MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 I MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ HÓA XÃ HỘI 2 1 1 Một số lý luận về Dân chủ 2 1 1 1 Dân chủ 2 1 1 2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ 3 1 2 Một số lý luận về dân chủ hoá xã.MỤC LỤCMỞ ĐẦU1I. MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ HÓA XÃ HỘI21.1. Một số lý luận về Dân chủ21.1.1. Dân chủ21.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ31.2. Một số lý luận về dân chủ hoá xã hội51.2.1. Cách tiếp cận51.2.2. Dân chủ và dân chủ hoá ở nước ta6II. THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ HÓA XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM92.1. Những kết quả đạt được92.1.1. Dân chủ trong Đảng92.1.2. Dân chủ trong Nhà nước102.1.3. Dân chủ trong xã hội102.2. Một số hạn chế tồn tại112.2.1. Dân chủ trong Đảng112.2.2. Dân chủ trong Nhà nước122.2.3. Dân chủ trong xã hội132.3. Nguyên nhân của mặt hạn chế về dân chủ và dân chủ hóa xã hội ở nước ta14III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN DÂN CHỦ HOÁ XÃ HỘI Ở NƯỚC TA153.1. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy Nhà nước bao gồm153.1.1. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước (Quốc hội, HĐND các cấp)153.1.2. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống cơ quan hành chính nhà nước173.1.3. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp193.2. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị xã hội193.3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, đẩy mạnh cải cách hành chính213.4. Hoàn thiện hệ thống quan điểm về dân chủ và dân chủ hoá xã hội21KẾT LUẬN23TÀI LIỆU THAM KHẢO25 MỞ ĐẦULịch sử xã hội loài người là lịch sử của quá trình đấu tranh cho hạnh phúc và tương lai của con người. Từ thuở xa xưa của nền văn minh cổ đại đến đêm trường trung cổ, con người luôn luôn khát vọng vươn tới tự do, bình đẳng và luôn luôn đấu tranh không mệt mỏi cho một xã hội tương lai có nhiều hạnh phúc hơn cho con người. Tất cả những khát vọng và hiện thực cuộc sống tốt đẹp cho con người, vì con người và do con người, đó chính là dân chủ. Dưới góc độ Chính trị học, dân chủ gắn liền với lợi ích của các giai tầng xã hội và là lợi ích trực tiếp của giai cấp thống trị xã hội. Vì vậy dân chủ, dân chủ hoá xã hội chịu sự chi phối của chính trị của bản chất nhà nước. Nước ta là nước dân chủ câu nói mang ý nghĩa Tuyên ngôn của Hồ Chí Minh chính nói lên bản chất nhà nước ta, phương châm hành động của Chính phủ và cán bộ ta. Nhưng số phận dân tộc và công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, chưa cho phép chúng ta tiếp cận đầy đủ và có hệ thống về các giá trị chung của dân chủ với tư cách là trình độ phát triển cao của văn hoá, văn minh nhân loại. Vì vậy việc nghiên cứu dân chủ, dân chủ hoá xã hội trong điều kiện Đảng cầm quyền và nhà nước pháp quyền XHCN là yêu cầu nghiêm túc và rất quan trọng đối với nước ta hiện nay. Tiểu luận Dân chủ và dân chủ hóa xã hội, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là sự tiếp cận dân chủ, dân chủ hoá từ góc độ Chính trị học. Vận dụng những giá trị phổ quát của dân chủ để góp phần hình thành chế độ dân chủ XHCN phù hợp với đặc điểm lịch sử chính trị và trình độ phát triển của đất nước, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta. I. MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ HÓA XÃ HỘI1.1. Một số lý luận về Dân chủ 1.1.1. Dân chủDân chủ là một trong những phạm trù được các nhà tư tưởng chính trị, các nhà xã hội quan tâm nghiên cứu và nêu ra những quan điểm khác nhau về cách tiếp cận, về nội dung, về chủ thể thực thi dân chủ và vai trò của dân chủ đối với sự phát triển xã hội và vì vậy dân chủ và dân chủ hoá xã hội luôn là là khát vọng của xã hội loài người. Đứng trên quan điểm khác nhau có thể tiếp cận dân chủ với những đặc điểm khác nhau: Xét về xã hội học, thì dân chủ là một phạm trù vĩnh viễn, là nhu cầu bên trong, là sự phản ánh phương thức, nhu cầu sống của con người, là quyền tự do, quyền tự quyết của con người, nó hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người. Xét dân chủ với tư cách là một chế độ nhà nước, thì đó là sự tổng hợp những hình thức và phương thức tổ chức quyền lực nhà nước, dân chủ luôn gắn liền với phương thức phân phối lợi ích trong xã hội, dân chủ không chỉ là nhu cầu khát vọng cá nhân với tư cách là cái riêng, mà dân chủ trở thành khát vọng chung, cái chung phù hợp với hình thức tổ chức quyền lực chính trị văn hoá cầm quyền, văn hoá chính trị và thực thi quyền lực Nhà nước. Do đó, dân chủ là phạm trù lịch sử, hình thành, phát triển và mất đi cùng với Nhà nước. Xét trong quan hệ xã hội, dân chủ nói lên sự tôn trọng ý kiến, chính kiến, lợi ích của người đối thoại, của đối tác. Dân chủ phản ánh trạng thái tinh thần của xã hội, đặc