩm chất đạo đức cách mạng, hết lòng phục vụ đất nước, phục
vụ nhân dân, thật sự là tấm gương tiêu biểu về dân chủ
- Hà Thị Khiết, Củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân - nhiệm vụ trọng tâm của công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới [66] Tác giả bài viết đã tập trung phân tích, làm rõ rõ một số nội dung: một là, nhân dân là người sáng tạo ra mọi của cải vật chất và những
giá trị tinh thần, là người làm nên lịch sử, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát
Trang 21triển của xã hội; hai là, mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân là mối quan hệ hai chiều, gắn bó, tương hỗ như một lẽ tự nhiên; ba là, khi đã trở thành đảng cầm
quyền, mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trước hết và chủ yếu thể hiện ở mối
quan hệ giữa chính quyền với nhân dân; bốn là, mối quan hệ giữa Đảng và nhân
dân còn được thể hiện ở mối quan hệ giữa MTTQ Việt Nam và các đoàn thể với
nhân dân; năm là, quan tâm chăm lo lợi ích thiết thực của nhân dân làm cho mối
quan hệ giữa Đảng và nhân dân ngày càng gắn bó, phong trào quần chúng phát
triển, HTCT không ngừng được củng cố, vững mạnh; bảy là, nâng cao chất lượng
và hiệu quả công tác dân vận để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới
sự lãnh đạo của Đảng - vấn đề mấu chốt để tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân
- Trương Thị Thông, Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân theo tinh thần Đại hội XI và vận dụng vào nghiên cứu, giảng dạy tại Học viện [125]
Bài viết đã tập trung làm rõ mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ Để thực hiện tốt hơn nữa mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ theo quan điểm của Đại hội XI, theo quan điểm của
tác giả cần chú ý những vấn đề sau: một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục,
nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cấp ủy các cấp, cán bộ, đảng viên và nhân dân
về mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; hai là, tiếp
tục đổi mới PTLĐ của Đảng, phát huy vai trò người đứng đầu cấp ủy, chính quyền
các cấp; ba là, thực hiện mạnh mẽ cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng để
Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị và đường lối đúng đắn, là cơ sở để Nhà nước luật
hóa một cách chính xác, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có chất lượng; bốn là, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; năm là, đẩy mạnh xây
dựng NNPQ XHCN đủ sức thể chế hóa Cương lĩnh, đường lối của Đảng thành hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, đồng bộ và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả;
sáu là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện mối quan
hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ
- Nguyễn Trọng Phúc, Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân - đạo lý, trách nhiệm và niềm tin [115] Trên cơ sở phân tích những tư tưởng của Hồ Chí
Minh về dân vận, gắn liền với quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa
Trang 22XI, tác giả tập trung đề xuất các giải pháp đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính
trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên: một là,
thực hành dân chủ rộng rãi, đưa mọi vấn đề ra bàn bạc với dân, hỏi ý kiến nhân dân, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp tới lợi ích và cuộc sống của nhân dân, trước khi đưa ra quyết định trong chính sách, pháp luật và những chủ
trương, biện pháp cụ thể; hai là, trong quá trình thực hiện đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước mà tổ chức đảng, chính quyền hay cá nhân cán bộ, đảng viên phụ trách mắc khuyết điểm, có việc làm không đúng, tổn hại tới lợi ích chính đáng và cuộc sống của nhân dân thì công khai, tự phê bình, nhận lỗi
trước dân và cùng với nhân dân tìm cách sửa chữa; ba là, toàn Đảng và cả HTCT
chăm lo công tác dân vận, tạo nên sự gắn bó đoàn kết, đồng thuận trong xã hội
- Nguyễn Thế Trung, Tăng cường mối quan hệ Đảng - Dân trong giai đoạn hiện nay [131] Tác giả bài viết nêu ra một số tiêu chí cơ bản đánh giá thực
trạng về mối quan hệ Đảng - Dân qua 30 năm đổi mới; đồng thời, đề xuất một số giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố mối quan hệ Đảng - Dân trong giai đoạn hiện nay Trong đó, tác giả đề xuất: Đảng lãnh đạo, chỉ đạo Nhà nước tập trung giải quyết kịp thời, có hiệu quả một số bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân - đây là một trong những biện pháp rất quan trọng để củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước Đảng ban hành các chủ trương, đường lối, nghị quyết đúng đắn và kịp thời nhằm lãnh đạo Nhà nước, MTTQ và các đoàn thể CT-XH phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc Tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ có chức, có quyền ở các cấp, các ngành, yêu cầu sống gương mẫu, có trách nhiệm với nhân dân, nói đi đôi với làm để nhân dân tin tưởng, noi theo Đảng lãnh đạo Nhà nước tiếp tục thể chế hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thành những chính sách, quy chế, quy định, luật pháp kịp thời, hợp lòng dân để nhân
dân được làm chủ, được phát huy quyền làm chủ trên thực tế
- Thào Xuân Sùng, Giữ vững mối quan hệ máu thịt Đảng - Dân để nâng cao vị thế, vai trò và trách nhiệm cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam
[122] Tác giả bài viết cho rằng: giữ vững mối quan hệ máu thịt Đảng - Dân để