điểm các quan hệ xã hội và cao hơn dân chủ phản ánh trình độ nhân văn của một xã hội nhất định. Lịch sử xã hội loài người đã trải qua các mô hình dân chủ như: Mô hình tham dự: là tạo điều kiện cho nhân dân tham gia tối đa vào xây dựng thể chế, xây dựng và thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước. Mô hình giới tinh hoa: Đề cao vai trò của giới ưu tú, tinh hoa của các nhóm xã hội với quan niệm rằng chỉ có giới tinh hoa mới nhận thức được các quy luật vận động của tự nhiên và xã hội và vì vậy trong mỗi xã hội, giới tinh hoa đóng vai trò quyết định chứ không phải quần chúng nhân dân lao động. Tuy nhiên, trong việc thực thi quyền lực chính trị, giới tinh hoa cũng phải quan tâm đến lợi ích của các tầng lớp đông đảo trong xã hội. Mô hình dân chủ đa số: là sự lựa chọn các giá trị chung dựa trên ý kiến đa số. Tuy nhiên phương thức sử dụng sự lựa chọn này chịu sự chi phối mạnh mẽ của các nhóm lợi ích, các giai cấp hay các đảng chính trị có lợi ích không đồng nhất. Dân chủ đa số phản ánh tương quan lực lượng trong việc lựa chọn các giá trị chung. 1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ Chủ nghĩa Mác Lênin dựa trên bản chất xã hội XHCN, là chế độ được xác lập dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, khẳng định dân chủ dưới CNXH gấp triệu lần chế độ dân chủ tư sản vì đó là dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân trong xã hội. Tuy nhiên, do CNXH hiện thực đang trong quá trình tìm tòi sáng tạo và vận động đi lên. Do đó những dự báo khoa học của các nhà kinh điển đang từng bước được cụ thể hoá cho phù hợp với sự vận động biện chứng của lịch sử trên con đường phát triển tất yếu của nó. Hồ Chí Minh, với sự mẫn cảm sâu sắc về chính trị đồng thời là đại biểu tiêu biểu cho thân phận dân tộc bị lầm than, với sự kế thừa những giá trị văn hoá Đông Tây, luôn đề cao nhân dân, coi nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử của dân tộc mình. Người khẳng định trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân; đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân; dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong. Dân là gốc là phạm trù trung tâm trong toàn bộ nhận thức, tư tưởng và hành động của Hồ Chí Minh. Từ tư tưởng cốt lõi đó, Hồ Chí Minh nêu lên hệ thống quan điểm cách mạng và khoa học về dân chủ. Dân chủ với Hồ Chí Minh tức là Dân là chủ và Dân làm chủ. nhà nước ta là nhà nước dân chủ; bao nhiêu lợi ích đều vì dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân; quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Theo Hồ Chí Minh, trong nhà nước dân chủ, quyền lực nhà nước là do dân uỷ thác mà có, nhân dân cử ra Chính phủ, trao quyền cho Chính phủ để quản lý đất nước, nhưng quyền vẫn thuộc về dân, nếu Chính phủ không làm tròn nhiệm vụ với dân, lộng quyền thì dân bãi miễn Chính phủ bất cứ lúc nào. Nếu Chính phủ có hại cho dân chúng thì dân chúng đập đổ Chính phủ ấy đi. Dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh là dân chủ thực sự, bởi vì trải qua bôn ba khắp thế giới Hồ Chí Minh đã thấy rõ thứ dân chủ giả hiệu, thức khẩu hiệu Tự do Bình đẳng Bác ái mà các nhà nước tư sản làm cái bánh vẽ dùng để mỵ dân. Ngay sau khi giành được độc lập người đã cảnh báo bệnh quan liêu xa dân. Người nói: Đảng không phải là nơi làm quan phát tài. Hay: cán bộ thì cậy thế mình trong ban này, ban nọ rồi ngang tàng, phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quyên rằng dân bầu ra mình để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân; đè đầu cưỡi cổ dân. Quan niệm về dân chủ ở Hồ Chí Minh là dân chủ triệt để, dân chủ thực sự dựa trên nhận thức phải thân dân, gần dân, yêu dân, kính trọng dân, học dân thì mới có thể tạo nên sức mạnh thực sự của cách mạng, Người viết: có phát huy dân chủ cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên. Trong việc lãnh đạo Nhà nước và xã hội thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, Hồ Chí Minh chủ trương trước hết phải thực hành dân chủ trong nội bộ Đảng. Hồ Chí Minh đề ra 12 tư cách của một Đảng cầm quyền để thực hành dân chủ trong đảng và giữ mối quan hệ với nhà nước và nhân dân. Quan điểm về dân chủ và thực hành dân chủ trong Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền được Đảng vận dụng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo Nhà nước và xã hội trong quá trình lịch sử cách mạng nước ta. Từ quan niệm về dân chủ, Hồ Chí Minh nêu lên tư tưởng nhà nước pháp quyền. Theo Người nhà nước pháp quyền phải là nhà nước dân chủ, luật pháp phải thể hiện bản chất dân chủ và quyền tự do dân chủ của nhân dân phải thực hiện trong khuôn khổ pháp luật: luật pháp của chúng ta hiện nay bảo vệ hàng triệu người lao động... pháp luật của chúng ta phải thật sự dân chủ vì nó bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động. Nhân