Trang 23nâng cao vị thế, vai trò và trách nhiệm cầm quyền của ĐCSVN là một vấn đề rất lớn, hệ trọng và có ý nghĩa về lý luận cũng như thực tiễn trong điều kiện một đảng cầm quyền ở Việt Nam, giải quyết được vấn đề này sẽ góp phần vào thành công của sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam Phát huy vai trò của Đảng và vai trò của Dân trong mối quan hệ Đảng - Dân để nâng cao vị thế của Đảng Vai trò của Đảng thể hiện rõ ở chỗ, đi đôi với xây dựng đường lối đúng đắn, Đảng phải đặc biệt quan tâm chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ của một đảng cầm quyền, lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam Trong giai đoạn hiện nay, phải thực hiện tốt các giải pháp xây dựng Đảng
về tiềm lực tư tưởng, lý luận, trí tuệ và tổ chức cán bộ; mở rộng công khai và dân chủ trong Đảng; phát huy quyền làm chủ của nhân dân và khối đoàn kết liên minh công nhân - nông dân - trí thức; giải quyết kịp thời, hiệu quả những nhu cầu bức xúc chính đáng của nhân dân Những giải pháp mà các tác giả bài viết đề xuất nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố mối quan hệ Đảng với nhân dân trong giai đoạn hiện nay là tài liệu rất bổ ích cần được tham khảo cho luận án
1.1.3 Các luận án tiến sĩ
Đảng Cộng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình là một vấn đề mới được đưa vào Hiến pháp năm 2013, nên đến nay chưa có luận án tiến sĩ nào nghiên cứu vấn đề này Liên quan đến vấn đề nghiên cứu, có thể kể đến một số luận án tiến sĩ chuyên ngành và liên ngành đề cập đến việc thực hiện nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân hay nghiên cứu về tính chính đáng của Đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam
- Trần Quang Cảnh, Đổi mới phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối với chính quyền huyện ở đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay [11] Tác giả đã
luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về PTLĐ của huyện ủy đối với chính quyền huyện; đánh giá thực trạng việc đổi mới PTLĐ của huyện ủy đối với chính quyền huyện ở đồng bằng sông Hồng trong thời gian qua và đề xuất những giải pháp chủ yếu để tiếp tục đổi mới PTLĐ của các huyện ủy đối với chính quyền huyện ở đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn hiện nay
- Trần Thị Hương, Thực hiện nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân trong giai đoạn hiện nay [52] Tác giả đã luận giải những vấn đề lý luận về
Trang 24nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân; đánh giá thực trạng việc thực hiện nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân và đề xuất những giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân
- Nguyễn Văn Quang, Tính chính đáng của Đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam [118] Tác giả đã luận giải những vấn đề lý luận về tính chính đáng
chính trị, tính chính đáng của ĐCSVN cầm quyền; phân tích, đưa ra những nhận xét về tính chính đáng của ĐCSVN cầm quyền qua các thời kỳ lịch sử; nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng tính chính đáng trong cầm quyền của một số đảng chính trị trên thế giới, từ đó rút ra một số bài học có giá trị tham khảo đối với ĐCSVN; chỉ ra một số hạn chế trong duy trì tính chính đáng của ĐCSVN hiện nay và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tính chính đáng trong cầm quyền của ĐCSVN thời gian tới
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
- Hạ Quốc Cường, Không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo và trình độ cầm quyền, tăng cường năng lực chống tha hóa, phòng biến chất và chống rủi ro
[60] Tác giả bài viết đã phân tích quá trình đổi mới công tác xây dựng Đảng của Đảng Cộng sản Trung Quốc và chỉ rõ hai vấn đề lớn mang tính lịch sử cần giải quyết, đó là: (1) Làm thế nào để nâng cao hơn nữa trình độ lãnh đạo và trình độ cầm quyền của Đảng (2) Làm thế nào để tăng cường hơn nữa năng lực chống tha hóa, phòng biến chất và chống rủi ro? Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những
giải pháp chủ yếu: một là, tuân theo đường lối cơ bản của Đảng, nắm vững
nhiệm vụ trung tâm của Đảng, kết hợp chặt chẽ với thực tiễn vĩ đại xây dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc nhằm đẩy mạnh công trình vĩ đại mới về xây
dựng Đảng; hai là, đặt lên vị trí hàng đầu việc kiên trì tăng cường xây dựng tư
tưởng lý luận, không ngừng đẩy mạnh sáng tạo lý luận, dùng chủ nghĩa Mác
đang phát triển để chỉ đạo xây dựng Đảng; ba là, luôn luôn nắm chắc khâu quan
trọng là xây dựng đội ngũ cán bộ tố chất cao, coi trọng cao độ việc xây dựng đội ngũ nhân tài, ra sức tăng cường xây dựng ban lãnh đạo, cố gắng hình thành tầng
lớp lãnh đạo các cấp hăng hái, sôi nổi, phấn đấu thành đạt; bốn là, coi trọng cao
độ việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng, kiên trì không buông lỏng việc nắm cơ sở
và đặt nền móng, không ngừng tăng cường cơ sở giai cấp của Đảng và mở rộng
Trang 25cơ sở quần chúng của Đảng; năm là, xoay quanh vấn đề hạt nhân là giữ gìn mối
quan hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng nhân dân, tăng cường và cải tiến toàn diện việc xây dựng tác phong của Đảng, đi sâu xây dựng tác phong của
Đảng, xây dựng liêm chính và đấu tranh chống tham nhũng; sáu là, tăng cường
xây dựng chế độ, kiên trì không mệt mỏi đẩy mạnh cải cách chế độ trong Đảng, thúc đẩy và đảm bảo cho việc xây dựng Đảng bằng chế độ
- Chu Húc Đông, Kiên trì phương châm quản lý Đảng nghiêm minh, triển khai cuộc xây dựng Đảng phong liêm chính và đấu tranh chống tham nhũng
[60] Tác giả đã phân tích nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hiện tượng tham nhũng
dễ nảy sinh và nảy sinh nhiều trên một số lĩnh vực trong giai đoạn hiện nay ở Trung Quốc Đồng thời, tác giả đề xuất các biện pháp chính và hiệu quả triển
khai xây dựng Đảng phong liêm chính và đấu tranh chống tham nhũng: một là,
đẩy mạnh xây dựng tư tưởng chính trị; không ngừng tăng cường tính tự giác của