dân ta hiện nay có tự do, tự do trong kỷ luật. Mỗi người có tự do của mình nhưng phải tôn trọng tự do của người khác, người nào sử dụng quyền tự do của mình quá mức mà phạm đến tự do của người khác là phạm pháp. 1.2. Một số lý luận về dân chủ hoá xã hội 1.2.1. Cách tiếp cận Dân chủ hoá xã hội chính là quá trình làm cho dân chủ trở thành xã hội, phổ biến trong sinh hoạt xã hội, là quá trình làm biến đổi nhận thức và hành vi của toàn xã hội về dân chủ như là hệ giá trị cao, văn minh của con người, cho con người và vì con người là quyền tự quyết thiêng liêng của con người. Để thực hiện dân chủ và dân chủ hoá xã hội, nhà nước cần phải: Xây dựng và tuyên truyền, giáo dục hình thành chuẩn mực văn hoá chính trị dân chủ trong bộ máy nhà nước và trong toàn xã hội. Xây dựng thể chế Nhà nước pháp quyền và hình thành hệ thống chính trị dân chủ pháp quyền. Trong đó nhân dân là chủ thể quyền lực, là người quyết định hình thức và phương thức hoạt động của bộ máy Nhà nước. Dân thực hiện sự uỷ quyền có điều kiện và có thời hạn đối với nhà nước và thực hiện quyền bãi miễn đại biểu đối với đại biểu dân cử, quan chức chính quyền và Chính phủ khi có sự lạm quyền, tha hoá quyền lực. Nhân dân là chủ thể được tham gia vào công việc của Nhà nước, mọi chính sách của Nhà nước đều phải hỏi dân, dựa vào dân để thực hiện và để kiểm tra giám sát. Nhà nước bảo đảm quyền tự do kinh tế, phát huy năng lực sáng tạo của nhân dân. Xây dựng thể chế chính trị, hệ thống chính trị phù hợp với tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền và xây dựng xã hội công dân. Bảo đảm nguyên tắc dân chủ trong việc quyết định mọi vấn đề của Nhà nước trong đó, nguyên tắc tập trung dân chủ cũng phải dựa trên cơ chế bảo đảm thực sự dân chủ, phải dựa vào dân. Xây dựng quan hệ, tập quán dân chủ trong đời sống chính trị xã hội. Coi dân chủ như là hơi thở, là phương thức tồn tại phát triển của các quan hệ xã hội. 1.2.2. Dân chủ và dân chủ hoá ở nước ta Nước ta trải qua hàng ngàn năm dưới ách đô hộ của thực dân phong kiến, đế quốc, dân chủ là khát vọng ngàn đời của cả dân tộc Việt Nam. Chúng ta may mắn có thiên tài Hồ Chí Minh, mà tư tưởng và sự nghiệp của người gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc và giải phóng nhân dân. Tư tưởng của Người về dân chủ ngay từ đầu là kim chỉ nam cho quá trình hình thành và xây dựng nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Năm 1945, sau cách mạng tháng 8, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, chế độ chính trị nước ta bước sang giai đoạn mới là Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền. Hiến pháp năm 1946 khẳng định: Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà, tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu, nghèo, giai cấp, tôn giáo (Điều 1). Hiến pháp năm 1946 cũng khẳng định các quyền tự do, dân chủ của công dân về kinh tế, văn hoá, chính trị, quyền dân chủ tham gia xây dựng bộ máy Nhà nước; quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong thực thi các quyền dân chủ với nhân dân; quy định hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước của nhân dân là Quốc hội và HĐND các cấp, thay mặt nhân dân quyết định và giám sát toàn bộ hoạt động của bộ máy Nhà nước. Về các giá trị dân chủ, trong điều kiện đất nước về xâm lăng, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta coi giành độc lập dân tộc là giá trị dân chủ hàng đầu thiêng liêng nhất. Độc lập dân tộc là trên hết và trước hết gắn liền với tự do, ấm no hạnh phúc cho nhân dân. Có độc lập dân tộc mới có tất cả. Độc lập dân tộc là mục tiêu hành động của toàn Đảng và toàn dân ta, trở thành động lực để cổ vũ, vận động, tổ chức toàn dân, huy động sức lực, trí tuệ, của cải, máu xương của toàn dân để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc đưa cả nước bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong điều kiện đặc biệt của dân tộc, Đảng đã thực hiện nguyên tắc lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện nhằm tập trung cao độ sự lãnh đạo chính trị vào một đầu mối chỉ huy vào Bộ chỉ huy thống soái bộ chính trị để tận dụng tối đa mọi nguồn lực của đất nước cho mục tiêu cao nhất là đánh bại kẻ thù xâm lược. Lịch sử cách mạng nước ta từ khi có Đảng đã đặt lên vai đảng ta sứ mệnh lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối sự nghiệp cách mạng bằng các quyết sách, quyết định cụ thể mang tính chỉ huy và tổ chức trực tiếp đối với Nhà nước và xã hội, điều này vừa nói lên tính phù hợp hoàn cảnh lịch sử của đất nước vừa tạo tiền đề khách quan cho sự phát huy dân chủ trong Đảng, nhưng khi đất nước bước vào giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng xã hội công dân, xã hội dân sự thì việc tiếp tục duy trì phương thức lãnh đạo đó sẽ ảnh hưởng đến vai trò của nhà nước