cán bộ lãnh đạo, đảng viên về hành chính liêm khiết; hai là, điều tra và xử lý các
vụ án lớn và án quan trọng, chỉnh đốn nghiêm túc kỷ luật đảng và pháp luật của
Nhà nước, xử lý nghiêm theo pháp luật một loạt kẻ tham nhũng; ba là, uốn nắn tác phong không lành mạnh; năm là, tăng cường xây dựng văn bản pháp quy và quy chế liêm chính, đảm bảo việc chống tham nhũng được thực hiện; sáu là,
tăng cường công tác chữa trị từ đầu nguồn, từng bước xóa bỏ mảnh đất nảy sinh
tham nhũng; bảy là, tăng cường giám sát dân chủ, thúc đẩy quyền lực vận hành
theo nền nếp quy phạm Đồng thời, tác giả rút ra những kinh nghiệm chủ yếu về xây dựng Đảng phong liêm chính và công tác chống tham nhũng với “bảy kiên
trì”: một là, kiên trì sự lănh đạo của Đảng Cộng sản, bám chặt nhiệm vụ phát
triển - nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng cầm quyền và chấn hưng đất
nước; hai là, kiên trì quản lý Đảng nghiêm minh, trước hết phải quản lý tốt ban lãnh đạo và cán bộ lãnh đạo; ba là, kiên trì cục diện chống tham nhũng với nội
dung chính là cán bộ lãnh đạo liêm khiết, tự giác, kỷ luật, điều tra và xử lý vụ án
lớn và án quan trọng, uốn nắn tác phong không lành mạnh; bốn là, kiên trì trị cả
ngọn lẫn gốc, không ngừng xóa bỏ mảnh đất nảy sinh hiện tượng tham nhũng;
năm là, kiên trì giữ thái độ thận trọng khi xử lý người, thực sự cầu thị, phân biệt đối xử; sáu là, kiên trì đường lối quần chúng của Đảng, phát triển dân chủ xã hội
Trang 26chủ nghĩa, tăng cường ràng buộc và giám sát quyền lực từ quyết sách và thi
hành; bảy là, kiên trì liêm chính xây dựng pháp luật, giáo dục tuân thủ pháp luật
và kiểm tra hành pháp, làm cho công tác xây dựng Đảng liêm chính và đấu tranh chống tham nhũng bước đi vào con đường pháp chế hóa
- Khương Dược, Nghiên cứu vấn đề quy luật cầm quyền và xây dựng Đảng cầm quyền [123] Tác giả đã lý giải một số vấn đề đặt ra đối với đảng cầm quyền, đó là: một là, làm thế nào để củng cố và mở rộng nền tảng xã hội của Đảng, giành lấy sự ủng hộ rộng rãi hơn; hai là, làm thế nào để tăng cường việc
giành lấy lòng dân bằng chính sách và thành tích chính trị khi đứng trước khó
khăn về ý thức hệ; ba là, làm thế nào để tìm kiếm sự cân bằng giữa hiệu quả và công bằng, nhằm thực hiện kinh tế phát triển bền vững và xã hội hài hòa; bốn là,
làm thế nào để mở rộng dân chủ trong Đảng và dân chủ xã hội, nâng cao sức
cuốn hút và sức ảnh hưởng của Đảng; năm là, làm thế nào để chống tham nhũng, đề xướng liêm khiết, duy trì hình tượng công chúng trong sạch liêm khiết; sáu là, làm
thế nào để ứng phó với thách thức của phương tiện thông tin đại chúng, học biết kiếm tồn tại, tìm kiếm phát triển trong điều kiện xã hội thông tin Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất: một chính đảng có thể duy trì địa vị cầm quyền hay không là do năng lực quản lý và điều hành đất nước, có được sự tín nhiệm và ủng hộ của dân chúng hay không Giành lấy lòng dân, giành được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân cũng chính là vấn đề giải quyết tính hợp pháp chính trị của đảng cầm quyền
- Lưu Văn Sơn, Kiên trì quan điểm nhân dân là tối thượng, thiết thực làm tốt công tác quần chúng trong tình hình mới [60] Tác giả cho rằng, trước tình
hình mới và nhiệm vụ mới, cần nắm vững quy luật của công tác quần chúng, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của Đảng Cộng sản Trung Quốc, kiên trì quan điểm nhân dân là tối thượng, quan điểm duy vật lịch sử nhân dân là anh hùng chân chính, quan điểm xây dựng Đảng vì công bằng, cầm quyền vì nhân dân, trả lời tốt ba câu hỏi “vì ai”, “dựa vào ai” và “tôi là ai”, tạo dựng cơ sở quần chúng và cội nguồn sức mạnh rộng rãi nhất, đáng tin cậy nhất, vững chắc nhất cho sự nghiệp chung của Trung Quốc Đồng thời, tác giả đưa ra các quan điểm:
một là, xây dựng quan điểm quần chúng đúng đắn, thắc chặt sợi dây tình cảm
gắn kết với quần chúng nhân dân, tạo nền tảng tư tưởng vững chắc để làm tốt
Trang 27công tác quần chúng; hai là, luôn giữ vững lập trường quần chúng, đề cao tôn
chỉ phục vụ nhân dân, tập trung giải quyết những vấn đề liên quan đến lợi ích
thiết thân của quần chúng nhân dân; ba là, phải đi sâu quán triệt đường lối quần
chúng, kiên trì phương châm chính sách hợp lòng dân, đáp ứng nhu cầu chính đáng của nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, phát huy nguồn lực trí tuệ và
sức mạnh của quần chúng nhân dân để phát triển sự nghiệp; bốn là, phải cải tiến
và đổi mới phương thức và phương pháp, sử dụng các hình thức và biện pháp mà quần chúng ưa thích, nỗ lực tăng cường tính hướng đích và tính hiệu quả của
công tác quần chúng; năm là, phải xây dựng và kiện toàn chế độ công tác, nâng
cao sức ràng buộc và thực thi của chế độ, tăng cường mức độ quy phạm hóa và chế độ hóa của công tác quần chúng
- Tổ chuyên đề Ban Nghiên cứu - giảng dạy Xây dựng Đảng, trường Đảng
Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Cu
ba về tăng cường mối quan hệ với quần chúng [144] Các tác giả đã đặt ra và trả
lời câu hỏi: là Đảng Cộng sản duy nhất cầm quyền ở Tây bán cầu, vì sao Đảng Cộng sản Cu ba vẫn bảo vệ được CNXH, vẫn duy trì được vị trí cầm quyền của Đảng trong điều kiện hết sức khó khăn Nguyên nhân căn bản nhất là Đảng Cộng sản Cu ba đã biết coi trọng mối liên hệ với quần chúng nhân dân, không ngừng củng cố địa vị cầm quyền của Đảng, làm cho Đảng tràn đầy sức sống Đảng Cộng sản Cu ba đã đề ra nguyên tắc “bốn tất cả” và định ra một loạt chính sách và biện pháp đảm bảo chắc chắn cho sự liên hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng nhân dân Những chính sách cụ thể của Đảng Cộng sản Cu ba cùng với nguyên tắc “bốn tất cả” đã tạo ra sự gắn bó,liên hệ chặt chẽ giữa Đảng Cộng sản và nhân dân Cu ba,