pháp quyền và sự phát triển của thực tiễn, nhất là sau khi giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc từ 1975 đến năm 1986. Việc duy trì phương thức lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện theo mô hình tập trung quan liêu bao cấp trong điều kiện một đất nước lạc hậu, vừa thoát ra chiến tranh xâm lược lại bị bao vây, cấm vận toàn diện của các thế lực thù địch dẫn đến sự cự tuyệt nền kinh tế nhiều thành phần, áp đặt quan hệ sản xuất XHCN ngay trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH, đã làm thủ tiêu dân chủ trong Đảng, trong Nhà nước và xã hội, làm cho đất nước bước vào thời kỳ khủng hoảng toàn diện tưởng như thành quả cách mạng giải phóng dân tộc không thể nào đứng vững được.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
I MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ HÓA XÃ HỘI 2
1.1 Một số lý luận về Dân chủ 2
1.1.1 Dân chủ 2
1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ 3
1.2 Một số lý luận về dân chủ hoá xã hội 5
1.2.1 Cách tiếp cận 5
1.2.2 Dân chủ và dân chủ hoá ở nước ta 6
II THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ HÓA XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM 9
2.1 Những kết quả đạt được 9
2.1.1 Dân chủ trong Đảng 9
2.1.2 Dân chủ trong Nhà nước 10
2.1.3 Dân chủ trong xã hội 10
2.2 Một số hạn chế tồn tại 11
2.2.1 Dân chủ trong Đảng 11
2.2.2 Dân chủ trong Nhà nước 12
2.2.3 Dân chủ trong xã hội 13
2.3 Nguyên nhân của mặt hạn chế về dân chủ và dân chủ hóa xã hội ở nước ta 14
III MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN DÂN CHỦ HOÁ XÃ HỘI Ở NƯỚC TA 15
Trang 23.1 Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy Nhà nước bao gồm 15
3.1.1 Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống cơ quan quyềnlực Nhà nước (Quốc hội, HĐND các cấp) 153.1.2 Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống cơ quan hànhchính nhà nước 173.1.3 Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp 19
3.2 Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị - xã hội 19 3.3 Hoàn thiện hệ thống pháp luật, đẩy mạnh cải cách hành chính 21 3.4 Hoàn thiện hệ thống quan điểm về dân chủ và dân chủ hoá xã hội 21 KẾT LUẬN 23 TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
Trang 3vì con người và do con người, đó chính là dân chủ Dưới góc độ Chính trị học,dân chủ gắn liền với lợi ích của các giai tầng xã hội và là lợi ích trực tiếp củagiai cấp thống trị xã hội Vì vậy dân chủ, dân chủ hoá xã hội chịu sự chi phốicủa chính trị của bản chất nhà nước
Nước ta là nước dân chủ - câu nói mang ý nghĩa Tuyên ngôn của HồChí Minh chính nói lên bản chất nhà nước ta, phương châm hành động củaChính phủ và cán bộ ta Nhưng số phận dân tộc và công cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc, chưa cho phép chúng ta tiếp cận đầy đủ và có hệ thống về cácgiá trị chung của dân chủ với tư cách là trình độ phát triển cao của văn hoá,văn minh nhân loại Vì vậy việc nghiên cứu dân chủ, dân chủ hoá xã hội trongđiều kiện Đảng cầm quyền và nhà nước pháp quyền XHCN là yêu cầu nghiêmtúc và rất quan trọng đối với nước ta hiện nay
Tiểu luận " Dân chủ và dân chủ hóa xã hội, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân " là sự
tiếp cận dân chủ, dân chủ hoá từ góc độ Chính trị học Vận dụng những giá trịphổ quát của dân chủ để góp phần hình thành chế độ dân chủ XHCN phù hợpvới đặc điểm lịch sử chính trị và trình độ phát triển của đất nước, góp phầnxây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta
Trang 4I MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ HÓA XÃ HỘI
1.1 Một số lý luận về Dân chủ
1.1.1 Dân chủ
Dân chủ là một trong những phạm trù được các nhà tư tưởng chính trị,các nhà xã hội quan tâm nghiên cứu và nêu ra những quan điểm khác nhau vềcách tiếp cận, về nội dung, về chủ thể thực thi dân chủ và vai trò của dân chủđối với sự phát triển xã hội và vì vậy dân chủ và dân chủ hoá xã hội luôn là làkhát vọng của xã hội loài người
Đứng trên quan điểm khác nhau có thể tiếp cận dân chủ với những đặcđiểm khác nhau:
Xét về xã hội học, thì dân chủ là một phạm trù vĩnh viễn, là nhu cầubên trong, là sự phản ánh phương thức, nhu cầu sống của con người, là quyền
tự do, quyền tự quyết của con người, nó hình thành và phát triển cùng với sựhình thành và phát triển của xã hội loài người
Xét dân chủ với tư cách là một chế độ nhà nước, thì đó là sự tổng hợpnhững hình thức và phương thức tổ chức quyền lực nhà nước, dân chủ luôngắn liền với phương thức phân phối lợi ích trong xã hội, dân chủ không chỉ lànhu cầu khát vọng cá nhân với tư cách là cái riêng, mà dân chủ trở thành khátvọng chung, cái chung phù hợp với hình thức tổ chức quyền lực chính trị vănhoá cầm quyền, văn hoá chính trị và thực thi quyền lực Nhà nước Do đó, dânchủ là phạm trù lịch sử, hình thành, phát triển và mất đi cùng với Nhà nước
Xét trong quan hệ xã hội, dân chủ nói lên sự tôn trọng ý kiến, chínhkiến, lợi ích của người đối thoại, của đối tác Dân chủ phản ánh trạng thái tinhthần của xã hội, đặc điểm các quan hệ xã hội và cao hơn dân chủ phản ánhtrình độ nhân văn của một xã hội nhất định
Lịch sử xã hội loài người đã trải qua các mô hình dân chủ như:
Trang 5Mô hình tham dự: là tạo điều kiện cho nhân dân tham gia tối đa vào xây
dựng thể chế, xây dựng và thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước
Mô hình giới tinh hoa: Đề cao vai trò của giới ưu tú, tinh hoa của các
nhóm xã hội với quan niệm rằng chỉ có giới tinh hoa mới nhận thức được cácquy luật vận động của tự nhiên và xã hội và vì vậy trong mỗi xã hội, giới tinhhoa đóng vai trò quyết định chứ không phải quần chúng nhân dân lao động.Tuy nhiên, trong việc thực thi quyền lực chính trị, giới tinh hoa cũng phảiquan tâm đến lợi ích của các tầng lớp đông đảo trong xã hội
Mô hình dân chủ đa số: là sự lựa chọn các giá trị chung dựa trên ý kiến
đa số Tuy nhiên phương thức sử dụng sự lựa chọn này chịu sự chi phối mạnh
mẽ của các nhóm lợi ích, các giai cấp hay các đảng chính trị có lợi ích khôngđồng nhất Dân chủ đa số phản ánh tương quan lực lượng trong việc lựa chọncác giá trị chung
1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
Chủ nghĩa Mác - Lênin dựa trên bản chất xã hội XHCN, là chế độ đượcxác lập dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, khẳng định dân chủ dướiCNXH gấp triệu lần chế độ dân chủ tư sản vì đó là dân chủ cho tuyệt đại đa sốnhân dân trong xã hội Tuy nhiên, do CNXH hiện thực đang trong quá trìnhtìm tòi sáng tạo và vận động đi lên Do đó những dự báo khoa học của các nhàkinh điển đang từng bước được cụ thể hoá cho phù hợp với sự vận động biệnchứng của lịch sử trên con đường phát triển tất yếu của nó
Hồ Chí Minh, với sự mẫn cảm sâu sắc về chính trị đồng thời là đại biểutiêu biểu cho thân phận dân tộc bị lầm than, với sự kế thừa những giá trị vănhoá Đông - Tây, luôn đề cao nhân dân, coi nhân dân là người sáng tạo ra lịch
sử của dân tộc mình Người khẳng định "trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân"; "đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân"; "dễ trăm lần
không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong"
Trang 6Dân là gốc là phạm trù trung tâm trong toàn bộ nhận thức, tư tưởng vàhành động của Hồ Chí Minh
Từ tư tưởng cốt lõi đó, Hồ Chí Minh nêu lên hệ thống quan điểm cách
mạng và khoa học về dân chủ Dân chủ với Hồ Chí Minh tức là Dân là chủ và Dân làm chủ "nhà nước ta là nhà nước dân chủ; bao nhiêu lợi ích đều vì dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân; quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân"
Theo Hồ Chí Minh, trong nhà nước dân chủ, quyền lực nhà nước là dodân uỷ thác mà có, nhân dân cử ra Chính phủ, trao quyền cho Chính phủ đểquản lý đất nước, nhưng quyền vẫn thuộc về dân, nếu Chính phủ không làmtròn nhiệm vụ với dân, lộng quyền thì dân bãi miễn Chính phủ bất cứ lúc nào
"Nếu Chính phủ có hại cho dân chúng thì dân chúng đập đổ Chính phủ ấy đi".
Dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh là dân chủ thực sự, bởi vì trải qua
bôn ba khắp thế giới Hồ Chí Minh đã thấy rõ thứ dân chủ giả hiệu, thức khẩuhiệu "Tự do - Bình đẳng - Bác ái" mà các nhà nước tư sản làm cái bánh vẽdùng để mỵ dân Ngay sau khi giành được độc lập người đã cảnh báo bệnh
quan liêu xa dân Người nói: "Đảng không phải là nơi làm quan phát tài" Hay: "cán bộ thì cậy thế mình trong ban này, ban nọ rồi ngang tàng, phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân Quyên rằng dân bầu ra mình để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân; đè đầu cưỡi cổ dân"
Quan niệm về dân chủ ở Hồ Chí Minh là dân chủ triệt để, dân chủ thực
sự dựa trên nhận thức phải thân dân, gần dân, yêu dân, kính trọng dân, học dân thì mới có thể tạo nên sức mạnh thực sự của cách mạng, Người viết: "có phát huy dân chủ cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên"
Trong việc lãnh đạo Nhà nước và xã hội thực hiện quyền dân chủ củanhân dân, Hồ Chí Minh chủ trương trước hết phải thực hành dân chủ trong nội
Trang 7bộ Đảng Hồ Chí Minh đề ra 12 tư cách của một Đảng cầm quyền để thựchành dân chủ trong đảng và giữ mối quan hệ với nhà nước và nhân dân
Quan điểm về dân chủ và thực hành dân chủ trong Đảng trong điềukiện Đảng cầm quyền được Đảng vận dụng trong suốt quá trình lãnh đạo cáchmạng, lãnh đạo Nhà nước và xã hội trong quá trình lịch sử cách mạng nước ta
Từ quan niệm về dân chủ, Hồ Chí Minh nêu lên tư tưởng nhà nướcpháp quyền Theo Người nhà nước pháp quyền phải là nhà nước dân chủ, luậtpháp phải thể hiện bản chất dân chủ và quyền tự do dân chủ của nhân dân phải