là bài học kinh nghiệm quý giá đối với các đảng cộng sản cầm quyền
- Trương Văn Hồng, Kinh nghiệm của Đảng Dân chủ - xã hội Đức trong
xử lý quan hệ với quần chúng [48] Bài viết chia thành ba phần lớn: 1 Tư tưởng
và đặc điểm tổ chức của Đảng Dân chủ - xã hội Đức (SPD); 2 Duy trì đoàn kết trong Đảng và hình thức liên hệ giữa Đảng với cử tri; 3 Quan hệ giữa SPD với quần chúng truyền thống của Đảng trước những thách thức Để duy trì đoàn kết trong Đảng và hình thức liên hệ giữa Đảng với cử tri, SPD áp dụng các biện
pháp sau: một là, ra sức tận dụng các phương tiện truyền thông để tuyên truyền
Trang 28chủ trương, chính sách, rút ngắn khoảng cách với dân chúng; hai là, triển khai
thảo luận rộng rãi Cương lĩnh của Đảng, nhằm làm cho Cương lĩnh và chính
sách phù hợp với yêu cầu của thời đại; ba là, khởi xướng và thực hiện “mạng internet của Đảng” và “chế độ đảng viên theo hạng mục”; bốn là, thiết lập quan
hệ bạn bè với công đoàn, tìm kiếm sự ủng hộ của công đoàn Về mối quan hệ giữa SPD và quần chúng truyền thống của Đảng trước những thách thức, bài viết đánh giá các biện pháp cải cách triệt để đối với chế độ phúc lợi của Chính phủ
“liên minh Đỏ - Xanh” giữa SPD và Đảng Xanh đã đụng chạm đến lợi ích của đa
số dân cư trong xã hội Đức, đồng thời đặt ra thách thức không nhỏ đối với “nhà nước phúc lợi chung” Để giành được sự ủng hộ rộng rãi hơn đối với cải cách, ban lãnh đạo SPD không ngừng sử dụng các phương thức đối thoại trên truyền hình, tranh luận ở nghị viện, trả lời phỏng vấn cho giới truyền thông đại chúng, hiệu triệu đảng viên của SPD Ngoài ra, SPD còn tăng cường quan hệ gắn bó với
tổ chức công đoàn, từng bước thuyết phục công đoàn không trương biều ngữ phản đối cải cách Đến đầu năm 2005, đại bộ phận dân chúng Đức đã cơ bản chấp nhận cải cách phúc lợi và chính sách cải cách thị trường lao động việc làm của Chính phủ liên minh Đỏ - Xanh Tuy nhiên, kế hoạch cải cách đã làm suy làm cơ sở quần chúng của SPD, từ đó đặt ra vấn đề đối với SPD cầm quyền là phải làm thế nào để tuyên truyền tốt chính sách của mình, đồng thời tăng cường
gắn kết với tầng lớp xã hội bị ảnh hưởng tiêu cực từ cải cách
1.3 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN SẼ TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT
1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu các công trình có liên quan đến đề tài
Các đề tài khoa học, các công trình nghiên cứu, bài viết được công bố đã nghiên cứu dưới nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau, đạt được nhiều kết quả lý luận và thực tiễn quan trọng
Một là, về mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân;
Hai là, về Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật;
Ba là, về vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền và đổi mới PTLĐ, cầm quyền
của ĐCSVN
Trang 29Mỗi công trình, do xuất phát từ mục tiêu, phương pháp tiếp cận và giới hạn phạm vi của mình, nên chỉ giải quyết một số nội dung nhất định Hầu hết các công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; nội dung, PTLĐ, cầm quyền của Đảng Đây là nguồn tư liệu quý được kế thừa khi triển khai nghiên cứu đề tài luận án Tác giả cầu thị, nhưng cũng luôn bám sát đề tài và cách tiếp cận khoa học riêng để tiếp thu các giá trị có thể tham khảo được
từ các công trình đã khảo cứu này trong quá trình triển khai đề tài luận án
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu vấn
đề ĐCSVN chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình dưới góc nhìn của khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước
1.3.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Một là, làm rõ cơ sở lý luận việc ĐCSVN chịu trách nhiệm trước nhân
dân về những quyết định của mình trong giai đoạn hiện nay, từ đó đưa ra quan niệm, nội dung và cơ chế Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình
Hai là, nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng việc ĐCSVN chịu
trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình qua các giai đoạn cách mạng, trọng tâm là thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay
Ba là, nêu ra những yêu cầu và giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt việc
ĐCSVN chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình trong giai đoạn hiện nay
Trang 30Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHỦ YẾU VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC NHÂN DÂN VỀ NHỮNG QUYẾT ĐỊNH
CỦA MÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢNG CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC NHÂN DÂN VỀ NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA MÌNH
2.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về đảng cộng sản chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình
2.1.1.1 Quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen về trách nhiệm trước nhân dân của đảng cộng sản đối với những quyết định của mình
C Mác và Ph Ăngghen là những nhà sáng lập CNXH khoa học, đồng thời là người đặt nền móng lý luận về Đảng Cộng sản Tuy nhiên, học thuyết của
C Mác và Ph Ăngghen được xây dựng trong điều kiện chủ nghĩa tư bản phát triển ở giai đoạn tự do cạnh tranh và giai cấp vô sản chưa nắm được chính quyền
ở bất cứ quốc gia nào, đảng cộng sản chưa trở thành đảng cầm quyền Trong điều kiện lịch sử ấy, hệ thống lý luận của các ông chỉ giới hạn ở các vấn đề sau:
một là, xây dựng đảng cộng sản trở thành đội tiên phong của giai cấp vô sản, vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính quốc tế; hai là, chỉ ra sứ mệnh của Đảng là tổ
chức những người vô sản thành một giai cấp và tổ chức giai cấp ấy thành giai cấp thống trị thông qua cuộc đấu tranh giai cấp nhằm lật đổ nhà nước tư sản, xây dựng nhà nước của giai cấp vô sản, nhà nước kiểu mới XHCN, khi trở thành đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo nhà nước xây dựng CNXH và chủ nghĩa cộng sản