thực hiện trong khuôn khổ pháp luật: "luật pháp của chúng ta hiện nay bảo vệ hàng triệu người lao động pháp luật của chúng ta phải thật sự dân chủ vì
nó bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động Nhân dân ta hiện nay có tự do, tự do trong kỷ luật Mỗi người có tự do của mình nhưng phải tôn trọng tự do của người khác, người nào sử dụng quyền tự do của mình quá mức mà phạm đến tự do của người khác là phạm pháp"
1.2 Một số lý luận về dân chủ hoá xã hội
1.2.1 Cách tiếp cận
Dân chủ hoá xã hội chính là quá trình làm cho dân chủ trở thành xã hội,phổ biến trong sinh hoạt xã hội, là quá trình làm biến đổi nhận thức và hành vicủa toàn xã hội về dân chủ như là hệ giá trị cao, văn minh của con người, chocon người và vì con người là quyền tự quyết thiêng liêng của con người
Để thực hiện dân chủ và dân chủ hoá xã hội, nhà nước cần phải:
- Xây dựng và tuyên truyền, giáo dục hình thành chuẩn mực vănhoá chính trị dân chủ trong bộ máy nhà nước và trong toàn xã hội
- Xây dựng thể chế Nhà nước pháp quyền và hình thành hệ thốngchính trị dân chủ - pháp quyền Trong đó nhân dân là chủ thể quyền lực, làngười quyết định hình thức và phương thức hoạt động của bộ máy Nhà nước
Trang 8Dân thực hiện sự uỷ quyền có điều kiện và có thời hạn đối với nhànước và thực hiện quyền bãi miễn đại biểu đối với đại biểu dân cử, quan chứcchính quyền và Chính phủ khi có sự lạm quyền, tha hoá quyền lực
Nhân dân là chủ thể được tham gia vào công việc của Nhà nước, mọichính sách của Nhà nước đều phải hỏi dân, dựa vào dân để thực hiện và đểkiểm tra giám sát
Nhà nước bảo đảm quyền tự do kinh tế, phát huy năng lực sáng tạo củanhân dân Xây dựng thể chế chính trị, hệ thống chính trị phù hợp với tư tưởngxây dựng Nhà nước pháp quyền và xây dựng xã hội công dân
- Bảo đảm nguyên tắc dân chủ trong việc quyết định mọi vấn đềcủa Nhà nước trong đó, nguyên tắc tập trung dân chủ cũng phải dựa trên cơchế bảo đảm thực sự dân chủ, phải dựa vào dân
- Xây dựng quan hệ, tập quán dân chủ trong đời sống chính trị - xãhội Coi dân chủ như là hơi thở, là phương thức tồn tại phát triển của các quan
hệ xã hội
1.2.2 Dân chủ và dân chủ hoá ở nước ta
Nước ta trải qua hàng ngàn năm dưới ách đô hộ của thực dân phongkiến, đế quốc, dân chủ là khát vọng ngàn đời của cả dân tộc Việt Nam.Chúng ta may mắn có thiên tài Hồ Chí Minh, mà tư tưởng và sự nghiệp củangười gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc và giải phóng nhân dân Tưtưởng của Người về dân chủ ngay từ đầu là kim chỉ nam cho quá trình hìnhthành và xây dựng nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Năm 1945, sau cách mạng tháng 8, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộnghoà ra đời, chế độ chính trị nước ta bước sang giai đoạn mới là Đảng Cộngsản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền
Hiến pháp năm 1946 khẳng định: Nước Việt Nam là một nước dân chủcộng hoà, tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam,
Trang 9không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu, nghèo, giai cấp, tôn giáo" (Điều 1).Hiến pháp năm 1946 cũng khẳng định các quyền tự do, dân chủ của công dân
về kinh tế, văn hoá, chính trị, quyền dân chủ tham gia xây dựng bộ máy Nhànước; quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong thực thi cácquyền dân chủ với nhân dân; quy định hệ thống cơ quan quyền lực nhà nướccủa nhân dân là Quốc hội và HĐND các cấp, thay mặt nhân dân quyết định vàgiám sát toàn bộ hoạt động của bộ máy Nhà nước
Về các giá trị dân chủ, trong điều kiện đất nước về xâm lăng, Đảng,Nhà nước và nhân dân ta coi giành độc lập dân tộc là giá trị dân chủ hàng đầuthiêng liêng nhất Độc lập dân tộc là trên hết và trước hết gắn liền với tự do,
ấm no hạnh phúc cho nhân dân Có độc lập dân tộc mới có tất cả Độc lập dântộc là mục tiêu hành động của toàn Đảng và toàn dân ta, trở thành động lực để
cổ vũ, vận động, tổ chức toàn dân, huy động sức lực, trí tuệ, của cải, máuxương của toàn dân để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, giành độc lập dân tộc,thống nhất Tổ quốc đưa cả nước bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xãhội
Trong điều kiện đặc biệt của dân tộc, Đảng đã thực hiện nguyên tắc
"lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện" nhằm tập trung cao độ sự lãnh đạo chính trị vào một đầu mối chỉ huy vào "Bộ chỉ huy thống soái - bộ chính trị"
để tận dụng tối đa mọi nguồn lực của đất nước cho mục tiêu cao nhất là đánhbại kẻ thù xâm lược Lịch sử cách mạng nước ta từ khi có Đảng đã đặt lên vaiđảng ta sứ mệnh lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối sự nghiệp cách mạngbằng các quyết sách, quyết định cụ thể mang tính chỉ huy và tổ chức trực tiếpđối với Nhà nước và xã hội, điều này vừa nói lên tính phù hợp hoàn cảnh lịch
sử của đất nước vừa tạo tiền đề khách quan cho sự phát huy dân chủ trongĐảng, nhưng khi đất nước bước vào giai đoạn xây dựng nhà nước phápquyền, xây dựng xã hội công dân, xã hội dân sự thì việc tiếp tục duy trìphương thức lãnh đạo đó sẽ ảnh hưởng đến vai trò của nhà nước pháp quyền
Trang 10và sự phát triển của thực tiễn, nhất là sau khi giải phóng miền Nam thống nhất
Tổ quốc từ 1975 đến năm 1986 Việc duy trì phương thức lãnh đạo trực tiếp,tuyệt đối và toàn diện theo mô hình tập trung quan liêu bao cấp trong điềukiện một đất nước lạc hậu, vừa thoát ra chiến tranh xâm lược lại bị bao vây,cấm vận toàn diện của các thế lực thù địch dẫn đến sự cự tuyệt nền kinh tếnhiều thành phần, áp đặt quan hệ sản xuất XHCN ngay trong chặng đườngđầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH, đã làm thủ tiêu dân chủ trong Đảng,trong Nhà nước và xã hội, làm cho đất nước bước vào thời kỳ khủng hoảngtoàn diện tưởng như thành quả cách mạng giải phóng dân tộc không thể nàođứng vững được
Với truyền thống cách mạng và bản chất của một Đảng được tôi luyệntrong lịch sử đấu tranh, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật,tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan nhận thức sâu sắc bài họclấy dân làm gốc Đảng ta đã tự phê bình, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm và
đề ra đường lối đổi mới từ Đại hội VI, đây có thể được coi là bước đột phácực kỳ quan trọng trong việc phát huy dân chủ trong Đảng, đặt nền móng choviệc hình thành quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN cùng với
cơ chế thị trường định hướng XHCN và xây dựng xã hội công dân để đưanước ta tiếp cận và hoà nhập vào đời sống chính trị thế giới
Thành tựu 35 năm đổi mới đã khẳng định chúng ta đã giành đượcnhững thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực kinh tế,văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại Thế và lực của cách mạngnước ta được củng cố và tăng cường trên trường quốc tế
Tuy nhiên, trong điều kiện xây dựng đất nước thực hiện công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước Thực hiện nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Namlãnh đạo Nhà nước và xã hội Mục đích và bản chất nhà nước là Nhà nướcpháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, một nhà nướcthống nhất về lãnh thổ, có nền văn hoá thống nhất trong đa dạng của 54 đất
Trang 11dân tộc anh em, Đảng đóng vai trò là đội tiên phong của giai cấp công nhânđồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc, rõ ràng dânchủ trong Đảng và dân chủ hoá xã hội hiện nay mang những nội dung hoàntoàn mới và toàn diện hơn, đòi hỏi Đảng ta phải nghiên cứu tìm tòi, kế thừa vàphát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ; về Đảngcầm quyền; về dân chủ hoá, về Nhà nước của dân, do dân, vì dân để hìnhthành văn hoá chính trị về dân chủ trong Đảng và trong xã hội nhằm xây dựngnhà nước pháp quyền XHCN mang đặc thù Việt Nam nhưng phù hợp với tiến
bộ phát triển của nhân loại
II THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ HÓA XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM
2.1 Những kết quả đạt được
2.1.1 Dân chủ trong Đảng
Việc thực hiện dân chủ trong các mặt hoạt động của Đảng, như côngtác lý luận, công tác tư tưởng, công tác tổ chức và cán bộ, công tác kiểm tra,v.v đã có nhiều chuyển biến tích cực Cụ thể là:
Thứ nhất, những thành tựu có ý nghĩa lịch sử của đổi mới trong 30 nămqua là kết quả của việc thực hiện các chủ trương, đường lối đúng đắn củaĐảng Sở dĩ có các chủ trương, đường lối đúng đắn là do có dân chủ thảo luận
và Đảng biết lắng nghe ý kiến đóng góp của hàng triệu cán bộ, đảng viên, củacác nhà khoa học và của nhân dân
Thứ hai, về công tác tư tưởng, Đảng ta đã thường xuyên đổi mới, nângcao chất lượng các hoạt động tuyên truyền, thuyết phục và vận động quầnchúng Trong thực tế, kết quả của công tác tư tưởng thể hiện ở chỗ: Tiếp tụcgiữ vững ổn định chính trị, người dân ngày càng được biết nhiều hơn về cácchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Cùng với việc dân biết, dâncũng được bàn bạc và tham gia ý kiến về nhiều việc quan trọng Nhờ vậy, các
Trang 12chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhận được sự đồng tình, ủng
hộ của quảng đại quần chúng nhân dân
Thứ ba, công tác tổ chức, cán bộ đã có nhiều chuyển biến tích cực: Các
cơ quan Đảng, Nhà nước và các đoàn thể được sắp xếp lại, kiện toàn theohướng tinh gọn, nâng cao hiệu quả Nhiều chủ trương, quan điểm, giải pháp
về công tác cán bộ được thể chế hóa, cụ thể hóa thành các quy chế, quy định.Đảng đã triển khai tương đối đồng bộ các khâu đánh giá, tuyển chọn, quyhoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và thực hiện chínhsách cán bộ Công tác tổ chức, cán bộ chuyển hướng theo hướng dân chủ hóa
2.1.2 Dân chủ trong Nhà nước
Dân chủ trong Đảng gắn liền với dân chủ trong Nhà nước Nói vềnhững thành tựu và hạn chế của việc thực hành dân chủ trong Đảng cũng tức