Trong tác phẩm Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, C Mác đã
trình bày có hệ thống quan điểm của ông về dân chủ và nhà nước, trong đó nhân dân là chủ thể đích thực của nhà nước Do vậy, xét về thực chất, nhà nước không
có chủ quyền mà chỉ nhân dân mới có chủ quyền Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, hai ông đã đề cập sứ mệnh của đảng cộng sản là phải tổ chức giai cấp
vô sản thành giai cấp thống trị Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, hai ông đã đề
cập hình thức tổ chức như vậy - hình thức mà nhờ đó những cá nhân thống trị về mặt kinh tế được tổ chức thành giai cấp và bảo đảm cho giai cấp này trở thành
Trang 31giai cấp thống trị xã hội Đó chính là nhà nước vô sản Song, vào thời các ông, nhà nước vô sản chưa trở thành một hiện thực xã hội, chỉ là một xu hướng tất yếu, là vấn đề có tính quy luật, kết quả của sự thay thế chế độ tư bản chủ nghĩa bằng chế độ XHCN Ngày 18-3-1871, Công xã Pari ra đời sau khi C Mác và Ph
Ăngghen viết Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản 23 năm, nhưng chỉ tồn tại trong
72 ngày Trong tác phẩm Nội chiến ở Pháp được C Mác viết để tổng kết kinh
nghiệm Công xã và đi đến khẳng định: Công xã là hình thức nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, với những đặc trưng kiểu mới mà bất kỳ nhà nước nào từng tồn tại trong lịch sử đều không thể có được Tổng kết của C Mác về Công
xã Pari tập trung vào các vấn đề chủ yếu, đó là: Một là, Công xã là việc xã hội
đoạt lại quyền lực nhà nước, tức là việc bản thân quần chúng nhân dân đoạt lại quyền lực nhà nước; tổ chức công xã là một cơ cấu có quy mô của quyền lực nhà
nước, với sự phân công lao động một cách có hệ thống và có cấp bậc Hai là,
Công xã đã để lại một bài học kiểu mẫu về nhà nước của giai cấp vô sản: bài học
về thực hành nền chuyên chính vô sản Công xã là hình thức chính trị của sự giải phóng xã hội của người lao động Về bản chất, Công xã là chính phủ của giai cấp công nhân, chính phủ quốc dân chân chính và mang tính chất quốc tế, đại diện cho toàn thể lợi ích dân tộc; là hình thức chính trị rốt cuộc đã tìm ra được khiến cho có thể thực hiện được việc giải phóng người lao động về mặt kinh tế Về nguyên tắc tổ chức, Công xã để lại hai kinh nghiệm lớn là: xây dựng trên nguyên tắc phổ thông đầu phiếu và tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ Về chức năng, nhiệm vụ, Công xã đã để lại bài học về tổ chức xây dựng xã hội mới và về chức năng bạo lực, trấn áp Công xã không phải là một cơ quan đại nghị, mà là một tập thể hành động, vừa lập pháp, vừa hành pháp Về hình thức nhà nước,
Công xã là một hình thức chính trị linh hoạt đến cao độ Ba là, các thành viên
của Công xã đều là đại biểu của giai cấp công nhân, nếu không phải là công nhân thì phải được công nhân thừa nhận Công xã phải tổ chức lực lượng trên cơ sở đoàn kết công nông, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân để tạo ra bạo lực cách mạng giữ vững và củng cố thành quả cách mạng Công xã đã nêu lên một bài học về sự tất yếu phải có sự lãnh đạo thống nhất của chính đảng của giai cấp công nhân, sự tất yếu phải xây dựng được khối liên minh công - nông và sự đoàn
Trang 32kết quốc tế, Công xã thất bại vì nó không có một đảng thống nhất lãnh đạo Bốn
là, xóa bỏ chế độ phổ thông đầu phiếu tư sản, chế độ đại nghị tư sản, là những
hình thức dân chủ nô dịch quần chúng lao động, bởi nó chỉ cho phép nhân dân
“cứ sau ba năm hoặc năm năm lại phải đi lựa chọn ai là người thống trị mình”, xây dựng nghị viện vô sản, trong đó các đại biểu vừa lập pháp, vừa hành pháp, thực sự là đại diện chân chính của mọi tầng lớp; áp dụng đồng bộ các biện pháp cải biến xã hội, cải tạo kinh tế, giữ gìn an ninh công cộng, bảo vệ lợi ích của giai
cấp công nhân, nông dân và những người lao động Năm là, Công xã thực hiện
nguyên tắc công khai, công bố tất cả những báo cáo hội nghị của mình, thông báo tất cả các hoạt động của mình, nói cho công chúng tất cả những khuyết điểm của mình; đồng thời, đặc quyền quản lý nhà nước của những kẻ có của, lôi cuốn
tất cả những người lao động tham gia quản lý Sáu là, những ủy viên công xã -
những đảng viên cộng sản - là những người kiên quyết cách mạng nhất, thông minh nhất, trung thực nhất, dũng cảm nhất, là linh hồn của Công xã, là lãnh tụ của đảng
Những tổng kết nêu trên của C Mác về Công xã Pari và những vấn đề lý luận khác trong ba bộ phận cấu thành học thuyết khoa học của C Mác và Ph Ăngghen đã đặt cơ sở lý luận gốc cho việc xây dựng đảng cộng sản, xây dựng nhà nước vô sản, xác lập thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền
2.1.1.2 Quan điểm của V.I Lênin về trách nhiệm trước nhân dân của đảng cộng sản đối với những quyết định của mình
Một là, trách nhiệm trước hết của đảng cộng sản là đề ra Cương lĩnh, đường lối đúng đắn, nhưng không quyết định thay những công việc của Nhà nước
Thời đại của V.I Lênin là thời đại mà chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền, chủ nghĩa đế quốc, thời đại quá độ lên CNXH mở đầu là Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga vĩ đại V.I Lênin có điều kiện thực
tế để nêu ra quan điểm của mình về quan hệ giữa Đảng với nhân dân, trách nhiệm của Đảng trước nhân dân khi đã có chính quyền của nhân dân Với quan
niệm tổng quát đảng là “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại chúng ta” [72,
tr.122], Người xác định, trách nhiệm trước hết của Đảng là đề ra Cương lĩnh,
Trang 33đường lối đúng đắn: “trong nước cộng hòa của chúng ta, không có một vấn đề chính trị hay tổ chức quan trọng nào do một cơ quan nhà nước giải quyết mà lại không có chỉ thị của Ban chấp hành trung ương đảng" [77, tr.38]; “Đảng ta là một đảng cầm quyền và những quyết định do đại hội của đảng thông qua là những điều mà toàn nước Cộng hòa phải tuân theo” [79, tr.74] Đối với Nhà nước, Đảng phải "đưa ra Cương lĩnh của Chính quyền Xô viết Việc nói rõ đặc điểm của kiểu nhà nước mới phải chiếm một địa vị quan trọng trong cương lĩnh của chúng ta" [73, tr.69]
Tuy nhiên, trong điều kiện có chính quyền, trách nhiệm của Đảng chỉ thể hiện quan điểm, đường lối chính trị chung, cơ bản, còn việc quyết định cụ thể các vấn đề về kinh tế - xã hội (KT-XH), luật pháp thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước V.I Lênin viết: “nếu tưởng rằng đại hội này có thể giải quyết được vấn đề thì lầm mất Những quy định về pháp luật của chúng
ta sẽ giải quyết vấn đề ấy, nhiệm vụ của chúng ta chỉ là định đường lối nguyên tắc và nêu ra khẩu hiệu…; cho nên, ở đây, chúng ta cần phải giải quyết vấn đề ấy
về nguyên tắc” [79, tr.74] Đảng có trách nhiệm nặng nề, nhưng Đảng không làm thay trách nhiệm của Nhà nước:
Cần phân định một cách rõ ràng hơn nữa những nhiệm vụ của đảng (và của Ban Chấp hành Trung ương của nó) với nhiệm vụ của Chính quyền Xô viết; tăng thêm trách nhiệm và tính chủ động cho các cán bộ
Xô viết và các cơ quan Xô viết, còn về đảng thì dành quyền lãnh đạo chung công tác của tất cả các cơ quan nhà nước gộp chung lại, mà không can thiệp một cách quá thường xuyên, không chính quy và thường là nhỏ nhặt, như hiện nay [81, tr.75]
Hai là, bố trí cán bộ chủ chốt của các cơ quan nhà nước là trách nhiệm quan trọng của đảng cộng sản
Trong công tác cán bộ, Đảng có trách nhiệm bố trí cán bộ chủ chốt của cơ quan nhà nước, coi đó là trách nhiệm quan trọng bậc nhất: “Chừng nào một đảng cầm quyền còn quản lý, chừng nào đảng ấy còn phải giải quyết tất cả mọi vấn đề
và những sự bổ nhiệm khác nhau, thì anh không thể để có tình trạng là việc bổ nhiệm các chức vụ nhà nước quan trọng nhất lại do một đảng không lãnh đạo
Trang 34tiến hành” [78, tr.204-205] Trách nhiệm của Đảng là phát hiện, lựa chọn, đào tạo, rèn luyện, thử thách và bố trí cán bộ đảng tham gia quản lý nhà nước
V.I Lênin đặc biệt quan tâm đến vấn đề trách nhiệm cá nhân của các cán
bộ lãnh đạo đảng, của các đảng viên công tác trong các cơ quan chính quyền Trách nhiệm của đảng viên là phải thể hiện được tính tiên phong trước quần chúng trong công việc được đảm nhiệm, phải nhận và hoàn thành tốt nhất nhiệm
vụ của mình:
Không có gì có thể làm tăng thêm uy tín của đảng cộng sản ở thành thị, nâng cao lòng kính phục của những công nhân ngoài đảng đối với những người cộng sản,… một khi những người công nhân ngoài đảng trên thực
tế đã thấy rằng các đảng viên của đảng cộng sản đang cầm quyền đã giành lấy những nghĩa vụ của mình, rằng việc những người cộng sản kết nạp những đảng viên mới vào đảng, không phải là để cho những đảng viên này lợi dụng địa vị của một đảng đang chấp chính để được hưởng những lợi lộc nào đó, mà để họ nêu lên những tấm gương lao động thật
sự cộng sản chủ nghĩa, tức là lao động không công [76, tr.428-429]
Ba là, Đảng đề cao trách nhiệm cá nhân của người lãnh đạo
Là người đề xướng và kiên định thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, nhưng V.I Lênin đặc biệt chú trọng vấn đề trách nhiệm cá nhân của người lãnh đạo và phê phán nghiêm khắc tình trạng trách nhiệm chung chung Người phê phán: “Đáng lẽ phải chịu trách nhiệm về công việc của mình…, với ý thức rằng chính mình là người chịu trách nhiệm, thì người ta lại nấp sau các ban Đến thánh cũng không biết đâu mà lần trong các ban đó, không thể nào mà tìm ra được người chịu trách nhiệm cả; mọi cái đều rối tung và cuối cùng người ta đưa
ra một nghị quyết trong đó tất cả mọi người đều chịu trách nhiệm” [81, tr.138] Rốt cuộc theo V.I Lênin - “điều quan trọng nhất là phải đạt bằng được việc cá nhân chịu trách nhiệm” [82, tr.399]
Trong tác phẩm Về công đoàn, về tình hình trước mắt và về những sai lầm của đồng chí Tơ-rốt-xki viết ngày 30-12-1920, V.I Lênin khẳng định:
Một người lãnh đạo chính trị không những phải chịu trách nhiệm về cách mình lãnh đạo, mà còn phải chịu trách nhiệm về hành động của những
Trang 35người dưới quyền mình nữa Đôi khi người lãnh đạo không biết những hành động đó, thường là không muốn cho những hành động đó xảy ra, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về những hành động đó [78, tr.269] Theo V.I Lênin, cán bộ lãnh đạo đảng không phải không có trách nhiệm trước những hạn chế, sai lầm của cơ quan nhà nước: “Cần phải nhớ rằng một người lãnh đạo chính trị không những phải chịu trách nhiệm về chính sách của chính mình, mà còn phải chịu trách nhiệm về hành động của những người dưới quyền mình nữa” [78, tr.273]
Trong bản sơ thảo lần đầu bài “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết” viết tháng 3-1918, V.I Lênin đề xuất: “muốn tránh được cái tình
trạng hiện nay khiến chúng ta rất khổ tâm là người lãnh đạo nhiều nhưng không
có ai chịu trách nhiệm, thì chúng ta phải biết thật rõ ràng xem, đối với mỗi chức
vụ, thì cụ thể những ai đã được bầu lên giữ chức vụ lãnh đạo và phải chịu trách nhiệm về sự hoạt động của toàn bộ bộ máy kinh tế” [73, tr.193-194]
Bốn là, đảng cộng sản phải công khai nhận sai lầm, khuyết điểm của mình trước nhân dân
Theo V.I Lênin, một trong những trách nhiệm của Đảng trước nhân dân
là Đảng phải dũng cảm, công khai nhận sai lầm, khuyết điểm của mình