là nói về thành tựu và hạn chế của việc thực hành dân chủ trong Nhà nước.Tuy nhiên, dân chủ trong Nhà nước cũng có những nét đặc thù
Nhà nước đã tạo những điều kiện thuận lợi để nhân dân nắm bắt cácchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nắm được các thủ tục hànhchính giải quyết các công việc liên quan với nhân dân, biết được quy hoạch,
kế hoạch của Nhà nước về sử dụng đất đai, về dự toán, quyết toán ngân sách,v.v Đồng thời, cùng với việc dân biết, dân còn được bàn bạc nhiều việc quantrọng, như những dự án, mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng ở địa phương,các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch dân cư, điều chỉnh địa giớihành chính, phương án đền bù giải phóng mặt bằng, v.v Nhà nước đều hỏi ýkiến nhân dân
2.1.3 Dân chủ trong xã hội
Dân chủ trong Đảng, dân chủ trong Nhà nước và dân chủ trong xã hội
có liên quan chặt chẽ với nhau, trong đó dân chủ trong Đảng có ý nghĩa quyết
Trang 13định Nếu dân chủ trong Đảng chưa tốt thì dân chủ trong Nhà nước và trong
xã hội cũng chưa thể tốt được
Nhờ có những chủ trương đúng đắn của Đảng, nhờ việc thể chế hóa củaNhà nước về những chủ trương đó nên dân chủ trong xã hội đã có nhữngbước tiến đáng kể Điều đó thể hiện:
Một là, nhân dân ta cảm nhận bầu không khí dân chủ hơn, cởi mở hơntrong xã hội Ở cơ sở, người dân đã chủ động bàn bạc, tham gia ý kiến, thựchiện quyền làm chủ, bày tỏ chính kiến của mình; đồng thời, tích cực tham giacông tác xây dựng Đảng, chính quyền, thể hiện tốt vai trò giám sát đối với cán
bộ, đảng viên, thẳng thắn góp ý kiến về hoạt động của các cơ quan nhà nước ởđịa phương
Hai là, trong 35 năm đổi mới vừa qua, việc thực hành dân chủ trong xãhội đã có những bước tiến căn bản trong các lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị đếnvăn hóa và xã hội Quyền công dân, quyền con người được khẳng định rõràng trong Hiến pháp năm 2013 Có thể nói, một trong thành tựu quan trọngcủa đổi mới là nền dân chủ đang được hình thành, đang đóng vai trò là độnglực của sự phát triển xã hội
2.2 Một số hạn chế tồn tại
2.2.1 Dân chủ trong Đảng
Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén, thiếu sức thuyết phục, tính chiếnđấu còn hạn chế, chưa sâu sát thực tế, chưa linh hoạt Tình trạng suy thoái củamột bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lốisống một phần là do công tác tư tưởng chưa làm tốt chức năng, nhiệm vụ giáodục chính trị và tư tưởng Các thông tin chưa được cung cấp thường xuyên đểdân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Chưa thật sự mở rộng dân chủ trong
tự do ngôn luận, lắng nghe các ý kiến khác biệt Vẫn tồn tại tình trạng nóinhiều, làm ít hoặc nói nhưng không làm
Trang 14Công tác tổ chức, cán bộ vẫn chậm được đổi mới, còn một số biểu hiệntrì trệ, yếu kém, bất cập Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị có quá nhiềuđầu mối, trách nhiệm tập thể và cá nhân không rõ ràng, chất lượng hoạt động
và hiệu quả thấp Bộ máy còn cồng kềnh, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyềncủa nhiều cơ quan còn chồng chéo; cơ chế vận hành và nhiều quan hệ còn bấthợp lý Chưa thực sự lắng nghe ý kiến của nhân dân về tuyển chọn, đào tạo,sắp xếp, sử dụng và đánh giá cán bộ Chưa thực hành dân chủ trong công tác
tổ chức, cán bộ, chưa thực hiện cơ chế lựa chọn có số dư cho việc tuyển chọn
và bổ nhiệm cán bộ, đặc biệt là chưa mở rộng dân chủ thực sự để tạo ra môitrường cho tài năng được phát huy Chưa thực hiện công khai hóa, minh bạchhóa các khâu trong công tác cán bộ để nhân dân được biết và có điều kiệntheo dõi, giám sát quá trình triển khai thực hiện;
Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng còn nhiều hạn chế, đặc biệt làchưa thực hành đầy đủ dân chủ trong công tác này Hầu hết các vụ thamnhũng, tiêu cực không phải do cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan kiểm tra pháthiện được mà chủ yếu do nhân dân phát hiện, tố cáo hoặc báo chí nêu Vì vậy,phải xây dựng đầy đủ, đồng bộ cơ chế, chính sách để nhân dân tham gia kiểmtra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên, vì không có cơ chế, chínhsách cụ thể, đồng bộ thì nhân dân không thể giám sát, kiểm tra được;
2.2.2 Dân chủ trong Nhà nước
Dân chủ trong Nhà nước vẫn còn những hạn chế nhất định Trong chế
độ dân chủ và pháp quyền thì quyền lực nhà nước không phải là quyết định tự
có của Nhà nước, mà quyền lực đó được nhân dân ủy quyền, giao quyền.Quyền lực nhà nước là của nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước, giao chonhững con người cụ thể, mà ở con người cụ thể khi các dục vọng, thói quennổi lên thì khả năng sai lầm trong việc thực thi quyền lực càng lớn Không thểkhẳng định người được ủy quyền luôn làm đúng, làm đủ những gì mà nhândân ủy quyền Vì vậy, phải kiểm soát quyền lực nhà nước để hạn chế sự lộng