Hầu như trong phần lớn trường hợp, những nhà chính trị, khi đã thấy rằng đường lối của mình là sai lầm, đều tìm hết cách để che đậy, giấu giếm sự chuyển hướng của họ, để “bịa ra” những lý do ít nhiều chẳng ăn nhập gì với vấn đề cả, Công khai và thành thực thú nhận sai lầm chính trị của mình, bản thân việc đó đã là một hành vi chính trị lớn rồi… Thành thực thừa nhận một sai lầm chính trị là hết sức có lợi về mặt chính trị cho nhiều người, nếu đó là sai lầm chung của toàn bộ những đảng trước kia có ảnh hưởng đối với quần chúng [74, tr.224-225]
Trong tác phẩm Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản, V.I
Lênin khẳng định rõ: “Thái độ của một chính đảng trước những sai lầm của mình
là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất và chắc chắn nhất để xét xem
đảng ấy có nghiêm túc không và có thực sự làm tròn nghĩa vụ của mình đối với giai cấp mình và đối với quần chúng lao động không Công khai thừa nhận sai
Trang 36lầm, tìm ra nguyên nhân sai lầm, phân tích hoàn cảnh đã đẻ ra sai lầm, nghiên cứu cẩn thận những biện pháp để sửa chữa sai lầm ấy, đó là dấu hiệu chứng tỏ một đảng nghiêm túc, đó là đảng làm tròn nghĩa vụ của mình” [77, tr.51] Không nên che giấu sai lầm, trái lại Đảng tuyên bố công khai là Đảng đã phạm sai lầm có nghĩa
là từ nay về sau Đảng chúng ta sẽ không tái phạm những sai lầm tương tự nữa Đảng cũng không ngại phải thừa nhận các thất bại của mình, vì điều đó sẽ cung cấp cho Đảng những bài học bổ ích: “Hôm nay chúng ta sẽ không bao giờ học được cách giải quyết những nhiệm vụ của mình bằng những phương pháp mới, nếu như kinh nghiệm ngày hôm qua đã không mở mắt cho chúng ta thấy những sai lầm của những phương pháp cũ” [80, tr.255]; “không nên sợ phải thừa nhận những thất bại,
mà ngược lại mới đúng; chỉ khi nào chúng ta không sợ thừa nhận những thất bại và những thiếu sót của mình, chỉ khi nào chúng ta nhìn thẳng vào sự thật, dù là sự thật đáng buồn đi nữa, chỉ khi đó chúng ta mới học được cách chiến thắng” [80, tr.376]
Vấn đề phức tạp nhất là trách nhiệm pháp lý của đảng viên khi có sai phạm Chính V.I Lênin đã đưa ra câu trả lời: “Tòa án phải trừng phạt các đảng
viên cộng sản một cách nghiêm khắc hơn là đối với những người không phải là
đảng viên cộng sản Nếu không chấp hành chỉ thị này, các thẩm phán nhân dân và
các ủy viên ban lãnh đạo Bộ dân ủy tư pháp sẽ bị đuổi ra khỏi cơ quan làm việc
[81, tr.64] Thậm chí, V.I Lênin còn thể hiện rõ thái độ: “Thật quá ư nhục nhã và
kỳ quái: một đảng cầm quyền lại bảo vệ những tên vô lại “của mình”” [81, tr.65]
2.1.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trách nhiệm trước nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với những quyết định của mình
Một là, Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân vì Đảng là của dân tộc
Quan điểm của Hồ Chí Minh về ĐCSVN là Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam vừa khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa thể hiện được nét đặc thù của Đảng ta - một Đảng ra đời từ phong trào công nhân và phong trào yêu nước của dân tộc ở một nước thuộc địa nửa phong kiến Ngay từ khi mới ra đời, ĐCSVN
đã gắn bó mật thiết với nhân dân lao động và dân tộc, hòa mình cùng dân tộc, gắn bó với sứ mệnh của dân tộc; kết hợp giữa giai cấp và dân tộc, dân tộc với thời đại, giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản
Trang 37Hai là, Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân vì toàn bộ quyền lực là của nhân dân, Nhà nước là của nhân dân
Những tư tưởng của Hồ Chí Minh về trách nhiệm của Đảng đối với những quyết định của mình xuất phát từ nguyên tắc toàn bộ quyền lực là của nhân dân,
thuộc về nhân dân, thể hiện tập trung ở nhiều nội dung quan trọng Trước hết,
toàn bộ quyền lực là của nhân dân; sức mạnh, lực lượng là ở nơi dân; sự nghiệp cách mạng thành công hay thất bại cũng là do dân; trọng dân, học dân, lấy trí và lực của dân để lo cho dân; lo dân sinh, dân trí, dân quyền, lo cho dân tộc độc lập, đất nước hùng cường là sự nghiệp, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và nhân
dân Thứ hai, trách nhiệm của Đảng và Nhà nước được thực hiện bằng một đội
ngũ cán bộ có đức, có tài, trong đó đức là gốc; đó là những công bộc của dân, tận tâm tận lực phục vụ nhân dân, việc gì có lợi cho dân phải ra sức làm, việc gì có hại cho nhân dân phải ra sức tránh; nhân dân không tin, không dùng thì phải từ
chức Thứ ba, thẩm quyền của Đảng là thẩm quyền của “người chèo lái con
thuyền cách mạng”, còn thẩm quyền của Nhà nước là những việc cụ thể mà Nhà nước phải làm để phục vụ nhân dân, để thực hiện thẩm quyền của Đảng cầm
quyền, theo định hướng của Đảng Thứ tư, trách nhiệm của Đảng và Nhà nước
phải trên cơ sở một nền pháp trị dân chủ, làm cho pháp luật bảo hộ hiệu quả quyền con người, thực hiện quyền tự do dân chủ của công dân; thực hiện một đảng, một nhà nước hợp hiến, hợp pháp, vừa chăm lo xây dựng và hoàn thiện pháp luật theo đường lối của Đảng, vừa làm cho mọi việc đảng, mọi việc nhà nước đều phải tuân thủ luật pháp
Nhân dân - theo quan niệm của Hồ Chí Minh - là toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo Hồ Chí Minh cho rằng: “Trong bầu trời không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [105, tr.453]
Hồ Chí Minh quan niệm: nhân dân là nguồn gốc của quyền lực Chính từ quan niệm ấy mà trong Hiến pháp đầu tiên của nước ta (Hiến pháp năm 1946) do Chủ tịch Hồ Chí Minh đích thân soạn thảo đã khẳng định: Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo [100, tr.6] Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa
Trang 38tư tưởng “dân là gốc” trong truyền thống ở Việt Nam và những tư tưởng hiện đại
về dân chủ, đặc biệt là kế thừa về dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin Kế thừa tư tường của các nhà sáng lập CNXH khoa học, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
“Nước ta là một nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ” [104, tr.258] Giải thích rõ nước ta là nước dân chủ, Hồ Chí Minh đã viết:
… Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân
Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra
Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [101, tr.232]
Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngay khi ra đời là nhà nước dân chủ kiểu mới - nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Nhà nước của dân - theo Hồ Chí Minh - nghĩa là: tất cả quyền bính đều thuộc về nhân dân, những vấn đề quan hệ vận mệnh quốc gia do nhân dân phán quyết, nhân dân phải là người thực hiện quyền lực, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp thông qua các đại biểu của mình Nhân dân bầu ra người đại diện cho mình và có quyền bãi miễn nếu họ không còn xứng đáng Theo Người, để nhân dân thực hiện được quyền lực của mình thì Nhà nước ta phải phải phát triển quyền dân chủ sinh hoạt chính trị toàn diện, làm cho mọi công dân Việt Nam thực sự tham gia vào công việc của Nhà nước
Nội dung quan trọng của NNPQ là khẳng định cội nguồn quyền lực nhà nước là ở nhân dân, trong đó nhà nước là của nhân dân, chứ không phải nhân dân là của Nhà nước Trong bài nói chuyện với các đại biểu thân sĩ, trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hóa ngày 20-02-1947, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chính phủ Cộng hòa dân chủ là gì? Là đầy tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng, Dân
là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ… Nếu Chính phủ làm hại đến dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ” [100, tr.74-75] Đó là cách diễn đạt ngắn gọn, đơn giản, nhưng đẩy đủ quan điểm “quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”
Trang 39Ba là, Đảng phải chịu trách nhiệm toàn diện, đến cùng trước nhân dân
Trách nhiệm của Đảng trước nhân dân - theo Hồ Chí Minh - trước hết và cao cả nhất là Đảng lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân đi tới thắng lợi giành lại được độc lập cho Tổ quốc, quyền làm chủ, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân Sau khi lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, Đảng có trách nhiệm lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc xây dựng xã hội mới XHCN Trong công cuộc kiến thiết đất nước, Đảng có trách nhiệm trước nhân dân từ việc lớn đến việc nhỏ, từ việc đề ra đường lối đúng, tổ chức nhân dân tiến hành các phong trào hành động cách mạng đến chăm lo việc ăn ở, đi lại, học hành, thậm chí đến
cả chuyện tương, cà, mắm, muối của nhân dân
Bốn là, Đảng phải nghiêm khắc nhận và sửa chữa khuyết điểm của mình
Đặc biệt, Đảng phải nhận trách nhiệm trước nhân dân về những khuyết điểm của mình Người nghiêm khắc nhắc nhở: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” [100, tr.301] Muốn tránh được khuyết điểm, quan trọng nhất là phải nghiêm túc, tự giác thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình: “Người cách mạng và đoàn thể cách mạng cần phê bình và tự phê bình thiết tha như người ta cần không khí” [102, tr.114]; “nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh” [100, tr.273] Với cương vị là người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Người nêu gương: “Tôi làm điều xấu, các đồng chí trông thấy, phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần, mà không nói cho người ta sửa tức là hại người” [100, tr.260]
2.1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về trách nhiệm của Đảng trước nhân dân về những quyết định của mình
Trong suốt quá trình cách mạng, từ khi thành lập đến nay, ĐCSVN luôn khẳng định vai trò là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, lãnh đạo
Trang 40giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, đưa cả nước đi lên CNXH, phấn đấu
vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [27, tr.70] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc” [28, tr.4] Đây là sự bổ sung, phát triển mới nhằm khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng, làm rõ hơn
mối quan hệ giữa Đảng với giai cấp và dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta đã trở thành đảng cầm quyền Đảng hoạt động hợp pháp qua các thời kỳ khác nhau, có thời kỳ đa đảng,
có thời kỳ một đảng; có thời kỳ đảng cầm quyền nhưng hoạt động bí mật, có thời
kỳ công khai; có thời kỳ chiến tranh, có thời kỳ hòa bình Ở mỗi thời kỳ, trách nhiệm của Đảng đều được xác định phù hợp với cương lĩnh của Đảng, đường lối chính trị của Đảng, phát huy được vai trò của Nhà nước, thúc đẩy Nhà nước phát triển, từ nhà nước dân chủ nhân dân phát triển lên thành nhà nước Cộng hòa XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Trong điều kiện mới, sự kiện CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp
đổ, hệ thống XHCN tan rã, phong trào cộng sản bị chia rẽ, tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đối với các nước đang phát triển ngày càng lớn, Đảng đã ý thức được trách nhiệm phải tiến hành đổi mới xã hội, đổi mới Nhà nước, trên cơ sở đổi mới nội dung và PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, trong đó xác định rõ, hợp lý, chặt chẽ trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân là yếu tố quan trọng Thực hiện chủ trương có tính chất chiến lược ấy, cùng với việc đề ra đường lối đổi mới, xây dựng và thực hiện các cương lĩnh chính trị của Đảng (Cương lĩnh năm 1991; Cương lĩnh sửa đổi, bổ sung năm 2011), các đại hội đảng, các hội nghị BCHTW, BCT các khóa đã luôn
đề cập việc hoàn thiện trách nhiệm của Đảng trên cơ sở các nguyên tắc và quan điểm lớn
Một là, xác định trong HTCT, Đảng là hạt nhân lãnh đạo, Nhà nước là trụ
cột, thực hiện các chức năng quản lý xã hội Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý là